Friday, June 3, 2016

CANH LÁ NHÍP

Ở VN hay các nước khác đều có những loại thức ăn thuộc loại đặc sản, có thể nó rất đắc tiền hay có thể là những loại hoang dại mà nhiều người không biết và giá trị kinh tế không cao nên chẳng bày bán ở chợ. Người biết ăn phải là dân địa phương hay tự mình vào rẫy ruộng hay lên núi mà tìm. Có những món ăn mà chỉ miệt vườn, miệt rừng mới có.


Cũng lâu lắm rồi, tôi có post lên một số bài về những món ăn dân dã miệt vười về những lần về quê ăn canh với một mớ rau má, đọt lá vông...và nhất là món cải trời mà có khi tôi vào rẫy của người cậu ở gần lộ 20 (Cần Thơ) hái về cho má nấu hay những món rau tập tàng...
Có những loại mà ngày xưa không có ai thích mà bây giờ đã trở thành đặc sản như bông so đũa, đọt xoài, đọt điều, bông bí, bông điên điển, rau lang, rau nhút,....và lên bàn ăn của những nhà hàng sang trọng.
Hôm nay tôi mới biết về một món ăn khác, ngon hay không thì chưa ăn nên chưa biết, nhưng tôi chắn chắn nó ngon thơm và đậm nét "tình người".

NỖI NHỚ CANH LÁ NHÍP


Lá nhíp gần giống với lá chôm chôm, lá nhãn. Cây nhíp hợp với đất đỏ bazan, có vị ngọt thanh, thơm nhẹ.
Lá nhíp non có màu đỏ gạch, "cứng ngày" hơn chút là màu vàng nhạt, rồi tới xanh non, già hơn nữa là xanh đậm. Khi nấu chín, lá có vị dẻo, ngọt và bùi.


"Chị đang ở Lâm Đồng à? Khi về ráng mang cho em bó lá nhíp nghe. Em nhớ… Ráng đó!" - Tin nhắn của cậu em trai đến khi xe ô tô đang leo đèo Bảo Lộc. Mùa mưa, màu xanh của bạt ngàn của núi rừng thức giấc, lá nhíp mà em trai tôi kêu "nhớ" đang lẫn đâu đó trong những tán cây kia.
Khoảng năm 1991, mẹ dắt chúng tôi rời Bắc Giang đến Lâm Đồng sinh sống. Nhà chúng tôi nghèo, sống bám rừng, một buổi đi học, một buổi chị em tôi theo mẹ đi rừng chặt lồ ô giấy, tuốt mây kiếm sống.
Độ ấy mùa mưa, khi ba mẹ con tôi trèo qua ngọn đồi Xanh thì mưa mịt mùng. Mưa như roi quất, mẹ ôm hai con che mưa, rồi luồn rừng tìm đường về nhà. Nhưng mưa đã làm chúng tôi lạc sang một ngọn đồi khác vì mất phương hướng.
Đói, lạnh và sợ nữa. Chỉ thấy trập trùng núi kế tiếp núi, lại núi… Mẹ luôn nắm chặt tay các con thì thầm: "Chúng ta sắp tìm được về nhà rồi".


Nói là sắp… nhưng đến khi trời sập tối chúng tôi mới tìm được đường về nhà. Nhà chúng tôi ở sau ngọn đồi Cha (một ngọn đồi trồng tràm của một vị cha xứ nên người địa phương gọi là đồi Cha), có lối đi tắt qua nhà cô Kgléo (người dân tộc K'Ho), đi lối ấy sẽ gần hơn rất nhiều nên chúng tôi cũng hay đi rừng bằng đường tắt ấy.
Khi đi ngang nhà cô Kgléo, cô gọi với theo bảo đợi cô, cô cho bó lá nhíp rồi dặn về lặt lá, lặt ngọn nấu canh, cho thêm chút muối thôi, không cần cho thêm thứ chi cả, ăn ngọt lắm, đi rừng về muộn vầy chắc không có thứ chi để ăn.
Bữa cơm chiều muộn lẫn với cơn lạnh của mưa đã ngấm tận vào từng tế bào là bát cơm chan canh lá nhíp nóng hổi. Chỉ có canh thôi mà ngon lạ, ngon lùng. Đó là lần đầu tiên chúng tôi ăn canh lá nhíp, để rồi những bữa cơm sau này, người bạn lá ấy cứ đồng hành với chúng tôi mãi thành quen, thành thân, thành gắn bó mà chẳng bao giờ biết "chán".
Khi mẹ mất, chúng tôi dắt díu nhau về miền Tây thì món canh lá nhíp vẫn còn đong đầy trong kí ức, rồi có ai đó về Tây Nguyên dặn dò thiết tha chỉ mang về một bó lá nhíp ăn cho đỡ nhớ…


Nỗi nhớ của em trai theo tôi cùng chuyến xe đi Bảo Lộc, đến Đà Lạt, tôi qua Đak Lak rồi trở lại Madaguil thăm lại ngôi nhà ven núi mà cả đoạn đời gian khó mẹ con tôi từng ở.
Ngôi nhà gỗ nhỏ của mẹ con tôi thì không còn, đất thì đã bán cho người khác, một ngôi nhà khang trang đã được xây trên khu đất ấy. Nhưng nhà cô Kgléo thì vẫn còn chỗ cũ. Con đường mà mỗi trận gió đi qua mù cơn lốc đỏ trước kia đã được thay thế bằng con đường trải nhựa mượt như lụa
Cô Kgléo đã già, nhưng chân vẫn dẻo đi rừng, cô hỏi muốn ăn thứ chi để cô đi chợ mua đãi, tôi bảo chỉ thèm canh lá nhíp. Cô ngạc nhiên: "Tưởng muốn ăn thứ gì cao sang hơn, chớ cái thứ lá "bám" bữa cơm mỗi ngày mấy chục năm không chán sao?". Tôi thưa: "Con không chán, chỉ thấy nhớ thôi".
Tôi bảo cô cứ ở nhà, tôi còn nhớ đường ra khu đồi Cha, đồi Xanh để tôi đi hái lá nhíp. Cô Kgléo cười vang nói đồi Cha người ta san gần phẳng rồi làm gì có rừng cho lá nhíp mọc, đồi Xanh mãi tít xa, mà lá nhíp bây giờ người ra bán đầy chợ rẻ lắm, mua cho tiện.
Thì đành rằng biết thế, nhưng nhớ lá nhíp còn có nghĩa là nhớ rừng, nhớ ngọn đồi Xanh, nhớ mẹ tôi nữa. Cũng như trên nẻo đường tôi đi, không phải cứ đến Madaguil mới ăn được lá nhíp, tôi có thể mua bất cứ đâu ở vùng Tây Nguyên này hoặc dọc đường về buôn làng của đồng bào S'tiêng ở Bình Phước hay ở Quảng Nam, Bình Thuận, Côn Đảo, Khánh Hòa… Nhưng đặc biệt rất nhiều ở Lâm Đồng.


