Sunday, November 1, 2026

LÀ NGƯỜI TRUNG QUỐC NHƯNG LẠI ĐƯỢC MỆNH DANH LÀ THIÊN HOÀNG KHAI QUỐC NHẬT BẢN

Từ Phúc là người vâng lệnh Tần Thủy Hoàng ra biển tìm thuốc trường sinh, nhưng lại được một số học giả khẳng định ông chính là Thần Vũ Thiên Hoàng, vị vua khai quốc của Nhật Bản. Vậy rốt cuộc thực hư ra sao?

Từ Phúc (Nguồn: baidu)

Như chúng ta đã biết, Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời, vậy tại sao trong tiếng Nhật lại có nhiều chữ Hán đến vậy? Điều này là do họ đã học được văn hóa, phong tục và chế độ chính trị từ Trung Quốc. Trong quá khứ, người Nhật đã gửi 19 đoàn sứ giả đến triều Đường để học hỏi kiến thức, có những học giả cho rằng, một số cư dân đầu tiên của Nhật Bản có thể là người Trung Quốc chuyển đến.

Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc đã phái hàng nghìn người ra biển tìm kiếm “tiên đan”, người lãnh đạo chính là Từ Phúc. Trong “Sử ký” có ghi chép: Tần Thủy Hoàng rất vui mừng, sai 3000 đồng nam và đồng nữ hộ tống Từ Phúc, mang theo đủ loại lương thực và công cụ. Từ Phúc đã đến một nơi bình nguyên quảng trạch (nghĩa là vùng đồng bằng, có nhiều hồ rộng), tự xưng làm vua và không bao giờ quay lại.

Từ Phúc nói cho Tần Thủy Hoàng biết về các núi Bồng Lai ở trên biển, Phương Trượng, Doanh Châu tiên sơn, nơi có thần tiên sinh sống. Vì vậy, Tần Thủy Hoàng đã sai Từ Phúc dẫn đầu 3000 đồng nam đồng nữ mang theo đủ loại đồ đạc, lương thực, quần áo, thuốc men,… đủ dùng trong 3 năm để đi tìm nơi thần tiên ở. Sau vài năm ra khơi, họ vẫn không tìm thấy những nơi mà Từ Phúc đã mô tả.

Tần Thủy Hoàng ra lệnh cho Từ Phúc đi tìm thuốc trường sinh (Nguồn: baidu)

Năm 210 trước Công nguyên, Từ Phúc và đoàn người đến một vùng bình nguyên quảng trạch, thấy nơi này có thời tiết tốt, dân chúng thân thiện, phù hợp để sinh sống. Từ Phúc quyết định ở lại đây với mọi người và lên ngôi vua. Vùng đất này chính là khu vực phía sau núi Phú Sĩ ở Nhật Bản. Từ Phúc đã dạy cho người dân địa phương sử dụng những đồ vật mang theo và giúp mọi người sửa đổi họ tên của mình.

Hiện nay, hậu duệ của người Nhật cũng coi Từ Phúc là Thiên Hoàng Thần Vũ và tôn sùng ông là Thiên Hoàng đầu tiên của Nhật Bản. Vì vậy mà người Nhật rất tôn kính Từ Phúc.

Trong thời kỳ Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, một nhóm binh sĩ Nhật Bản xông vào một ngôi làng ở thị trấn Kim Sơn, tỉnh Giang Tô, chuẩn bị cướp bóc thì bất ngờ nhìn thấy bức tượng Từ Phúc bằng đá. Điều này khiến họ sợ hãi, vội vàng nhờ người đến hỏi thăm thì mới biết đây chính là làng quê của Từ Phúc, được gọi là “Làng Từ Phúc”.

Họ liền quỳ xuống lạy vì sợ bị quả báo làm xáo trộn lãnh thổ của tổ tiên. Sau khi những người Nhật này bái lạy xong, họ kính cẩn rời đi, từ đó không bao giờ quay lại. Sau chiến tranh, Thủ tướng Nhật Bản lúc bấy giờ là Tsutomu Hata còn đặc biệt đến thăm ngôi làng này để quỳ lạy Từ Phúc.

Từ Phúc (Nguồn: soundofhope)

Cựu thủ tướng Nhật Bản Hata Tsutomu luôn tự xưng mình là hậu duệ của Từ Phúc và tự hào về điều này, thậm chí ông đã tham gia nhiều lễ hội và sự kiện tưởng nhớ về Từ Phúc. Năm 2007, Trung Quốc tổ chức “Lễ hội Từ Phúc lần thứ 7 tại Cám Du”, trong dịp này, Hata Tsutomu cũng tự mình đến tham dự và bày tỏ rằng ông rất sẵn lòng tham gia các sự kiện này, trong tương lai nếu có bất kỳ sự kiện nào liên quan đến Từ Phúc, ông nhất định sẽ đến.

Thực tế không chỉ có Hata Tsutomu, hiện nay nhiều người Nhật Bản cũng tự xưng là hậu duệ của Từ Phúc, có những nhóm người Nhật Bản đến Trung Quốc để tìm hiểu về nguồn gốc tổ tiên của họ. Mặc dù chúng ta không biết họ có phải là hậu duệ của Từ Phúc hay không, nhưng chắc chắn rằng Trung Quốc đã có tác động sâu sắc và lâu dài đối với Nhật Bản. Ngày 28 tháng 11 hàng năm là một ngày quan trọng để người Nhật Bản tưởng nhớ Từ Phúc. Ông vẫn là vị Thần được người dân Nhật Bản tôn kính.

Nguồn: Soundofhope (Quách Hiểu)
Lan Chi biên dịch / Theo: vandieuhay

THẬN KHỎE ĐẾN ĐÂU, CƠ THỂ KHỎE ĐẾN ĐÓ

Tiến sĩ Đông y chia sẻ 3 bí quyết bổ thận: Thận khỏe đến đâu, cơ thể khỏe đến đó


Thận khỏe thì các bộ phận trên cơ thể mới "bền". Đây là lời khuyên của chuyên gia về cách chăm sóc thận hiệu quả. Mỗi người cần phải làm cho được ít nhất 3 việc để thận luôn khỏe.

Tại sao nói tuổi thọ con người phụ thuộc vào sức khỏe của thận?

Theo các nghiên cứu Đông y cho thấy, tuổi thọ của mỗi người dài hay ngắn đều có sự liên quan mật thiết đến sức khỏe của thận.

Tinh thận khỏe chính là cốt lõi của sự sống. Nếu tinh lực này được sử dụng một cách khoa học thì sẽ dùng được lâu dài, nghĩa là tuổi thọ sẽ cao. Điều này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của mỗi người.

Trong cuốn sách "Cách loại bỏ lạnh ra khỏi cơ thể" của Tiến sĩ Vương Trường Tùng (chuyên gia Đông y nổi tiếng Đài Loan) viết rằng, tuổi thọ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, được chia thành 2 nhóm là do "trời sinh" và do "nhân sinh" hay còn gọi là khách quan và chủ quan.

Nhóm nguyên nhân trời sinh như gen di truyền, bản thân mắc các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, ung thư hoặc có thể chất yếu ớt.

Nhóm nguyên nhân "nhân sinh" là các yếu tố cá nhân như thói quen ăn uống, cảm xúc tâm lý, môi trường sống, tác động của môi trường làm việc đến sức khoẻ.

Nếu bạn thuộc nhóm không có bệnh trời sinh, nhưng thói quen sinh hoạt, lối sống không lành mạnh cũng có thể dẫn đến tuổi thọ thấp. Ngược lại, nếu bạn thuộc nhóm mắc bệnh trời sinh, nhưng cách chăm sóc bản thân tốt thì tuổi thọ vẫn có cơ hội cải thiện hơn rất nhiều.

Đông y cho rằng, thận giống như là nơi dự trữ năng lượng sống của con người, nếu năng lượng dồi dào, sử dụng tiết kiệm, thì sẽ dùng được lâu dài. Ngược lại, nếu năng lượng ít, sử dụng thiếu khoa học, thì sẽ nhanh cạn kiệt, cuộc sống sẽ ngắn lại.

Tinh khí trong thận đến từ 2 nguồn: Một là thừa hưởng bẩm sinh từ cha mẹ để lại. Hai là do lối sống sau khi được sinh ra, ngũ tạng vận hành sẽ tạo nên tinh khí. Nếu con người biết tự bổ sung tinh khí này, thì sức sống có thể được kéo dài hơn.


Làm gì để bổ sung tinh khí, nâng cao sức khỏe của thận?

1. Đại tiểu tiện thông suốt

Đông y cho rằng, đại tiểu tiện là việc "đầu ra" của thận. Việc này thực hiện tốt thì thận sẽ hoạt động trơn tru. Khi đại tiểu tiện không thông, cơ thể sẽ tích tụ độc tố, làm cho toàn bộ cơ thể mệt mỏi, buồn chán, từ đó trực tiếp làm tổn thương thận. Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là đau lưng, mệt mỏi, buồn nôn.

