Thursday, May 2, 2019

MANHATTAN: CỘT MỐC BÍ ẨN Ở CÔNG VIÊN TRUNG TÂM VÀ TẦM NHÌN TỪ THẾ KỶ 19

Ở công viên Trung tâm tại Manhattan, thành phố New York, Mỹ, có một cột mốc nhỏ bí ẩn trông khá bình thường và trơ trọi. Đôi khi du khách tới đây sẽ phải tự hỏi rằng tại sao người ta không nhổ bỏ nó đi? Thật ra đằng sau cột mốc bí ẩn đó là cả một câu chuyện, mà nếu không có nó, thì cũng không có Manhattan sầm uất của ngày hôm nay.

Mốc sắt rỉ sét mang trong mình câu chuyện về Manhattan (Ảnh: Tech Insider, YouTube)

Manhattan, một trong 5 quận nổi tiếng của thành phố New York. Nhắc đến Manhattan, người ta tự nhiên sẽ nghĩ đến một loạt các thành ngữ nổi tiếng như: thị trường chứng khoán phố Wall, giới triệu phú, nhà hát Broadway, cùng các tòa nhà cao tầng với những nhân viên cổ cồn trắng. Cái tên Manhattan theo tiếng Ba Tư có nghĩa là “mảnh đất của sự say sưa”, và mảnh đất ấy thực sự đã làm nhiều người mê đắm vì sự giàu có và phồn hoa của nó. Thế nhưng ít ai biết rằng, Manhattan sầm uất của hôm nay chỉ bắt đầu từ hơn 1.000 cột mốc nhỏ, mà cho đến hiện tại, dấu vết duy nhất còn lại của chúng là một mốc sắt rỉ sét tại công viên Trung Tâm thành phố New York.

Từ đầu thế kỷ 19, các nhà chức trách Mỹ đã hiểu rất rõ rằng, Manhattan cần phải có một thiết kế tổng thể. Chính vì thế, họ đã quyết định chia mảnh đất này thành một hệ thống ô chữ nhật khổng lồ. Đó không phải là một công việc dễ dàng! Và kỹ sư khảo sát John Randel, Jr. cùng các cộng sự đã phải làm việc rất vất vả trong 10 năm liền, kể từ 1807. Công việc của Randel không chỉ nằm trên bàn giấy, ông phải đi tới tất cả các giao lộ, từ đại lộ số 14 tới đại lộ số 155, và đánh dấu chúng với hơn 1000 cột mốc bằng sắt hoặc đá cẩm thạch. Hầu hết các công cụ khảo sát thời bấy giờ đều do Randel tự mình chế tạo nên.

Các công cụ khảo sát thời xưa (Ảnh: Cyclopaedia, US public domain, Wikipedia)

Nhưng các kỹ sư của chúng ta không chỉ phải đối mặt với các khó khăn về dụng cụ, địa hình hay mức độ khổng lồ của dự án. Họ còn bị những người dân địa phương xua đuổi bằng rau củ, bị chó đuổi, và bị nhổ các cột mốc đã làm. Cũng dễ hiểu thôi, vì nếu có ai đó đi vào đóng cọc trong vườn nhà bạn và nói rằng trong tương lai một đại lộ sẽ xuyên thẳng qua đó, thì ai mà chẳng bực tức… Tuy nhiên, cuối cùng công việc của Randel cũng hoàn thành. Và cho đến hiện tại, cột mốc duy nhất còn lại của quá trình thiết kế quan trọng đó, là cột mốc bí ẩn tại công viên Trung tâm ở Manhattan.

Nhóm của Randel phải đặt cột mốc tại mỗi giao lộ trong bản đồ (Ảnh: Tech Insider, YouTube)

Thế đấy, một mốc sắt rỉ sét lại âm thầm kể với con người ngày nay tầm nhìn rộng lớn của những người đi trước. Cũng chỉ có sự bao quát đến vậy mới xứng tầm với một mảnh đất giàu có nhất thế giới như Manhattan. Người ta nói rằng: thế giới đuổi theo Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đuổi theo New York, và New York thì cạnh tranh với Manhattan. Đến với nơi đây, bạn có thể cảm nhận sự giàu có hiện ra trên mặt đất, dưới đất, trên không trung, và ngay cả trong mỗi lần kim đồng hồ chuyển dịch. Âm thanh của những đồng tiền vàng vang lên khắp mọi nơi.

John Randel, Jr. là người đứng sau những cột mốc đặt nền móng cho Manhattan hiện đại (Ảnh: Architectural Review)

Có một truyền thuyết kể lại rằng, sự giàu có của Manhattan bắt nguồn từ một mối duyên tiền định với Đông phương: mảnh đất này chính là một đồng tiền thiêng liêng được ném xuống từ trên thiên thượng. Nếu bạn từng tình cờ nhìn vào bản đồ thì Manhattan quả thật trông giống như một đồng tiền Trung Hoa cổ đại vào thời nhà Thanh vậy. Mà nền văn hóa rực rỡ của phương Đông lại có một tên gọi khác là văn hóa Thần truyền. Chính vì thế, một lẽ tự nhiên, tất cả tiền tệ trên trái đất đều bước trên Manhattan, và đưa nó trở thành một trung tâm tài chính của thế giới vào thời hiện đại.

Manhattan trên bản đồ trông như một đồng tiền Trung Hoa cổ xưa (Ảnh: Wikipedia)
Đồng tiền Trung Hoa cổ xưa (Ảnh: Theo Chanhkien.org)

Không có lý do gì mà chúng ta lại phải loại bỏ một truyền thuyết đẹp đến vậy, mặc dù nhiều người dân Manhattan sẽ thường được nghe kể về một truyền thuyết khác. Trong đó, mảnh đất trù phú này được mua lại bởi một chuỗi hạt của Phật trị giá 24 đô la cùng vài vật phẩm quý hiếm. Tất nhiên, con người của trung tâm thương mại bậc nhất thế giới ấy sẽ nghĩ tới cái giá 24 đô la, nhưng nếu ai hiểu lẽ nhân quả thì sẽ chú ý rằng Manhattan được mua bởi một chuỗi hạt của Phật. Chính vì vậy, nói Manhattan có tiền duyên với văn hóa phương Đông cũng không có gì là sai trái.