Lá nhíp (hay lá bép, rau ranh) có hình dạng, kích thước gần giống với lá chôm chôm, lá nhãn. Cây nhíp hợp với đất đỏ bazan, có vị ngọt thanh, thơm nhẹ. Người K'Ho còn gọi loại lá này một cái tên thân mật nữa - lá bột mì chính (bột ngọt).
Lá nhíp non có màu đỏ gạch, "cứng ngày" hơn chút là màu vàng nhạt, rồi tới màu xanh non, già hơn nữa là màu xanh đậm. Khi nấu chín, lá có vị dẻo, ngọt và bùi. Lá nhíp là một trong những món ăn khoái khẩu của tê giác. Trước kia khi vào rừng, nếu phát hiện có tê giác thì ở đó sẽ có nhiều lá nhíp. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên thường xuyên và yêu thích sử dụng lá nhíp làm rau ăn ở dạng xào hoặc nấu canh với cá suối.
Lá nhíp mọc quanh năm, nhưng khoảng đầu mùa mưa là thời điểm lá ngon nhất. Mưa làm đọt mầm cây nhíp bung nở, lá mượt óng như nắng xuân, nấu xanh chỉ cần nêm chút muối mà không cần nêm gia vị gì thì canh vẫn rất ngọt.
Người Chơ ro có một món canh gọi là canh thụt (còn có tên khác là canh bồi hay là canh đại ngàn) được nấu từ lá nhíp và một số lá, quả rừng khác.
Cô Kgléo kể canh ống thụt là canh nấu trong ống lồ ô của người đồng bào khi họ đi rừng. Cũng giống như xuất xứ của cơm lam, đi rừng không có xoong nồi chi cả, ngã ống lồ ô nấu cơm, nấu canh. Đi rừng thì phải biết lá gì, quả gì, củ gì ăn được đặng không có gạo ăn thì có lá ấy, quả ấy, củ ấy nấu lên mà ăn.


Cũng có khi người đồng bào bắt được con cá suối thả vào ống lồ ô nấu chung, canh thêm chất, thêm ngon, ngọt. Nấu canh ống lồ ô không thể nấu đại được, nếu ống lồ ô non thì nhựa lồ ô tiết ra với canh ăn đắng, hăng; nếu ống quá già khi gặp lửa sẽ nứt, canh chảy hết ra ngoài.
Lúc nấu canh phải chú ý xoay đều ống lồ ô, để nghiêng nghiêng, đến khi nước sôi chỉ cần thọc cây vào dầm nát và tiếp tục nấu cho đến khi chín. Canh chín cho thêm lá é, muối ớt Canh chín sẽ sền sệt hương của lá, quả, củ quyện vào nhau thơm ngát rất khó tả. Canh ống thụt ngọt vị rừng, thơm mùi rừng, ăn vô không chỉ ấm cái bụng mà còn khỏe cái chân, tinh đôi mắt.
Người ta nghiên cứu được rằng trong lá rau nhíp có tới 16 loại Aminoacid (trong số 20 Aminoacid quan trọng không thể thiếu đối với con người) tham gia xây dựng Protein nhằm đảm bảo các chức năng xúc tác, miễn dịch, vận chuyển… cho các hoạt động sống hàng ngày của cơ thể.


Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt cũng cho biết hàm lượng các chất khoáng trong lá rau này khá cao, trong đó K, Fe, Cu, Zn, Mo, Mg và Mn cao hơn nhiều so với xà lách, bông cải trắng… Không chỉ ngon, đủ calo, an toàn, lá bép còn chứa các hoạt chất sinh học tự nhiên cần cho sức khỏe. Chất chiết xuất trong lá cây bép có chứa các chất kháng sinh có ích cho cơ thể.
Có lẽ bởi các nghiên cứu ấy cho biết lá nhíp quý nên lá nhíp được thực khách tìm đến Tây Nguyên muốn dùng, các nhà hàng mua lá nhíp về nấu với tôm, thịt, xào tỏi hoặc kết hợp các loại rau khác như bồ ngót, lạc tiên, cà đắng, măng rừng, đọt mây, đọt đác, khoai mài… Món ăn này cần thêm một ít ớt xanh để tạo vị cay, thơm. Khi thưởng thức ta sẽ cảm nhận được hương thơm của lá nhíp, vị cay của ớt, vị bùi, béo của đọt mây. Nghe các bậc cao niên người K'Ho kể lại món canh thụt còn là món ăn cúng Yàng có từ rất xa xưa…
Rừng càng ngày càng lùi xa, tê giác gần như tuyệt chủng, lá nhíp "trốn" mãi trên cái núi xa, trèo mòn chân mới hái được gùi lá nhíp nhưng người đồng bào không để ăn mà đem ra chợ bán, một ký lá nhíp giá khoảng 50.000 đồng mua được 5 ký gạo nên ăn lá nhíp bây giờ "hoang" lắm.
Tôi men theo con suối, Tây Nguyên đang mùa mưa, nhìn những quả đồi xẻ dọc, xẻ ngang, xe múc mang múc từng phần "thịt" của quả đồi tôi như muốn khóc. Đồi Xanh không xa như trước nữa, cũng chẳng rậm rạp bóng cổ thụ để đến mức trong cơn mưa rừng mẹ con tôi lạc bước.


Vuốt mồ hôi trên mặt, tôi như thấy phiến lá non tơ màu phơn phớt đỏ của lá nhíp mỉm cười… Tôi bẻ thêm mấy nhánh măng, hái thêm lá lạc tiên, đọt mây, hết buổi sáng đã lưng gùi lá… Buổi trưa nay, nỗi nhớ rừng của tôi có lẽ sẽ vơi đi phần nào để rồi tôi chia bớt nỗi nhớ Tây Nguyên mang về cho cậu em trai…

V.H / Theo: Dân trí

* Trích từ loạt bài "Hành trình tìm kiếm món ăn dân dã truyền thống ẩm thực ba miền" dành riêng cho chương trình Chiếc Thìa Vàng 2014


ĐIỂN HAY TÍCH LẠ: ĐÀO DUY TỪ

"Ba đồng một miếng trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?"

