Sunday, October 27, 2019

ĐỌC CÂU THƠ CŨ, NHỚ NGƯỜI TRĂM NĂM


Giật mình sắp cạn tháng Mười
Bỗng dưng lòng nhớ một người không quen…


Người miền Nam không mấy ai không biết đến ông. Bởi, cái tên soạn giả cải lương Hà Huy Hà suốt 60 năm qua đã gắn chặt với hàng chục vở cải lương, hàng chục bài vọng cổ từng khiến các bà, các cô, dân mộ điệu từ hang cùng ngõ hẻm thị thành đến đồng quê hiu hắt tốn bao nhiêu là nước mắt. Cải lương của ông, vở nào cũng buồn thê thiết. Nhiều vở, tên tuồng đã hóa thành câu cửa miệng dân gian, thời phố phường chưa ồn ào nhiễu loạn bởi hip - hop, đồng quê chưa giật lẫy với lambada. Đó là những "Người vợ không bao giờ cưới", những "Áo cưới trước cổng chùa"… Thậm chí "Người vợ không bao giờ cưới" có vai đào nữ là Sơn nữ Phà Ca thể hiện tính cách ấn tượng đến độ khán giả gọi luôn tuồng này là "Sơn nữ Phà Ca" - chỉ nhắc cái tên thôi coi như cũng đã đủ tôn vinh tác giả. Đây cũng là vai diễn đã giúp nghệ sĩ Thanh Nga giành giải Thanh Tâm năm 1957 và vượt lên thành nghệ sĩ cải lương số một của miền Nam. Sánh ngang với những soạn giả lẫy lừng như Năm Châu, Viễn Châu…; Hà Huy Hà còn được xem như người thầy lớn của cặp đôi soạn giả cải lương nổi tiếng một thời là Hà Triều - Hoa Phượng.

Rồi cũng ngần ấy thời gian, bao nhiêu lớp học trò miền Nam coi ông - nhà thơ Kiên Giang - như thần tượng. Cái thời choai choai, thương vay khóc mướn trộn lẫn "buồn là buồn Tư Mã, nhớ là nhớ Chiêu Quân" rồi cũng qua đi. Giữa bộn bề cơm áo ngày sau, bao nhiêu thế hệ cựu học trò mơ mộng ngày trước lại vịn vào câu thơ ông viết mà ngậm ngùi tiếc nuối cho một thuở. Rằng: "Hoa tím thôi cài lên áo trắng" - như tên bài thơ thê lương được coi là nổi tiếng nhất mà ông từng viết.

Tôi là một học trò miền Bắc, lớn lên ở miền Nam. Tôi biết đến ông hơi muộn hơn một chút, từ thời sinh viên, cách đây ¼ thế kỷ. Biết, và thích, có thể chỉ vì ông được xem như một "học trò thơ" miền Nam của Nguyễn Bính. Hai thầy trò gặp nhau năm 1946, khi Nguyễn Bính đang lưu lạc ở Miệt Thứ, huyện An Biên (nay thuộc Kiên Giang), và ông - khi đó đang là cậu học trò Trương Khương Trinh mới 17 tuổi.

Nhà báo Thiên Hà chăm sóc nhà thơ Kiên Giang những ngày trước khi nhà thơ tạ thế (31/10/2014).

Biết thần tượng Nguyễn Bính đang ở nhờ ông quản thủ địa bộ tên Lý, Trương Khương Trinh đi tìm. Người nhà ông Lý bảo Nguyễn Bính đang ngủ ngoài đình. Cậu bé chạy ra, thấy một người nằm ngủ ngày trong chiếc nóp, đánh bạo gọi dậy. Dụi mắt nhìn cậu học trò, câu đầu tiên Nguyễn Bính nói với nhà thơ Kiên Giang của tương lai là hỏi xin thuốc lá. Kiên Giang chìa ra gói Cotab còn 2 điếu. Hút xong, Nguyễn Bính cảm ơn bằng cách xé bao thuốc viết tặng cậu học trò 4 câu: 

"Có những dòng sông chảy rất mau
Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu
Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp
Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau". 

Vậy là thành nghĩa thầy trò.

Kiên Giang hỏi thi sĩ bậc thầy sao không ở nhà ông Lý nữa? Nguyễn Bính bảo rằng tại bà vợ ông này đẹp quá, lại cứ nằm trên võng mà ngâm thơ... Nguyễn Bính! Ông chồng phát ghen. Nguyễn Bính ngại quá, bỏ ra ngoài đình ngủ. Kiên Giang sực nhớ có căn nhà bỏ trống của một người giữ sân banh, bèn đưa Nguyễn Bính đến xin ở nhờ, thỉnh thoảng lại xin tiền mẹ mua đồ đến tiếp tế. Nguyễn Bính đặt cho căn nhà hoang một cái tên rất kêu là Mộc Kiều Trang. Cám cảnh ăn nhờ ở đậu, Nguyễn Bính viết thơ dán trước cửa: 

"Từ dạo về đây sống rất nghèo
Bạn bè chỉ có gió trăng theo 
Những thằng bất nghĩa xin đừng đến 
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu"…

Bài thơ "Tình Trắng" của Kiên Giang, tôi đọc vào tháng 7/1993, khi mới tốt nghiệp đại học. Đó chính là nguồn cảm hứng thôi thúc tôi làm một chuyến lang thang suốt 5 tháng trời, đi gần như khắp "hang cùng ngõ hẻm" của miền Tây sông nước. Và 18 năm sau, nó lại là cảm hứng cho hồi tưởng, giúp tôi viết bài ký "Về xứ Bốn Ngàn" in trên An ninh thế giới, số báo Xuân 2011.