Khi thận hư tổn, cũng dễ dẫn đến khó tiêu hóa, khó đại tiểu tiện, thậm chí cảm thấy chóng mặt hoa mắt khi đi ngoài, ngồi lâu cũng không hoàn thành việc đại tiện.

Ngoài ra, có người bị các triệu chứng đi ngoài phân lỏng, khó tiêu hóa, đau đầu gối, đau lưng, chóng mặt, ù tai. Vì vậy, duy trì được việc đại tiểu tiện trơn tru cũng là một cách chăm sóc thận.

Đối với bệnh nhân bị suy thận, chức năng thận kém, cần thực hiện việc thải độc tố trong thận ra ngoài. Nếu bị táo bón, có thể áp dụng các giải pháp như xoa bóp vùng bụng và thận, chế độ ăn uống nhuận tràng, lựa chọn các thực phẩm dễ tiêu hóa để bài tiết thải độc nhanh chóng.

Nếu dùng thuốc Đông y, có thể uống thêm nhục thung dung có tác dụng bổ thận, nhuận tràng thông tiện.

2. Uống nước dưỡng thận

Nước là nguồn sống của con người, chúng tồn tại ở khắp nơi trên cơ thể, nếu thiếu nước thì cơ thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nước giúp cơ thể trao đổi chất và thực hiện thuận lợi quy trình tự thải độc. Thiếu nước sẽ là gánh nặng cho thận. Vì vậy, uống đủ nước là giải pháp quan trọng để bảo vệ thận.

Khi uống nước, cần chú ý 3 điều quan trọng, một là không chờ khát mới uống, chủ động uống đủ nước. Hai là nên uống nước ấm, hạn chế nước lạnh, nước đá. Ba là không nên uống đồ uống có ga, nước ngọt hoặc các món lạnh.

Theo TS Tùng, chúng ta không thể thay đổi gen di truyền hay yếu tố khách quan, mà chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi yếu tố chủ quan bằng chế độ ăn uống phù hợp, thói quen sinh hoạt lành mạnh, bổ sung đủ máu, làm ấm lá lách và dạ dày, nuôi dưỡng thận đúng cách là có thể đủ điều kiện để sống thọ.

3. Ăn uống đúng cách

Ngoài việc duy trì chế độ ăn uống cân bằng, mỗi người đều nên lựa chọn thực đơn ăn uống bổ thận hiệu quả.

Những món ăn tốt nhất cho thận là các thực phẩm màu đen như gạo lứt, lúa mạch đen, đậu đen, mè đen, nấm hương, mộc nhĩ, hải sâm đen, rong biển, tảo bẹ, dâu tằm, xương gà ác…

Những thực phẩm màu đen thường có nhiều tác dụng trong việc phòng ngừa các gốc tự do, chất chống oxy hoá, hạ lipidemic, mỹ phẩm, chống lại sự hình thành các khối u...

Những thực phẩm nên ưu tiên ăn nhiều hơn

- Hạt dẻ

Người xưa xem hạt dẻ và "vua của muôn loài" trong giới trái cây tự nhiên. Thậm chí ở Mỹ còn gọi hạt dẻ là "quả nhân sâm".


Những người bị đau lưng mỏi gối, ăn uống không ngon miệng, đi tiểu nhiều, tiêu chảy mãn tính thì ăn hạt dẻ có tác dụng giảm nhẹ tình trạng bệnh.

Dược vương nổi tiếng Trung Hoa, Tôn Tư Mạc từng nói rằng, hạt dẻ chính là "quả dành cho thận", đặc biệt tốt cho người yếu thận.

- Tôm

Tôm có hương vị thơm ngon, vừa ngọt vừa mặn, có tác dụng tốt trong việc bổ thận tráng dương, giúp tinh lực dồi dào. Nam giới thường xuyên ăn tôm có thể giúp cho khả năng tình dục được cải thiện đáng kể.


Dân gian có câu nói nổi tiếng "Nam tôm Nữ cua" hay là "đắt như tôm tươi" là với hàm ý như vậy. Tôm có nhiều loại, bạn có thể ăn loại nào cũng tốt, giúp người ốm yếu bồi bổ sức khỏe. Người chân tay yếu ớt, cơ thể suy nhược, khả năng tình dục hạn chế, chán ăn… thì đều nên ăn tôm hàng ngày.

- Hàu

Là hải sản có nhiều nguyên tố vi lượng, tính lạnh nhẹ, có thể ích dương bổ âm, bổ thận sinh tinh, có tác dụng tốt đối với nhóm người bị di tinh, tinh trùng yếu, bất lực, đổ mồ hôi đêm, nhịp tim đập nhanh và các triệu chứng khác.


- Trứng chim cút

Trứng chim cút được xem là một loại thuốc bổ tốt, có vai trò mạnh mẽ trong việc bổ thận tráng dương, tăng khả năng tình dục, giúp xương cốt chắc khỏe.

- Cá ngựa

Cá ngựa tính ấm, có tác dụng bổ thận tráng dương, người mắc chứng thiếu thận dương có thể ăn bổ sung để khắc phục hạn chế. Đặc biệt phù hợp với người mắc chứng bất lực, vô sinh, hen suyễn. Chế biến cá ngựa bằng cách phơi khô, nghiền thành bột và pha với rượu để uống, mỗi lần không quá 1-2g.


- Lá hẹ

Hẹ không chỉ là thực phẩm gia vị, mà Đông y còn xem đây là một vị thuốc quý với nhiều tác dụng. Nhóm người nên ăn hẹ gồm người cần bổ thận, điều trị đái dầm, đa niệu, liệt dương, mộng tinh, thuyên tắc mạch.

Trong lá hẹ có tinh dầu và cellulose nhiều hơn, có thể làm tăng khả năng vận động của dạ dày-ruột, có thể điều trị táo bón thông thường, phòng ngừa ung thư đại trực tràng.

Ngoài ra, một số thực phẩm có tác dụng tốt cho thận còn có táo, lạc, hạt thông, hạt hướng dương, quả óc chó, vải, thịt cừu và rong biển.

Vân Hồng
Theo: Trí Thức Trẻ

XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH - LÝ BẠCH


Xuân dạ Lạc thành văn địch

Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
Thử dạ khúc trung văn “Chiết liễu”,
Hà nhân bất khởi cố viên tình?


春夜洛城聞笛

誰家玉笛暗飛聲
散入春風滿洛城
此夜曲中聞折柳
何人不起故園情


Đêm xuân nghe tiếng sáo
ở thành Lạc Dương
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Nhà ai sáo ngọc đưa thanh.
Gió xuân đưa tới khắp thành Lạc Dương.
Đêm nghe "Chiết liễu" tỏ tường.
Trong lòng day dứt, lòng dường nhớ quê.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Đến Lạc Dương, gặp Đỗ Phủ kết làm bạn vong niên (Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi). Họ cùng Cao Thích vui chơi, thưởng trăng ngắm hoa, san bắn được nửa năm. Rồi ông lại tiếp tục chia tay Đỗ Phủ viễn du về phương nam. Những năm cuối đời ông ẩn cư ở Lư Sơn. Tương truyền năm 61 tuổi ông đi chơi thuyền trên sông Thái Thạch, tỉnh An Huy, uống say, thấy trăng lung linh đáy nước, nhảy xuống ôm trăng mà chết. Nay còn Tróc nguyệt đài (Đài bắt trăng) ở huyện Đăng Đồ, An Huy, là địa điểm du lịch nổi tiếng. Người đời phong danh hiệu cho ông là Thi tiên, Trích tiên, Tửu trung tiên,...

Nguồn: Thi Viện



TÔN TRUNG SƠN BẤT CHẤP ĐỂ KẾT HÔN VỚI TỐNG KHÁNH LINH

Khi hay tin Tôn Trung Sơn tổ chức hôn lễ với Tống Khánh Linh, Mai Ốc Đảo Cô cùng lo lắng, rưng rưng nước mắt khuyên chân thành: “Thưa tiên sinh, ông cưới cô Tống Khánh Linh còn trẻ như một thiếu nữ nhỏ tuổi, e rằng sẽ hao tổn phúc thọ của chính mình”.

Tôn Trung Sơn khi 49 tuổi quyết định kết hôn với Tống Khánh Linh ở tuổi 22.

Ngày 25/10/1915, tại Tokyo (Nhật Bản), trong tư dinh của luật sư nổi tiếng Hòa Điền Thụy, một đám cưới kín đáo, giản dị nhưng đủ sức làm thay đổi lịch sử cận đại đã lặng lẽ diễn ra. Tại hiện trường không có đông đảo quan khách ồn ào, không có nghi thức xa hoa, chỉ có vợ chồng Liêu Trọng Khải, nhà cách mạng Trần Kỳ Mỹ cùng một vài người bạn Nhật thân thiết đến chứng kiến.

Khi ấy, chú rể Tôn Trung Sơn đã là vị lãnh tụ cách mạng 49 tuổi, còn cô dâu Tống Khánh Linh mới chỉ 22, hai người chênh nhau tới 27 tuổi.