Tương truyền bài ca dao này do Đào Duy Từ làm ra. Nguyên lúc bấy giờ, nước Việt Nam chia làm hai miền. Miền Bắc thuộc chúa Trịnh; miền Nam thuộc chúa Nguyễn. Hai họ tạo thành cuộc Nam Bắc phân tranh. Đào Duy Từ ở miền Bắc, người có tài nhưng không được chúa biết trọng đến và trọng dụng nên trốn vào Nam, được chúa Nguyễn Phúc Nguyên trọng đãi. Rồng đủ vi cánh lại gặp gió to, tài thao lược của họ Đào vang dậy đến Bắc Hà. Chúa Trịnh Tráng bấy giờ lấy làm hối tiếc, con người lén vào Nam, đem lễ vật quý báu dâng cho Đào, yêu cầu Đào trở lại giúp mình. Đào từ chối bằng mấy câu ca dao, mượn lời của một cô gái có chồng đã khéo léo từ khước người yêu mình để nhắn gởi chúa Trịnh, như nhà thơ Trương Tịch ở Trung Hoa. 

Tuy vậy, chúa Trịnh không nản, vẫn tiếp tục theo đuổi, dụ dỗ. Đào Duy Từ lại phải gởi nhắn thêm hai câu thơ lục bát về Bắc, ý chí keo sơn kiên quyết của mình:

"Có lòng xin tạ ơn lòng.
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen."



Sơ lược tiểu sử:
Đào Duy Từ (chữ Hán: 陶維慈, 1572-1634) là người Thầy (quân sư) chính trị gia, quân sự, văn hóa và nhà thơ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đệ nhất khai quốc công thần của các Chúa Nguyễn và nhà Nguyễn.
Ông làm quan với Chúa Nguyễn từ năm 1627 đến năm 1634 đã xây dựng cho nhà Nguyễn một định chế chính trị rất được lòng dân, cơ sở xã hội vững chắc và một quân đội hùng mạnh. Sau khi ông mất (1634) triều Nguyễn còn truyền được 7 đời (131 năm).
Đến năm 1735, Vũ Vương mất, thế tử chết, Trương Phúc Loan chuyên quyền, lòng người li tán, nhà Tây Sơn nổi lên chiếm đất Quy Nhơn, họ Trịnh lấy đất Phú Xuân, thì cơ nghiệp nhà Nguyễn mới bị xiêu đổ.
Sau khi Nguyễn Phúc Ánh diệt nhà Tây Sơn và khai sinh triều Nguyễn, năm Gia Long 4 (1805) nhà Nguyễn xét công trạng khai quốc công thần, Đào Duy Từ được xếp hàng đầu, được thờ ở nhà Thái miếu, được cấp 15 mẫu tự điền và sáu người trông coi phần mộ. Đến năm Minh Mệnh 17 (1836), triều đình lại sai dân sở tại sửa chữa lăng mộ cho ông. Năm 1932, vua Bảo Đại ra chiếu sắc phong Đào Duy Từ làm Thần Hoàng làng Lạc Giao, đất “Hoàng triều cương thổ” ở Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên.


Thời trẻ:
Đào Duy Từ, hiệu là Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa, Đại Việt. Cha ông tên là Đào Tá Hán, một xướng hát chuyên nghiệp. Mẹ ông là người họ Nguyễn. Ông thông minh, và học rộng biết nhiều. Ông đi thi hương ở Thanh Hoa. Hiếu ty cho Đào Duy Từ là con nhà phường chèo, gạch bỏ tên không cho vào thi. Ông buồn bực quay về, căm giận chế độ vô lý của họ Trịnh lúc bấy giờ.
Vào nam:
Một hôm ông nói với bạn rằng: Tôi nghe chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận Quảng, làm nhiều việc nhân đức, lại có lòng yêu kẻ sĩ, trọng người hiền... Nếu ta theo vào giúp thì chẳng khác gì Trương Lương về Hán, Ngũ Viên sang Ngô, có thể làm tỏ rạng thanh danh, ta không đến nỗi phải nát cùng cây cỏ, uổng phí một đời.... Rồi mùa đông năm Ất Dậu (1627). Đào Duy Từ trốn được vào xứ Đàng Trong. Đầu tiên, ông ở huyện Vũ Xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình. Sau biết khám lý Hoài Nhân là Trần Đức Hòa là người có mưu trí được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng, ông vào Hoài Nhân, đi ở chăn trâu cho một phú ông ở xã Tùng Châu. Phú ông thấy Đào Duy Từ học rộng tài cao, biết ông không phải là người thường, liền đem nói với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi chuyện. Thấy mọi chuyện ông đều thông hiểu, liền giữ ông lại và gả con gái cho ông. Khi Trần Đức Hòa xem bài Ngọa Long cương của Đào Duy Từ liền nói rằng: Đào Duy Từ là Ngọa Long đời này chăng.
Làm quan chúa Nguyễn:
Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long cương cho Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm. Đọc bài Ngọa Long cương, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi Duy Từ đến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. Thấy chúa Nguyễn Phúc Nguyên chỉ mặc áo trắng sơ sài và đứng cửa nách đợi; Duy Từ dừng lại không vào. Thấy vậy, chúa liền vào thay đổi triều phục, áo mũ chỉnh tề rồi mở cửa lớn ra đón Duy Từ vào nói chuyện. Đào Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó chúa họp bàn đình thần phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.