Hơn một năm trước, tháng 9/2013, biết sức khỏe của nhà thơ, soạn giả Kiên Giang - Hà Huy Hà đã yếu hẳn, trong khi vẫn cứ ngày này qua tháng khác lang thang, nay chỗ này mai nơi khác, tôi đã nhờ một bằng hữu, anh Mai Bá Kiếm, phóng viên Báo Phụ nữ TP HCM đã nghỉ hưu, tìm ông và viết một bài về ông cho tôi đăng trên Chuyên đề Văn nghệ Công an. Lang thang cả tuần lễ, anh Kiếm mới tìm thấy ông đang rong ruổi trên một cái xe máy cà tàng ở đâu đó bên kia cầu Rạch Ông, quận 8. Đọc bài của Mai Bá Kiếm, biết ông được một lão bằng hữu giang hồ khác, nhà báo Thiên Hà trước ở Báo Công an TP HCM thường xuyên theo dõi, cưu mang, đón về nhà riêng ở quận 9 chăm sóc và bầu bạn. Tôi cảm thấy yên tâm hơn, dù vẫn rất ngậm ngùi cho số phận lang bạt cho đến tận cuối đời của thi sĩ tài hoa - người của một thời. 

Sau bài báo, có không ít nhà hảo tâm, bạn yêu thơ cũng đã đi tìm ông, mong muốn giúp đỡ ông ít tiền cho bớt khó. Trở về, họ đều lắc đầu. Từ thuở lắc lư gác trọ nơi xứ quê sông nước cùng Nguyễn Bính, Kiên Giang - Hà Huy Hà đã sớm coi bạc tiền chỉ bằng nửa con mắt. Câu thơ vỡ lòng mà ông viết, chắc nhiều người còn nhớ: 

"Tiền không là lá em ơi,
Tiền là giấy bạc của đời phồn hoa"

Nguyễn Bính sửa lại: "Tiền là giấy bạc của đời in ra".

Không quan tâm đến tiền, nhà thơ Kiên Giang dường như chỉ say đắm một chữ tình. Ông có khá nhiều vợ, toàn những cô, những bà ngưỡng mộ thơ ông. Nhưng rồi chẳng sống được cùng ai lâu dài. Hội Sân khấu TP HCM đã từng quyên tiền tặng nhà tình nghĩa cho ông, nhưng ở chưa quen chỗ, ông đã bán, tiền đem cho ai không rõ, rồi quay về tá túc tại Hội Ái hữu Nghệ sĩ Sân khấu TP HCM nằm trên đường Cô Bắc, quận 1. Rồi sau đó, lầm tưởng mình mới 17 tuổi, ông lại đi bụi đúng nghĩa. Máu lang thang, 85 tuổi ông vẫn không bỏ được nên chẳng bà vợ nào chịu nổi. 

Tháng trước, ông về Kiên Giang, đi Cần Thơ rồi cầm theo một mớ tiền lên Sài Gòn, bảo là để tìm thằng nhỏ bán vé số mà ông tình cờ quen bị tai nạn để giúp. Nhưng rồi, tìm chưa gặp, ông đã lên cơn đột quỵ, vào bệnh viện một tuần thì mất vào ngày cuối cùng của tháng 10/2014…

Rất nhiều tao nhân mặc khách và bạn yêu thơ đã đến viếng ông, sau khi đọc thơ khóc ông của lão ký giả Thiên Hà. Nhân thế lại đành chia tay với một lang thang thi sĩ. Những người tài hoa, nổi tiếng, nghèo mà đầy chất hào sảng như ông quả thật không nhiều. Chỉ có họ mới hiểu hết câu trần gian là cõi tạm. Và theo tôi, cũng chỉ có họ mới thật sự đã sống đến kiệt cùng đời sống. Sống thật. Sống chậm. Sống đẹp. Bởi họ đã chẳng màng chi đến lợi danh hay những phập phù bất trắc của lẽ sinh tử trong đời.

Như trẻ thơ, họ chỉ sống vì yêu và để yêu - như một chuyện tình buồn chẳng bao giờ viên mãn.

Như câu thơ từ lâu lắm ông đã gửi lại cho đời...


Tình Trắng 
Thơ Kiên Giang

Cần Thơ ơi! Hỡi Cần Thơ
Vang bóng ngày xanh phủ bụi mờ
Ai nhặt giùm tôi bao kỷ niệm
Đã xây mồ dưới lớp hoa khô

Ngã tư Tham Tướng im chân mộng
Đôi guốc mòn luyến cát Tây Đô
Hàng bã đậu cao che mái nắng
Ngồi bên đường đợi tiếng trống vô

Xóm Chài ửng nét duyên thôn nữ
Gió thổi lồng bay áo túi hồng
Cô lái đò ngang cười chúm chím
Thầm trêu hàn sĩ lúc sang sông

Cô bán xôi vàng nghiêng nón lá
Nói thầm trong mắt với thư sinh
"Ráng lo ăn học em mua bán
Thi đỗ đừng quên áo vá manh"

Tàu chạy Phong Điền nhớ Cái Răng
Khói vườn xanh thẳm gợn sông trăng
Câu hò Vàm Xáng thương Ba Láng
Rạch Giá phải lòng gái Sóc Trăng

Cắm trại Long Tuyền mua vú sữa
Chia em quả mận, trái dừa tươi
Những ngày nghỉ học lên Bình Thuỷ
Viếng mộ Thủ Khoa hát giữa trời

Bãi trường tết không tiền về xứ
Ngồi bến xe khuya ngóng bạn bè
Em lén trao anh tiền bỏ ống
Nè! Anh lấy đỡ chút tiền xe...