Bản đồ chia ô khổng lồ của Manhattan (Ảnh: Tech Insider, YouTube)

Manhattan, mảnh đất của sự say mê, mảnh đất mang trong mình một mối duyên thầm lặng với văn hóa phương Đông huyền bí, và con người nơi đây rồi sẽ có lúc tự hỏi rằng, đến bao giờ hay bằng cách nào mà Manhattan có thể hoàn thành mối tiền duyên ấy.

Trương Kiệt Liên, Quang Minh


CÁI THANG ĐỜI

Ai cũng nhìn ra, nền giáo dục này đã, đang và sẽ biến con em chúng ta thành cái gì ? Nó sẽ biến con em chúng ta thành một bầy cừu chỉ biết nghe lời, gian giảo, láu cá vặt, ích kỷ, cơ hội, lạnh lùng vô cảm, duy ý chí v.v… Một nền giáo dục tồi tệ mà còn không bình đẳng, những kẻ được nâng điểm thênh thang trên đường hoạn lộ và hậu quả tất nhiên là sản sinh ra những con quái vật như Thủy già Vũng Tàu, Hùng “thang máy”, Linh “nựng” Đà Nẵng v.v… Và nạn nhân lại là con cháu chúng ta. Ôi cái thang đời!


Nhưng tại sao ai cũng lờ đi coi như không có? Bởi vì, tất cả chúng ta, chỉ cần bình thản lại một chút cũng thấy rằng ai cũng mang trong mình (không nhiều thì ít) những tính xấu đó. Không sao, con người chưa hoàn thiện.

Vì thế, giáo dục, tôn giáo, triết học ra đời. Tôn giáo cho thấy những siêu việt trí tuệ, siêu việt đạo đức qua hình ảnh Phật và Chúa. Vì sao những hình ảnh đó lại mang cái vẻ ngoài là con người? Vì đó cũng chính là con người nhưng là “con người đã chiến thắng”. Mục đích tối hậu của Tôn giáo chân chính là thế.

Vừa thông thái vừa thông minh chính là đức Tương- Dung của tôn giáo chân chính và nó cũng là 2 phẩm tính của trí thức đúng nghĩa. Triết học ra đời, băn khoăn quan sát thế giới, phân tích cuộc đời để tìm đâu ra cái đích thực Chân, Thiện, Mỹ cũng là mục tiêu hướng tới của nhân loại.


Giáo dục như một cái thang lênh khênh, để cho ta trèo từng bước gập ghềnh vươn tới đỉnh cao, nó nhọc nhằn vì đâu phải bao giờ người bước lên thang cũng chọn được đúng điểm tựa. Câu ca dao trong sách vỡ lòng:

Cái gì cao lớn lênh khênh
Đứng mà không tựa ngã kềnh ngay ra.


Chẳng là luôn nhắc nhở ta hay sao? Nó cũng có dấu vết trong chữ viết, High trong tiếng Anh nghĩa là cao cũng là dấu vết của chữ “H”, thuở ban đầu là hình cái thang. Nhưng đâu phải vì thế mà ta lo sợ không dám trèo.

Vậy thì, vấn đề ở đây sẽ là: Bạn đồng ý hay không khi cho con em mình trèo lên cái thang “giáo dục XHCN”? Bạn có muốn con em mình trở thành như mình với khiếm khuyết bất khả từ chối của một lịch sử đã là quá khứ hay con bạn phải có một tương lai với nhân cách cao hơn cha mẹ nó? Hay bạn muốn con mình gian giảo, láu cá, biết nắm cơ hội vặt v.v…hơn bản thân mình để kiếm một chỗ cao hơn trên cái thang đời? Vì đời bạn đã bị đốn ngã, bị ê chề trong một xã hội: “thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt”.


Quyết định là ở bạn, bởi vì khi con cái bạn còn non nớt, bạn có quyền quyết định trong việc đưa con bước lên bậc đầu tiên của cái thang nào, và, bởi vì người khác cũng không có quyền tước đoạt quyền của bạn khi nói rằng: “Bố mẹ biết cái gì mà thắc mắc?”- Hồ Ngọc Đại.

Không thể nào im lặng được nữa! Luật Nhân Quả không chừa một ai, bà Thanh Tân (vợ ông Linh) viết: “Nhưng con tôi, các cháu không có tội”. Ôi, giá mà ông Linh nghĩ đến hậu quả khi bước lên cái thang đời, sẽ phải nhìn vào mắt con mình suốt phần đời còn lại, mỗi buổi sáng khi thức dậy, mỗi lúc ngồi vào bàn ăn, mỗi tối trước khi đi ngủ. Dù kinh tởm ông Linh, tôi vẫn mong con cái ông vượt qua được cái thang này.

ĐĂNG NHẬT NGÔ

VŨ LĂNG NGUYÊN - TIÊN CẢNH NƠI TRẦN THẾ

Vũ Lăng Nguyên (武陵源) được ví như “cảnh tiên giới thu nhỏ” nhờ khung cảnh mê hoặc của các cột đá và vẻ đẹp tự nhiên của thung lũng, rừng, hang động, hồ nước và thác nước.


Khu danh thắng Vũ Lăng Nguyên nằm ở phía bắc thành phố Trương Gia Giới, là một trong những điểm thu hút khách du lịch bậc nhất của tỉnh Hồ Nam và là một trong 40 địa điểm danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Trung Quốc.

Vũ Lăng Nguyên được ví như là "cảnh tiên giới thu nhỏ"" và được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới năm 1992.