Cuộc hôn nhân vượt qua khuôn phép thế tục, phá bỏ định kiến ấy khi đó phải đối diện với sự phản đối dữ dội từ cha mẹ họ Tống, nhiều nghi ngờ từ đồng chí cách mạng, cùng sức ép nặng nề của dư luận xã hội. Nhưng sau hơn một thế kỷ lắng đọng, đây đã trở thành một trong những mối tình cách mạng cảm động và giàu màu sắc truyền kỳ nhất của Trung Quốc thế kỷ XX.

Bạn tri kỷ lâu năm của Tôn Trung Sơn ở Nhật là Mai Ốc Trang Cát, còn phu nhân ông là Mai Ốc Đảo Cô hiểu rất rõ việc đại nhân vật ấy lao tâm lao lực vì quốc sự, thể chất và tinh thần đều đã mỏi mệt. Khi hay tin hôn lễ, bà vô cùng lo lắng, rưng rưng nước mắt khuyên chân thành: “Thưa tiên sinh, ông cưới cô Tống Khánh Linh còn trẻ như một thiếu nữ nhỏ tuổi, e rằng sẽ hao tổn phúc thọ của chính mình”.

Trước lời khuyên thiện ý của bạn hữu, Tôn Trung Sơn vẫn điềm nhiên, lòng son không đổi, chậm rãi đáp: “Đời này được ở bên nàng, cùng nàng làm việc, dù ngày mai có qua đời, tôi cũng không oán không hối, như thế đã đáng sống”.

Việc đời nổi trôi, số mệnh như có hẹn trước. Chỉ 10 năm sau, vào năm 1925, Tôn Trung Sơn tích lao thành bệnh, kiệt quệ cả thể lực lẫn tinh thần, qua đời tại Bắc Kinh, hưởng dương 59 tuổi.

Người đời đều than rằng lời cảnh báo của phu nhân Mai Ốc quả đã ứng nghiệm. Có lẽ đó chỉ là sự trùng hợp của năm tháng, nhưng cuộc hôn nhân gắn liền với lý tưởng cách mạng ấy đã để lại dấu ấn sâu đậm không thể thay thế trong tiến trình cách mạng đầy biến động của Trung Quốc cận đại, vượt xa phạm vi của một mối tình nam nữ thông thường.

Hai mươi năm giao tình của bậc cha chú, cuộc gặp gỡ giữa cô gái trẻ và ánh sáng đầu tiên của cách mạng

Duyên phận giữa Tống Khánh Linh và Tôn Trung Sơn bắt nguồn từ tình bằng hữu cách mạng sâu nặng suốt 20 năm của thế hệ cha anh.

Cha của Tống Khánh Linh là Tống Gia Thụ, từ năm 1894 đã quen biết Tôn Trung Sơn nơi hải ngoại, rồi dần trở thành tri kỷ. Sau đó, Tống Gia Thụ dứt khoát dấn thân vào phong trào phản Thanh, lần lượt gia nhập Hưng Trung Hội rồi Trung Quốc Đồng Minh Hội. Suốt 20 năm như một, ông dốc sức người, sức của, đi khắp nơi giúp đỡ, âm thầm nâng đỡ sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn, là chỗ dựa kín đáo mà kiên định nhất của Tôn Trung Sơn.

Năm 1912, trong thư gửi bạn, Tôn Trung Sơn từng chân thành ca ngợi Tống Gia Thụ, gọi ông là “ẩn quân tử”, người suốt 20 năm vẫn giữ vững sơ tâm, vô tư giúp đỡ cách mạng. Khi ấy, tư dinh của họ Tống tại Thượng Hải luôn rộng cửa với Tôn Trung Sơn, là cứ điểm để các chí sĩ cách mạng bí mật hội họp, bàn mưu tính kế. Xưởng in của gia đình họ Tống ngoài mặt in sách Cơ Đốc giáo, nhưng thực chất bí mật in số lượng lớn các ấn phẩm tuyên truyền cách mạng, đặt nền móng cho việc truyền bá tư tưởng cứu nước.

Chính nhờ mối quan hệ sâu đậm ấy mà từ khi còn nằm trong nôi, Tống Khánh Linh đã có dịp gặp Tôn Trung Sơn. Năm 1894, khi Tôn Trung Sơn đến thăm nhà họ Tống, ông từng gặp Tống Khánh Linh lúc ấy mới hơn một tuổi. Năm tháng xoay vần, chẳng ai ngờ lần gặp ngây thơ ấy rồi sẽ mở đầu cho một mối nhân duyên lớn lao, vượt qua thời gian và bén rễ trong sự nghiệp cách mạng.

Mùa hè năm 1913, tình hình trong nước biến đổi dữ dội, cuộc “nhị thứ cách mạng” thất bại, Viên Thế Khải ra sức truy bắt, đàn áp các nhà cách mạng, khiến lực lượng cách mạng hoàn toàn mất chỗ đứng trong nước. Tháng 8 cùng năm, Tôn Trung Sơn buộc phải lưu vong sang Nhật, tập hợp lại lực lượng tan tác, thành lập Trung Hoa Cách mệnh Đảng, dồn sức chuẩn bị cho một làn sóng đấu tranh mới nhằm đánh đổ Viên Thế Khải.

Để tránh sự đàn áp chính trị trong nước và bảo toàn sự an toàn cho cả gia đình, gia đình Tống Gia Thụ cũng chuyển toàn bộ sang Nhật lánh nạn.

Ngày 29/8/1913, Tống Khánh Linh – khi ấy vừa từ Học viện Nữ Wesleyan ở Mỹ học xong trở về – đặt chân tới Yokohama (Nhật Bản). Ngày hôm sau, cô cùng cha và chị gái chuyên đến bái kiến Tôn Trung Sơn, người tiên phong cách mạng đang lưu vong nơi đất khách.

Đó là lần đầu tiên Tống Khánh Linh trưởng thành chính thức gặp thần tượng cách mạng mà mình hằng ngưỡng mộ. Cuộc gặp ngây ngô trong nôi 19 năm trước, cô đã chẳng còn chút ký ức nào. Nhưng chính lần gặp này đã hoàn toàn thay đổi quỹ đạo cuộc đời của cả hai.

Tôn Trung Sơn tuy ở nơi lưu vong, đang trong nghịch cảnh, song vẫn kiên cường bất khuất, toàn tâm toàn ý lo việc khôi phục phong trào cách mạng. Khi nói đến con đường dân tộc, tương lai đất nước, sự quả quyết và tấm lòng chân thành của ông đã lay động sâu sắc trái tim cô nữ sinh trẻ vừa rời ghế nhà trường, tạo nên từng gợn sóng mãnh liệt trong lòng cô.

Không lâu sau, Tống Khánh Linh chủ động giúp cha và chị gái xử lý thư từ tiếng Anh, văn thư đối ngoại cho Tôn Trung Sơn. Tháng 9/1914, sau khi chị gái cô là Tống Ái Linh kết hôn với Khổng Tường Hy tại Yokohama và rút lui khỏi công việc, Tống Khánh Linh chính thức tiếp nhận trọng trách, trở thành thư ký tiếng Anh chuyên trách của Tôn Trung Sơn.

Từ đó, cô hằng ngày ở bên cạnh ông, sắp xếp điện văn quân chính, dịch tài liệu ngoại ngữ, xử lý liên lạc đối ngoại, tỉ mỉ và vững vàng xử lý đủ loại công việc phức tạp. Trong hồ sơ theo dõi của mật thám Bộ Ngoại giao Nhật Bản năm ấy, nhiều lần có ghi chép bóng dáng Tống Khánh Linh ra vào nơi ở của Tôn Trung Sơn. Những dòng chữ vốn dùng để giám sát hoạt động cách mạng ấy lại vô tình lưu giữ những tư liệu quý giá về quá trình hai người quen biết, đồng hành và dần nảy sinh tình cảm.

Qua những tháng ngày gần gũi ấy, Tôn Trung Sơn ngày càng đánh giá cao năng lực và tầm vóc của cô gái trẻ này. Cô không chỉ có trình độ tiếng Anh vững vàng, mà sự nhận thức và thấu hiểu đối với lý tưởng cách mạng, đại nghiệp cứu nước còn vượt xa một nhân viên văn thư thông thường. Tính tình trầm tĩnh, chăm chú, làm việc nghiêm cẩn tỉ mỉ, những việc được giao hầu như không hề sai sót; ngay cả khi gặp tình huống đột xuất, cô vẫn luôn bình tĩnh, ung dung ứng phó.

Còn tình cảm của Tống Khánh Linh với Tôn Trung Sơn cũng dần lắng đọng: từ ngưỡng mộ kính phục ban đầu, chậm rãi hóa thành sự quyến luyến sâu sắc và một niềm đi theo kiên định.