Từ đó về quê rồi nghỉ học
Không bao giờ trở lại Cần Thơ
Con đường kỷ niệm mờ xa khuất
Trường cũ không còn đợi trống vô

Mười mấy năm sau anh trở lại
Với tâm hồn bạn thuở đồng song
Hỏi thăm người cũ, người ơn cũ
Mới biết rằng em đã có chồng

Bấm nút chuông reo ngoài cổng đá
Lá me vàng rụng tựa mưa bay
Bỗng dưng khăn trắng ra ngoài ngõ
Ngẩn mặt nhìn anh đứng lặng người

Em dẫn anh ra viếng mộ chồng
Giữa mùa vú sữa mới ra bông
Nhìn anh quỳ trước bia người khuất
Em kéo khăn tang ủ tấm lòng

Đứa nhỏ gọi anh bằng tiếng chú
Ngậm ngùi viết vội mấy vần thơ
Từ đây xin gọi em bằng chị
Đừng kể nhau nghe mộng học trò

Tiễn anh ra cổng với khăn tang
Với đứa con thơ, với lá vàng
Với chút tiền xe chưa trả lại
Với tình bạn cũ vẫn cao sang

Thôi nhé từ đây cách biệt rồi
Chị vào nuôi dạy trẻ mồ côi
Lâu lâu tôi viết thư thăm chị
Chị đọc hồn tôi giữa bụi đời

Nếu có đến nhà thăm chị nữa
Tôi mời thầy cũ xuống Tây Đô
Thăm cô trò gái thành sương phụ
Để khóc triền miên tuổi học trò!

KIÊN GIANG


Nguyễn Hồng Lam

SỐ NGƯỜI VIỆT NAM MUỐN RA NƯỚC NGOÀI SINH SỐNG VẪN RẤT CAO

Theo Tổ chức Di cư Quốc tế (IMO) trong năm 2015 có trên 244 triệu người trên thế giới di cư tới nước khác, tương đương 3,3% dân số toàn cầu.

Cô dâu Việt cùng con học tiếng Hoa ở Đài Loan - hình chỉ có tính minh họa

Có nhiều nguyên nhân khiến người ta rời bỏ quê hương để sang nước khác sinh sống.

Theo nghiên cứu của Gallup, có một số nguyên nhân chính: chiến tranh, khủng hoảng, tìm điều kiện kinh tế tốt hơn, hoặc chạy trốn nạn đói hay dịch bệnh.

Gallup chỉ ra rằng, có ít nhất 50% người Syria muốn bỏ nước ra đi vì nội chiến chưa biết bao giờ mới kết thúc.

Cũng theo tổ chức này thì đã có khoảng 2 triệu người Venezuela bỏ đất nước ra đi trong năm 2018.

Điều đáng ngạc nhiên là Venezuela vốn giàu có về tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ.

Nhưng chính sách sai lầm của chính phủ hiện hành khiến khủng kinh tế kéo dài, và người dân ở đây sống trong khổ cực nên muốn bỏ chạy khỏi đất nước.

Việt Nam cũng đã từng có những đợt di cư rất lớn

Ngay sau khi Việt Nam Cộng hoà sụp đổ năm 1975 đã có một làn sóng di dân lớn từ Việt Nam đến Hoa Kỳ và các nước Tây phương, với hàng trăm nghìn vượt biên và vượt biển vì sợ chính quyền mới trả thù.

Làn sóng bỏ nước ra đi đông đảo nhất xảy ra khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ

Từ 1977 có thêm phong trào vượt biển tỵ nạn nữa.

Làn sóng di dân này kéo dài cho đến giữa thập niên 1980 vì vấn đề khủng hoảng kinh tế kéo dài và môi trường chính trị ngột ngạt tại Việt Nam lúc đó.


Hiện tại, nhiều năm sau khi cuộc chiến đã kết thúc, chưa có những thống kê chính thức nào về số lượng người Việt Nam đang mong muốn và đã di cư ra nước ngoài sinh sống hàng năm.

Tuy nhiên, theo suy nghĩ của tác giả, số lượng này là không nhỏ.

Không kể thế hệ thuyền nhân và người tỵ nạn, hiện người Việt vẫn ra đi và chọn nhiều cách để di cư sang các nước phát triển hơn.

1. Du học ở lại

Đầu tiên phải kể đến là, thông qua con đường du học xong kiếm việc ở lại.

Hiện có đông đảo sinh viên Việt Nam đang du học các nước trên thế giới, chủ yếu ở các nước phát triển.