Khung cảnh mê hoặc do khoảng 3.000 cột đá thạch anh và sa thạch, trong đó có những ngọn cao trên 1.000m tạo thành cùng vẻ đẹp tự nhiên của thung lũng, rừng, hang động, hồ nước và thác nước,… có thể khiến du khách cảm giác như đang trong thế giới của phim viễn tưởng.

Ảnh: Zjjw

Tên gọi Vũ Lăng Nguyên (武陵源) có nguồn gốc từ một bài thơ có tựa là "Đào nguyên hành" do một nhà thờ đời nhà Đường viết với nội dung ca ngợi cảnh vật nơi đây, trong đó có chữ Vũ Lăng Nguyên ý chỉ vùng đất này.

Có thể tìm thấy trên 560 điểm tham quan hấp dẫn ở đây gồm những ngọn núi hình thù kỳ dị, những cột đá thẳng đứng, những thung lũng ẩn hiện trong màn sương, những thác nước tuyệt vời và những hang động đá vôi.

Tất cả tạo nên tổ hợp "Năm kỳ quan" vô cùng độc đáo của Khu danh thắng Vũ lăng Nguyên.

Ảnh: Mizholdings

Theo các nghiên cứu địa chất, vào thời kỳ cổ đại Vũ Lăng Nguyên là một vùng đại dương mênh mông vì thế khu vực này tồn tại rất nhiều trầm tích, thạch anh.

Trải qua hàng triệu năm dưới sự tác động của khí hậu, nhiệt độ và sự vận động phức tạp của vỏ Trái Đất, khu vực này đã trở thành một kỳ quan thiên nhiên thực sự kỳ vĩ mà không nơi nào có được.

Ảnh: Voc

Khu vực danh thắng Vũ lăng Nguyên bao gồm bốn khu vực chính là Công viên rừng quốc gia Trương Gia Giới, Khu bảo tồn thung lũng Tố Khê, núi Thiên Tử và thành viên mới gia nhập gần đây là Khu thắng cảnh Dương Gia Giới với tổng diện tích lên đến 690km².

Ảnh: Qunarzz

Công viên rừng quốc gia Trương Gia Giới là một trong những công viên rừng cấp quốc gia đầu tiên ở Trung Quốc. Công viên thực sự là một "nhà kho" đúng nghĩa với trên 97% diện tích được bao phủ bởi hàng nghìn loại thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm và đặc hữu.

Ảnh: sinaimg

Khu bảo tồn thiên nhiên thung lũng Tố Khê nằm ở khu trung tâm của Vũ Lăng Nguyên và là khu vực có diện tích lớn nhất.

Sương mù là khung cảnh thường gặp ở đây, điều này khiến cho cả thung lũng lúc nào cũng đắm chìm trong vẻ huyền bí mờ ảo, như lạc vào cõi tiên.

Ảnh: Jknlxs

Trái với thung lũng Tố Khê, Khu bảo tồn thiên nhiên núi Thiên Tử là nơi tập hợp của vô số đỉnh núi và cột đá có hình thù vô cùng độc đáo.

Trên đỉnh núi, du khách có thể quan sát toàn bộ cảnh quan Vũ Lăng Nguyên.

Một khu vực không thể bỏ qua khi ghé thăm núi Thiên Tử đó là Vịnh Tân Đường, đây là một hố thiên nhiên lớn hình bán nguyệt sâu không thấy đáy vô cùng bí hiểm.


Cho tới những năm 1990, Khu bảo tồn Dương Gia Giới mới được thành lập. Theo truyền thuyết, đây là nơi các danh tướng dòng dọ Dương sử dụng làm căn cứ để chống lại quân xâm lược Khiết Đan.

Ảnh: Qunarzz

Bên cạnh đó, cùng với cảnh quan thiên nhiên của bốn khu vực, Vũ Lăng Nguyên còn là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số Trung Quốc (Thổ, Miêu, Bạch) với những phong tục tập quán đặc sắc tạo nên một sức hút riêng cho vùng đất này.

Ảnh: Q unarzz

Đến Vũ Lăng Nguyên du khách có thể lựa chọn lên núi ngắm cảnh bằng một chiếc thang máy khổng lồ có tên gọi "thang máy Bách Long", xây dựng từ năm 1999 với kinh phí lên đến 19 triệu USD.

Ảnh: Bilibili

Chiếc thang máy khổng lồ có chiều cao 330m được bao bọc bằng một lớp kính trong suốt để đưa khách thăm quan lên núi.

Từ trong thang máy nhìn ra, du khách có thể phóng tầm mắt ra xa qua vách kính để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ xen lẫn huyền ảo của Vũ Lăng Nguyên.

Theo Minh Hải (TTO)

Wednesday, May 1, 2019

THỐNG NHẤT ĐỂ LÀM GÌ?

Không thể chối cãi là nhờ có Trịnh Nguyễn phân tranh, chia đôi đất nước mà lãnh thổ VN được mở rộng về phía Nam, lập ra thêm một “nước Việt” mới gọi là Xứ Đàng Trong.
Xứ Đàng Trong có nhà nước riêng, có bản sắc riêng, tập tục và sinh hoạt có nhiều đổi mới, nhưng cái gốc văn hóa Việt, cái gốc người Việt vẫn giữ nguyên, không mất đi đâu.
Giá như hồi đó, Nguyễn Huệ rồi tiếp theo đó là Nguyễn Ánh không thống nhất đất nước, dân tộc ta có hai nước Việt.


Lỡ sau đó người Pháp có đến đánh chiếm thì biết đâu may mắn, ta chỉ mất một nước, còn lại một nước để chống giữ và phục hồi. Giống như hồi Mãn Thanh xua quân qua xâm lược chỉ chiếm được Xứ Đàng Ngoài, ta còn Xứ Đàng Trong giàu vật lực để Nguyễn Huệ dựa vào đó mang quân ra tái chiếm lãnh thổ.