Từ đấy Duy Từ nói gì chúa Nguyễn cũng nghe. Ông bày mưu vạch kế giúp chúa Nguyễn làm nên nhiều việc lớn. Chúa Nguyễn thường nói với mọi người: Đào Duy Từ thật là Tử Phòng và Khổng Minh ngày nay.
Tháng 3 năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục từ núi Trường Dục đến pha Hạc Hải nhằm ngăn chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật Lệ vào đánh xứ Đàng Trong. Năm Tân Mùi (1631), theo lời Đào Duy Từ, chúa Nguyễn lại cho đắp một cái lũy nữa kiên cố hơn, dài 18 km bắt đầu từ núi Đâu Mâu qua cửa biển Nhật Lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông Hải. Nhờ có hai cái lũy trên, chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của quân Trịnh trong một thời kỳ dài.
Ngoài giúp chúa Nguyễn đối phó chúa Trịnh, Đào Duy Từ còn nhiều lần khuyên khéo được chúa Nguyễn việc chính sự, ngoài ra còn tiến cử con rể của mình là Nguyễn Hữu Tiến cho chúa Nguyễn. Nguyễn Hữu Tiến về sau cũng trở thành một công thần của chúa Nguyễn như cha vợ mình.
Tháng 9 năm Canh Ngọ (1630), theo đề nghị của Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Nguyên cho mở cuộc tấn công vào châu Nam Bố chánh, và chiếm được châu này.



Qua đời:
Tháng mười năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi . Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đích thân đến thăm viếng. Đào Duy Từ khóc rồi thưa: "Thần gặp được thánh minh, chưa báo đáp được mảy may, nay bệnh đến thế này còn biết nói chi nữa" rồi Đào Duy Từ qua đời, thọ 63 tuổi, phụ chính cho chúa Nguyễn được 8 năm. Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, cho táng tại Tùng Châu và phong làm "Hiệp đồng mưu đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu". Đến năm thứ 5 đời vua Gia Long thì tùng tự ở Thái Miếu, đến thời vua Minh Mạng truy phong là Hoằng quốc công. Năm 1836, cho sửa sang mộ phần.
(theo Wikipedia)

HIỂU BIẾT VỀ NGHIỆP LỰC

Đôi khi những khổ đau lớn nhất lại tạo ra một tinh thần lành mạnh
Vào đời nhà Thanh, Triệu Đức Phương, cha của ba người con trai, có một cuộc sống rất sung túc. Ông cảm thấy rất may mắn khi ba đứa con của mình đều đã thành gia thất.

Tuy nhiên, vào lễ mừng thọ 60 của ông Triệu, ông đã thú nhận với ba người con của mình rằng khi mới bắt đầu khởi nghiệp, ông đã cố ý cân gian để lừa người cấp hàng và khách hàng của mình. Mỗi khi ông mua thứ gì, cái cân sẽ cho kết quả ít hơn, và khi ông bán món gì, cái cân sẽ đưa ra số lớn hơn.

“Đó là lý do tại sao ông bán vải bông bị phá sản sau khi ta mua hàng ngàn kg vải bông của ông ấy. Ông ta đã cố gắng một cách tuyệt vọng để cứu vãn nhưng đã chết vì bệnh thương hàn 20 năm trước. Ta vẫn còn cảm thấy có lỗi với ông ấy cho đến tận bây giờ”, ông Triệu nói.

“Cũng còn có một ông bán thảo dược đã mất sau khi ta lừa ông ấy bằng cái cân của ta. Còn có những người khác nữa, nhưng hai người đó là bị lừa nhiều nhất. Kể cả khi ta bây giờ có cuộc sống giàu có và hạnh phúc, mỗi khi ta nghĩ đến những người đã chết bởi việc làm của ta, ta thấy đầy tội lỗi đến mức không thể ngủ được”.

“Để được thanh thản, bây giờ ta đã quyết huỷ cái cân này trước mặt tất cả các con, và ta thề là từ nay ta sẽ hành xử trung thực”

Những người con hoan nghênh quyết định của ông “Cha à, đây mới là cách làm đúng. Chúng con hoàn toàn ủng hộ quyết định của cha”, một người con hân hoan nói. Thế là ông Triệu ngay lập tức đập vỡ cái cân tội lỗi, giữ lời hứa cư xử trung thực và làm những việc tốt kể từ đó.

Tuy nhiên, không lâu sau gia đình ông Triệu đã gặp bất hạnh. Đầu tiên, con trai cả của ông mất đột ngột do bệnh tật. Sau đó anh thứ hai cũng qua đời do một chứng bệnh kỳ lạ, và người vợ goá đã đi theo người đàn ông khác. Rồi người con thứ ba bất ngờ mang bệnh và mất không lâu sau. Khi đó vợ của người con thứ ba đang mang thai.

Trải qua những bất hạnh đột ngột này, ông Triệu cảm thấy rất buồn và mơ hồ.

“Khi ta đi lừa lọc người khác, ta sống hạnh phúc với con cái kề bên”, ông phàn nàn. “ Bây giờ ta đang cố gắng hết sức làm người tốt, thì những điều không may lại lần lượt kéo đến. Có vẻ như câu thành ngữ Trung Hoa ‘Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo’ là hoàn toàn sai lầm”.

Hàng xóm của ông Triệu rất cảm thông cho ông và gia đình.

Một ngày kia, người con dâu của ông Triệu trở dạ. Tuy nhiên, sau ba ngày lâm bồn, đứa bé vẫn chưa chịu ra. Các bà đỡ lần lượt được mời đến, nhưng đều vô vọng và không biết làm cách nào.

Ông Triệu ngày càng lo lắng. Đúng lúc đó, một vị sư gõ cửa xin khất thực. Gia nhân của ông Triệu đã cố đuổi nhà sư đi, nhưng nhà sư đã nói rằng ông có phương thuốc đặc hiệu cho gia chủ. Nhà sư ngay lập tức được trọng vọng như thượng khách.

“Ta là một nhà sư lang thang. Ta đi theo định mệnh an bài”, nhà sư nói với ông Triệu. Sau đó ông đưa cho ông Triệu phương thuốc, và ông Triệu đã sai đầy tớ cấp tốc đưa thuốc cho con dâu. Vài phút sau, người hầu báo lại là người con đau đã sinh con trai sau khi dùng thuốc.

Ông Triệu vui mừng. Ông biểu đạt lòng biết ơn đến nhà sư và thết đãi một bữa thịnh soạn tối hôm đó.

Trong khi dùng bữa tối, ông Triệu hỏi nhà sư, “thưa sư phụ, con có thể hỏi ngài một câu mà con thắc mắc từ lâu được không ạ?” Nhà sư gật đầu.

Vừa thở dài, ông Triệu kể với nhà sư “Con thật xấu hổ khi phải nói rằng con lập nghiệp bằng cách dùng một cái cân gian để lừa gạt người khác. Con quyết tâm trở thành người tốt vào năm ngoái và phá huỷ cái cân. Tuy nhiên, ngay sau khi con phá cái cân, con bắt đầu gặp hết bất hạnh này đến bất hạnh khác."