Theo công ty nhân sự Theo kết quả nghiên cứu của công ty nhân sự SHD, có tới 64% số sinh viên Việt Nam mong muốn ở lại nước sở lại làm việc và sinh sống.

Do đó, ta có thể nói hàng năm có một lượng không nhỏ người Việt Nam định cư ở nước ngoài thông qua con đường du học rồi ở lại.

Một lượng không nhỏ du học sinh Việt Nam quyết định định cư ở nước ngoài sau khi hoàn thành khóa học

2. Đầu tư ra nước ngoài

Một trào lưu giới mới của giới giàu và rất giàu gồm không ít quan chức cao cấp -đã di cư bằng đầu tư hoặc sở hữu tài sản ở nước ngoài để có thẻ định cư và quốc tịch nước khác.

Theo thống kê của Hiệp hội Bất động sản Hoa Kỳ (NAR), người Việt đổ 3 tỷ USD mua nhà ở Mỹ trong năm 2017 nhưng con số thực tế có thể cao hơn nhiều.

3. Xuất khẩu lao động

Một con đường khác để di cư của người Việt Nam đó là xuất khẩu lao động.

Theo báo Nhân Dân, năm 2017 ghi nhận số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cao kỷ lục, với 134 nghìn người.

Rất nhiều trường hợp người đi lao động xuất khẩu cố tình tìm cách ở lại nước sở lại, bằng con đường hợp pháp hoặc không.

Tại Hàn Quốc, tính đến tháng 4/2018, 35% lao động Việt Nam phá vỡ hợp đồng và cư trú bất hợp pháp theo Cục quản lý lao động nước ngoài, theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam.

4. Di cư chui

Một đường di cư khác đó là di cư chui thông qua con đường du lịch. Nghĩa là người muốn di cư thông qua hình thức đi du lịch xong tìm cách trốn ở lại.

Điển hình của hình thức này chính là vụ 152 khách du lịch Việt Nam đến Đài Loan du lịch xong mất tích.

Điều này khiến cho nhà chức trách Đài Loan phải lập đội đặc nhiệm tìm kiếm những người này và dừng cấp visa du lịch cho du khách đến từ Việt Nam trong chương trình Quan Hồng.

Hay như các vụ nhập cư bất hợp pháp vào Anh của người Việt qua đường xe tải, tàu biển vẫn được báo chí nước này thường xuyên nhắc tới.

Cảnh sát Anh đã bắt rất nhiều trường hợp người Việt Nam thông qua đường du lịch, hay tìm cách đến một nước trong châu Âu, rồi sang Pháp, sau đó trốn trên những xe tải do của những nhóm buôn người để vào Anh.

5. Kết hôn với người nước ngoài

Kết hôn với người ngoại quốc cũng là một cách để ra nước ngoài sinh sống, thoát cảnh đói nghèo. Theo Thanh Niên, chỉ từ 2008 đến 2014, Việt Nam có 115.675 công dân kết hôn với người nước ngoài, trong đó đa phần là phụ nữ, chiếm hơn 72%.

Phụ nữ Việt Nam kết hôn chủ yếu là công dân Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ…

Trung bình mỗi năm có khoảng 18.000 người kết hôn với người nước ngoài.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang được đánh giá là tốt nhất khu vực châu Á nhưng vì sao có một lượng không nhỏ người Việt Nam vẫn tìm mọi cách để di cư?

Theo tác giả có nhiều nguyên nhân đằng sau hiện tượng này.

Thứ nhất, dù là nước có mức tăng trưởng cao 7,08% năm 2018 theo Tổng cục thống kê, nhưng thu nhập trên đầu người của Việt Nam rất thấp so với các nước trong khu vực, kém xa các nước phát triển.

Như bảng thống kế phía dưới cho thấy, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam kém hàng chục lần với những nước được cho là nhiều người Việt Nam di cư muốn tới.

Đi làm ở nước có thu nhập theo giờ làm công cao hơn là cách tiết kiệm và tích lũy ngắn nhất cho người nhập cư.


Thứ hai, Việt Nam được coi là nước có giới siêu giàu tăng nhanh nhất trên thế giới theo nghiên cứu của Wealth-X, công ty chuyên thu thập thông tin về giới siêu giàu.

Người Việt tại Hoa Kỳ - hình minh họa

Điều này cho thấy lợi ích của sự tăng trưởng kinh tế nhanh ở VN không chia đều cho tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Khoảng cách giàu nghèo tại Việt Nam thậm chí còn ngày một tăng.

Hay nói cách khác, rất nhiều người bị bỏ rơi bên ngoài quá trình phát triển, đặc biệt ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa.

Do đó, rất nhiều người tìm cách di cư ra nước ngoài để có cơ hội làm ăn kinh tế tốt hơn.

Thứ ba, một nguyên nhân nữa kiến cho người Việt di cư nhiều là mong con cái mình có tương lai tươi sáng hơn.

Nạn quan liêu, tham nhũng, cửa quyền vẫn phổ biến gây nản lòng người dân.

Chương trình giáo dục và y tế tại Việt Nam bị đánh giá lạc hậu và kém hiệu quả.

Chi phí người ta phải bỏ ra không xứng đáng với dịch vụ nhận được.

Đại học RMIT của Úc tại Việt Nam

Ô nhiễm môi trường đang tới mức báo động từ thành thị đến các vùng nông thôn và thêm vào đó, môi trường văn hoá xã hội cũng xuống cấp.