Nhiều năm sau, khi trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ Edgar Snow, bà từng thẳng thắn nói: “Khi còn trẻ, tôi không đơn thuần chìm trong tình yêu nam nữ, mà chỉ mang theo lý tưởng và nhiệt thành rất đỗi trong sáng của một thiếu nữ. Tôi một lòng muốn góp chút sức mọn để cứu nước cứu dân, còn Bác sĩ Tôn là người duy nhất có thể dẫn dắt Trung Quốc đi ra khỏi bóng tối, đón lấy sự hồi sinh. Vì thế, tôi kiên định muốn đi theo ông, trợ giúp ông”.

Những lời mộc mạc ấy, dù có phần khiêm nhường, vẫn cho thấy rất rõ: ngay từ buổi đầu gặp gỡ, Tống Khánh Linh đã gắn chặt lý tưởng cá nhân, chí hướng đời mình với vận mệnh quốc gia và sự nghiệp cách mạng. Tình cảm ấy từ đầu đến cuối đều trong sáng và kiên định.

Tháng 6/1915, Tống Khánh Linh trở về Thượng Hải thăm nhà. Trước khi đi, cô và Tôn Trung Sơn đã âm thầm ước hẹn: sau khi về quê, cô sẽ hết sức thuyết phục cha mẹ chấp thuận cho hai người kết hôn.

Cô biết rất rõ cuộc hôn nhân này gặp vô vàn cản trở, khó như lên trời. Hai người không chỉ chênh nhau 27 tuổi, mà khi ấy Tôn Trung Sơn còn có người vợ đầu là Lư Mộ Trinh; con trai trưởng của ông là Tôn Khoa thậm chí còn lớn tuổi hơn Tống Khánh Linh.

Trong mắt Tống Gia Thụ, Tôn Trung Sơn tuổi tác xấp xỉ mình, lại là bạn thân hoạn nạn hơn 20 năm, nay lại muốn cưới con gái mình thì cả về tình lẫn về lý, lại càng trái với luân lý truyền thống.

Nhưng sau khi về nhà, Tống Khánh Linh mới thấy mức độ phản đối của gia đình còn dữ dội hơn nhiều so với tưởng tượng. Vợ chồng Tống Gia Thụ nổi giận không nguôi, mẹ cô là bà Nghê Quế Trinh rơi lệ khuyên nhủ: Tôn Trung Sơn đã có gia thất, con cái lại lớn tuổi hơn cô, vai vế quá chênh lệch, tuổi tác cách biệt quá xa; ông ấy là bạn thân của thế hệ cha chú, chỉ có thể là bậc trưởng bối, tuyệt đối không thể trở thành chồng.

Tống Khánh Linh cãi lời cha mẹ để kết hôn với Tôn Trung Sơn.

Để cắt đứt hoàn toàn tình cảm của hai người, Tống Gia Thụ trực tiếp giam lỏng Tống Khánh Linh trong nhà, cắt đứt liên lạc với bên ngoài, đồng thời gấp rút chọn người mai mối, định sắp đặt vội vàng cho cô một cuộc hôn nhân khác để dập tắt hẳn ý nghĩ ấy.

Dù bị giam lỏng, hành động bị hạn chế, Tống Khánh Linh vẫn không hề thỏa hiệp, lùi bước. Người hầu canh giữ cô thương cảm cho cô gái cứng cỏi ấy, nhân lúc đi chợ đã lén giúp cô gửi một bức thư, kể rõ mọi cảnh ngộ của mình cho Tôn Trung Sơn ở tận Nhật Bản.

Nhận được thư, Tôn Trung Sơn nóng lòng như lửa đốt, lập tức cử tâm phúc Chu Trác Văn đến Thượng Hải tiếp ứng. Tháng 10/1915, Chu Trác Văn tới Thượng Hải, không chỉ mang theo bức điện viết tay của Tôn Trung Sơn, mà còn mang đến tin then chốt: Tôn Trung Sơn đã chính thức chấm dứt quan hệ hôn nhân với người vợ đầu Lư Mộ Trinh, quét sạch trở ngại lớn nhất đối với hôn sự của hai người.

Sau khi xác nhận mọi chướng ngại đã được gỡ bỏ, Tống Khánh Linh đưa ra một quyết định làm thay đổi cả đời mình: lợi dụng màn đêm, trèo qua cửa sổ trốn khỏi nơi bị giam lỏng, trong đêm theo Chu Trác Văn xuống tàu sang Nhật, đi tìm lý tưởng cách mạng và tình yêu của mình. Trước lúc đi, cô để lại cho cha mẹ một bức thư từ biệt, từng câu từng chữ đều chan chứa thành ý và quyết tâm.

Người vợ đầu rộng lòng tác thành, tri kỷ rưng rưng tiễn đưa một mối tình sâu nặng giữa loạn thế

Tin Tống Khánh Linh trong đêm sang Nhật, nhất quyết kết hôn, truyền về Thượng Hải khiến Tống Gia Thụ hoàn toàn nổi giận. Để kéo con gái trở về và ngăn cản cuộc hôn nhân này, ông lập tức cùng vợ Nghê Quế Trinh lên chuyến tàu tiếp theo sang Nhật, định trực tiếp khuyên Tống Khánh Linh quay đầu, cắt đứt hôn ước.

Sau khi đến Tokyo, Tống Gia Thụ công khai trách mắng Tôn Trung Sơn, cứng rắn yêu cầu hủy hôn ước, nói thẳng rằng Tống Khánh Linh còn chưa thành niên, hơn nữa hôn sự chưa được sự đồng ý của cha mẹ, xét theo đạo lý thì không thể chấp nhận. Nhưng khi ấy hai người đã định xong hôn sự, mọi chuyện đã thành sự thật, không thể cứu vãn.

Trong lúc bất lực, Tống Gia Thụ tức giận tuyên bố cắt đứt tình giao hơn 20 năm với Tôn Trung Sơn, đồng thời đoạn tuyệt quan hệ cha con với con gái Tống Khánh Linh, để trút nỗi phẫn uất và khó hiểu trong lòng.

Cơn giận của Tống Gia Thụ không phải vô cớ. Theo giáo lý Cơ Đốc, người đã có gia đình không được tái hôn, hành động này của Tôn Trung Sơn là trái giáo lý. Đồng thời trong nội bộ những người cách mạng, không ít đồng chí cũng lên tiếng dị nghị, cho rằng với tư cách một lãnh tụ cách mạng, ông nên lấy mình làm gương, giữ gìn đạo lý, không nên phá bỏ lễ tục thông thường mà gây ra tranh cãi dư luận.

Trước vô vàn lời chỉ trích và những trách cứ dồn dập, Tôn Trung Sơn vẫn luôn thẳng thắn điềm nhiên, lập trường kiên định: “Tôi là người làm cách mạng, cả đời phá bỏ thói cũ, đổi mới thời cuộc, tuyệt đối không để những hủ tục cũ kỹ trói tay trói chân mình. Tôi không phải bậc thánh hiền thần linh nào, mà chỉ là một con người bình thường có huyết nhục, có tấm lòng với gia quốc”.

Và mấu chốt then chốt nhất để cuộc hôn nhân này có thể trọn vẹn thành hiện thực nằm ở người vợ đầu của Tôn Trung Sơn – bà Lư Mộ Trinh.

Lư Mộ Trinh là một phụ nữ kiểu cũ, cuộc hôn nhân với Tôn Trung Sơn là sản phẩm của chế độ hôn nhân sắp đặt phong kiến. Bà chân chất, hiền hậu, chăm chỉ quán xuyến việc nhà, cả đời lo toan nội trợ, tận tâm nuôi dạy con cái, lặng lẽ bảo vệ gia đình; nhưng bà chưa từng được tiếp nhận giáo dục phương Tây, không thể thấu hiểu lý tưởng cách mạng và đại nghiệp cứu nước của Tôn Trung Sơn. Giữa hai người từ lâu đã không còn tiếng nói chung, thế giới tinh thần cũng ngày càng xa cách.

Khi Tôn Trung Sơn nhậm chức Tổng thống lâm thời, ông từng đón bà tới Nam Kinh sinh sống. Sau khi “nhị thứ cách mạng” thất bại, Lư Mộ Trinh không muốn theo Tôn Trung Sơn lưu vong hải ngoại, phiêu bạt khắp nơi, nên từ đó định cư tại Ma Cao, sống yên ổn qua ngày.

Trong xã hội phong kiến truyền thống, khi đối diện với việc chồng tìm duyên mới, phần lớn phụ nữ kiểu cũ chỉ có thể cam chịu nhẫn nhịn, hoặc chấp nhận chuyện nạp thiếp, chịu ấm ức để giữ đại cục. Nhưng Tôn Trung Sơn chưa từng nghĩ tới chuyện làm khổ bất kỳ ai, càng không muốn Tống Khánh Linh phải mang tiếng thị phi.

Tống Khánh Linh khi ấy kiên định với quan niệm tình yêu hôn nhân mới, chỉ đưa ra một yêu cầu duy nhất: giữ vững nguyên tắc một vợ một chồng của thời đại mới; nếu muốn kết hôn thì phải chính thức ly hôn với Lư Mộ Trinh, chấm dứt hoàn toàn mối ràng buộc cũ. Sự kiên định ấy vừa là giới hạn của cô, vừa rất phù hợp với lý tưởng cách mạng mà Tôn Trung Sơn chủ trương: tự do, bình đẳng, phá cũ lập mới.