"Con đã mất ba người con trai trong thời gian ngắn chỉ sáu tháng, và hai con dâu đã rời bỏ chúng con. Thật may là người con dâu thứ ba đã cho chúng con đứa cháu nội này. Tại sao lại có một gia đình hạnh phúc khi con lừa dối người khác, nhưng ngay khi con quyết định làm việc tốt, thì tất cả những bất hạnh này lại gõ cửa nhà con?"

Nhà sư cười to sau khi nghe câu chuyện của ông Triệu, và trả lời lại : "Đừng có tự suy diễn mộng tưởng. Ông trời đối xử thực sự là rất công bằng đối với chúng ta. Người con cả của ông là đầu thai của người bán vải bông mà đã bị chết sau khi bị ông lừa gạt, và người con trai thứ chính là hiện thân của người bán thảo dược."

"Người con trai thứ ba cũng ra đời do tất cả những việc làm xấu mà ông đã tích lũy thành, và cả ba người con ông đến thế giới này để làm đổ nát ông và gia đình ông, thế nên ông sẽ đói mà chết trong tuổi già. Tuy vậy, từ khi ông quyết tâm làm điều tốt, thần thánh đã thể hiện sự thương cảm đối với ông và đã thu hồi lại ba người con ông. Ông đã có thể thoát khỏi định mệnh đó."

Sau khi nghe xong, Triệu cảm thấy như vừa tỉnh khỏi cơn mê. Ông cảm tạ nhà sư về việc đã giảng giải hoàn cảnh cho ông, nhưng ông cũng thắc mắc hỏi nhà sư về đứa cháu nội, phải chăng nó cũng đến để đòi các nợ khác từ ông.

"Tất cả các món nợ đã được trả sau chuỗi bất hạnh vừa rồi," nhà sử trả lời với một nụ cười. "Đứa cháu của ông đến để đem lại may mắn và hạnh phúc cho gia đình. Nó sẽ được hưởng tiếng thơm bời vì quyết định làm điều tốt cho người khác của ông. Đây là phần thưởng giành cho việc ông chọn làm điều tốt."

Ông Triệu đã rất hài lòng và trở nên vững tâm thực thi các điều tốt trong hết phần đời còn lại.


Câu chuyện này thể hiện câu nói cổ của Trung Hoa: "Nếu một gia đình tốt gặp nhiều tai ương, đó có thể là họ đang trả nghiệp hoặc món nợ từ người đời trước. Một khi món nợ đã được trả, họ sẽ hưởng một cuộc sống hạnh phúc."



Epoch Times Staff

ĂN SAO CHO ĐÚNG ?

Có thực mới vực được đạo. Ăn thì ai cũng phải ăn. Nhưng lắm khi sinh bệnh không vì miếng ăn mà vì cách ăn. Nói có sách mách có chứng, ở Đức rõ ràng không thiếu bệnh viện chuyên khoa với công nghệ tiên tiến, cũng không thiếu thuốc đặc hiệu. Ấy vậy mà hàng năm vẫn có cả chục ngàn người tìm các tu viện cổ kính ở tiểu bang Badem-Wurtemberg để học cách… ăn!
Sở dĩ như thế không dưới 60% bệnh nhân bên đó quyết liệt đòi hỏi được điều trị bằng liệu pháp sinh học thay vì với thuốc hóa chất tổng hợp. Thêm vào đó, hơn 70% thầy thuốc ở Đức trước sau vẫn trân trọng kinh nghiệm của y học dân gian. Đó là lý do tại sao hàng trăm ngàn bệnh nhân ở Đức thường xuyên tham gia chương trình nghỉ dưỡng trong các tu viện để được chăm sóc sức khỏe với nước khoáng, dược thảo, món ăn… theo kinh nghiệm của các thầy thuốc đồng thời là thầy tu. Nhiều bệnh nhân, kể cả không ít thầy thuốc bên đó, đều nằm lòng nhiều bài thuốc dược thảo gia truyền của nữ tu Hildegard von Bingen, thay vì chuộng lối dùng thuốc theo kiểu đau đâu chữa đó để rồi trả giá bằng phản ứng phụ khó lường. Bên mình thì phản ứng phụ của thuốc dường như vẫn còn là chuyện trà dư tữu hậu!


Nếu tưởng thầy dòng ở xứ làm xe BMW chữa bệnh mát tay nhờ biết cách “tiếp thị” đặc sản nào đó theo kiểu độc quyền “made by thầy tu” thì sai. Cái hay của thầy thuốc mặc áo dòng bên Đức chính là biện pháp hướng dẫn cho “khách hàng” về cách ăn uống sao cho đừng mang bệnh vào thân. Theo các thầy tu trên quê hương của Goethe, nhiều trường hợp mắc bệnh một cách oan uổng, dù tính cho cùng chẳng oan chút nào, là vì gia chủ:

1. Ăn quá nhanh đến độ mỗi miếng ăn không được nhai tối thiểu 10 lần. Thức ăn vì thế xuống đến bao tử ở dạng khó được hấp thu. Hậu quả là ăn có thể nhiều nhưng hưởng chẳng bao nhiêu!
2. Ăn trong trạng thái quá căng thằng vì mang theo công việc lên bàn ăn nên tuyến yên không trung hòa nổi lượng nội tiết tố thặng dư do stress. Hậu quả là lượng nước chua trong dạ dày được bài tiết quá sớm trước bữa rồi sau đó quá trễ sau bữa ăn, nghĩa là lúc bao tử còn trống. Dạ dày vì thế dễ bị viêm loét. Đã vậy nếu gia chủ ăn khi đang bực bội hay buồn rầu thì không cần học bói dịch cũng biết sớm muộn cũng gặp hạn “quan lang”!