Nhiều người tin rằng con cái mình sống trong một đất nước như vậy khó có tương lai do đó họ tìm cách di cư, dù biết rằng di cư là phải đối mặt với rất nhiều khó khăn.

Giải pháp cho tình trạng người dân di cư bằng mọi giá

Theo tôi, người Việt Nam phần đông muốn gắn bó với cuộc sống trên chính quê hương mình.

Nhưng để giảm đi số người dân tìm mọi cách di cư để đến nơi có sống tốt đẹp hơn thì cần nỗ lực rất lớn từ phía chính quyền.

Việt Nam phải có chiến lược đúng đắn cho phát triển kinh tế, phúc lợi và an sinh xã hội, đẩy lùi các vấn nạn của xã hội.

Để một ngày không xa, người Việt Nam có những điều kiện sống không thua kém những người dân ở các nước trong khu vực thì việc người dân bỏ nước ra đi sẽ giảm đi hoặc không còn như hiện nay.

David Nguyen
Gửi bài từ London
Nguồn: BBC Tiếng Việt (03/01/2019)

Saturday, October 26, 2019

NGU DỐT VÀ DỐI TRÁ

Ngoài danh và lợi trên thế gian này, con người thường hay tranh chấp với nhau, chỉ vì lời nói.
Chỉ cần ta lỡ một lời nói, thì tai nạn ùn ùn kéo đến chỉ vì người nghe hiểu lầm, cho nên tìm cách hãm hại thì tai họa tới. Chính vì vậy chúng ta phải cẩn thận trong lời nói bởi vì con người thích được khen ngợi tâng bốc nhiều hơn là bị chê bai. Tai họa xảy đến, thường do lời nói mà gây nên tác hại. Dối tá ở đây có nghĩa như lừa lọc, bịa chuyện để vụ lợi cho mình, để mưu cầu điều tốt đẹp cho mình hoặc che giấu đi cái gì xấu xa của mình nhằm qua mặt người khác. Thói dối trá là hành động lường gạt có chủ đích vụ lợi cho mình. Chưa cần nói về khía cạnh đạo đức, việc nói dối hẳn nhiên sẽ gây ra sự sai lệch và hậu quả của nó thì tùy từng trường hợp sẽ khác nhau.


Một lời khen ngợi thật lòng luôn tăng thêm giá trị trong cuộc sống làm cho người cảm nhận được niềm vui để mà sống tốt hơn. Một lời nói nịnh hót thường là dối trá, nhằm trục lợi cho riêng mình mà làm hại nhiều người khác, nói một lời khen ngợi thật lòng luôn giúp cho người ta càng ngày càng sống tốt hơn. Ngược lại một lời nói nịnh hót để lấy lòng, vô tình làm cho người đó luôn sống trong gian dối để lường gạt người.

Khi ta thường xuyên biết quay lại chính mình, ta sẽ dễ dàng bình tĩnh thản nhiên trước mọi hoàn cảnh, ta mới có thể làm chủ được lời nói, kiểm soát được hành động và chế ngự được tư tưởng của mình. Còn khi tâm loạn động, chúng ta càng nói càng tức giận thêm, càng làm càng sai trái thêm.


Nếu người nào cảm thấy cuộc đời nhiều đau khổ, lắm thương đau, không vui vẻ, chẳng bình yên, tức là chính người đó cần phải điều chỉnh lại lời nói, cho vừa dễ nghe. Tại sao như vậy? Bởi vì, chính người đó cũng muốn nghe những lời nói dễ nghe như vậy. Hoặc là, người đó cần phải điều chỉnh lại âm thanh, cho vừa đủ nghe, để khỏi làm phiền lòng người khác, đang cần sự yên tĩnh, để tâm hồn được thanh tịnh.

Tại sao lời nói của ta khó nghe, người đời thường gọi là nói đâm hơi, nói móc họng, cho nên không có ai muốn kết bạn với mình, không có ai dám làm thân với mình, không có ai dám tâm sự với mình. Tại sao như vậy? Bởi vì, sống ở trên đời đâu có ai thích bị người khác trêu ghẹo, nói móc nói méo đời tư để cho mọi người đều biết.


Lời nói phát xuất từ tâm , như lời nói của một vị luật sư có thể cứu người thoát khỏi tội oan nếu vị ấy có lương tâm đạo đức.

Những kẻ dối trá thường có suy nghĩ nông cạn, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt mà không nghĩ hậu quả lâu dài về sau. Vì lợi ích bản thân và gia đình, họ sẵn sàng làm những việc xấu ác miễn được lợi cho mình thì thôi, còn ai khổ đau mặc kệ. Họ sẽ dần hồi đánh mất hết danh dự và sự nghiệp, cuối cùng phước hết hoạ đến chịu khổ vô cùng tận.

(Sưu tầm trên mạng)

CÁ SỬU XỨ CÙ LAO


Cù lao Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, TP Cần Thơ được gọi là "cù lao cá" bởi nghề nuôi cá da trơn trong hồ và các món cá ngon theo mùa như: cá linh, cá bông lau và nhất là cá sửu.


