Thursday, August 29, 2024

HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG


Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng - Lý Bạch

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.


黃鶴樓送孟浩然
之廣陵 - 李白

故人西辭黃鶴樓
煙花三月下揚州
孤帆遠影碧空盡
惟見長江天際流


Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên
đi Quảng Lăng - (Dịch thơ: Ngô tất Tố)

Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời

Nguồn: Thi Viện



CÂU ĐỐI THỨ NHẤT CỦA VUA CÀN LONG: "CHUỘT KHÔNG PHÂN LỚN NHỎ, TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC GỌI LÀ GIÀ", CÂU ĐỐI THỨ HAI ĐƯỢC TÔN LÀ "THIÊN CỔ TUYỆT ĐỐI"

Vào thế kỷ 18, thời vua Càn Long cai trị là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Trước thời điểm đó, tốc độ phát triển của con người vẫn còn rất chậm. Tuy nhiên từ thế kỷ 18 trở đi, lịch sử bắt đầu lao nhanh về phía trước.

Nguồn: aboluowang

Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu diễn ra vào thế kỷ 18. Tầng dưới cùng của trái đất chứa đựng nguồn tài nguyên và năng lượng khổng lồ, tuy con người đã dày công tìm kiếm nhưng thu hoạch được rất ít.

Trong thời kỳ vua Càn Long trị vì 60 năm ở Trung Quốc, nói về quy mô, đây là thời kỳ có dân số đông nhất và là cường quốc thịnh vượng nhất trong hàng nghìn năm lịch sử Trung Quốc. Trên câu đối đầu tiên của Càn Long có viết: “Thử vô đại tiểu giai xưng lão” (鼠無大小皆稱老), nghĩa là chuột không phân lớn nhỏ, tất cả đều được gọi là già, thể hiện sự tôn trọng và ngưỡng mộ đối với tuổi già và khôn ngoan, không quan tâm đến tuổi tác hay vị trí xã hội. Câu đối thứ hai xứng đáng được tôn là “thiên cổ tuyệt đối”.

Câu đối có lẽ là hình thức văn học mà mọi người thường gặp trong cuộc sống. Trình độ viết câu đối của người xưa đương nhiên vượt trội so với chúng ta. Trên thực tế, câu đối là một thành tựu văn học và thói quen mà mọi người có thể bảo tồn.

Có người khi đối cần phải chú trọng đến từng từ ngữ, có người thì chỉ cần mượn vật hoặc cảnh để tạo thành câu đối. Hoàng đế đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển đối chữ. Có thể nhiều người chưa biết, câu đối ban đầu là do chính hoàng đế tạo ra.

Vào thời cổ đại, phương thức giải trí của con người rất đơn giản, cổ nhân thích dùng câu đối để xem xét tài văn chương của nhau.

Điều đáng chú ý là câu đối không chỉ có thể đánh giá khả năng thực tế của học giả, mà còn có thể trở thành một hình thức giải trí cho mọi người. Vì vậy, trong dòng chảy lịch sử của Trung Quốc đã xuất hiện vô số những câu đối lưu truyền ngàn năm! Từ điểm này có thể thấy văn hóa đối chữ vẫn còn tồn tại với ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Nguồn: aboluowang

Một lần, hoàng đế Càn Long cố ý sai một tri phủ đến để kiểm tra Kỷ Hiểu Lam. Vị tri phủ đưa ra một câu đối cho Kỷ Hiểu Lam: “Thử vô đại tiểu giai xưng lão” (鼠無大小皆稱老 chuột không phân lớn bé, đều gọi là già).

Câu đối này cực kỳ lắt léo, nó thuộc loại câu đối có nghĩa và cực khó ghép. Nhưng Kỷ Hiểu lam chỉ thoáng suy nghĩ một lúc trước khi thốt ra câu đối tiếp theo: “Anh hữu thư hùng đô khiếu ca”(鸚有雌雄都叫哥 câu này mang ý nghĩa rằng không nên phân biệt giới tính, cả chim vẹt đực và chim vẹt cái đều được gọi là anh trai).

Câu đối thứ hai này là do Kỷ Hiểu Lam nghĩ ra khi ông nghe thấy tiếng vẹt kêu, nó không chỉ tương ứng với câu đối đầu tiên về mặt từ ngữ mà còn đối đáp chuẩn xác về mặt ý nghĩa. Câu đối này tuyệt vời đến nỗi nó đã trở thành câu đối hay nhất cho mọi thời đại, và các thế hệ mai sau không bao giờ có thể vượt qua nó.

Lan Chi biên dịch
Nguồn: aboluowang (Vương Hòa)
Link tham khảo:

Wednesday, August 28, 2024

LỜI TIÊN TRI CHUẨN XÁC CỦA ĐẠI SỸ LIÊN HOA SINH VÀ PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Đại sỹ Liên Hoa Sinh là Tổ sư mở đường của Hồng giáo Mật tông Tây Tạng. Thường được tôn xưng là Đại sư, Đại sỹ hoặc Đạo sư Tôn quý (Guru rinpoche, Gu-ru rin-pô-chề). Ông đi qua nơi đâu cũng đều lưu lại vô số thần tích rất ngoạn mục.


Trong “Tây Du Ký”, Đường Tăng thu phục được 3 đồ đệ trên đường đi về phía Tây thỉnh kinh. Đại đệ tử Tôn Ngộ Không đánh lui vô số yêu ma. Những tình tiết này chắc hẳn mọi người chúng ta đều đã quen thuộc.

Đường Tăng quả thực có tồn tại. Nguyên mẫu của ông là Pháp sư Huyền Trang – vị cao tăng nổi tiếng thời Đường. Cuộc hành trình về phía Tây của Huyền Trang cũng là có thật.Tuy không phải như trong “Tây Du Ký” – suốt đường đi gặp đủ loại yêu ma quỷ quái – nhưng mà hành trình của ông cũng gian nan vô cùng.

Vào 100 năm sau khi Pháp sư Huyền Trang khởi hành Tây du, lại cũng có một người đơn độc đi tới Tây Tạng hoằng dương Phật giáo. Ông đi qua nơi đâu cũng đều lưu lại vô số thần tích – có thể so được với các tình tiết trong “Tây Du Ký”. Hết sức ngoạn mục.