Nhưng lịch sử thì không có chuyện giá như, hơn nữa việc thống nhất đất nước của Nguyễn Ánh để lập nên nước Việt Nam to lớn là tất yếu, là mong muốn của cả dân tộc. Ai không muốn thống nhất, để đất nước liền mạch và rộng lớn hơn chứ?

Những tưởng cơ hội lớn chưa từng có ấy mở ra cho dân tộc, khi hòa bình lập lại, đất nước liền một giải từ Bắc vào Nam, người lãnh đạo là vua Gia Long – từng bôn ba giao tiếp với phương Tây, từng thấy sự tiến bộ và giàu mạnh của họ nên đã xin nhờ vả để kháng chiến chống Tây Sơn – sẽ tiếp thu cái mới, xây dựng một triều đình tiến bộ, hướng đến một chân trời mới, giải phóng dân tộc ra khỏi tư duy nô lệ vào tư tưởng lạc hậu phương Bắc, để canh tân và phát triển đất nước.

Nhưng không, Triều đình nhà Nguyễn lại quay vào con đường nô lệ tư duy cũ, vất bỏ hết những cải cách vừa mới manh nha thời Tây Sơn, tự nguyện chọn hệ tư tưởng Khổng Nho làm kim chỉ nam, lấy học thuật từ chương khoa bảng lạc hậu kiểu Trung Hoa làm nền tảng, ngay cả luật pháp cũng sao chép lại luật Càn Long, trong khi trước đó Đại Việt đã có bộ luật Hồng Đức khá căn bản.


Cách làm đó của nhà Nguyễn đã dập tắt mọi tư duy sáng tạo của người dân, đẩy giới tinh hoa trí thức VN vào con đường mòn thui chột, suốt đời ngồi tụng tứ thư ngũ kinh, suốt đời phải ngu trung, phải “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, làm tổn hao năng lượng dân tộc đến cả trăm năm và để lại di chứng đến tận ngày nay bởi học thuyết Khổng Nho đã quá lạc hậu với thời đại.

Một dân tộc ngu muội và hèn yếu vì bị bưng bít kéo dài với thế giới bên ngoài, vì bị nhà cầm quyền làm thui chột óc sáng tạo, thì cái gì đến phải đến là tất yếu: Mất nước.
Nhiều sử gia ca ngợi Nguyễn Ánh có công thống nhất đất nước, mang hòa bình đến cho dân tộc. Nhưng thống nhất hòa bình để có kết cuộc như vậy thì thống nhất để làm gì? Có ý nghĩa gì mà tụng ca?

Đau đớn cho dân tộc ta, qua đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 lịch sử bị lặp lại.
Đất nước bị chia cắt làm hai bởi ý thức hệ. Chiến tranh khốc liệt kéo dài trong 20 năm, cuối cùng miền Bắc cộng sản đã chiến thắng miền Nam tự do, thống nhất đất nước và lập lại hòa bình.

Miền Bắc theo thể chế độc đảng toàn trị, một dạng phong kiến mới, buộc nửa nước tôn thờ một chủ nghĩa duy nhất là chủ nghĩa cộng sản, dập tắt mọi tư duy phản biện và sáng tạo, đẩy nửa dân tộc đi vào một con đường độc đạo, bưng bít với thế giới tiến bộ bên ngoài.
 

Những tưởng sau khi chiếm được miền Nam, nhà cầm quyền cộng sản thấy thực tế phát triển mọi mặt của xã hội miền Nam khi người dân được tự do làm ăn, được tự do tư hữu và quan trọng là tư duy sáng tạo được tự do khai phóng, thì sẽ thay đổi theo hướng tiến bộ để đưa cả nước đi lên giàu mạnh và hạnh phúc.

Nhưng không, tai họa trước đó chỉ ảnh hưởng lên nửa nước, bấy giờ có cơ hội do thống nhất, đã đổ ập lên toàn dân tộc. Tinh hoa đất nước là giới trí thức, giới doanh nhân công thương nghiệp bị tiêu diệt, nền kinh tế bị phá nát, và nghiêm trọng nhất là làm tiêu hao năng lượng dân tộc vào thứ học thuyết Mác Lê Mao phản động, sai trái và tàn độc.
Đau hơn nữa là trước kia chỉ nửa nước bị Tàu cộng kiềm chế, nay do thống nhất, cả nước bị chúng kiềm tỏa, khó tìm cách thoát ra.

Câu hỏi thống nhất để làm gì lại đặt ra sau hơn 200 năm.

Do vậy kẻ chiến thắng đừng tụng ca chiến tích nữa, đừng xưng tụng công lao thống nhất nữa, mà phải nghiêm túc đặt ra câu hỏi sau gần 50 năm chiến thắng họ đã làm gì cho đất nước tốt đẹp hơn lên?

Xin đừng tự sướng khi lấy những phát triển vật chất hào nhoáng bên ngoài hiện nay so với thời đói nghèo năm 45, mà hay hãy so với các nước chung quanh, so với chính thời đại đang phát triển như vũ bão. Và hãy nghiêm túc đánh giá những hào nhoáng bên ngoài đó có xứng với lượng tài nguyên khổng lồ đã bán đi, có xứng với rừng vàng biển bạc, môi trường trong sạch đang bị tàn phá đến không còn gì cho con cháu trong tương lai, có xứng với món nợ khổng lồ đang càng ngày càng lớn lên.


Còn chưa nói đến đạo đức xã hội đang suy thoái và lòng người đang li tán.

Nếu thực tâm vì đất nước thì đảng cộng sản cầm quyền đã đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích của của đảng, đã nhanh chóng thay đổi theo hướng văn minh tiến bộ theo xu thế chung của thế giới.

Có gì khó khăn trong chuyện thay đổi mà cứ giả bộ “trăn trở” và ì ạch mãi?