Cá sửu, loại cá vảy nhỏ, ướp muối thật mặn thường được dân miền Tây gọi là "cá mặn" hoặc "hàm dĩ". Hàm dĩ chỉ cần chiên là đã ngon lắm rồi. "Cầu kỳ" hơn thì chưng cách thủy với gừng xắt sợi, thịt ba rọi bằm, nếu tăng cường đậu hũ, nấm rơm và tôm nữa thì càng thêm ngon. Hai món này ăn với cháo trắng hoặc cơm nóng đều "mê muội" cả.


Người ta nói cá sửu có xuất xứ từ Biển Hồ (Campuchia) xuôi theo sông Mekong xuống tận" cù lao cá". Từ mồng 5 tháng 5 tới tháng 9 âm lịch là mùa đánh bắt cá sửu ở Tân Lộc. Người ta "bắt lưới" khi con nước đục (mùa nước đổ từ thượng nguồn về, còn gọi mùa nước son). Nước trong thì câu cá bằng mồi kiến non, gián, thuốc ủ. Cá sửu con nhỏ nhất là 300g, con lớn nặng đến 4 kg là hết mức. Cá sửu có mặt nhiều nhất ở bờ bắc sông Hậu, nhánh Lai Vung (Đồng Tháp), nơi chạy dọc theo một bên bờ cù lao Tân Lộc. Tham dự buổi đánh bắt hoặc câu cá sửu ở Tân Lộc quả thật là một điều hấp dẫn đối với bất kỳ ai.


Những ngày này, cá sửu được bán tại chợ địa phương với giá 40.000-50.000 đồng/kg. Còn khi đã chế biến thành món tại nhà hàng, giá cá tăng gấp đôi. Được vậy, bởi cá sửu thịt ngọt, ít xương, làm thành món nào cũng đều được thực khách "vỗ tay khen ngợi", từ nướng, chiên tươi, hấp gừng hành cần ống, chiên xù, kho… Mùa xoài, cá sửu đem kho lạt bằm xoài, giằm trái ớt sừng trâu hoặc ớt hiểm xanh ăn rất ngon. Nếu được chấm với bông súng, bông điên điển hoặc đọt xoài thì hương vị còn tăng lên gấp bội. Cá sửu khứa xéo hai bên hông, muối sả ớt chiên; cá sửu nấu canh chua… đều hấp dẫn.

Phương Kiều

Friday, October 25, 2019

LỖ BAN VÀ THƯỚC LỖ BAN

Ngày nay, các thợ mộc, thợ xây dựng và kể cả nhân dân thường dùng thước Lỗ Ban. Vậy Lỗ Ban là ai? Và thước Lỗ Ban như thế nào?


Theo thần thoại Trung Hoa, Lỗ Ban là người nước Lỗ có tên thật là Công Thâu, thụ giáo nghề mộc với một vị tổ sư ở trong núi Chung Nam. Học mãi đến khi đầu bạc mới thành tài. Nhân dân Trung Hoa sau này gọi ông là chàng Ban nước Lỗ. Sau khi thành tài, ông về truyền nghề mộc cho học trò khắp nước Lỗ và các nước láng giềng. Từ đó ông trở thành vị tổ sư nghề mộc của người Trung Hoa.

Ông nghiên cứu chế tạo ra loại thước đặc biệt cho nghề mộc, có chiều dài 43 phân (0,43m) có các cung tài, cung phúc, cung đức, cung lộc, cung thọ, cung hợp, cung hại, cung triệt, cung ly, cung đoản mệnh…


Khi làm nhà, người thợ thường tính kích thước, chia gian, đo các cửa chính, cửa sổ cho đúng các cung tài lộc và kiêng tránh các cung ly, cung hại, cung thoái, cung triệt… theo thước Lỗ Ban để mong cầu thịnh vượng trong cuộc sống.

Ở nước ta, thời Minh Mạng, nhà vua mời các nhà thông thái vào triều nghiên cứu rồi quyết định giảm chiều dài thước Lỗ Ban đi 2 phân mà không ảnh hưởng đến tính khoa học nguyên thuỷ của thước để nói lên tính độc lập riêng biệt trong ngành xây dựng giữa Đại Việt và Trung Hoa. Hiện nay, thước Lỗ Ban lưu hành là thước Lỗ Ban thời Minh Mạng.


Thần thoại Việt Nam cũng có sự tích anh em Lỗ Ban, Lỗ Bốc được một nữ thần thợ mộc dạy cho nghề làm nhà và đóng thuyền.

Theo thần sách tỉnh Hà Tĩnh thì ở làng mộc Thái Yên có ngôi đền Thánh thợ thờ Lỗ Ban được xếp vào loại công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Phường mộc ở đây cũng như ở nơi khác đều thờ cúng tổ sư Lỗ Ban.

Thước Lỗ Ban có tính khoa học đến mức độ nào thì còn phải bàn, nhưng trong thực tế, thường khi làm nhà và xây dựng các công trình dân dụng mà thiết kế theo thước Lỗ Ban thì ít nhất về mặt tâm lý bà con rất yên tâm.

Đinh Văn Niêm

KIMONO HỞ CHỖ NÀO?

Vì sao con gái Nhật mặc Kimono “kín như bưng” nhưng để hở ra duy nhất bộ phận này?