Tháng 3/1915, Tôn Trung Sơn đích thân viết thư cho Lư Mộ Trinh ở Ma Cao, thành thật nói rõ tình cảm giữa mình và Tống Khánh Linh, hỏi ý kiến bà. Bản tính ôn hòa, thấu tình đạt lý, Lư Mộ Trinh sau khi đọc thư đã bình thản thấu hiểu, lặng lẽ đáp lại một chữ: “Được”.

Tháng 9 cùng năm, Lư Mộ Trinh, dưới sự tháp tùng của Chu Mộ Phi – con gái Chu Chấp Tín – đã từ Ma Cao sang Tokyo, Nhật Bản, chính thức bàn việc ly hôn với Tôn Trung Sơn. Bà hiểu rằng học vấn bản thân nông cạn, bị giới hạn bởi lối cũ, tầm mắt và cách nghĩ đều không thể so với Tống Khánh Linh – người đã được giáo dục cao đẳng phương Tây – cũng không thể cùng Tôn Trung Sơn sánh vai trên con đường cách mạng, cùng gánh vác việc nước. Bởi vậy, bà chọn cách rộng lượng tác thành, rút lui một cách đàng hoàng.

Ngày 23/9/1915, hai người chính thức hoàn tất thủ tục ly hôn, khép lại cuộc hôn nhân sắp đặt kéo dài 32 năm. Sau đó, Lư Mộ Trinh ẩn cư tại hai nơi ở phố Phong Thuận Đường và phố A Mã Cảng ở Ma Cao, lặng lẽ sống trọn quãng đời còn lại cho đến khi qua đời thanh thản vào năm 1952. Cuộc chia tay giữa bà và Tôn Trung Sơn không có tranh cãi, không oán hận, không dây dưa, chỉ còn lại sự thấu hiểu và thành toàn.

Sau đó, trong thư gửi người thầy người Anh của mình là Cantlie, Tôn Trung Sơn chân thành bày tỏ cảm giác như được sống lại: “Người vợ mới của tôi được giáo dục phương Tây hàng đầu, là con gái của người bạn chí cốt đồng thời là đồng chí cách mạng của tôi. Đồng hành cùng nàng, tôi bước vào một cuộc đời hoàn toàn mới, có được đời sống gia đình chân thực mà trước đây chưa từng cảm nhận. Được ở bên tri kỷ, được đồng hành cùng một trợ thủ như thế, cùng nhau dốc sức cho lý tưởng cứu nước, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc”.

Ngoài những cản trở từ thế tục và gia đình, lời can gián đầy thiện ý của phu nhân Mai Ốc trước lễ cưới trở thành mối băn khoăn cuối cùng trong lòng Tôn Trung Sơn.

Trong thời gian lưu vong ở Nhật, Tôn Trung Sơn nhiều năm trú tại nhà người bạn thân Mai Ốc Trang Cát. Tình nghĩa cách mạng giữa hai người bắt đầu từ năm 1895. Khi ấy, khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, Tôn Trung Sơn tháo chạy sang Nhật, chính Mai Ốc Trang Cát đã dốc hết gia tài giúp đỡ. Trong mấy chục năm sau đó, ông vẫn liên tục rót lượng tiền lớn cho cách mạng Trung Quốc, âm thầm hỗ trợ đại nghiệp cứu nước.

Chính vì quá hiểu việc Tôn Trung Sơn vì nước mà lao lực, tiêu hao cả thân lẫn tâm, Mai Ốc Đảo Cô mới rưng rưng khuyên ông nên thận trọng với hôn sự, giữ gìn sức khỏe. Nhưng trước nỗi lo chân thành của bạn bè, Tôn Trung Sơn vẫn không đổi lòng, ý chí kiên định, câu nói “dù ngày mai lìa đời cũng không hối hận” đã bộc lộ trọn vẹn tấm lòng son và sự quyết tuyệt của một người cách mạng.

Nghe vậy, Mai Ốc Đảo Cô hết sức xúc động, không khuyên ngăn thêm nữa, trái lại còn toàn tâm toàn ý chuẩn bị hôn lễ cho hai người, sắp xếp chu đáo việc tổ chức ngay tại nhà mình, tác thành cho một mối duyên giữa loạn thế.

Ngày 24/10/1915, Tống Khánh Linh thuận lợi tới Tokyo từ Thượng Hải. Hồ sơ theo dõi của mật thám Nhật năm ấy còn ghi rất rõ: chiều hôm đó lúc 1 giờ 30 phút, Tôn Trung Sơn đích thân đi xe tới ga Tokyo đón Tống Khánh Linh; lúc 1 giờ 50 phút cùng Tống Khánh Linh và một phụ nữ đi cùng lên đường trở về; 2 giờ 30 phút an toàn tới nơi ở của Tôn Trung Sơn.

Tôn Trung Sơn qua đời ở tuổi 59.

Ngày hôm sau, hai người tới nhà luật sư Hòa Điền Thụy làm thủ tục kết hôn chính thức, đồng thời ủy thác luật sư tới Tòa thị chính Tokyo hoàn tất việc đăng ký hôn nhân. Bản khế ước hôn nhân được lập thành ba bản, soạn bằng tiếng Nhật, điều khoản chặt chẽ, thể hiện tấm lòng son sắt của đôi bên.

Khế ước nêu rõ: hai người sẽ sớm hoàn tất thủ tục hôn nhân chính thức phù hợp với luật pháp Trung Quốc; suốt đời vợ chồng đồng tâm, tương trợ bên nhau, cùng tiến cùng gắng; dù gặp bất cứ biến cố, dị nghị hay cản trở nào, cả hai vẫn giữ vững lời thề, không oán không hối, bảo vệ danh dự của nhau và gìn giữ sơ tâm của cuộc hôn nhân này.

Điều đáng chú ý là để phù hợp với phong tục cưới hỏi của người Nhật, cầu mong sự cát tường hanh thông, ngày ghi dưới khế ước được đặc biệt viết là 26/10 (ngày chẵn được coi là lành), chứ không phải ngày 25 – ngày thực tế diễn ra hôn lễ. Ngoài ra, khi ký tên vào khế ước, Tống Khánh Linh đã viết giản lược chữ “Linh” thành “Lâm”: một là nét chữ đơn giản, tiện viết; hai là vì sang Nhật vội vàng, không mang theo con dấu cá nhân. Chi tiết ấy trở thành một dấu ấn rất riêng của mối lương duyên trăm năm này.

Toàn bộ hôn lễ giản dị, mộc mạc, không chút phô trương. Tống Khánh Linh đội chiếc mũ ren tinh xảo, mặc váy dài thêu hoa phối hai màu hồng – xanh lục nhạt, tay cầm bó hoa, dáng vẻ dịu dàng thanh nhã. Hiện trường chỉ có vài người bạn thân như gia đình Liêu Trọng Khải tới chứng kiến. Liêu Mộng Tỉnh khi ấy mới 11 tuổi, giỏi tiếng Nhật, đã chủ động làm phiên dịch cho hôn lễ. Theo phong tục Nhật Bản, các khách mời cùng ăn bánh nếp đậu đỏ và cùng hát bài ca chúc hôn, nghi thức tuy đơn sơ nhưng chan chứa ấm áp.

Khác với trang sức vàng bạc châu báu trong những đám cưới thế tục, món tín vật tân hôn mà Tôn Trung Sơn tặng Tống Khánh Linh lại là một khẩu súng Mauser của Đức. Ông trịnh trọng dặn vợ: khẩu súng này có 20 viên đạn, 19 viên dùng để chống ngoại địch, bảo vệ cách mạng; viên cuối cùng dùng để giữ trọn khí tiết cho bản thân trong lúc nguy nan. Món quà cưới độc nhất vô nhị ấy đã nói hết tấm lòng thành của đôi bạn đời cách mạng: cùng sống chết, cùng bước vào hiểm nguy.

Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh: Mười năm bên nhau cháy hết thanh xuân, một đời giữ trọn sơ tâm

Sau hôn lễ, vợ chồng Tống Gia Thụ vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ, lại một lần nữa sang Nhật, khuyên Tống Khánh Linh từ bỏ cuộc hôn nhân và theo cha mẹ về quê. Nhưng Tống Khánh Linh đã sớm xác định rõ lòng mình, từ đầu đến cuối vẫn kiên định như cũ, không hề có nửa phần dao động.

Sau nhiều lần va vấp và chịu đả kích, Tống Gia Thụ uất kết trong lòng, lâm bệnh nặng. Tấm lòng cha mẹ nào cũng thương con, dù trong cơn tức giận từng tuyên bố đoạn tuyệt, nhưng trong lòng vẫn không thể buông được con gái. Cuối cùng, Tống Gia Thụ vẫn chuẩn bị cho Tống Khánh Linh một khoản hồi môn hậu hĩnh: một bộ đồ mây gỗ gồm giường đôi, tủ áo, tủ năm ngăn, bàn trang điểm, một tấm chăn thêu đầy chữ cát tường, cùng chiếc áo bào gấm thêu dùng trong hôn lễ mà mẹ cô – bà Nghê Quế Trinh – cất giữ bao năm. Tất cả đều được gửi sang Nhật, giấu trong đó là tình thương và sự nhượng bộ lặng lẽ của cha mẹ.