Câu hỏi “thống nhất để làm gì” sẽ còn đặt ra với dân tộc nầy đến bao giờ?

HUỲNH NGỌC CHÊNH
Theo 8 Sài Gòn

7 BÀI HỌC LÀM NGƯỜI

Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.


Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư. Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa? Ngài Tinh Vân bảo: Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.
Thứ nhất, “học nhận lỗi“. Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
Thứ hai, “học nhu hòa“. Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.


Thứ ba, “học nhẫn nhục“. Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
Thứ tư, “học thấu hiểu“. Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?


Thứ năm, “học buông bỏ“. Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
Thứ sáu, “học cảm động”. Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.


Thứ bảy, “học sinh tồn”. Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.
(Sưu tầm trên mạng)

KÝ ỨC VỤN CỦA MỘT ĐỨA TRẺ TRONG VÙNG KINH TẾ MỚI

Mình vẫn nhớ như in cái ngày đầu tiên đặt chân lên vùng kinh tế mới dù lúc đó mình chỉ bốn tuổi. Một cái nhà tranh không có vách được dựng sẵn, mọi người tá túc tạm ở đó để bắt đầu dựng lên ngôi nhà của riêng mình. Mỗi hộ được chia một sào đất, nông trường vứt cho mỗi gia đình một ít gỗ, tre, tranh. Và cứ vậy từng cái lều được mọi người đổi công nhau dựng lên…


Căn lều của gia đình mình là cái thứ tám trong số hơn hai mươi cái của những gia đình có người là lính Việt Nam Cộng Hoà. Đàn ông đi tù cả, thành quả ấy chủ yếu là do đàn bà và con nít làm ra. Nhà ai dựng xong thì tự dọn về để dành cái chòi tập thể cho những người chưa có.

Nơi lập làng kinh tế mới của gia đình mình là khu rẫy cũ của người dân tộc, ở đó người ta đào cho cả xóm bốn cái giếng nhưng mùa nắng thì không có nước. Mình bắt đầu đi lấy nước từ lúc năm tuổi, chỉ vác nổi một cái canh 4 lít thất tha thất thểu đi bộ.

Điều mình sợ nhất thời ấy là mỗi buổi chiều chạng vạng, khi người lớn đi làm vẫn chưa về. Nhà thì cách xa nhau, vô trong tối om nên những đứa trẻ như mình thường chỉ dám ngồi ngoài cổng để đợi. Niềm vui vỡ oà khi nhìn thấy bóng người lớn về tới. Vì vậy mà cho đến giờ mình không để con cháu phải đợi. Mình không muốn chúng gặp cái cảm giác như mình ngày xưa.

Rồi thế hệ mình lớn dần lên trong đói nghèo, lớn một cách tự nhiên như cái nấm, cây măng.


Học thì đi bộ bốn cây số, về tới nhà thì xắt chuối cho heo, tưới rau, làm cỏ. Mỗi một đứa trẻ sẽ phải làm tất cả những gì mà người lớn đang làm theo phiên bản tuổi tác. Tụi mình cũng vần công cho nhau mỗi vụ mùa, đi đào hầm rác kiếm nhôm đồng bán để may quần áo, hái măng, nhổ nấm để cải thiện bữa ăn, nói chung khi ấy người ta sống theo đúng nghĩa tồn tại bằng mọi giá. Không thể nào kể hết những gì tuổi thơ mình từng phải trải qua.

Winston Churchill từng nói: “Chủ nghĩa tư bản không chia đều sự thịnh vượng, nhưng chủ nghĩa xã hội lại chia đều sự nghèo khổ.” (*) Thế hệ mình là thế hệ cảm nhận rõ nhất điều này. Mình không tin vào chế độ đã giúp mình cảm nhận được điều đó.

(*) Ghi chú: Câu nói nguyên văn của Winston Churchill là: “The inherent vice of capitalism is the unequal sharing of blessings; the inherent virtue of socialism is the equal sharing of miseries.” Hiểu là: Cái “xấu” vốn có của Chủ nghĩa tư bản là “không chia đều” phúc lành; cái “tốt” vốn có của Chủ nghĩa xã hội là “chia đều”sự khổ đau. Hàm ý châm biếm cùng cụm từ “phúc lành” hay “khổ đau” đặc trưng của niềm tin Cơ đốc giáo khi dịch sang tiếng Việt đã bị thay đổi ý nghĩa. Cần chú ý rằng trong tín ngưỡng phương Tây, “phúc lành” là được Chúa ban cho từng cá nhân, nên việc so sánh có chia đều hay không là vô lý và thể hiện sự đố kỵ nhỏ nhen.

Trương Quang Thi

NGƯỜI BÁN LIÊM SỈ


Xin gọi ông ta là ông X. Để tránh phiền phức. Thời buổi bây giờ, con người dễ bị chụp mũ bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai.

Ở trên chụp xuống là nhà cầm quyền – hạng này đông lắm và rất... vững tay nghề vì đã từng hành nghề này cả mấy chục năm. Ở dưới chụp lên là kẻ tiểu nhơn – hạng này thường thấy xuất hiện khi có biến cố hay khi thấy chánh quyền đa nghi như Tào Tháo; hạng này hành động theo thời cơ nên tay nghề lắm khi còn vụng; họ không đông nhưng rất nguy hiểm bởi vì họ giống như mọi người nên khó mà nhận diện ! Ở ngang với mình mà chụp mũ mình là mấy đứa mà mình thường gọi là bạn hay chiến hữu hay đồng chí – hạng... mắc dịch này mới bắt tay ôm hôn mình thắm thiết đó, vậy mà hôm sau đã "trở cờ xé lẻ" bởi vì cái đít của họ đòi cái ghế và cái mặt của họ muốn được... bự bằng cái nia (để được thấy là … đại diện !) ; hạng này không cần tay nghề khéo nên cách chụp mũ thiếu... tế nhị !