Mặc kimono kín là thế nhưng phụ nữ Nhật Bản để hở ở đâu, hở thế nào cũng là ý đồ nghệ thuật cả đấy nhé! Và bộ phận hở đó là…


Kimono từ lâu đã gần như trở thành một biểu tượng văn hóa của đất nước Mặt trời mọc. Với tên gọi bắt nguồn từ ý nghĩa “một thứ để mặc”, Kimono thực sự rất phổ biến đối với người dân nơi đây.

Mọi già, trẻ, gái, trai Nhật Bản đều ít nhất mặc Kimono vài lần trong đời, đặc biệt là trong các dịp trọng đại như lễ cưới hay lễ tốt nghiệp.

Hình ảnh kimono được sử dụng trong lễ cưới

Nếu so sánh với hàng trăm loại trang phục truyền thống của các quốc gia khác, Kimono có lẽ là một trong số những quốc phục “kín cổng cao tường” nhất.

Một bộ Kimono truyền thống đúng chuẩn có thể lên tới gần 20 lớp áo với đủ mọi loại dây, nơ thắt. Phía dưới người mặc Kimono cũng sẽ sử dụng tất trắng để đi cùng dép xỏ ngón đế gỗ đặc trưng.

Mặc được bộ Kimono như thế này xong chắc cũng mất cả tiếng vì quá nhiều lớp!

Việc tìm ra kẽ hở gần như là… nhiệm vụ bất khả thi. Thế nhưng, vẫn có một bộ phận “bí ẩn” trên cơ thể luôn được để lộ ra khi người Nhật mặc Kimono, đặc biệt là với phái nữ.

Đọc đến đây thánh nào phán là bàn tay hay mặt thì sai bét rồi nhé. Trang phục đã kín như vậy, che cả mặt cả tay nữa thì sống sao nổi, vậy nên hai thứ này hở ra là điều đương nhiên rồi!

Bộ phận đặc biệt mà chúng ta đang nói đến phải là chiếc gáy cơ.


Nếu để ý kĩ tới phong cách mặc Kimono của phụ nữ Nhật Bản, mà đặc biệt là các Geisha phấn trắng son đỏ, sẽ chẳng khó để nhận ra phần cổ áo thường được thiết kế hơi trễ xuống bên dưới.

Tóc người mặc cũng luôn phải được búi cầu kì lên cao với mục đích để lộ hoàn toàn phần gáy phía sau.


Việc để hở gáy khi mặc Kimono như vậy có nguyên do cả, chứ không phải… áo nhiều lớp nóng quá mà kéo bớt xuống cho mát đâu.

Khác với quan niệm phương Tây nơi phụ nữ phải “vòng nào ra vòng nấy” mới được coi là thu hút, chiếc gáy mới là bộ phận thể hiện sự quyến rũ của một cô gái tại Nhật. Cách nghĩ này đã có từ rất lâu trong lịch sử nước Nhật, thậm chí trước cả thời kì Edo.

Người dân nơi đây cho rằng gáy của phụ nữ là điểm đặc biệt và “hút mắt” bạn khác giới nhất trên cơ thể. Một cô gái với chiếc gáy thon thả, cuốn hút được coi là cực kì duyên dáng và quyến rũ tại đất nước này.

Đặc biệt với các Geisha, phần gáy luôn được chăm chú hơn bình thường rất nhiều. Phía sau cổ những nghệ giả này cũng được trang điểm, tô vẽ cẩn thận y hệt khuôn mặt với phấn gạo trắng và chỉ để lộ từ 2 đến 3 đường màu da thật.


Đúng với tinh thần “đẹp khoe, xấu che”, trang phục Kimono hẳn là một cách thể hiện siêu tinh tế cho vẻ đẹp con người Nhật Bản: kín đáo, không hề phô trương mà vẫn cuốn hút đến không ngờ!

(Nguồn: Japan Zone)

Thursday, October 24, 2019

"TAM CHỦNG THẦN KHÍ" CỦA NHẬT BẢN

'Tam chủng thần khí': Vén màn bí ẩn về ba bảo vật linh thiêng trong lễ đăng quang của Nhật Hoàng

Đến cả các Nhật Hoàng cũng chưa từng nhìn tận mắt các bảo vật này.

Nhật Bản có một nền văn minh cổ kính bao gồm rất nhiều nghi thức đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước, trong đó phải kể đến và lễ đăng quang của các Nhật Hoàng. Ngày 30/4 vừa qua, Thái tử Naruhito chính thức kế thừa Ngai Hoa Cúc (Chrysanthemum Throne) từ cha mình, Jōkō Akihito, trong buổi lễ Thần Đạo đầy tôn nghiêm, trở thành Nhật Hoàng thứ 126 với niên hiệu Reiwa (Lệnh Hòa).


Lễ đăng cơ của tân Nhật hoàng Naruhito

Tam chủng thần khí là ba bảo vật linh thiêng được sử dụng xuyên suốt lễ đăng quang của Nhật Hoàng bao gồm thanh gươm Kusanagi no Tsurugi, chiếc gương Yata no Kagami và viên ngọc Yasakani no Magatama.

Các bảo vật này được xem là kho báu Hoàng Gia, là những di sản mang giá trị lịch sử to lớn, có vai trò nối liền Nhật Bản xưa và nay.