3. Quên uống ly nước lớn trước bữa ăn ít phút, hay chọn món canh khai vị, để nhờ nước vừa pha loãng dịch vị, vừa giúp bao tử xay nhuyễn thức ăn, thay vì lúc nào cũng phải rồ ga vì gặp hàng cứng rồi mau cháy máy!
4. Ăn một lần quá no khiến trái tim sau đó phải gồng mình bơm thêm máu đến trục tiêu hóa rồi đành bỏ quên nơi khác như não bộ, thành tim, đáy mắt… Chính vì thế phải ăn chầm chậm, ăn vừa đủ no nếu đã thiếu máu cơ tim, đã bị bệnh võng mạc. Với người ăn quá nhanh, đến khi có được cảm giác no thì lượng thức ăn đã quá tải trong dạ dày.
5. Dùng nhiều thực phẩm sống trong bữa cơm chiều để rồi suốt đêm khó ngủ vì hiện tượng lên men trong khung ruột. Đó là chưa kể hậu quả lâu dài trên trục thần kinh – nội tiết – biến dưỡng vì các cơ quan nội tiết như tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng… ngày nào cũng phải tăng năng suất.


6. Không lưu ý về quân bình giữa thực phẩm gốc động vật và rau quả tươi theo tỷ lệ món đỏ đừng hơn phân nửa món xanh, thậm chí chỉ 1/3 càng tốt, để độ pH trong máu đừng quá chua rồi kéo theo rối loạn biến dưỡng.
7. Hay tráng miệng bằng món quá ngọt ngay sau bữa ăn khiến tụy tạng mau mệt nhoài vì đã bù đầu với việc điều chỉnh lượng đường huyết ngày nào cũng bội tăng mấy chục lần.


8. Không cho cơ quan trọng yếu giữ nhiệm vụ giải độc như lá gan, trái thận, khung ruột có dịp nghỉ xã hơi nhờ không phải đối đầu với độc chất ngoại lai hay phế phẩm nội sinh từ tiến trình biến dưỡng. Đáng tiếc vì biện pháp tương đối đơn giản. Đó là nhịn đói ít ngày trong tháng, hay một ngày trong tuần, hay vài ngày trong tuần chỉ ăn một bữa.
9. Ăn nhậu là tiếng kép. Đừng uống rượu mà không ăn. Nên nhớ là lượng thức ăn khi “vô” giữ vai trò chất độn để nhờ đó giảm độ hấp thu của rượu vào máu.
10. Nhậu nhẹt cũng là tiếng kép. Thầy tu bên Đức không cấm nhậu, miễn là đừng nhậu đến… nhẹt! Trong chương trình dinh dưỡng của các nhà dòng bao giờ cũng hoan nghênh ly rượu vang đỏ hay cốc bia đen sau mỗi bữa ăn. Kẹt một nổi là ở xứ mình nhiều người vẫn chưa phân biệt được giữa một ly với một chai rượu mạnh hay một két bia!


Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) ắt hẳn đã có cơ sở vững chắc khi quả quyết sai lầm trong chế độ dinh dưỡng là nguyên nhân của tối thiểu 70% bệnh chứng nghiêm trọng. Không cần dông dài, khỏi cần thống kê cũng hiểu tại sao nhiều bệnh chứng nghiêm trọng như ung thư, cao huyết áp, tiểu đường, thấp khớp, dị ứng… lại có tỷ lệ cao đến thế ở nước ta! Không cần dông dài cũng hiểu tại sao doanh nhân là miếng mồi ngon của nhiều bệnh chứng chỉ vì mấy ai tránh khỏi ăn uống thất thường, ăn quá nhanh, uống nước không đủ… Đáng tiếc vì ăn thì ai cũng phải ăn nhưng do cách ăn mà sinh bệnh thì đúng là vụng về đến độ đáng trách.
Bác sĩ Lương Lễ Hoàng

Thursday, June 2, 2016

NGÂN HẠNH VÀNG 1,400 TUỔI

Ngồi đọc xong bài viết về cây Ngân Hạnh linh thiêng ở Trung Quốc mà tôi không biết Ngân Hạnh là cây gì, chỉ biết là một loại cây có lá vàng rực rỡ và làm vàng cả một vùng rộng lớn dưới gốc cây. Đẹp lắm!

Lên mạng tìm hiểu thì biết đó là cây Bạch Quả mà đôi khi ở nhà bà xã nấu chè Bạch Quả với tàu hủ ky, với trứng quậy và đường phèn, ăn cho mát và bổ. Cây Bạch Quả thì không lạ gì, ở Việt Nam tôi chưa thấy qua nhưng khi đi Trung Quốc thì dường như vài cảnh điểm cổ, người dẫn đoàn thường giới thiệu về cây bạch quả nếu có trồng trong khu vực đó nhưng chưa thấy qua màu vàng rực rỡ như trong bài post hôm nay.

Trước tiên mình mời các bạn đọc vài dòng giới thiệu về giống cây này theo Wikipedia trước:

BẠCH QUẢ

Bạch quả (tên khoa họcGinkgo biloba; 銀杏 trong tiếng Trung, tức là Ngân Hạnh hay 白果 là bạch Quả), là loài cây thân gỗ duy nhất còn sinh tồn trong chi Ginkgo, họ Ginkgoaceae. Người Việt Nam còn gọi là cây Rẻ Quạt hay Ngân Quả.
Bạch quả là ví dụ tốt nhất về hóa thạch sống, do bộ Ginkgoales đã không còn biết đến từ các hóa thạch kể từ sau thế Pliocen.
Trong nhiều thế kỷ, người ta cho rằng nó đã tuyệt chủng trong tự nhiên, nhưng hiện nay người ta biết rằng nó còn mọc tại ít nhất là ở hai khu vực nhỏ trong tỉnh Chiết Giang ở miền đông Trung Quốc, trong khu vực bảo tồn Thiên Mẫu Sơn. Các cây bạch quả trong các khu vực này có thể đã được các nhà sư Trung Quốc chăm sóc và bảo tồn trong trên 1.000 năm. Vì thế, việc các quần thể bạch quả hoang dã bản địa có còn tồn tại hay không vẫn còn là điều chưa chắc chắn.