Ông chính là vị cao tăng Ấn Độ: Đại sỹ Liên Hoa Sinh (Padmasambhava).

Có thể có những người trong chúng ta cũng không xa lạ gì với Liên Hoa Sinh.

Ông là Tổ sư mở đường của Hồng giáo Mật tông Tây Tạng. Thường được tôn xưng là Đại sư, Đại sỹ hoặc Đạo sư Tôn quý (Guru rinpoche, Gu-ru rin-pô-chề)

Ngoài ra, Liên Hoa Sinh còn được xưng là hóa-thân tam-mật thân-khẩu–ý của Thích Ca Mâu Ni, Quan âm Bồ Tát và A Di Đà Phật. Là người có pháp lực thần thông tối cao trong Phật giáo Tạng truyền.

Hơn 1000 năm trước, Liên Hoa Sinh từng nói cho đệ tử của ông rất nhiều dự ngôn về thời mạt thế.

Vào thời đó không ai có khả năng hiểu được. Đến chúng ta ngày nay, mọi người không tốn công chút nào cũng có thể lý giải được. Bởi vì những điều trong dự ngôn của ông đều đã trở thành sự thực rồi.

Liên Hoa Sinh Đại Sỹ

Hình ảnh Đại Sỹ Liên Hoa Sinh

Trong cuốn sách mang tên “Truyện Liên Sư: chuyện đời Đại sỹ Liên Hoa Sinh”, có đề cập đến Phật Thích Ca Mâu Ni từng có dự ngôn:

“12 năm sau khi ta nhập diệt, sẽ có 1 bậc xuất chúng, sinh ra từ trong bông hoa sen nơi hồ Dhanakosha ở Tây Bắc Uddiyana”.

Người hóa sinh từ trong hoa sen đó chính là Đại sỹ Liên Hoa Sinh.

Vào năm thứ 8 sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, tức năm 479 trước CN, truyền thuyết kể rằng Uddiyana (hay còn gọi là nước Ô-trượng-na, nước Ổ-kim thời Ấn Độ cổ) nhiều năm hạn tai và nạn đói, quốc vương tuyệt vọng hạ chỉ cầu nguyện.

Quan âm Bồ Tát không đành nhìn chúng sinh chết đói, liền thỉnh cầu Phật A Di Đà tương trợ. Từ trong tâm Phật A Di Đà chiếu ra chữ “Xả” lên bông hoa sen trên hồ Dhanakosha nước Ổ-kim.

Thế rồi từ trong bông hoa sen xuất sinh một cậu bé cỡ 8 tuổi.

Quốc vương vốn bị bệnh ở mắt, lúc này thị lực được khôi phục hoàn toàn, ông liền đem cậu bé này về cung phong làm Thái tử, đặt cho tên gọi Hải Sinh Kim Cang (Tsokyé Dorje).

Vì cậu bé sinh ra từ bông hoa sen nên cũng được gọi là Liên Hoa Sinh.

Từ đó, nước Ổ-kim mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.

Khi Liên Hoa Sinh trưởng thành đã thể hiện ra tài năng phi phàm. Quốc vương có ý để ông quản lý chính sự quốc gia nhiều hơn. Nhưng ông hết sức phản cảm đối với sự cuồng vọng rối ren của chính giới, trong lòng chỉ muốn vứt bỏ vương vị. Nhưng lại không được phụ vương cho phép.

Không ngờ rằng chẳng bao lâu sau, Liên Hoa Sinh bị vu khống là sát hại con trai của 1 vị đại thần. Kết quả ông bị phán quyết trục xuất đi nơi khác. Ông cũng nhân đó mà rời khỏi hoàng cung, bắt đầu cuộc đời học Phật.

Liên Hoa Sinh sau khi tu tập cùng rất nhiều bậc thầy, đã tinh thông mọi mặt học vấn về thiên văn, phong thủy, v.v…

Cuối cùng dưới sự cần cù ngày đêm tu hành Phật pháp ông đã đạt đến thành tựu quảng-đại-viên-mãn. Bắt đầu sự nghiệp độ chúng, hàng ma và hoằng pháp.

Về sự tích của ông mà nhiều người biết đến nhất, chúng tôi sẽ nói từ Tây Tạng thời Đường Thái Tông.

Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng

Cung điện Potala

Thời Đường Thái Tông tại vị, Công chúa Văn Thành của Trung Quốc và Công chúa Nha Tôn (Bhrikuti Devi) của Nepal được gả cho người cai trị Tây Tạng đương thời là Tùng Tán Can Bố. Ba người họ dốc sức hoằng dương Phật pháp ở Tây Tạng. Tạo ra ảnh hưởng lâu dài đến người đời sau, trong đó có Xích Tùng Đức Tán.

Khu vực Tây Tạng trước khi phổ cập Phật giáo thì có tín ngưỡng thâm căn cố đế là Đạo Bon (Bon giáo), thế lực rất lớn.

Khi Xích Tùng Đức Tán trở thành Tạng vương, liền sai người đến Ấn Độ lấy kinh, với ý muốn hoằng dương Phật pháp. Ban đầu Tạng vương thỉnh vị trụ trì chùa Lan Đà là Đại sư Tịch Hộ đến Tây Tạng. Không ngờ rằng lúc này vương quốc xảy ra nhiều tai họa như dịch bệnh, lũ lụt, sấm sét… để khảo nghiệm.

Do Đạo Bon rất bài xích Phật giáo, cho nên mọi người cho rằng: bởi vì Phật giáo là tín ngưỡng ngoại lai đã xúc phạm đến Thần linh, từ đó mà nảy sinh tai họa. Đại sư Tịch Hộ vì không có cách nào chống lại thuật phù thủy và thế lực đạo Bon nên đã tiến cử Liên Hoa Sinh đến Tây Tạng.

Và thế là, vào năm 750, Liên Hoa Sinh từ Ấn Độ khởi hành đến đất Tạng hoằng pháp.