Nói chung, hạng chụp mũ nào cũng chỉ chụp người có tên tuổi đàng hoàng chớ chẳng ai chụp mũ một kẻ vô danh. Cho nên, gọi nhân vật trong chuyện sau đây là ông X để ổng trở thành kẻ vô danh, khỏi bị chụp mũ ! (Xin lỗi ! Tôi hơi dài dòng ở đây tại vì tôi muốn mọi người đều thấy tôi "rõ như ban ngày", để đừng ai... chụp mũ tôi "có ý đồ này nọ". Đa tạ).

Bây giờ thì xin nói đến ông X.

Hồi thời trước – thời mà sau này "được" gọi là ngụy – ông X làm việc cho một hãng tư của ngoại quốc. Ông làm việc lâu năm và rất đắc lực nên ban giám đốc giao cho ông những chức vụ quan trọng với quyền hạn về tài chánh thật rộng rãi. Để thực hiện những chương trình xây dựng đồ sộ của hãng, ông thường xuyên giao dịch với chánh quyền. Nhờ vậy, ông "quen lớn" nhiều trong cả hai giới dân sự và quân sự.

Ở địa vị như của ông, con người dễ bị cám dỗ vì tư lợi. Chẳng có gì khó hết. Chỉ cần "nhắm mắt" một chút là nhà thầu sẽ biết cách đền ơn. Chỉ cần "biết phải quấy" một chút là vô "áp phe" riêng cho mình. Chỉ cần "bóp chẹt bắt bí" một chút là hất chân những đứa không theo bè cánh...

Ông X lại không thuộc hạng "biết làm ăn" như kể trên. Ông lớn lên trong một gia đình theo Khổng giáo, lấy "nhân nghĩa lễ trí tín" làm phương châm, luôn đề cao giá trị đạo đức của con người. Cho nên làm việc cho hãng gần hai mươi năm mà không thấy ông... "xơ múi" chút gì hết ! Bạn bè có đứa chê ông nhát.

Ông cười: "Thà tao nhát mà tao giữ tròn liêm sỉ. Cái đó mới là cái khó. Người ta có thể chê tao như mày đã chê tao. Chớ không ai dám khi dễ tao hết. Cái phách của tao là ở chỗ đó !".


... 30 tháng tư 1975. Ông X đã không di tản. Nghĩ rằng mình làm việc cho hãng tư, lại là hãng của ngoại quốc, chắc "họ không làm gì đâu". Chẳng dè quân mũ tai bèo (Giải phóng miền Nam) và quân nón cối (bộ đội) vào Nam tiếp thu tuốt tuột. Hãng công hãng tư gì, lớn nhỏ gì cũng "đớp" hết ráo (Trước đó, họ có tuyên bố "không đụng tới cây kim sợi chỉ của dân", và sự thật, họ đã làm đúng như vậy, mới chết ! Bằng cớ là họ đã lấy hết, chỉ chừa có... cây kim sợi chỉ ! Cho nên, có thấy ai thưa gởi rằng bị cách mạng... cướp mất cây kim sợi chỉ đâu ? Vậy mà sao ai cũng nói họ "nói một đàng mà làm một nẻo" hết! Oan cho họ ! Có điều là với "cây kim sợi chỉ", người dân không biết... "làm khỉ gì ăn". Chỉ còn có nước may cái miệng lại để khỏi phải ăn, khỏi phải nói !).

Hãng của ông X bị quân mũ tai bèo mang bí số K7 tiếp thu. May cho ổng: người dẫn đầu toán tiếp thu là người chú bà con đi khu hồi kháng chiến 1945. Nhờ ông này can thiệp nên ông X không bị đi cải tạo, nhưng bị đổi đi "hạ tầng công tác" ở một kho hóa chất (Sự che chở người thân như vậy rất hiếm thấy trong chế độ. Và có lẽ vì vậy mà chưa đầy sáu tháng sau, ông cán bộ đó bị cho "về vườn" mặc dầu chưa tới hạn tuổi !).


Bấy giờ, ông X ăn lương 80 đồng. Trong khi người tài xế cũ của ông lảnh 90 đồng ! Ông được phát lương mỗi tháng hai kỳ. Mỗi kỳ là 40 đồng nhưng bị giữ lại 2 đồng để cho vào sổ tiết kiệm (Nhà Nước lo cho dân chí tình như vậy mà vẫn có người không bằng lòng. Lạ thật !).

Bấy giờ, vì tất cả ngân hàng đều bị tịch thu, nên tiền của mà ông X để trong ngân hàng của ổng kể như đã... cúng cô hồn ! Ông X trắng tay và... trắng mắt.

Bấy giờ, vợ con ông X rã ra đi làm trong mấy tổ hợp. Hai đứa nhỏ nhứt ở nhà dán bao giấy bỏ mối cho bạn hàng ngoài chợ gói đồ. Ông X bán lần xe cộ, bàn ghế tủ...

Nhiều khi ông thầm nghĩ: "Mình đã tự hào giữ tròn liêm sỉ từ mấy mươi năm. Bây giờ... đổi lấy cái ăn cũng không được. Phải chi hồi đó mình nhắm mắt làm bậy, mánh mung chụp giựt đầy túi rồi bay ra ngoại quốc ở, thì bây giờ mình đâu có ngồi đây nhìn cái khổ cực của vợ con ! Riết rồi không biết là mình khôn hay mình dại nữa".