Quan hệ giữa bạch quả với các nhóm thực vật khác vẫn chưa rõ ràng. Nó đã từng được đặt lỏng lẻo trong ngành Thực vật có hạt (Spermatophyta) và ngành Thông (Pinophyta), nhưng đã không có sự đồng thuận nào trong việc xếp đặt như thế. Do các hạt của bạch quả không được bảo vệ trong thành bầu nhụy, nên về mặt hình thái học nó có thể coi là thực vật hạt trần. Các cấu trúc tương tự như của quả mơ do các cây bạch quả cái sinh ra về mặt kỹ thuật không phải là quả, mà là các hạt có vỏ bao gồm phần mềm và dày cùi thịt phía ngoài (sarcotesta), và phần cứng phía trong (sclerotesta).
Bạch quả là cây thân gỗ rất lớn, thông thường đạt tới chiều cao 20–35 m (66–115 ft), với một vài cây tại Trung Quốc cao trên 50 m (164 ft). Cây có tán nhọn và các cành dài, gồ ghề, thông thường có rễ ăn sâu có khả năng chống chịu sự tàn phá của gió, tuyết. Các cây non thường cao và mảnh dẻ, ít phân cành; tán lá trở nên rộng hơn khi cây lớn. Trong mùa thu, lá đổi màu thành vàng sáng và sau đó bị rụng, đôi khi chỉ trong một khoảng thời gian ngắn (1–15 ngày). Sự kết hợp giữa khả năng kháng chịu sâu bệnh, gỗ có sức đề kháng mối mọt và khả năng sinh ra các chồi và rễ khí làm cho bạch quả có khả năng trường thọ, với một vài cây được cho là đã trên 2.500 năm tuổi: Một cây 3.000 năm tuổi được thông báo là tồn tại ở tỉnh Sơn Đông.
Một số cây bạch quả già sinh ra các rễ khí, gọi là chichi (nghĩa là "núm vú" trong tiếng Nhật) hay zhong-ru (tiếng Trung quan thoại), hình thành ở mặt dưới của các cành lớn và phát triển xuống phía dưới. Sự phát triển của các rễ khí này là rất chậm, và có thể phải mất hàng trăm năm để xuất hiện. Chức năng của các rễ khí dày này vẫn chưa được hiểu rõ......

Ngân hạnh vàng 1.400 tuổi nổi tiếng ở Trung Quốc




Thời điểm này hằng năm, cây ngân hạnh cổ thụ của một ngôi chùa ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc lại vàng rực và rụng lá, tạo thành 'biển vàng' ngay dưới gốc.

Đây là hình ảnh quen thuộc ở chùa Quan Âm trên núi Chung Nam, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc vào mỗi tháng 11 hằng năm, khi trời chuyển từ thu sang đông.
Một phần vì sự linh thiêng và một phần nhờ cây ngân hạnh đặc biệt này mà du khách thập phương đều đổ xô về đây vào dịp này.
Theo các nhà sư và người dân trong vùng thì cây ngân hạnh này đã có tuổi đời 1.400 năm, cao tới vài chục mét, sừng sững nổi bật giữa núi Chung Nam.
Ngân hạnh hay còn gọi là rẻ quạt, bạch quả được các nhà khoa học đánh giá là hóa thạch sống bởi sức sống bền bỉ ngay trong cả thời tiết khắc nghiệt nhất. Thậm chí nó có thể có tuổi thọ lên đến 200 triệu năm.
Bắt đầu từ tháng 10 hằng năm là lá cây ngân hạnh bắt đầu chuyển từ xanh sang vàng.
Trung Quốc được coi là một trong những quê hương của loài cây ngân hạnh.
Đến tầm cuối tháng 11 đầu tháng 12, lá ngân hạnh sẽ dần dần rụng xuống hết, để lại thân cây trơ trọi trong suốt mùa đông lạnh giá và sẽ tiếp tục hồi sinh vào mùa xuân ấm áp.
Hà Đan
(theo Thisiscolossal)
Đọc thêm tham khảo:

CHỖ NGỒI MAY MẮN

Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng. Dennis đã ráng cầm cự hơn sáu tháng nay, mỗi tháng anh phải mượn nợ từ bạn bè, thân thuộc để trang trải tiền công cho thầy thợ, tiền thuê cửa hàng. Nhưng tuần rồi anh bắt buộc phải tập hợp những người cộng tác của anh lại để thông báo cho biết là dịch vụ của nhà hàng sẽ phải tạm đình chỉ từ cuối tháng này. Anh đã cẩn thận cộng đi cộng lại sổ sách nhiều lần, mỗi tháng dịch vụ thương mại của anh đều vướng phải một số âm to tướng. Trương mục tiết kiệm dành cho ngày dưỡng lão cũng biến thành một chữ số Zero. Dennis bắt đầu cảm thấy tay của anh giá lạnh như thể anh là một tay chơi trong sòng bài đang đến lúc cùng đường mạt vận. Buộc lòng anh phải nghĩ đến quyết định sau cùng là: Hãy bán hết ngày hôm nay, có thể anh phải đóng cửa kể từ ngày mai, tức là hai tuần sớm hơn dự định.


Đã đến giờ ăn tối mà sao khách của nhà hàng đi đâu hết rồi. Ở một góc khuất của quán ăn chỉ có hai cha con nọ đang ngồi đợi thực phẩm dọn lên, đứa nhỏ trông có vẻ nghịch ngợm, hết khua chén rồi lại gõ đĩa, người cha hình như có vẻ phiền muộn, không màng ngó ngàng đến đứa con đang làm huyên náo khung cảnh yên lặng của nhà hàng vắng khách.

Lúc đó, một người đàn ông ăn mặc sang trọng nhưng có gương mặt tái nhợt bước vào, Dennis chua chát nghĩ thầm: "Có thể đây là người khách cuối cùng của đêm nay mà cũng là cuối cùng của nhà hàng mình chăng? Hay là ta đặc biệt chiêu đãi để tạo cho người ta có một thiện cảm với mình. Sau này, dù mình không còn mở cửa, nhưng biết đâu hình ảnh nhà hàng mình sẽ để lại trong lòng ông ta một ấn tượng đẹp đẽ!”

Người khách ngồi xuống gọi ngay một cốc rượu mạnh rồi mới bắt đầu lướt mắt qua tấm thực đơn đi tìm những món ăn đặc biệt nhất của tiệm Dennis. Không đợi ông gọi, Dennis tự động bước tới hớn hở nói với ông ta:

- Chúc mừng khách quí, ngài đã chọn đúng một chỗ ngồi tốt nhất, may mắn nhất trong tiệm của chúng tôi, vì vậy đêm nay không những ngài được miễn phí chiêu đãi mà những món ăn của ngài lại là phần ăn của một VIP.

Người khách ngây người nhìn Dennis một chặp rồi hỏi:

- Không ngờ tôi lại may mắn đến thế cơ à?