Có người có thể phát hiện rằng niên đại dường như không đúng. Bởi vì chiểu theo tính toán niên đại mà nói: Liên Hoa Sinh xuất sinh vào năm 479 tr. CN, thế thì đến năm 750 chẳng phải ông đã hơn 1000 tuổi sao? Kỳ thực đó cũng là một điều bất khả tư nghị. Chúng ta biết rằng:

Liên Hoa Sinh là đản sinh từ trong hoa sen. Khi vừa mới sinh ra đã có hình dạng 1 cậu bé 8 tuổi. Lúc vừa mới bắt đầu ông đã không phải phàm nhân. Sau khi ông tu Phật viên mãn thành tựu, trường thọ hoặc hiển hiện ra khả năng thần kỳ thì cũng không có gì quái lạ cả.

Truyền thuyết kể rằng Liên Hoa Sinh đi đến vùng Himalaya, trong quá trình tiến vào Tây Tạng đã gặp đủ dạng đủ loại yêu ma quỷ quái. Chúng bày ra các chướng ngại trên đường và tai họa v.v… với ý đồ can nhiễu, ngăn trở ông vào đất Tạng.

Người bình thường có thể cho rằng nếu như Đại sỹ Liên Hoa Sinh đại hiển thần thông thì sẽ dễ dàng tiêu diệt mấy thứ yêu ma quỷ quái đó. Nhưng đây cũng chính là chỗ cao minh của Đại sỹ Liên Hoa Sinh.

Ông không trực tiếp tiêu diệt mấy thứ yêu ma này, mà ngược lại ông chọn cách cho bọn họ cơ hội sửa chữa bản thân. Kết quả những yêu ma này đều bị hàng phục, có kẻ còn nguyện ý hộ pháp.

Khi Liên Hoa Sinh tiến vào Tây Tạng, không chỉ có tài hùng biện bác bỏ các thầy phù thủy của đạo Bon mà còn khiến họ chuyển đổi tín ngưỡng và hộ trì Phật giáo. Ông còn xác lập toàn bộ hệ thống Phật giáo, xây dựng rất nhiều tu viện, chùa tháp.

Ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Tây Tạng – Tu viện Samye – chính là do Liên Hoa Sinh trợ giúp xây dựng. Tuyệt đại đa số kinh Phật, điển tịch cũng là do ông phiên dịch sang tiếng Tạng. Ông còn giúp xây dựng cả “Viện phiên dịch Kinh”. Ông không chỉ tự mình tham gia phiên dịch kinh Phật mà còn dốc sức bồi dưỡng người tài phiên dịch kinh điển. Điều đó đã giúp tinh túy của Phật pháp đủ hoàn chỉnh để lưu truyền về sau, phát dương quang đại tại vùng Tây Tạng.

Tu viện Samye 

Từ xưa đến nay, những nhà tiên tri sẽ dùng hình thức ẩn dụ để nói cho người đời sau những sự kiện lịch sử trọng đại mà tương lai phải đối diện. Cũng chính là thứ mà chúng ta ngày nay vẫn gọi là “dự ngôn”.

Đại sỹ Liên Hoa Sinh từng lưu lại dự ngôn cho thời mạt pháp của chúng ta hiện tại.

Dự ngôn mạt thế của Liên Hoa Sinh

Mạt pháp, mạt thế – nguồn gốc những từ này là trong Phật giáo – là lời Phật Thích Ca Mâu Ni lưu lại vào thời ông truyền pháp.

Ý nghĩa là nói: Vào một thời kỳ đặc định sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn, Pháp mà bản thân ông truyền sẽ tiến vào lúc mạt.

Đến thời kỳ đó, Pháp mà ông vốn truyền sẽ không còn tác dụng giáo hóa.

Rất nhiều người đều nói, chúng ta hiện tại là thời đại mạt pháp.

Đương thời, đệ tử của Đại sỹ Liên Hoa Sinh từng có hỏi: lúc nào thì đến thời kỳ mạt pháp?

Liên Hoa Sinh trả lời như sau:

“Khi chim sắt bay trên bầu trời, ngựa sắt phi trên mặt đất”.


Chim sắt và ngựa sắt, mọi người chúng ta hẳn cũng đã biết là gì rồi.

Liên Hoa Sinh còn nói rằng vào thời kỳ mạt pháp này, toàn thế giới sẽ xuất hiện tình hình như sau:

“Quân vương không giống quân vương, bề tôi không giống bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, cha con giống như bạn chơi. Đàn bà không tuân thủ trinh tiết, đàn ông dâm dục không có phép tắc, Phật giáo mạt pháp ngày càng xuất hiện nhiều dấu hiệu suy bại”.

Dự ngôn của Liên Hoa Sinh còn nói rất nhiều điều tân kỳ đối với người thời bấy giờ

Liên Hoa Sinh không nói ra tên gọi cụ thể của các thứ đó nhưng miêu tả rất tỉ mỉ

“Xe không cần ngựa kéo, mà tự mình có thể chạy được. Thanh thiếu niên, bàn chân dẫm lên sừng trâu và đặt bánh xe để lượn xung quanh. Người không cần đi ra khỏi cửa, mỗi ngày chỉ cần ngồi trước một cái gương, là có thể biết mọi chuyện thiên hạ, hơn nữa còn có thể liên hệ hỏi thăm nhau.”

Đối với chúng sinh và loạn tượng thời đại này, Liên Hoa Sinh nói:

“Thời đại này sẽ có nữ nhân xen vào giữa vợ chồng, con không hiếu thuận đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, anh em bất hoà vì tranh giành gia sản, tạo ra bao tội nghiệp mà không hề hổ thẹn. Giáo hoá của Phật Đà cũng dần dần biến mất.”

Không chỉ có vậy.

“Trong thời này sẽ xuất hiện loạn luân, rất nhiều người sa vào cờ bạc, nghiện ngập, người tham luyến say sưa trong rượu thịt, tượng Phật trở thành hàng hóa chìm nổi trên phố, rất nhiều người đem báu vật của tổ tiên mà bán cho ngoại quốc”

Liên Hoa Sinh còn nói:

“Bởi vì chặt phá rừng mà đất đai màu mỡ bị cuốn trôi, dẫn đến tự nhiên bị tàn phá tai hại, trong thành thị đạo tặc nổi lên bốn phía, người ăn xin có ở khắp nơi.”