Sau khi kết hôn, Tống Khánh Linh không hề đắm chìm trong hạnh phúc riêng tư, mà vẫn kiên định với vị trí của mình, ngày đêm ở bên Tôn Trung Sơn với tư cách thư ký riêng, giúp ông xử lý vô vàn công việc quân chính, đồng thời chăm sóc sinh hoạt đời thường của ông, trở thành tri kỷ thân thiết nhất và trợ thủ đắc lực nhất trên con đường cách mạng của ông.

Tháng 11/1915, trong thư gửi bạn học cũ ở Mỹ, Tống Khánh Linh dịu dàng viết: “Chồng tôi học vấn uyên bác, trong lòng luôn mang đất nước. Mỗi khi ông tạm gác lại mệt mỏi công việc, ông luôn nhẫn nại giải đáp cho tôi, kể cho tôi nghe lý tưởng quốc gia dân tộc. Khoảng thời gian được ở bên ông thật trong sáng và tốt đẹp, khiến tôi vui mừng trong lòng, cũng thấy vô cùng yên tâm.”

Năm 1916, màn kịch xưng đế của Viên Thế Khải chấm dứt và thất bại, tình hình trong nước tạm thời ổn định đôi chút. Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh kết thúc cuộc đời lưu vong, trở về Thượng Hải, tiếp tục dốc sức cho sự nghiệp cách mạng, vì đại nghiệp cứu nước. Trong mấy năm sau, Tôn Trung Sơn hai lần xuống Quảng Châu, phát động phong trào hộ pháp, đảm nhiệm chức Đại Tổng thống đặc biệt, ra sức xây dựng căn cứ cách mạng phương Nam; còn Tống Khánh Linh từ đầu đến cuối luôn không rời nửa bước, sát cánh cùng ông.

Tháng 6/1922, Quảng Châu bất ngờ xảy ra binh biến, Trần Quýnh Minh công khai phản loạn, dẫn quân bắn phá phủ tổng thống. Tình thế nguy cấp, khói lửa ngập trời. Trong thời khắc sinh tử ấy, cả Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh đều chỉ nghĩ đến đối phương, tranh nhau để người kia rút lui trước.

Trong lúc giằng co, Tống Khánh Linh đã nói ra câu nói lay động lòng người, được truyền tụng suốt trăm năm: “Trung Quốc có thể không có tôi, nhưng tuyệt đối không thể không có ông”.

Chỉ sau khi Tôn Trung Sơn phá vây an toàn, thoát khỏi hiểm cảnh, Tống Khánh Linh mới mạo hiểm rời đi trong cơn hỗn loạn. Khi ấy bà đang mang thai, nhưng vì quá hoảng sợ, đường trường mệt nhọc, thân tâm đều kiệt quệ nên không may bị sảy thai. Đây cũng là lần duy nhất trong đời bà mang thai, từ đó suốt đời không có con.

Dẫu trải qua họa sinh tử, mất đi giọt máu của mình, Tống Khánh Linh vẫn không hề đổi lòng, tiếp tục theo Tôn Trung Sơn bôn ba vì cách mạng. Năm 1924, Tôn Trung Sơn lên phía Bắc để đàm phán với chính quyền quân phiệt Bắc Dương, giữa đường không may bị chẩn đoán ung thư gan, trọng bệnh quấn thân. Trong suốt hành trình ấy, Tống Khánh Linh luôn kề cận không rời, ngày đêm săn sóc, dốc hết khả năng để bảo vệ người mình yêu.

Ngày 11/3/1925, khi Tôn Trung Sơn biết mình không còn sống được bao lâu, dưới sự dìu đỡ của Tống Khánh Linh, ông đã trịnh trọng ký tên lên bản di chúc do Uông Triệu Minh chấp bút, để lại lời gửi gắm của cả đời mình.

Trong di chúc gia sự, từng câu từng chữ đều thành thật: “Ta suốt đời vì nước, tận tụy đến cùng, chưa từng sắm riêng tài sản, tích lũy của cải. Những gì còn lại như sách vở, quần áo, nhà cửa cùng toàn bộ tài vật, đều để lại cho vợ là Tống Khánh Linh, coi như kỷ niệm của đời ta”.

Trước lúc lâm chung, ông còn đặc biệt gửi gắm Tống Khánh Linh cho người chiến hữu suốt đời là Hà Hương Ngưng, tha thiết dặn rằng: sau khi tôi qua đời, nhất định phải đối đãi tử tế với Tôn phu nhân, chớ vì bà ấy không có gia sản, không có chỗ dựa mà coi thường, lạnh nhạt.

Ngày 12/3/1925, Tôn Trung Sơn đã trút hơi thở cuối cùng tại Bắc Kinh, hưởng dương 59 tuổi.

Từ mùa thu năm 1915 thành hôn đến mùa xuân năm 1925 vĩnh biệt, hai người nương tựa bên nhau, cùng chung mưa gió chưa đầy 10 năm. Lời nhắc nhở thiện ý năm xưa của phu nhân Mai Ốc rằng “sẽ tổn thọ” rốt cuộc cũng lặng lẽ ứng nghiệm theo cách tiếc nuối nhất.

Nhưng ai cũng hiểu rằng, ngay từ buổi đầu thành hôn, Tôn Trung Sơn đã sớm xem nhẹ phúc thọ cá nhân, coi cái sống cái chết chỉ như lẽ thường. Với ông, được tri kỷ ở bên, được người bạn đời trợ giúp, dốc trọn quãng đời còn lại cho đại nghiệp cứu nước, thì dù chỉ có 10 năm cũng đã là đời này không uổng. Điều nuối tiếc duy nhất suốt đời ông chưa bao giờ là thọ mệnh ngắn ngủi, mà là 10 năm quá ngắn, cả đời còn dang dở, chưa thể tận mắt thấy non sông yên ổn, quốc gia đổi mới.

Vĩ nhân đã khuất, nhưng sơ tâm vẫn còn. Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Tống Khánh Linh khi ấy mới 32 tuổi đã một mình kiên trì với lý tưởng ban đầu, lặng lẽ đi qua 56 năm dài đằng đẵng. Bà suốt đời không tái giá, luôn lấy thân phận “Tôn phu nhân” để gìn giữ lý tưởng cách mạng, kế thừa di nguyện của người chồng quá cố, tiếp tục dấn thân cho sự nghiệp cứu nước và đại nghĩa quốc gia.

Bà từng nói rằng ngày 25/10 – ngày thành hôn – với bà còn quan trọng hơn cả ngày sinh, là ngày đặc biệt được khắc sâu suốt đời, không bao giờ quên. Về già, trong thư gửi người bạn thân Liêu Mộng Tỉnh, bà từng thổ lộ: người bà yêu nhất đời, người duy nhất khiến bà thực lòng rung động, chỉ có Tôn Trung Sơn.

Năm 1981, Tống Khánh Linh qua đời thanh thản tại Bắc Kinh, hưởng thọ 88 tuổi. Theo di nguyện khi còn sống, tro cốt của bà được an táng tại nghĩa trang Vạn Quốc ở Thượng Hải, trong khu mộ gia tộc họ Tống, an nghỉ bên cha mẹ chứ không hợp táng với Tôn Trung Sơn ở lăng Trung Sơn, Nam Kinh.

Lựa chọn ấy, sau hơn một thế kỷ nhìn lại, vẫn ẩn chứa sự dịu dàng và kiên định rất đỗi thấu triệt. Cô gái năm 1915 từng trèo cửa sổ, băng qua biên giới, bất chấp tất cả để đi tìm lý tưởng và chân ái, đã dùng cả cuộc đời mình để thực hành sơ tâm, giữ gìn đại nghĩa; và cuối cùng lấy cách trở về an nghỉ nơi quê nhà, ở bên cha mẹ, để khép lại một đời sóng gió, rực rỡ mà cũng vô cùng trọn vẹn.

Minh Tuấn (Theo Sohu)

TRÙNG DƯƠNG TRONG THƠ ĐƯỜNG VÀ TỪ TỐNG: LÊN CAO, NGẮM CÚC, NHỚ NGƯỜI THÂN

Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, hai con số chín gặp nhau tạo thành tên gọi Trùng Dương. Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, ngày này gắn với việc lên cao, ngắm cúc, dùng bánh và nhớ đến người thân. Qua thơ Đường, từ Tống, cùng một dịp lễ còn mở ra nhiều tâm trạng: nỗi nhớ nhà, tình bạn, sự cô quạnh và suy ngẫm về tuổi già. DKN từng giới thiệu các phong tục và ý nghĩa chung của Tết Trùng Dương ; bài này tập trung vào cách các thi nhân diễn tả chúng.