Hôm nay là ngày ông đi bán chiếc xe đạp của ông. Ông đã tính kỹ: đạp xe ra chỗ thằng nhỏ sửa xe đạp ở góc đường xin nó cho đứng nhờ để bán; ở đó người qua lại cũng đông và người ghé vào bơm bánh hay sửa xe cũng thường; thế nào cũng có người hỏi mua. Sau khi lau chùi sạch sẽ chiếc xe, ông lấy một miếng bìa cứng viết lên đó "Bán xe đạp" rồi khoét lỗ xỏ sẵn dây để mang ra cột tại chỗ. Vừa làm ông vừa nghĩ đến thân phận của mình, đến cái liêm sỉ mà ông đã đeo đẳng từ bao nhiêu năm. Ông cười chua chát: "Cái liêm sỉ không giá trị bằng chiếc xe đạp !". Bỗng ông nẩy ra một ý, vừa hài hước vừa táo bạo: "Tại sao mình không treo bảng bán cái liêm sỉ ? Cười chơi, sợ gì ?". Vậy là ông lấy một miếng cạc-tông, nắn nót viết lên đó hàng chữ "Bán cái liêm sỉ. Bảo đảm 20 năm chưa sứt mẻ". Khoét lỗ xỏ dây xong, ông cho hết vào túi xách, đạp xe ra ngõ.

Thằng nhỏ sửa xe tuổi độ mười hai mười ba. Ốm nhom, đen thui, cười hở lợi. Sáng nào nó cũng kéo chiếc xe hai bánh chở hai thùng gỗ nhỏ và mớ đồ nghề, ra... hành nghề cạnh trụ đèn ở góc đường. Sợ người ta không biết hay sao mà thấy nó có treo trên trụ đèn tấm bảng trắng sơn chữ đỏ "Tại đây sửa xe đạp đủ loại".

Khi ông X xin đứng nhờ, nó vui vẻ nhận lời ngay:

- Dạ được ! Dạ được ! Ông Hai cứ dựng xe cạnh cột đèn đó, không sao hết. Chỗ này là chỗ "bá tánh" chớ phải của riêng cháu đâu mà ông Hai xin phép !

Rồi nó lấy cái thùng gỗ úp xuống, mời:

- Ông Hai ngồi. Cháu đang lỡ tay !

Nó làm như nếu nó không lỡ tay thì nó có bổn phận phải ngồi... tiếp chuyện ông X vậy ! Ông thấy có cảm tình ngay với thằng nhỏ. Ông cảm ơn rồi lấy hai miếng cạc-tông ra, treo một tấm lên sườn xe đạp, tấm thứ hai đeo lên cổ của mình một cách thích thú !

Ông ngồi xuống thùng gỗ phía sau lưng thằng nhỏ, đốt thuốc hút, ung dung. Thằng nhỏ đang ráp sợi dây sên vào chiếc xe đạp dựng ngược. Nó vừa làm vừa nói chuyện với ông X, mắt vẫn nhìn chăm chú vào công việc.

- Ông Hai bán xe rồi lấy gì mà đi ?

- Thì... tôi đi chung xe với bà nhà tôi.

- Ông đèo bà hay bà đèo ông vậy ?

Ông X bật cười:

- Dĩ nhiên là tôi đèo bả chớ !

- Ý ! Bây giờ đổi đời rồi. Mấy bà chở chồng chạy bon bon thiếu gì, ông Hai.

Nói xong, nó cười hắc hắc. Ngừng một lúc, chừng như đang ngẫm nghĩ gì đó. Rồi nó nói tiếp, giọng ngang ngang:

- Bây giờ sao nhiều người bán đồ bán đạc trong nhà quá. Ở xóm của cháu, thấy có người cạy gạch bông nền nhà lên bán đặng ăn, ông Hai à !


Hình ảnh đó làm ông xúc động. Ông không biết phải nói gì. Sự bần cùng của người dân trong chế độ được gọi là ưu việt này, đã vượt quá xa tầm tưởng tượng của con người... thì còn lời gì để nói ? Im lặng, ông hít nhiều hơi thuốc dài...

Thấy sao "người đối thoại" của nó làm thinh, thằng nhỏ quay đầu nhìn lại. Bây giờ nó mới thấy tấm bảng ông đeo trước ngực. Nó ngạc nhiên:

- Ủa ! Ông còn bán cái giống gì nữa vậy ?

- Thì... cháu đọc coi.

- Cái... "liêm" ... Cái "liêm sỉ" là cái gì vậy, ông Hai ?

- Ờ... Cái liêm sỉ là... (Ông ngập ngừng tìm lời để giải nghĩa) Là ... Là cái mà thiên hạ ai cũng quí trọng hết. Người ta coi nó có giá trị như... có giá trị như...

- Như hột xoàn hả ông Hai ?

- Ờ ! Đại loại như vậy. Thiên hạ cho rằng người nào có cái liêm sỉ cũng thấy sáng ngời không kém.

Nổi tánh tò mò, thằng nhỏ chùi vội hai tay vào một miếng giẻ cũng dơ như tay của nó, rồi xoay hẳn người lại, hâm hở:

- Ông Hai cho cháu coi một chút được không ? Từ cha sanh mẹ đẻ cháu chưa nghe nói tới cái liêm sỉ bao giờ, chớ đừng nói thấy.

- À cái này không có coi được. Lớn lên rồi cháu sẽ biết.

Thằng nhỏ tiu nghỉu, quay trở về công việc mà nghĩ: "Chắc là đồ xịn lắm nên ổng sợ !"

Có hai thanh niên dừng lại bơm bánh xe. Cả hai đều đọc bảng treo trước ngực ông X. Một anh hỏi anh kia:

- Cái liêm sỉ là cái gì vậy mậy ?

Thằng nhỏ nói hớt, vẻ sành sỏi:

- Là đồ nữ trang loại xịn. Mắc lắm đó !

Ông X mỉm cười, chua chát nghĩ: "Chế độ đâu có dạy con người phải có liêm sỉ. Bây giờ, chỉ thấy học đấu tranh, học hận thù, học giết chóc... chớ đâu thấy học làm người có đạo đức, trọng lễ nghĩa để mà biết liêm sỉ là gì ? ''


Một anh bộ đội, nón cối nghiêng nghiêng, tấp Honda vào hỏi mua "săm" xe đạp. Thằng nhỏ nói: "Sửa xe chớ không có bán đồ phụ tùng". Chờ cho anh bộ đội đi khuất, nó quay lại cười cười nói với ông X:

- Ruột xe thì nói ruột xe. Mấy chả nói "săm". Hồi đầu cháu đâu có biết. Cháu chỉ qua bà xẩm bán nước sâm ở bên kia đường. Thấy cười quá ! Họ nói tiếng gì đâu không, hà !