“Thời đại đó rất nhiều người xuất gia truy cầu danh lợi, đi khắp nơi lừa bịp tín chúng, rắp tâm thu lấy tiền tài của người khác, họ có tài sản cá nhân nhưng không làm Phật sự, không tụng kinh văn mà đắm chìm trong ca múa giải trí, phá giới mà trong tâm không áy náy hổ thẹn.”

Dự ngôn hơn 1000 năm trước của Liên Hoa Sinh, đến ngày nay mà xét, thì quả là gây sốc. Chỉ cần chúng ta quan sát người và vật xung quanh một chút, sẽ phát hiện ra dự ngôn có nhiều điều chuẩn xác.

Trong “Phật thuyết pháp diệt tận kinh” có ghi chép lời của Phật Thích Ca Mâu Ni:

“Sau khi ta niết bàn, vào thời giáo pháp tương lai bị diệt tận, trong đời ngũ trược ác thế, ma đạo sẽ rất thịnh hành, ma quỷ biến thành sa-môn, lấy thân phận đệ tử Phật môn xuyên tạc phá hoại giáo pháp của ta. Chúng mặc y phục thế tục, ưa thích cà sa trang trí sặc sỡ; uống rượu, ăn thịt, sát sinh, tham đắm mùi vị; không có tâm từ bi, thường mang sân hận, đố kỵ lẫn nhau.”

Thời mạt pháp

Từ đó có thể thấy, ác thế mạt pháp mà Liên Hoa Sinh chỉ ra và thời kỳ mạt pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni dự báo rất tương đồng với nhau. Liên Hoa Sinh nhìn ra chuẩn xác những hiện tượng, mà Thích Ca Mâu Ni nhìn rõ chân tướng của sự tình, biến hóa của nhân tâm.

Kỳ thực có người còn chưa cho rằng hiện tại đã là tiến vào thời kỳ mạt pháp rồi.

Nhưng chẳng phải rất nhiều những dự ngôn, trong đó có dự ngôn của Liên Hoa Sinh và Thích Ca Mâu Ni, đã trùng khớp cao độ đối với trạng thái của xã hội nhân loại chúng ta hiện tại hay sao? Điều đó lẽ nào có thể là ngẫu nhiên?

Sau khi nhân loại văn minh bại hoại cực độ rồi, thì số phận sẽ như thế nào?

Nhân loại hiện vẫn đang ở trong thời kỳ dịch bệnh, chiến tranh, lạm phát, nạn đói, thiên tai… – có người coi đó là chu kỳ tuần hoàn tất nhiên phải vậy, có người lo sợ đại đào thải và tận thế… Tâm tư tình cảm nào cũng đều có. Tuy nhiên, vào những giờ phút đen tối, bĩ cực này, nhân loại cũng đang được chứng kiến những tin vui, những câu chuyện nhân văn giữa người với người, những sự việc thần kỳ. Có lẽ chúng ta vẫn là giữ chắc trong tâm một câu nói đó, rằng: thiện ác hữu báo, ở hiền gặp lành – đó là chân lý, cũng là chìa khóa mở ra lối thoát cho con người.

Kiên Tấn / Theo: vandieuhay

ẢO ẢNH

Ảo Ảnh (Y Vân) – Giai thoại về câu chuyện tình buồn


Bài hát Ảo Ảnh là môt sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ Y Vân về một mối tình tan vỡ. Giai thoại đằng sau bài hát này là câu chuyện tình thê lương và héo hắt tựa như một cuốn phim buồn. Câu chuyện này được nhà báo Hà Đình Nguyên kể, không rõ có bao nhiêu phần trăm là sự thật, nhưng cũng xin chép lại, để khi nghe lại bài Ảo Ảnh, chúng ta có thêm nhiều cảm xúc hơn.

Năm 1965, nhạc sĩ Y Vân lúc này 32 tuổi, đã lập gia đình được 2 năm, đang là nhạc trưởng của một ban nhạc lớn: ban nhạc Y Vân, cùng với Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương làm nền trình diễn. Một hôm sau buổi trình tấu nhạc nơi đài phát thanh Saigon vừa tan, trên đường về, Y Vân bị một chú bé lạ mặt chặn xe ông lại và mời vào một quán café bên đường. Bên trong, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Đại học Văn khoa Sài Gòn.


Huyền có đôi mắt to, đen và buồn. Trên bâu áo của nàng có chít một mảnh tang đen. Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn khi thấy mảnh khăn đen trên áo. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã: “Em đâu có người thân nào qua đời. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó!”. Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ, không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.

Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Đó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ). Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học. Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân). Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào… lớp dạy đàn Tây Ban cầm. Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.


Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân. Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân. Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn, Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ. Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo.

Nhưng lòng nàng lúc nào cũng tơ tưởng đến nhạc sĩ tài hoa. Nàng đã nhờ em trai tìm cách cho nàng gặp anh để nói với anh điều này. Nhưng khi gặp, nàng lại không dám nói. Y Vân ra về như chạy. Nhạc phẩm “Ảo Ảnh” ra đời sau buổi ra về với trọn đêm thức trắng. Trí tưởng tượng của Y Vân đi trên niềm hối hận. Ảo ảnh cuộc đời, ảo ảnh tình yêu đã có thực nơi những tâm hồn lãng mạn: Yêu mặn nồng, đắng cay, tha thiết. Gió ở trên non, gió cuốn mây trôi, cho dù bầu trời vẫn xanh thờ ơ không mảy may hay biết:


Yêu cho biết sao đêm dài
Cho quen với nồng cay
Yêu cho thấy bao lâu dài
Chỉ còn vài trang giấy

Giòng mực xanh còn đấy
Hứa cho nhiều dù bao lời nói
Đã phai tàn thành mây thành khói
Cũng xem như không mà thôi

Những ân tình em đong bằng nước mắt
Khóc cho đầy hai chữ tình yêu
Phấn hương nồng anh xem tựa tấm áo
Đã thay màu ân ái từ lâu

Những neo thuyền yêu thương dễ đứt
Khiến bao chiều trên bến tịch liêu
Vắng con tàu sân ga thường héo hắt
Thiếu anh lòng em thấy quạnh hiu

Xưa đêm vắng đưa nhau về
Nay đơn bóng đường khuya
Khi vui thấy trăng không mờ
Lòng buồn nên trăng úa

Kìa phồn hoa còn đó
Những con đường buồn vui lộng gió
Những ân tình chìm trong lòng phố
Cũng theo hư không mà đi…


Theo Thanh Niên



ĐI SỨ TRUNG HOA, NGUYỄN DU VÀ LÊ QUÝ ĐÔN ĐÃ VIẾT GÌ VỀ HÀN TÍN?