Chánh Văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga công bố niên hiệu mới

Theo truyền thuyết, Tam chủng thần khí được truyền lại từ các vị thần, thấm nhuần quyền lực trao lại cho các đời tân hoàng đế. Điều đặc biệt ở đây là ngay cả các hoàng đế và người chủ trì buổi lễ cũng chưa từng thực sự nhìn thấy ba món đồ này. Chúng thậm chí còn không phải là bản gốc. Cả ba đều là bản sao và đều được bảo vệ trong suốt quá trình diễn ra lễ đăng quang của Nhật Hoàng.

Các vật phẩm được sử dụng trong lễ đăng quang của Nhật Hoàng

Trả lời BBC, các học giả cho biết thông tin về ba bảo vật này là rất hiếm. Theo giáo sư Hideya Kawanishi từ trường Đại học Nagoya: “Chúng tôi không biết chúng được tạo ra khi nào. Chúng tôi chưa bao giờ thấy những món đồ đó. Ngay cả Nhật Hoàng cũng chưa từng được tận mắt nhìn thấy chúng.”

Tam chủng thần khí bao gồm một thanh kiếm, một viên ngọc và một chiếc gương

Trong ba món đồ trên, chiếc gương được xem là vật linh thiêng nhất. Theo văn hóa Nhật Bản, chiếc gương này có khả năng phản chiếu bản chất thật sự của một linh hồn. Xuyên suốt buổi lễ, một chiếc gương tám cạnh sẽ được sử dụng, tượng trưng cho trí tuệ của Hoàng đế.

Trong khi đó, thanh kiếm lại là biểu tượng cho sự dũng cảm của Hoàng đế. Truyền thuyết này được truyền lại từ hàng trăm năm trước khiến nhiều người đặt ra câu hỏi liệu cây kiếm nguyên bản có còn tồn tại đến ngày nay hay không.

Khoảnh khắc trao kiếm và ngọc cho Nhật Hoàng Akihito năm 1989

Nhiều tin đồn cho rằng thanh kiếm đã bị mất từ nhiều thế kỉ trước nhưng là một trong những Báu Vật Hoàng Gia, vai trò của nó trong buổi lễ đăng quang là vô cùng quan trọng. Món cuối cùng trong ba bảo vật là viên ngọc Magatama. Viên ngọc này được làm tại Nhật Bản vào khoảng năm 1000 trước công nguyên. Lúc đầu, viên ngọc được đánh giá cao về giá trị thẩm mỹ nhưng về sau, viên ngọc này đã trở thành một món đồ có tính tượng trưng vô cùng thiêng liêng.

Nhật Hoàng Shōwa trong lễ đăng quang của mình, năm 1928

Ở buổi lễ đăng quang, Magatama là đại diện của lòng nhân từ vĩ đại của Nhật Hoàng. Viên ngọc có màu xanh và nhiều người tin rằng đây chính là kho báu duy nhất còn sót lại cho đến nay trong số ba bảo vật. Các nhà học giả thì lại cho rằng viên ngọc đang được chôn sâu trong Hoàng Cung.

Sau thất bại trong Thế chiến thứ hai, các Nhật Hoàng đã không còn giữ được hào quang thần thánh nữa. Thiên Hoàng Chiêu Hòa, tên thật là Hirohito, người trị vì vào thời điểm đó, cũng chính là người đã từ bỏ sự thần thánh này sau khi bại trận ở Chiến tranh Thế giới Thứ 2.

Nhật Hoàng Chiếu Hòa

Hầu hết người Nhật không xem Hoàng Đế của mình là những vị thần. Họ nhìn nhận Hoàng Đế như những nhà lãnh đạo truyền cảm hứng, như cầu nối gắn kết họ với lịch sử, tâm linh và thần linh.

Cựu Nhật Hoàng Akihito đọc tuyên bố thoái vị

Giáo sư Kawanishi đã có lần giải thích trong một bài phỏng vấn với BBC rằng trong khi một số người vẫn xem Tam chủng thần khí là những đồ vật thiêng liêng thì có rất nhiều người Nhật trẻ “nghĩ về chúng như một đồ trang trí, tương tự như vương miện ở các chế độ quân chủ khác.”

Ba món đồ này đại diện cho sự tiếp nối, điều rất được xem trọng trong văn hóa Nhật Bản. “Chúng thể hiện sự thần bí của Nhật Hoàng và là một biểu tượng cho một hệ thống cổ kính được duy trì từ xưa đến nay.”

Nhật Bản cổ kính...

Giáo sư cũng cho biết thêm rằng các nhà học giả hiện đang nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các vật báu đối với quá trình hòa nhập giữa người Nhật Bản cổ và những người mới đến, cùng với vai trò của Nhật Hoàng trong quá trình này.

... nhưng cũng rất hiện đại

Bàn luận thêm về chủ đề này, giáo sư Kawanishi cho biết, Nhật Bản là một nền văn hóa tiên tiến có nguồn gốc vững chắc ở thế khỉ 21. Không chỉ có những câu chuyện thần thoại tuyền thống đặc sắc, Nhật Bản còn tự hào với sự phát triển của công nghệ từ rất sớm. Giáo sư chia sẻ, ba báu vật kia ở thời hiện đại cũng tượng trưng cho ba món đồ mà tất cả gia đình Nhật đều không thể sống thiếu: “ti vi, tủ lạnh và máy giặt.

Nguồn bài: The Vintage News