Dennis tiếp theo đó đã mang ra một phần ăn đặc biệt nhất trong tiệm anh để chiêu đãi người khách này. Đến món tráng miệng, thay vì chỉ một mẩu kem nhỏ thì anh mang ra một chiếc bánh ngọt hạng trung màu sắc rực rỡ và có nến thắp sáng giống như một chiếc bánh sinh nhật. Người khách lạ lúc này mới chịu nở một nụ cười tươi tắn.

Đứa trẻ bàn bên cạnh thấy chiếc bánh ngọt mang ra quá đẹp cũng ngây người nhìn một chặp rồi nó vòi vĩnh với cha:

- Ba à, con cũng muốn ăn chiếc bánh sinh nhật to như vậy đó.

Cha đứa bé nạt ngang:

- Cha con mình đâu có nhiều tiền để ăn những món đắt tiền như vậy đâu con.

Người khách may mắn thấy sự việc như vậy nên quay lại nói với Dennis:

- Đứa bé có vẻ thèm bánh ngọt, thôi thì anh hãy mang sự may mắn của tôi san sẻ với những người chung quanh của tôi vậy.

Dennis vâng lời chia cái bánh của ông làm đôi rồi mang nửa chiếc sang tặng cho cha con người khách ngồi bàn kế cận. Đứa bé hớn hở đón nhận tặng vật và múc ăn ngon lành. Người cha của đứa bé thấy con mình vui nên ông cũng cảm kích bước sang bên này để cảm ơn ông khách tốt bụng.

Hai ông khách từ những câu xã giao thông thường rồi bắt đầu bước vào thăm hỏi nhau qua nghề nghiệp. Ông khách sang trọng tự giới thiệu ông tên là Kent, chủ nhân kiêm giám đốc một hãng thiết kế điện tử ở Thung Lũng Hoa Vàng. Cơ sở của ông tuy còn rất nhỏ nhưng đã có những sản phẩm ăn khách bán chạy và bắt đầu có lời. Cha của đứa bé thì nghẹn ngào cho biết ông làm nghề địa ốc, nhưng tình hình kinh tế hiện nay đã khiến cho những tay dealer mua bán nhà cửa như ông gần như khánh tận. Ông đã nhận được giấy báo của công ty bắt đầu cho ông nghỉ việc kể từ đầu tháng tới.

Kent, ông khách sang trọng ngẫm nghĩ một chặp rồi nói với người cha đứa bé:

- Công ty của tôi đang cần những người saleman có khả năng, hay là anh vào hãng của tôi tạm thời làm thử một thời gian xem có thích hợp hay không?

Cha đứa bé bất ngờ gặp được quí nhân thì mừng rõ vô cùng, ông ta rối rít cảm ơn người khách lạ rồi họ trao đổi số phone và địa chỉ liên lạc …

Qua đêm hôm đó, Dennis bỗng nhiên bỏ qua ý định dẹp tiệm, anh nghĩ còn nước thì còn tát chớ có sao đâu. Bắt đầu từ ngày hôm đó, mỗi ngày anh chọn một vị trí may mắn trong nhà hàng của anh để chiêu đãi miễn phí cho một vị thực khách với tất cả sự vinh hạnh đúng nghĩa. Cái tin này được loan ra, thiên hạ ùn ùn kéo đến không ngớt. Người ta không chỉ muốn ăn miễn phí mà hình như ai nấy cũng muốn thử thời vận của họ xem có được là người may mắn trong đêm của nhà hàng nổi tiếng này hay không? Độc chiêu của Dennis bỗng nhiên hiệu nghiệm khiến nhà hàng của anh tức thì trở thành đông khách nhất khu vực tuy rằng trong giai đoạn kinh tế khó khăn này.

Mấy năm trôi qua, ông Kent đã trở thành khách thường trực và là bạn thân của Dennis. Một đêm cuối tuần, khi đợt khách cuối cùng đã ra về, được dịp Kent mời Dennis một ly rượu mạnh, ông bỗng hỏi Dennis một câu như sau:

- Anh có biết cái đêm hôm đó khi đến tiệm của anh, tôi đang nghĩ ngợi và có dự định gì trong đầu hay không?

Dennis lắc đầu, Kent gật gù nói:

- Buổi chiều ngày hôm đó tôi nhận được email của nhà tôi, bà ta cho biết là không thể nào chịu đựng thêm được cái tính say mê công việc (work-aholic) của tôi. Bà ta cho rằng dưới mắt tôi, bà ta không là gì cả, cho nên từ 6 tháng trước đó bà đã ngoại tình và hôm đó bà đã chính thức bỏ tôi để đi theo tiếng gọi của con tim. Tôi đã suy nghĩ cả một buổi chiều, ruột gan tôi rối tung lên. Đêm đó, trong đầu tôi dự định là sau khi ăn uống no say tôi sẽ trở về nhà để kết liễu sinh mạng của mình. Anh nên biết, cuộc đời tôi đã đi từ thành công này sang thành công khác, nhưng lúc đó tôi mới nhận ra là tôi đã thất bại hoàn toàn ngay từ bước đầu tiên. Kim tự tháp của tôi đã bị hỏng nền cho nên tôi chỉ còn cách là kết liễu sinh mạng của tôi thôi. Thế rồi tôi được anh chỉ cho một chỗ ngồi may mắn, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và tưởng chừng như ông trời đang giở trò châm biếm tôi. Nhưng sau khi tôi mang nửa cái bánh tặng cho đứa bé, rồi mang một việc làm giúp cho cha đứa bé thì lúc đó tôi mới thấy là cuộc đời của tôi cũng còn có một chút xíu giá trị và hữu dụng. Cuộc đời tôi mới bắt đầu đứng lên từ lúc đó. Cho nên phải nói chính anh đã cứu lấy cuộc đời của tôi. Cám ơn Dennis, người bạn thân thiết của tôi.

Dennis cảm động ôm chầm lấy Kent, mắt anh cũng đoanh tròng ngấn lệ, bây giờ anh mới hiểu ra, sự may mắn chỉ có thể đến với ta khi nào lòng ta mở rộng vị tha. Nếu như anh không nghĩ ra cách mang tặng một phần ăn miễn phí, thì có thể là cơ nghiệp của anh đã không có được như ngày hôm nay. Bản thân anh phải chăng cũng chính là một nhân vật may mắn nhất trong chuỗi cờ domino dài nhằng đang xảy ra nhan nhãn trên khắp quả địa cầu mà chúng ta đang cư ngụ.

Phạm Huê dịch
Đăng bởi Cội Nguồn: Thứ năm tháng 1 31, 2013