Hàn Tín (229 – 196 TCN) là đại tướng quân, khai quốc công thần, có công phò tá Hán Cao Tổ Lưu Bang đoạt thiên hạ, lập ra nhà Hán. Nhưng khi đại nghiệp đã thành, ông bị vu cáo làm phản và bị tru di tam tộc. Người đời sau đều ngậm ngùi tiếc thương cho số phận anh hùng của ông.

Ảnh minh họa. Nguồn: danviet

Trên đường đi sứ Trung Quốc, các văn nhân Việt Nam thuở trước như Nguyễn Du, Lê Quý Đôn cũng đều dùng lời thơ để tỏ bày về Hàn Tín. Ta thử xem các bậc thi hào nước ta luận bàn thế nào về nhân vật lịch sử này.

Nguyễn Du

Năm 1813, Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc, qua sông Hoài, có viết bài thơ về Hàn Tín. Sông Hoài là con sông lớn của Trung Quốc, dài 1078 km. Hoài Âm Hầu là tước quan cuối cùng của Hàn Tín. Vì có người tố cáo Tín làm phản, Hán Cao Tổ lập mưu đi chơi đất Vân Mộng, ghé thăm bắt Hàn Tín, bỏ tù rồi lại tha, giáng xuống hai cấp từ Sở Vương xuống còn tước hầu. Lữ Hậu về sau nhân loạn Trần Hy, vu cáo bắt Hàn Tín giết cả ba họ.

Nguồn: baotang.hatinh

Qua bến sông Nguyễn Du ngậm ngùi nhớ lại việc cũ. Mây trôi tan tác, cỏ úa hoa tàn bao trùm đất Hoài Âm tỉnh Giang Tô. Nguyễn Du tức cảnh sinh tình, làm ra bài “Độ hoài hữu cảm Hoài Âm hầu” (Qua sông Hoài nhớ Hoài Âm Hầu) này.

Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác

Tầm thường nhất phạn báo thiên câm (kim),
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm.
Thôi thực giải y nan bội đức,
Tàng cung phanh cẩu diệc cam tâm.
Bách man khê động lưu miêu duệ,
Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm (kim).
Trù trướng giang đầu tư vãng sự,
Đoạn vân suy thảo mãn Hoài Âm.

渡淮有感淮陰侯作

尋常一飯報千金
五載君臣分誼深
推食解衣難背德
藏弓烹狗亦甘心
百蠻谿峒留苗裔
兩漢山河變古今
惆悵江頭思往事
斷雲衰草滿淮陰

Dịch thơ:

Ngàn vàng báo đáp bữa thanh bần
Tôi chúa năm năm thật hiểm thâm
Sẻ áo nhường cơm ơn đức bạc
Treo cung giết chó nỡ đành tâm
Bách Man khe động lưu con cháu
Lưỡng Hán cơ đồ chuyện cổ kim
Qua bến ngậm ngùi ôn chuyện cũ
Mây tan, cỏ úa đất Hoài Âm.

Về phò Lưu Bang, Hàn Tín từng lập nhiều công trạng: chiếm nước Triệu, Tề, đánh bại Sở Bá Vương Hạng Vũ, thống nhất Trung Hoa. Hán Cao Tổ đưa Hàn Tín vào hàng đệ nhất công thần cùng với Trương Lương và Tiêu Hà gọi là Tam Kiệt. Được phong làm Tề Vương. Hàn Tín bình sinh từng nói: “Vua Hán trao ấn Nguyên soái cho ta, cấp cho mấy vạn quân, cởi áo cho mặc, nhường cơm cho ăn, ta nói điều gì vua đều nghe, bàn kế gì vua đều dùng, nên ta mới được thế này”. Từ câu nói có thể thấy được hai nghĩa. Ân nghĩa của Lưu Bang thật thâm sâu, nhưng cũng có nghĩa là thật thâm hiểm, khi cần thì nhường cơm sẻ áo, khi đạt được cơ đồ thì ra tay diệt trừ không thương tiếc. Con người này thật thâm hiểm.


Nguyễn Du còn đi qua nơi Hàn Tín luyện quân, chua xót cho thân phận Hàn Tín: “Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà lên phía bắc. Dưới đất Yên còn có gươm, giáo chôn vùi. Việc đã xa xôi trải qua hai ngàn năm. Còn ở bên thành một bãi cát bồi mênh mông“. Ông viết bài “Hàn Tín Giảng binh xứ”:

Hàn Tín giảng binh xứ

Bách vạn tinh huy bắc độ Hà,
Yên giao địa hạ hữu trầm qua.
Du du sự hậu nhị thiên tải,
Đãng đãng thành biên nhất phiến sa.
Khoái ngũ vị thành cam lục lục,
Quân tiền do tự thiện đa đa.
Khả liên thập thế sơn hà tại,
Hậu thệ đồ duyên Giáng Quán gia.

韓信講兵處

百萬旌麾北渡河
燕交地下有沉戈
悠悠事後二千載
蕩蕩城邊一片沙
噲伍未成甘碌碌
君前猶自善多多
可憐十世山河在
厚誓徒延絳灌家

Dịch thơ:

Vượt bắc Hoàng Hà trăm vạn cờ
Ngoài thành Yên cũ vùi giáo gươm
Hai ngàn năm thoáng xa xôi quá
Một dải bên thành cát sóng bồi
Với Khoái cùng hàng đành cam phận
Nhiều quân càng tốt vẫn đua tài
Khá thương cơ nghiệp ngàn năm Hán
Giáng, Quán đáp đền được hưởng thôi.