Ảnh minh hoạ phong cảnh mùa thu; không phải địa điểm hay nhân vật lịch sử cụ thể.

Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, hai con số chín gặp nhau tạo thành tên gọi Trùng Dương. Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, ngày này gắn với việc lên cao, ngắm cúc, dùng bánh và nhớ đến người thân. Qua thơ Đường, từ Tống, cùng một dịp lễ còn mở ra nhiều tâm trạng: nỗi nhớ nhà, tình bạn, sự cô quạnh và suy ngẫm về tuổi già. DKN từng giới thiệu các phong tục và ý nghĩa chung của Tết Trùng Dương; bài này tập trung vào cách các thi nhân diễn tả chúng.

Lên cao để nhìn xa và nhớ người ở xa

Một tích truyện về tục đăng cao xuất hiện trong Tục Tề hài ký của Ngô Quân thời Nam triều. Theo truyền thuyết, Phí Trường Phòng báo trước cho Hoàn Cảnh rằng gia đình sẽ gặp tai họa vào ngày 9/9, dặn mọi người mang thù du, lên núi và uống rượu hoa cúc. Khi trở về, họ thấy gia súc trong nhà đã chết. Đây là câu chuyện dân gian giải thích phong tục, không phải một biến cố có thể xác nhận như sử liệu.

Đến thơ Đường, lên cao không chỉ mang ý cầu tránh điều dữ. Lư Chiếu Lân, trong bài Ngày 9 tháng 9 ngắm núi Huyền Vũ, nhìn núi sông mà thấy nỗi nhớ quê chồng chất. Người xa xứ cùng uống chén rượu cúc, nhìn cánh nhạn giữa trời thu và nghĩ đến quãng đường xa nhà.

Vương Duy cũng viết Ngày 9 tháng 9 nhớ anh em ở Sơn Đông khi còn trẻ. Ông không miêu tả một cuộc đoàn tụ có mình trong đó; thay vào đó, ông hình dung anh em ở quê cùng lên cao, cài thù du, rồi nhận ra vắng một người. Cách đổi góc nhìn ấy khiến nỗi nhớ thân nhân hiện lên qua một chỗ trống giữa cuộc vui.

Bài Đăng cao của Đỗ Phủ không nhắc tên lễ Trùng Dương, nhưng cảnh gió mạnh, trời cao, lá rụng và dòng Trường Giang chảy mãi khiến tác phẩm thường được đọc cùng mạch thơ thu, đăng cao. Trước không gian rộng lớn ấy là một con người phiêu bạt, bệnh tật và già đi giữa thời loạn. Cảnh vật và thân phận soi vào nhau, tạo nên giọng thơ trầm buồn đặc biệt.


Hoa cúc, chén rượu và cuộc gặp gỡ

Cúc nở giữa mùa thu nên trở thành hình ảnh quen thuộc của ngày Trùng Dương. Tây Kinh tạp ký chép tục hái cúc, phối với gạo nếp để ủ rượu, đợi tới Trùng Dương năm sau mới uống. Cũng theo sách này, người trong cung Hán từng cài thù du, ăn bánh và uống rượu cúc với ước nguyện trường thọ. Đó là ghi chép về tín niệm, tập tục cổ; không thể xem lời cầu trường thọ là chứng cứ về tác dụng chữa bệnh của rượu hay hoa cúc.

Đào Uyên Minh nhắc tới vườn cúc đầy hoa trong lời tựa Cửu nhật nhàn cư; hình ảnh hái cúc dưới giậu đông ở thơ ông về sau càng gắn với một lối sống thanh đạm, tự tại. Với Mạnh Hạo Nhiên, hoa cúc lại là lời hẹn giản dị. Cuối bài Qua nhà bạn cũ, sau bữa cơm nhà giữa làng quê, nhà thơ mong đến Trùng Dương sẽ trở lại cùng bạn ngắm cúc.

Sang thời Tống, Lý Thanh Chiếu đưa ngày lễ vào một không gian khác trong từ Túy hoa âm. Sương mỏng, mây dày, hơi lạnh lúc nửa đêm và hương cúc sau chén rượu khiến nỗi nhớ người thương hiện rõ. Nếu thơ Mạnh Hạo Nhiên giữ niềm vui chờ gặp lại, bài từ này đặt người đọc trước sự vắng mặt ngay giữa ngày hội.

Thù du và bánh: những vật nhỏ mang lời chúc

Cành thù du, theo các văn bản về lễ Trùng Dương, có thể được cài trên tóc, mang bên người hoặc gửi cho người thân. Trong thơ Vương Duy, nó gắn với cuộc sum họp thiếu một người; ở thơ Lý Bạch, nó gợi mái tóc bạc sớm. Một nhành cây nhỏ nhờ thế trở thành dấu hiệu của tình thân và ý thức về thời gian.

Bên cạnh việc lên núi, người xưa còn làm bánh Trùng Dương. Đông Kinh mộng hoa lục ghi cảnh người ở Biện Kinh thời Tống hấp bánh, trang trí bằng hạt quả và gửi tặng nhau trước ngày lễ. Âm “cao” của bánh gần âm “cao” trong lên cao, vì vậy món ăn cũng gửi gắm mong ước mọi việc tiến lên, thuận lợi. Tập tục ăn bánh làm cho lời chúc có thể đến với cả những người không đi đăng cao.


Tôn kính người già

Bài viết của tác giả Viễn Sơn trên Khán Trung Quốc còn nối ý cầu thọ của ngày lễ với truyền thống kính lão. Lễ ký, phần Nguyệt lệnh, có lời về việc chăm sóc người già khi sang thu, cấp chỗ tựa, gậy và cháo. Những ghi chép này cho thấy sự kính trọng tuổi tác từng được diễn đạt thành hành động cụ thể, bên cạnh lời chúc trong gia đình.

Từ ngọn núi trong truyền thuyết, bầu trời thu trong thơ đến mâm bánh và chén rượu của cuộc gặp bạn, Trùng Dương có nhiều lớp ý nghĩa. Điểm gặp nhau là ước mong người thân bình an, được nhớ đến và được chăm sóc khi tuổi tác đi qua. Đọc lại những câu thơ, người hôm nay có thể thấy một ngày lễ cũ vẫn chứa những tình cảm rất gần gũi.

Nguồn: Viễn Sơn, Khán Trung Quốc, “Tuế thời nghênh giai tiết, thi tửu thoại Trùng Dương” (18/10/2026). DKN biên dịch, biên tập và phân biệt truyền thuyết, tập tục với dữ kiện lịch sử.

Saturday, October 31, 2026

SỰ THẬT TRỚ TRÊU VỀ NHỮNG CON HÀU "THẦN DƯỢC PHÒNG THE"

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại có thể khiến niềm tin "ăn gì bổ nấy" sụp đổ. Chẳng hạn, những con hàu béo múp míp trên bàn nhậu ngày nay phần lớn đều "bất lực", không có khả năng sinh sản.


Khát vọng "tráng dương" và sự sinh tồn của loài hàu 

Niềm tin vào công dụng “tráng dương” của hàu vẫn tồn tại trong đời sống ẩm thực (Ảnh: Zhihu).

Trong văn hóa dân gian nhiều nước châu Á, tồn tại quan niệm “thực bổ”, tức sử dụng thực phẩm với niềm tin có thể bồi bổ cơ thể hoặc tăng cường sinh lực. Trong đó, “tráng dương” là khái niệm phổ biến, gắn với việc tìm kiếm những nguyên liệu được cho là hỗ trợ sinh lý nam giới.

Lịch sử cho thấy, không ít loài động vật từng bị khai thác quá mức vì gắn với những công dụng mang tính biểu tượng này. Tê tê, tê giác hay một số loài chim hoang dã đã trở thành đối tượng săn bắt và buôn bán trái phép trong nhiều giai đoạn, gây áp lực nghiêm trọng lên quần thể tự nhiên.

Tuy nhiên, hàu biển là một trường hợp khác biệt. Dù nhu cầu tiêu thụ lớn và gắn với nhiều quan niệm về tăng cường sinh lực, hàu không suy giảm đến mức tuyệt chủng mà ngược lại, trở thành một trong những loài nhuyễn thể được nuôi trồng phổ biến nhất thế giới.

Ảnh hưởng của hàu không chỉ nằm ở sản lượng. Tại châu Âu, hàu từng là thực phẩm phổ biến của tầng lớp lao động trước khi các vấn đề ô nhiễm nguồn nước và khủng hoảng vệ sinh khiến nguồn cung suy giảm, đẩy giá thành tăng cao và dần trở thành món ăn cao cấp trong nhà hàng.

Từ phương Đông đến phương Tây, hàu thường được gắn với hình ảnh “thực phẩm tình yêu”. Một giai thoại thường được nhắc đến là câu chuyện về Casanova, nhân vật nổi tiếng trong văn học và hồi ký thế kỷ 18. Ông từng viết rằng mình ăn hàu thường xuyên và cho rằng đó là một phần trong chế độ giúp duy trì năng lượng và sức hấp dẫn cá nhân.