Một thanh niên chở một ông già, ngừng lại nhờ thằng nhỏ siết lại cái đầu bàn đạp. Sau khi nhìn ông X, anh thanh niên hỏi nhỏ ông già:

- Liêm sỉ là cái gì hả ông nội ?

Ông già tằng hắng rồi nói, giọng nghiêm trang:

- Là cái mà nó bắt con người ta phải cẩn thận trong suy tư trong hành động. Nó không cho con người ta làm bậy làm quấy, làm sai đạo lý. Nó bắt con người ta phải biết xấu hổ khi có ý xâm phạm thuần phong mỹ tục. Quí lắm, con thấy không ? Vậy mà thời buổi bây giờ có mấy ai biết nó là gì...

Trả tiền xong, người cháu đợi người ông ngồi đàng hoàng vững chãi trên pọt-ba-ga rồi mới đạp đi. Ông già quay đầu nhìn lại ông X, giống như nhìn một món đồ cổ !

Mặt trời đã lên cao. Cây me già cạnh đó đổ bóng mát rượi xuống chỗ "hành nghề" của thằng nhỏ. Gió thổi hiu hiu. Lá me lăn tăn rụng...

Một ông già râu tóc bạc phơ đạp xe lọc cọc ghé vô nhờ sửa cái thắng. Sau khi... "kiểm tra" lại bộ phận, thằng nhỏ gãi gãi đầu mặc dù tay nó dơ hầy:

- Cha... Vụ này hơi lâu à ông Hai. Cũng năm mười phút à !

- Không sao. Tao đợi. Tao thiếu gì thì giờ.

Nó vội vàng lật úp cái thùng gỗ còn lại, đặt gần chỗ ông X:

- Ông ngồi đây. Có ông Hai này ngồi bán xe, từ sáng giờ không thấy ai hỏi hết. Chắc cũng buồn !

Đó là cách nó giới thiệu để hai người dễ dàng bắt chuyện với nhau, nếu muốn.

Ông già ngồi xuống, gật đầu chào ông X, rồi móc bọc thuốc rê, mời:

- Ông vấn một điếu chơi.

- Cám ơn. Tôi có đem theo thuốc vấn sẵn ở nhà.

Ông X lấy trong túi ra hộp thiếc giẹp màu vàng (loại đựng thuốc điếu 555 ngày xưa) móp méo trầy trụa, mở ra mời lại:

- Ông hút thử thứ này coi.

Ông già cất bọc thuốc vào túi lấy một điếu của ông X để lên môi, đốt. Ổng hít mấy hơi thật dài rồi gật gù:


- Ùm... Một phần Lạng Sơn hai phần Gò Vấp.

- Đúng ! Ông rành quá !

- Một đời hút thuốc mà không rành sao được, ông bạn.

Hai người im lặng thở những hơi khói dài. Giờ đó, đường cũng vắng, chỉ nghe tiếng lách cách sửa xe của thằng nhỏ. Một lúc lâu sau, bỗng ông già tằng hắng rồi nheo mắt nhìn thẳng ông X, giọng ôn tồn:

- Ông bạn à. Tôi nghĩ nếu ông bạn còn chút liêm sỉ thì nên dẹp tấm bảng bán liêm sỉ của ông đi. Chỉ có phường vô liêm sỉ mới khoe khoang khoác lác rằng ta là thế này, ta là thế nọ, ta hơn thiên hạ về đủ mọi mặt vv…. Sự thật, họ không có gì hết. Bọn vô liêm sỉ đó đã chà đạp mọi giá trị tinh thần của con người, đã chối bỏ truyền thống đạo đức của ông cha để lại từ không biết mấy ngàn năm.

Ông X im lặng gật gù nghe. Ông già ngừng một chút để hít mấy hơi thuốc. Rồi tiếp:

- Ông bạn à. Tôi tin rằng ông bạn là người có liêm sỉ. Trực giác cho tôi thấy như vậy. Bây giờ, đem rao bán cái liêm sỉ, ông bạn có thấy đó là hành động thiếu suy nghĩ không? Nói khùng mà nghe, giả dụ ông bạn có bán được cái liêm sỉ, ông bạn sẽ "trắng tay". Không còn liêm sỉ nữa thì ông bạn sẽ thành cái gì ?

Ông già ngừng ở đó, nhìn ông X một chút rồi nói gằn từng tiếng:

- Ông bạn sẽ là thằng-vô-liêm-sỉ !

Đến đây, thằng nhỏ đã sửa xong cái thắng. Ông già đứng lên chào ông X, trả tiền rồi đạp xe đi thẳng.

Hút tàn điếu thuốc, ông X thở dài, đứng lên tháo hai miếng cạc-tông cho vào túi xách. Thằng nhỏ ngạc nhiên:

- Ủa ! Bộ ông Hai về hả ?

- Ừ !

- Sao về sớm vậy ?

- Ừ ! Về sớm.

Ông X nói bằng một giọng trống rỗng. Thằng nhỏ ân cần dặn:

- Ông Hai cẩn thận nghe ! Coi chừng tụi nó giựt cái liêm sỉ à. Mấy thằng lưu manh nó giựt bóp của người ta hoài, hà !

Ông X làm thinh đạp xe đi, bỗng nghe như cái liêm sỉ của ông nó nặng như chì. Vậy mà bao nhiêu lâu nay, ngày ngày ông vẫn còng lưng cõng nó để đi tìm một chân trời, một lối thoát, một chút ánh sáng ở cuối con đường hầm … !

Tiểu Tử