Bài thơ kể lại những điển cố về Hàn Tín, Phàn Khoái và Lưu Bang. Phàn Khoái là anh em rể với Lưu Bang, là tướng tiên phong của Hàn Tín. “Sử Ký” (Tư Mã Thiên) kể lại rằng: Sau bị giáng từ Sở Vương xuống làm Hoài Âm Hầu do sự nghi kỵ của Lưu Bang, Hàn Tín qua chơi nhà tướng quân Phàn Khoái. Khoái quỳ lạy và tiễn ra cửa, xưng là thần và nói “Đại Vương lại chịu quá bộ đến nhà thần sao?” Hàn Tín cười mà rằng: “Ta nay hóa ra ngang hàng với bọn Khoái”.

Một lần khác, Hàn Tín đến trước mặt vua Hán Cao Tổ, nhân hỏi về tài năng các tướng, Cao Tổ hỏi: “Như ta có thể cầm được bao nhiêu quân?”. Hàn Tín đáp: “Bệ hạ chẳng qua chỉ cầm được mười vạn”. Hỏi: “Thế còn nhà ngươi cầm được bao nhiêu?”. Đáp: “Thần thì càng nhiều quân càng tốt”. Lúc bắt Tín, Cao Tổ cười nói: “Càng nhiều càng tốt sao lại bị ta bắt?”. Hàn Tín đáp: “Bệ hạ không thể cầm quân nhưng giỏi chỉ huy các tướng, vì vậy nên Tín mới bị bệ hạ bắt”. Đó là câu chuyện được chép trong “Sử Ký”.

Lê Quý Đôn

Nguồn: thpt-lequydon

Một danh sĩ khác, Lê Quý Đôn (1726 – 1784) khi đi sứ Trung Quốc, qua Hoài An, có ghé thăm đài câu cá của Hoài Âm Hầu Hàn Tín lúc còn hàn vi. Ông viết bài “Trú Hoài An phỏng Hoài Âm hầu điếu đài”.

Trú Hoài An phỏng Hoài Âm hầu điếu đài

Văn thuyết Hàn hầu cựu điếu than,
Tiêu nhiên cảm cổ vấn Hoài An.
Kiền khôn không khoát anh hùng viễn,
Sơn thuỷ vi mang tín thệ hàn.
Du tử vô tình ca kích trúc,
Tướng quân hữu hận hối đăng đàn.
Nam Xương, Tứ Thượng giai đình trưởng,
Yếm bạc không ta tổng nhất ban.

駐淮安訪淮陰侯釣臺

聞說韓侯舊釣灘 
蕭然感古問淮安 
乾坤空闊英雄遠 
山水微忙信誓寒 
遊子無情歌擊筑 
將軍有恨悔登壇 
南昌泗上皆亭長 
厭薄空嗟總一般 

Dịch thơ:

Rằng chốn Hàn Hầu câu cá đài
Hoài An chuyện cũ lòng u hoài
Mênh mang trời đất, anh hùng khuất
Mù mịt núi sông, thề ước phai
Du từ vô tình ca "kích trúc"
Tướng quân hối hận nhận phong bài
Nam Xương, Tứ Thượng đều đình trưởng
Bạc bẽo một phường cả, hởi ôi.

Thuở hàn vi, Hàn Tín câu cá kiếm sống không đủ nuôi thân. Phải để bà phiếu mẫu cho cơm ăn đã là một điều hổ thẹn cho một thanh niên. Nhưng vác một thanh gươm mà chịu chui qua háng một anh hàng thịt giữa chợ, thì thật là một điều sỉ nhục xưa nay hiếm, chẳng có bậc anh hùng nào làm như Hàn Tín cả.

Trong Thủy Hử, các anh hùng Lương Sơn Bạc gặp trường hợp như thế, thì giết chết kẻ thách mình và trốn lên núi thành cướp núi, để tránh quan quân truy nã. Hàn Tín lúc đem thân làm tôi cho Hạng Vũ, nhận chức Chấp Kích lang, người vác kích theo hầu. Bỏ Sở về Hán, Lưu Bang giao cho chức Liên Ngao, chức Tri túc Đô úy vốn là những chức vụ rất tầm thường, ông cũng không hề mặc cảm, vui vẻ làm tròn nhiệm vụ. Có thể nói Hàn Tín có một sức chịu đựng nhẫn nại tuyệt độ, hơn cả người bình thường. Người có thể nhẫn được những việc phi thường như vậy mới có thể làm nên việc lớn.

Thuật dùng binh của Hàn Tín rất sáng tạo. Binh pháp viết: “Bày trận dựa lưng bờ sông không đường lui, là việc tối kỵ”. Nhưng Hàn Tín cũng dựa vào binh pháp: “Đưa vào chỗ chết thì mới sống, đặt vào chỗ mất thì mới còn”. Khi đem quân đánh Triệu, Hàn Tín mang quân tinh nhuệ đóng ở bờ sông, khiến binh sĩ chỉ có một đường sống là phải đánh để thắng trận. Thừa cơ quân Triệu kéo hết lực lượng đến đánh, Hàn Tín cho hai nghìn quân kỵ trong đêm tối lẻn vào trại giặc cắm toàn cờ Hán. Quân Triệu đang đánh với quân Hán, nhìn lại thấy dinh trại mình đều có cờ địch, ngỡ là quân Hán đã phá được Triệu, mạnh ai nấy bỏ chạy. Thế là quân Triệu hỗn loạn, đại bại. Vua Triệu bị bắt sống. Trận này Hàn Tín lấy 3 vạn chống lại 20 vạn quân địch. Trong lịch sử Trung Quốc, Hàn Tín được xem là một trong những nguyên soái chỉ huy tài ba nhất. Từ việc nhỏ đến việc lớn, ông đều là người xuất sắc.