Những câu chuyện như vậy, cùng với quan niệm “dĩ hình bổ hình” (ăn gì bổ nấy) trong y học dân gian phương Đông, đã góp phần hình thành biểu tượng hàu như một loại thực phẩm liên quan đến sinh lực nam giới.

Nghịch lý mùa hè: Khi "thần dược" cũng kiệt sức

Cả phương Đông và phương Tây đều tin vào khả năng tăng cường sinh lực của hàu. (Ảnh: Zhihu).

Nếu dựa trên quan niệm dân gian “ăn gì bổ nấy”, nhiều người cho rằng ăn hàu có thể giúp tăng cường sinh lực. Tuy nhiên, khi xét dưới góc độ sinh học, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của hàu phụ thuộc nhiều vào chu kỳ sinh sản tự nhiên của loài này.

Trong ẩm thực truyền thống phương Tây, từng tồn tại nguyên tắc chỉ nên ăn hàu vào các tháng có chữ “R” trong tiếng Anh, tức từ tháng 9 đến tháng 4. Ở Bắc bán cầu, hàu tự nhiên thường đạt chất lượng thịt tốt nhất vào mùa thu và mùa đông, khi tuyến sinh dục chưa phát triển mạnh và hàm lượng dinh dưỡng trong phần thịt cao hơn.

Ngược lại, vào mùa xuân - hè, khi nhiệt độ nước biển tăng, hàu bước vào giai đoạn sinh sản. Năng lượng được chuyển sang phát triển và giải phóng tế bào sinh dục, khiến khối lượng thịt giảm, cấu trúc mềm hơn và tỷ lệ nước trong cơ thể tăng. Một số nghiên cứu ghi nhận khối lượng phần thịt có thể giảm đáng kể trong giai đoạn này, làm chất lượng cảm quan suy giảm so với mùa nghịch.

Vì vậy, nếu tiêu thụ hàu tự nhiên đúng vào thời điểm chúng đang trong chu kỳ sinh sản, giá trị dinh dưỡng và độ béo ngọt có thể không đạt mức tối ưu.

Điều này tạo ra một nghịch lý trong tiêu dùng hiện đại. Mùa hè là thời điểm nhu cầu hải sản tăng cao, đặc biệt trong các bữa tiệc ngoài trời, du lịch biển và nhà hàng hải sản. Tuy nhiên, trớ trêu đây cũng là giai đoạn chất lượng hàu tự nhiên thường giảm sút do ảnh hưởng của chu kỳ sinh sản.

Công nghệ "triệt sản" - Bí mật ẩn trong những con hàu béo múp míp

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa cái miệng sành ăn của thực khách và quy luật sinh học của tự nhiên?

Câu trả lời nằm ở khoa học hiện đại: Muốn hàu béo tốt quanh năm, cách duy nhất là làm cho chúng... vô sinh.

Các nhà khoa học đã áp dụng nguyên lý di truyền học tương tự như cách tạo ra dưa hấu không hạt để tạo ra một giống hàu mới: Hàu tam bội thể (Triploid oysters).

Về mặt lý thuyết, tế bào sinh vật bình thường là nhị bội thể (2n - hai bộ nhiễm sắc thể). Để tạo ra dưa hấu không hạt, người ta dùng chất colchicine xử lý cây con để tạo ra thể tứ bội (4n), sau đó lai với cây nhị bội (2n) để tạo ra thế hệ con là tam bội (3n). Những cá thể 3n này bị rối loạn trong quá trình phân chia tế bào sinh dục, dẫn đến việc không thể tạo hạt (vô sinh).

Áp dụng lên động vật phức tạp hơn nhiều. Năm 1993, một bước đột phá lớn đã diễn ra tại Đại học Rutgers (Mỹ), với sự đóng góp to lớn của nhà khoa học gốc Hoa - Guo Ximing. Ông và các cộng sự đã tìm ra cách lai tạo ổn định giữa hàu tứ bội thể và nhị bội thể để sản sinh ra 100% hàu tam bội thể.

Những con hàu tam bội thể này mang trong mình 3 bộ nhiễm sắc thể và đặc điểm quan trọng nhất của chúng là: Tuyến sinh dục không phát triển hoặc phát triển rất kém. Chúng gần như vô sinh hoàn toàn.

Hàu lưỡng bội thể (trái) và hàu tam bội thể (phải) (Ảnh: Zhihu).

Lợi ích của những con hàu "vô sinh"

Việc triệt sản hàu mang lại những lợi ích kinh tế khổng lồ mà hàu tự nhiên không thể sánh kịp:

Thứ nhất, vì không phải tốn năng lượng cho việc sinh sản (không phải tạo trứng hay tinh trùng), toàn bộ dinh dưỡng hàu nạp vào đều được chuyển hóa thành cơ bắp và kích thước. Kết quả là hàu tam bội thể có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn 50 - 100% so với hàu thường. Chúng lớn nhanh như thổi, rút ngắn thời gian nuôi trồng đáng kể.

Thứ hai, chúng duy trì được chất lượng thịt quanh năm. Ngay cả giữa mùa hè oi bức, khi hàu tự nhiên đang gầy "tong teo" vì sinh sản, thì hàu tam bội thể vẫn béo múp míp, đầy đặn và ngọt thịt.

Đây chính là nguồn cung chủ lực cho các nhà hàng, quán nướng vào mùa cao điểm du lịch. Các loại hàu nổi tiếng hiện nay, ví dụ như hàu Nhũ Sơn trứ danh của Trung Quốc hay các loại hàu nhập khẩu cao cấp, phần lớn đều là hàu tam bội thể.

Thứ ba, chúng khỏe mạnh hơn và có tỷ lệ sống cao hơn. Việc không bị kiệt sức sau sinh sản giúp chúng chống chọi tốt hơn với bệnh tật và biến đổi môi trường. Ngoài ra, vì không sinh sản, chúng không gây ô nhiễm nguồn gen của các loài hàu hoang dã tại vùng biển nuôi thả.

Hàu tự nhiên thường gầy và kém chất lượng vào mùa hè do tiêu hao năng lượng cho việc sinh sản, đi ngược lại nhu cầu tiêu thụ cao điểm (Ảnh: Zhihu).

Hàu có thực sự tốt cho sức khỏe sinh lý?

Hàu là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kẽm - vi chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hormone sinh dục nam.

Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm đầy đủ có thể hỗ trợ duy trì nồng độ testosterone ở mức bình thường, từ đó góp phần cải thiện chức năng sinh lý.

Ngoài ra, hàu còn cung cấp protein, axit béo omega-3, vitamin B12 và các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe tổng thể.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chưa có bằng chứng khoa học đủ mạnh để khẳng định hàu là “thần dược” cải thiện sinh lý. Tác dụng, nếu có, chủ yếu đến từ việc bổ sung dinh dưỡng chứ không mang tính đặc hiệu.
Lưu ý khi ăn hàu
Nên ăn hàu có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, hạn chế ăn sống hoặc tái, đặc biệt với người có hệ miễn dịch yếu, phụ nữ mang thai hoặc người mắc bệnh gan. Không nên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn để tránh dư thừa kẽm và các vi chất khác.

Theo4sonline.org
Đức Khương / Dân Trí

HOÁN KHÊ SA (LÂU THƯỢNG TÌNH THIÊN BÍCH TỨ THÙY) - CHU BANG NGẠN


Hoán khê sa
(Lâu thượng tình thiên bích tứ thuỳ)

Lâu thượng tình thiên bích tứ thuỳ,
Lâu tiền phương thảo tiếp thiên nhai.
Khuyến quân mạc thướng tối cao thê.

Tân duẩn dĩ thành đường hạ trúc,
Lạc hoa đô thượng yến sào nê.
Nhẫn thính lâm biểu đỗ quyên đề.


浣溪沙
(樓上晴天碧四垂)

樓上晴天碧四垂
樓前芳草接天涯
勸君莫上最高梯

新筍已成堂下竹
落花都上燕巢泥
忍聽林表杜鵑啼


Hoán khê sa
(Quanh lầu trong vắt áng mây thanh)
(Dịch thơ: Nguyễn Đương Tịnh)

Quanh lầu trong vắt áng mây thanh
Một vùng hoa cỏ giãi mông mênh
Khuyên anh chớ bước lên lầu nữa

Măng đã hoá tre mọc dưới đình
Hoa rụng yến tha bùn đắp tổ
Hãy nghe quyên gọi nẻo rừng xanh


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Bang Ngạn 周邦彥 (1057-1121) tự Mỹ Thành 美成, hiệu Thanh Chân cư sĩ 清真居士, người Tiền Đường (nay thuộc Hàng huyện, Triết Giang). Ông từng làm quan tri huyện tri phủ, song con đường hoạn nạn, thăng trầm bất định. Ông rành âm nhạc, có thể tự làm nhạc phú, từ vận của ông thanh thoát, tác phẩm có tập Thanh Chân từ, tức Phiến Ngọc thù.

Nguồn: Thi Viện