Khi làm chức Liên ngao, coi kho kiểm điểm thóc lúa, tính toán sổ sách, mau lẹ phi thường, không sai một mảy. Những người cai kho thấy Hàn Tín tính toán minh bạch đều sụp lạy thưa: “Từ khi có kho đến nay, chúng tôi chưa thấy ai thần toán như ngài”. Hàn Tín cho Tiêu Hà biết: “Phép toán có nhiều lối, có số tiểu cửu, có số đại cửu. Nếu tinh tường các phép ấy thì dầu bốn bể năm châu cũng chỉ ở trong bàn tính đó. Trước kia vua Phục Hy chỉ có 61 quẻ, mà thiên biến vạn hóa, việc vũ trụ không thoát ra ngoài các quẻ ấy được”.

Khi giữ chức Tri túc Đô Úy, Hàn Tín coi sổ sách lương tiền, thu nộp chi phí. Lúc trước những quan Đô Úy đến nhận chức, hay ăn lễ lạt đút lót từ các người coi nhà kho, nên chúng bảo thế nào thì nghe thế ấy, dân tình thán oán, mất lẽ công bằng. Nay Hàn Tín đến, trước hết ra giấy yết thị, tra xét những kẻ nhũng lạm trước kia, cách chức tất cả, rồi đưa vào những người đứng đắn, vì vậy trăm họ hoan hỉ, tranh nhau nộp thuế. Chỉ trong nửa tháng mà thuế khóa nộp hết không thiếu một đồng tiền nào. Hàn Tín đã chứng minh tài năng mình như lời nói với Đằng Công Hạ Hầu Anh: “Văn võ song toàn, thông hiểu vũ trụ, ra tướng vũ, vào tướng văn, trăm trận trăm thắng, lấy thiên hạ như trở bàn tay, đủ sức phá Sở”.

Hàn Tín là một bậc đại tướng quân bách chiến bách thắng, giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang đánh bại Hạng Vũ, lập nên nhà Hán kéo dài 400 năm, được hậu thế bàn luận, kính phục. Nỗi oan của Hàn Tín cũng khiến người đời phải ngậm ngùi thương tiếc.

Những dòng thơ của Lê Quý Đôn và Nguyễn Du cũng đã nói rõ điều đó. Cuộc đời Hàn Tín như một vai diễn làm nổi bật lòng trung thành, mưu trí, hình tượng Hàn Tín không thể tách rời chữ Nhẫn, người có thể nhẫn được những việc khó nhẫn nhất là người làm lên nghiệp lớn.

Vô Tư / Theo: ĐKN


LĂNG MỘ THỜ TỔ LỚN NHẤT VIỆT NAM Ở LÀNG TỶ PHÚ: THUÊ NGƯỜI PHÁP THIẾT KẾ, "MUA ĐỨT" 10HA ĐỂ XÂY DỰNG

Ở làng Mẹo tức làng Phương La (xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)- ngôi làng được mệnh danh là ‘ngôi làng tỷ phú’ có 1 lăng mộ rộng tới 10ha.

Lăng mộ thờ tổ lớn nhất Việt Nam ở làng tỷ phú

Theo đó, Công trình lăng mộ này được xây dựng từ năm 2002 đến tận 2011. Công trình đồ sộ, nổi bật giữa những cánh đồng lúa mênh mông khiến người dân làng Mẹo cũng như du khách không khỏi choáng ngợp.


Công trình này được người dân địa phương gọi là đền thờ vì trước đây ở mảnh đất này có 1 ngôi đền nhỏ là Đền Nhà Ông. Tại ngôi đền nhỏ đó lại có ngôi mộ của đức tổ Hoằng Nghị Đại Vương, tức ông Trần Hoằng Nghị - người dạy dân làng mẹo trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi đồng thời cũng là cha đẻ Thái sư Trần Thủ Độ. Công trình này xây trùm lên ngôi mộ và ngôi đền nên người dân ở đây gọi là lăng mộ.


Được biết, tỷ phú Trần Văn Sen đã phải mất hàng chục năm tham khảo và bỏ ra tiền tỷ để thuê kiến trúc sư người Pháp thiết kế lăng mộ này. Theo đó, ban đầu, lăng mộ được thiết kế cao 51m với mục đích bên kia sông Hồng vẫn nhìn thấy tuy nhiên do nền đất yếu, công trình lại quá nặng, lún sâu nên phải rút ngắn độ cao.

Khi thi công, móng lăng mộ ăn sâu 4,2m rồi được đổ bê tông kín đặc, tạo ra tầng hầm rộng, chứa mộ phần của Đức Hoàng Nghị Đại Vương. Phần móng nổi lên mặt đất cao 2,5m. Mái lăng mộ gồm 3 lớp bê tông xếp chồng lên nhau. Phần trước lăng mộ là những kiến trúc bằng đá xanh, chạm trổ cầu kỳ, nổi bất là đôi rồng đá ngự hai bên, đôi lộc bình bằng đá cao quá đầu người.


Lăng mộ này gồm 3 tầng, 6 mái, cao 41m tương đương với chiều cao của 1 nhà cao tầng hiện đại. Các chi tiết kiến trúc của lăng mộ bao gồm hình thù rồng, mặt nguyệt cùng các hình vẽ, hình khắc đều có sự tư vấn của những chuyên gia văn hóa, sử học để đúng với kiến trúc đời Lý và đời Trần. Lăng mộ này gồm có 3 cửa vào với cánh cửa khổng lồ bằng gỗ dày đến 20cm.

Bước vào trong ngôi mộ, ai cũng sẽ bị choáng ngợp với những chi tiết cầu kỳ phủ màu vàng đỏ tuyệt đẹp. Ở đây còn có tượng các vua quan đời Trần đều được làm bằng đồng nguyên chất, ngoài phủ vàng.


Trần Văn Sen là 1 nghệ nhân, ông hiện là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Sản xuất kinh doanh - Xuất nhập khẩu Hương Sen Thái Bình. Vị tỷ phú này đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới ở độ tuổi 70. Ông là 1 trong những doanh nhân đình đám của ngôi làng đại gia Thái Bình - làng Mẹo.


Theo đó, xuất thân từ nghề dệt, tập đoàn Hương Sen của ông Trần Văn Sen hiện là 1 doanh nghiệp hàng đầu cả nước trong sản xuất, kinh doanh đồ uống. Tập đoàn của ông còn dẫn đầu Thái Bình về thực hiện nghĩa vụ thuế với số nộp bình quân 500 - 700 tỷ đồng/năm, bình quân mỗi ngày đóng góp khoảng 2 tỷ đồng.

Theo: SHTT&ST



Tuesday, August 27, 2024

VÌ SAO VÕ TẮC THIÊN KHÔNG TRUYỀN NGAI VÀNG CHO HỌ VÕ MÀ TRẢ VỀ CHO HỌ LÝ TRƯỚC KHI QUA ĐỜI?

Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên dùng mọi thủ đoạn để thâu tóm quyền lực. Nhưng trước khi qua đời, bà lại sẵn sàng trả lại ngôi vị cho họ Lý. Một câu hỏi được đặt ra, vì sao bà lại làm như vậy?

Võ Tắc Thiên xây dựng nhà Chu (ảnh: SofH).

Từ xa xưa, trong hàng nghìn năm, các vị hoàng đế thường là nam giới và nam giới luôn chiếm ưu thế trong xã hội. Bất kể ở lĩnh vực nào, nam giới đều nổi bật hơn. Nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ, trên chiến trường, luôn có thể nhìn thấy những nữ tướng không chịu thua nam nhân. Trong chính trị cũng có thể nhìn thấy những nữ nhân tính khí mạnh mẽ, có thể khiến nam nhân khắp thiên hạ phải cúi đầu.

Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên dùng mọi thủ đoạn để thâu tóm giang sơn. Nhưng trước khi qua đời, bà lại sẵn sàng trao quyền trị vì cho họ Lý. Vì sao bà lại làm như vậy?

Lai lịch Võ Tắc Thiên

Võ Tắc Thiên xuất thân trong một gia đình quan chức nhỏ, địa vị không cao. Vào năm 14 tuổi, bà được hoàng đế Đường Thái Tông thu nhận làm tài nhân (một địa vị thấp trong hậu cung), cho vào hậu cung và phong làm Võ Mị Nương. Tuy nhiên, bà không được hoàng đế coi trọng, sủng ái. Trong 12 năm tiến cung Võ Mị Nương chỉ là một tài nhân.

Sau khi Đường Thái Tông qua đời, Võ Mị Nương trở thành một ni cô. Sau đó bà lại được tân hoàng đế Lý Trị sủng ái nên được đưa về cung và cai quản hậu cung. 

Võ Tắc Thiên bề ngoài xinh đẹp nhưng tâm địa hiểm ác. Khi sức khỏe của hoàng đế sa sút, bà bắt đầu lên nắm chính quyền. Sau đó, mọi chướng ngại vật ngăn cản Võ Tắc Thiên độc tôn cai trị, đều bị bà giải quyết thẳng tay.

Lý Trị lên ngôi vô cùng sủng ái Võ Tắc Thiên (ảnh: cafebiz).

Sau khi lên ngôi hoàng đế, Võ Tắc Thiên không chỉ đổi quốc hiệu thành nhà Chu, mà còn dời đô từ Trường An đến Lạc Dương và trực tiếp đặt tên là Thần Đô. Theo logic này, Võ Tắc Thiên nên hy vọng rằng họ Võ sẽ tiếp tục nắm quyền sau khi bà qua đời. Nhưng cuối cùng bà lại nhường ngôi lại cho người họ Lý.

Lời khuyên của Địch Nhân Kiệt

Ở tuổi xế chiều, Võ Tắc Thiên do dự về việc không biết nên lập ai làm thái tử kế vị. Bà có hai lựa chọn: một là truyền ngôi cho tổ tông họ Lý, hai là chọn một trong những người họ Võ của mình để kế thừa ngai vàng. Nếu trả lại đất nước cho họ Lý, Võ Tắc Thiên sẽ lựa chọn Lư Lăng Vương Lý Hiển – người từng được tiên đế Đường Cao Tông hết lời khen ngợi.

Trong hai lựa chọn này, Võ Tắc Thiên nghiêng về cái đầu hơn, nhưng bà vẫn chưa hạ quyết tâm. Việc bổ nhiệm thái tử khiến Võ Tắc Thiên vô cùng đau đầu, vì vậy bà đã hỏi ý kiến ​​​​của Địch Nhân Kiệt.

Nói về Địch Nhân Kiệt, ông được nữ hoàng vô cùng tin tưởng, trọng dụng. Nhưng việc lập thái tử là chuyện quốc gia đại sự, cho nên địa vị của Địch Nhân Kiệt về phương diện này cũng khiến hậu thế khó hiểu.

Ông nói với Võ Tắc Thiên: “Từ xưa đến nay chỉ thấy con thờ mẹ chứ chưa thấy cháu dâng hương cho dì”.

Võ Tắc Thiên suy nghĩ hồi lâu mới phát hiện bí mật của câu nói này. Xét về quan hệ huyết thống, con trai thân thiết hơn cháu trai. Hơn nữa, trong mắt thiên hạ, Võ Tắc Thiên tuy làm hoàng đế, nhưng thiên hạ vẫn được coi là thuộc về họ Lý. Cho dù bà có truyền ngôi cho người ruột thịt mang họ Võ cũng chưa chắc đã hợp lòng dân, thiên hạ cũng khó thái bình.

Võ tắc Thiên (ảnh: Internet).

Quan trọng hơn, trong mắt người đời lúc bấy giờ, bản thân Võ Tắc Thiên cũng là người nhà họ Lý, lẽ nào lại không truyền ngôi cho con trai mà lại truyền ngôi cho một người họ hàng?

Sau khi Võ Tắc Thiên hiểu ra, bà đã lệnh cho Lư Lăng Vương Lý Hiển trở về thành Lạc Dương, phong ông làm thái tử và thực hiện một số biện pháp để xoa dịu mối quan hệ giữa hai mẹ con.

Giang sơn là của Võ Tắc Thiên, nhưng bà vẫn là người họ Lý. Và con trai kế vị mẹ là hợp tình hợp lý. Có thể vì những lý do đó nên đến cuối đời, bà đã truyền ngôi lại cho Lý Hiển.

Minh Nguyệt biên dịch
Nguồn: Soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)
Link tham khảo: