Monday, December 29, 2025

VÌ SAO NGƯỜI NHẬT LẠI NÓI MOSHI MOSHI

Bạn có bao giờ nghe người Nhật nói “Moshi Moshi” khi nghe điện thoại chưa? Có bao giờ bạn thắc mắc tại sao họ lại nói “moshi moshi” mà không phải những từ khác không? Hãy cùng Shizen tìm hiểu qua bài viết này nhé!


Nguồn gốc của Moshi moshi

Từ “もし – Moshi” thực chất bắt nguồn từ chữ “申し – Moushi”. Vào thời Edo ngươi Nhật không sử dụng động từ “言う[iu]” nghĩa là “Nói”. Thay vào đó họ dùng thể khiêm nhường của nó là “申す – Mousu”. Nhằm bày tỏ sự khiêm tốn, nhún nhường với người có địa vị cao hơn.

Khi nói về hành động của mình hoặc người thuộc nhóm mình, người Nhật sẽ dùng dạng lịch sự của Mousu là “申します– Moushimasu” và dạng khiêm nhường nhất “申し上げます – Moushiagemasu”

Sau đó, chúng được rút ngắn thành “申し – Moushi” nhưng không mang nghĩa “nói”. Nó được dùng để thu hút sự chú ý của người khác, tương tự như “Này” trong tiếng Việt. Sau này “申し – Moushi” tiếp tục được rút gọn. Đến giờ thì thành “もしもし – Moshi moshi” và sử dụng khi trả lời điện thoại.


“Moshi moshi” chủ yếu được dùng trong các cuộc gọi từ bạn bè, gia đình. Tuyệt đối không sử dụng trong môi trường công sở bởi sẽ bị coi là bất lịch sự.
 
Tại sao lại phải nói “Moshi” tới 2 lần?

Yokai (yêu quái) không thể nói “Moshi moshi”

Theo tín ngưỡng dân gian của người Nhật, việc lặp lại 2 lần từ “Moshi” là cách để chứng minh với đối phương rằng mình không phải là một Yokai. Khi một người đi trên đường gặp Yokai bắt chuyện với 1 từ “Moshi” mà trả lời lại nó, tương truyền người đó sẽ bị nó cướp đi linh hồn của mình.

Hồ ly không thể phát âm từ “Moshi moshi”

Trong văn hoá dân gian Nhật Bản, Kitsune (cáo, hồ ly) có khả năng hóa thân thành con người và hãm hại người khác. Theo Lafcadio Hearn – nhà nghiên cứu về văn học dân gian Nhật Bản, cáo không thể phát âm toàn bộ một từ mà chỉ nói được những âm rời rạc.

Vì Kitsune không thể phát âm nhanh và đầy đủ cả cụm từ “Moshi moshi” như con người nên để tránh việc bị loài cáo này dụ dỗ và hãm hại, người Nhật đã nói “Moshi” hai lần khi nghe điện thoại.
 
Được phổ biến bởi một kỹ sư điện tín

Năm 1893 là năm đánh dấu cụm từ “Moshi moshi” trở nên phổ biến. Trước đó, vào năm 1889 Shigenori Katougi, một kỹ sư điện tín của Bộ Công nghiệp Nhật Bản làm việc tại nhà máy điện Tanaka Seisakusho, đã đến Mỹ để học về hệ thống điện thoại. Trong chuyến đi, ông Katougi biết được cách người Mỹ trả lời điện thoại bằng từ “Hello”.

Khi được hỏi rằng người Nhật chào trên điện thoại như thế nào, ông đã phân vân mãi vì có quá nhiều từ như “Oioi”, “Moushiagemasu”, “Mousu mousu” hoặc “Moushi moushi” và phải tốn không ít thời gian để giải thích rõ ràng. Vì vậy, Katougi đã nói với họ rằng “Moshi moshi” có nghĩa tương tự như “Hello”.


Khi trở lại Nhật Bản, ông đã nảy ra ý tưởng tạo một từ mang tính biểu tượng khi nghe điện thoại như câu “Hello” của người Mỹ. Sau đó, vào năm 1893, Katoushi đã rút gọn từ “Moushi moushi” và “Mousu mousu” mà nữ và nam trực tổng đài đang dùng thành “Moshi moshi”, “Mosu mosu”. Về sau, số lượng nhân viên tổng đài nam ít hơn rất nhiều so với nữ nên “Mosu mosu” dần biến mất. Vào khoảng năm 1902, cả nam giới và phụ nữ Nhật Bản đều thống nhất sử dụng từ “Moshi moshi” khi nghe điện thoại.

Chính vì vậy mà người Nhật mới có câu nói “Moshi Moshi” khi bắt đầu trò chuyện điện thoại. Thật thú vị đúng không các bạn!

Theo: Shizen

Sunday, December 28, 2025

SAI LẦM NỐI TIẾP SAI LẦM, TƯỢNG ĐÀI GẦN 150 NĂM TRỨ DANH NHẬT BẢN RƠI VÀO CẢNH BÁN MÌNH, CÁC MẢNH CHỦ LỰC LẦN LƯỢT BỊ "XÂU XÉ"

Toshiba, một tập đoàn công nghệ đa ngành có lịch sử gần 150 năm, từng là biểu tượng cho sự thống trị của nền công nghiệp điện tử Nhật Bản. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 năm ngắn ngủi, đại gia công nghệ này đã đánh mất tất cả và buộc phải chấp nhận bán mình. Ngày 20/12/2023, Toshiba chính thức hủy niêm yết khỏi sàn chứng khoán Tokyo, khép lại chương dài thăng trầm kéo dài 74 năm.


Ở thời điểm hiện tại, các tín đồ công nghệ vẫn không khó để tìm thấy một chiếc TV thương hiệu Toshiba đang được bày bán trên thị trường, bao gồm cả tại Việt Nam. Đó đều là những chiếc TV thế hệ mới, được trang bị những công nghệ tối tân hàng đầu trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, có một điều không khác biệt lớn đằng sau các sản phẩm đó: Thương hiệu TV Toshiba đã không còn của người Nhật.

Hiện nay, thương hiệu TV Toshiba thuộc sở hữu và được sản xuất bởi các công ty Trung Quốc. Cụ thể, tập đoàn Hisense đã mua lại mảng sản xuất TV của Toshiba từ năm 2017, trong khi Midea tiếp quản mảng thiết bị điện tử gia dụng vào năm 2016. Những mảng cốt lõi khác cũng lâm vào tình cảnh tương tự.

Thời kỳ hoàng kim và vị thế tiên phong

Tập đoàn Toshiba được hình thành từ việc sáp nhập Công ty Điện tử Tokyo (Tokyo Denki, thành lập năm 1878/1890) và Tập đoàn Kỹ thuật Shibaura (Shibaura Seisaku-sho, thành lập năm 1875) vào năm 1939.

Trong suốt lịch sử của mình, Toshiba đã tạo ra nhiều sản phẩm tiên phong, bao gồm radar, thiết bị thu phát sóng truyền hình, tivi màu, lò vi sóng, máy giặt, tủ lạnh, và là công ty đầu tiên sản xuất thiết bị điện báo ở Nhật Bản. Toshiba cũng xây dựng thành công turbine điện hạt nhân đầu tiên của Nhật vào năm 1963.


Vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực máy tính xách tay: Năm 1985, Toshiba ra mắt chiếc laptop T1100, tuy không phải là laptop đầu tiên nhưng là chiếc laptop tương thích IBM đầu tiên trên thế giới cho thị trường đại chúng. Thành công này đã đưa Toshiba lên top các nhà cung cấp hàng đầu trong giai đoạn 1990–2000. Đến năm 1991, Toshiba là nhà sản xuất máy tính xách tay lớn nhất thế giới, chiếm 20% thị phần, và giữ gần 20% thị trường bán lẻ laptop tại Mỹ vào năm 2007.

Phát minh công nghệ cốt lõi: Trong quá trình nghiên cứu, Toshiba vô tình phát minh ra công nghệ ghi nhớ NAND flash, được ứng dụng rộng rãi trong máy ảnh kỹ thuật số, máy nghe nhạc MP3, điện thoại thông minh và ổ đĩa USB. Công nghệ này giúp Toshiba duy trì vị thế dẫn đầu trong một thời gian dài, và đến năm 2019, họ vẫn chiếm 18% thị phần NAND flash toàn cầu, chỉ đứng sau Samsung.

Ba sai lầm chí mạng dẫn đến sự sụp đổ

Sự sụp đổ của Toshiba được cho là do ba sai lầm chí mạng xảy ra chỉ trong khoảng 10 năm (từ sau giai đoạn hoàng kim):

Trở thành “ông già lạc hậu” và lạc nhịp thị trường: Vào đầu những năm 2000, khi nhu cầu máy tính cá nhân bùng nổ, thị trường chuyển hướng mạnh mẽ sang các thương hiệu giá rẻ từ Đài Loan (Acer, Asus) và Trung Quốc (Lenovo). Trong khi các đối thủ này nhanh chóng sản xuất laptop giá rẻ, Toshiba, Sony và các hãng điện tử Nhật Bản khác vẫn tập trung vào hình ảnh thương hiệu và chất lượng sản phẩm — những yếu tố bị coi là “dư thừa” đối với người dùng trẻ tuổi, những người xem giá thành rẻ là yếu tố quyết định hàng đầu.


Cùng với cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, doanh thu mảng máy tính cá nhân của Toshiba đã sụt giảm hơn 80% từ năm 2007 đến 2015. Toshiba cũng bị chỉ trích là đã bỏ lỡ cuộc cách mạng di động và smartphone, thay vào đó lại đặt cược sai lầm vào HD-DVD và TV 3D.

Bê bối gian lận kế toán: Vào năm 2015, một cuộc điều tra diện rộng đã phát hiện Toshiba kê khống 1,2 tỷ USD lợi nhuận (tương đương 151,8 tỷ yen) trong giai đoạn kinh doanh khó khăn (2008–2014). Vụ bê bối bắt nguồn từ áp lực khủng khiếp và các mục tiêu tài chính “bất khả thi” do cựu CEO Atsutoshi Nishida đặt ra.

Nhân viên buộc phải “chế số liệu” để tránh báo cáo “tin xấu” lên lãnh đạo, làm lộ ra vấn đề cốt lõi trong quản trị doanh nghiệp Nhật Bản: cấp dưới sợ hãi việc trình bày thất bại, khiến khả năng sáng tạo và ứng biến của Toshiba với thị trường thay đổi liên tục bị tê liệt. Hậu quả là hàng loạt lãnh đạo cấp cao, bao gồm CEO Hisao Tanaka và hai CEO tiền nhiệm, đã phải từ chức, và 8 tỷ USD giá trị vốn hóa của Toshiba đã bị thổi bay.

Quyết định đầu tư sai lầm vào điện hạt nhân: Năm 2006, trong nỗ lực đa dạng hóa, Toshiba đã bỏ ra 5,4 tỷ USD để thâu tóm Westinghouse, một nhà thầu xây dựng dự án hạt nhân lớn tại Mỹ. Mặc dù không có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, Toshiba vẫn tự tin vì dự đoán thị trường điện hạt nhân sẽ tăng trưởng thần tốc. Tuy nhiên, sự kiện sóng thần và khủng hoảng nhà máy điện hạt nhân Fukushima I năm 2011 đã khiến Nhật Bản và nhiều nước khác đóng cửa toàn bộ dự án hạt nhân.

Sự kiện này giáng đòn mạnh vào Westinghouse, khiến công ty này đắm chìm trong nợ nần và phải nộp đơn phá sản vào năm 2017. Thương vụ này khiến Toshiba tổn thất hơn 6 tỷ USD và đẩy tập đoàn vào khoản lỗ 9,9 tỷ USD vào năm tài chính 2017.

Đoạn kết: Bán mình để tồn tại

Để tránh thảm họa tài chính và bù đắp khoản lỗ khổng lồ, Toshiba buộc phải bán các tài sản cốt lõi của mình:

Bán mảng chip nhớ: Toshiba phải bán mảng kinh doanh bộ nhớ NAND flash (Toshiba Memory) cho quỹ đầu tư Bain Capital với giá 18 tỷ USD (2.000 tỷ yen) vào năm 2017.


Rời bỏ thị trường PC: Toshiba dần chuyển giao quá trình sản xuất TV cho bên ngoài từ năm 2010. Sau khi chấm dứt kinh doanh laptop ngoài Nhật Bản (2016), Toshiba buộc phải bán 80% cổ phần công ty sản xuất laptop của mình cho Sharp với giá 36 triệu USD vào năm 2018. Tháng 8 cùng năm, số cổ phiếu còn lại được chuyển giao, chính thức đặt dấu chấm hết cho “máy tính Toshiba”.

Để tránh bị hủy niêm yết trên sàn chứng khoán, Toshiba phải nhận khoản rót vốn khẩn cấp 5,4 tỷ USD từ hơn 30 nhà đầu tư nước ngoài vào cuối năm 2017. Điều này làm gia tăng đáng kể ảnh hưởng của các cổ đông nước ngoài và gây ra cuộc chiến nội bộ kéo dài.

Sau nhiều lần cân nhắc chiến lược, bao gồm cả việc tự tách thành ba công ty nhưng không được cổ đông ủng hộ, Toshiba đã nhận được 8 đề nghị mua lại. Cuối cùng, vào tháng 2/2023, hội đồng quản trị đã chấp nhận đề xuất mua lại từ liên minh doanh nghiệp Nhật Bản do Công ty Đầu tư Đối tác Công nghiệp Nhật (JIP) dẫn đầu, với giá trị khoảng 2.000 tỉ yen (15,3 tỷ USD).

Bài học rút ra

Sự sụp đổ của Toshiba là kết quả của một quá trình cải cách bộ máy tổ chức không được thực hiện đầy đủ. Các chuyên gia đã chỉ ra 4 bài học chính từ câu chuyện này:

Không có doanh nghiệp nào — dù lớn đến đâu — không bị ảnh hưởng bởi sự quản lý yếu kém.

Hoạt động thực tế của ban lãnh đạo mới là yếu tố quyết định, không phải chỉ xây dựng một bộ máy hoàn chỉnh trên lý thuyết.

Lãnh đạo các doanh nghiệp không được phép ngó lơ tầm ảnh hưởng của các cổ đông chủ động.

Thời kỳ của các tập đoàn đa ngành đã kết thúc, nhà đầu tư ngày nay yêu cầu doanh nghiệp tập trung vào giá trị cốt lõi của mình.

Toshiba là một ví dụ điển hình về việc một công ty tầm cỡ có thể nhanh chóng mất chỗ đứng trên thị trường do đưa ra các quyết định kinh doanh tồi tệ và kém may mắn.

Hồng Duy (Tổng hợp)
Theo: Nhịp Sống Thị Trường
Link tham khảo:




THIÊN MẠT HOÀI LÝ BẠCH - ĐỖ PHỦ


Thiên mạt hoài Lý Bạch

Lương phong khởi thiên mạt,
Quân tử ý như hà?
Hồng nhạn kỷ thời đáo,
Giang hồ thu thuỷ đa.
Văn chương tăng mệnh đạt,
Ly mị hỉ nhân qua.
Ưng cộng oan hồn ngữ,
Đầu thi tặng Mịch La.

Bài thơ này được làm trong mùa thu năm 759, khi Đỗ Phủ ở Tân Châu, Lý Bạch đang trên đường đi đày đến Dạ Lang, qua sông Trường Giang và hồ Động Đình.


天末懷李白

涼風起天末
君子意如何
鴻雁幾時到
江湖秋水多
文章憎命達
魑魅喜人過
應共冤魂語
投詩贈汨羅


Nhớ Lý Bạch ở nơi cuối trời
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cuối trời, gió mát thổi qua. 
Tình tôi, ý bạn biết là tính sao. 
Nhạn hồng bay khuất khi nào.?. 
Trời thu,sông nước, vẫn bao la tình. 
Văn chương, hiển đạt coi khinh. 
Hồn ma bóng quỷ, vẫn dình trêu ngươi. 
Khuất Nguyên hồn thác xuống rồi. 
Mịch La thơ viết, cuốn trôi theo dòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



SỰ THẬT PHÍA SAU HIỂU NHẦM HÀNG THẾ KỶ VỀ "VITAMIN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP"

Ít ai biết rằng cái tên đất hiếm đã dẫn dắt chúng ta đến một hiểu nhầm kéo dài hàng thế kỷ.


Đất hiếm, hay còn được gọi là nguyên tố đất hiếm (Rare Earth Elements - REE), là một nhóm gồm 17 nguyên tố hóa học, bao gồm 15 nguyên tố thuộc họ Lantan (Lanthanide) cùng với Scandium (Sc) và Yttrium (Y).

Trong cách hiểu phổ thông, cái tên đất hiếm thường gợi liên tưởng đến một loại tài nguyên vô cùng khan hiếm và quý giá như vàng. Tuy nhiên, giới địa chất và khoa học vật liệu lại đưa ra kết luận hoàn toàn khác.

Nhóm nguyên tố này thực chất có mặt ở khắp vỏ Trái Đất. Một số nguyên tố còn dồi dào hơn cả đồng (Cu) hay kẽm (Zn). Điều khiến đất hiếm trở nên đặc biệt không phải nằm ở sự ít ỏi về trữ lượng mà ở quá trình hình thành, phân bố, khai thác và tinh chế vốn rất phức tạp.

Nhóm nguyên tố đất hiếm gồm 17 nguyên tố hóa học thuộc nhóm Lanthan cùng với Scandium và Yttrium (Ảnh: Getty).

Tên gọi bắt nguồn từ một hiểu lầm lịch sử

Việc đặt tên đất hiếm xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ 18 khi các nhà khoa học châu Âu lần đầu tiên phân lập được những oxit kim loại đặc biệt từ các khoáng vật trông rất lạ, thường xuất hiện ở những khu vực địa chất hẹp và khó tiếp cận.

Thời điểm đó, những oxit kim loại chưa xác định rõ bản chất thường được gọi là đất. Khoáng vật chứa các oxit này lại không phổ biến nên giới khoa học đương thời gắn cho chúng cái tên đất hiếm.

Tên gọi này vẫn được dùng đến nay nhưng lại gây hiểu nhầm. Đất hiếm không hiếm về mặt trữ lượng mà hiếm ở dạng quặng giàu có thể khai thác kinh tế. Các nguyên tố này phân bố rất rộng nhưng ở nồng độ thấp. Chúng ít khi tụ lại thành mỏ lớn giống như sắt hay bauxite.

Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Địa chất Đức GFZ, các nguyên tố đất hiếm thường nằm lẫn trong nhiều loại khoáng vật khác nhau và hiếm khi xuất hiện dưới dạng tập trung cao.

Đất hiếm phân tán ở nồng độ thấp khiến việc khảo sát và khai thác tốn kém, dù trữ lượng toàn cầu được đánh giá là phong phú (Ảnh: Getty).

Điều này biến quá trình khảo sát và định vị mỏ đất hiếm thành bài toán tốn kém và mất thời gian.

Ngay cả khi tìm thấy mỏ, hàm lượng thu hồi thực tế thường chỉ ở mức vài phần trăm hoặc thấp hơn. Chính sự phân tán này khiến đất hiếm dù phong phú về trữ lượng toàn cầu vẫn trở thành nguồn tài nguyên khó tiếp cận.

Hàng loạt trở ngại từ khai thác đến tinh chế

Thách thức lớn nhất đối với đất hiếm nằm ở quá trình tách lọc và tinh chế. Do có cấu trúc electron gần giống nhau, các nguyên tố đất hiếm rất khó tách rời. Việc tách Neodymium khỏi Praseodymium hay tách nhóm đất hiếm nặng khỏi nhóm nhẹ đòi hỏi hàng trăm bước chiết tách lặp đi lặp lại.

Một nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts MIT từng chỉ ra rằng tinh chế đất hiếm là một trong những chuỗi xử lý phức tạp nhất của ngành luyện kim hiện đại. Quy trình này tiêu tốn nhiều axit mạnh và chất hữu cơ, đồng thời tạo ra lượng lớn chất thải rắn và dung dịch độc hại.

Trong nhiều mỏ, quặng đất hiếm lẫn cùng thorium và uranium là các nguyên tố phóng xạ tự nhiên. Nếu không xử lý đúng chuẩn, chất thải này có nguy cơ gây ô nhiễm lâu dài cho đất và nước.

Vấn đề môi trường là lý do khiến nhiều quốc gia hạn chế khai thác đất hiếm dù có trữ lượng lớn. Chỉ một số ít nước sở hữu cả công nghệ và khả năng chấp nhận chi phí xử lý. Điều này dẫn đến tình trạng tập trung chuỗi cung ứng đất hiếm vào một số quốc gia, tạo ra rủi ro về địa chính trị và thương mại toàn cầu.

Nhóm nghiên cứu Đại học Penn và Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore phát triển phương pháp sinh học dùng protein vi khuẩn để chiết xuất và tách riêng các nguyên tố đất hiếm từ chất thải công nghiệp và thiết bị điện tử (Ảnh minh họa).

Trong báo cáo năm 2023 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA, đất hiếm được xếp vào nhóm khoáng sản quan trọng của năng lượng sạch cùng lithium, cobalt và nickel.

Báo cáo nhấn mạnh rằng rủi ro về sự phụ thuộc nguồn cung lớn hơn nhiều so với rủi ro về trữ lượng tự nhiên. Đây cũng là lý do khiến đất hiếm được ví như con bài chiến lược trong cuộc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc.

Giá trị chiến lược trong công nghệ hiện đại

Đất hiếm đóng vai trò trọng yếu trong nhiều lĩnh vực công nghệ cao. Nổi bật nhất là các nam châm vĩnh cửu dựa trên Neodymium, Praseodymium và Dysprosium.

Những nam châm này có tỉ trọng nhỏ nhưng tạo ra lực từ cực mạnh. Chúng là linh kiện thiết yếu của động cơ xe điện, máy phát gió, robot công nghiệp, thiết bị bay không người lái và ổ đĩa cứng. Các nguyên tố khác cũng có ứng dụng quan trọng. 

Đất hiếm là “con bài chiến lược” của các cường quốc do vai trò quan trọng trong công nghệ cao (Ảnh: Getty).

Cerium được dùng trong các bộ xúc tác xử lý khí thải và trong công nghệ đánh bóng kính quang học. Lanthanum góp mặt trong thấu kính máy ảnh và trong pin niken kim loại hydrua từng phổ biến trên các dòng xe hybrid. Europium và Terbium là 2 chất phát quang chủ lực cho màn hình màu đời đầu và nhiều loại đèn LED.

Trong lĩnh vực y sinh, gadolinium là chất tương phản quan trọng của kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI. Những hợp chất chứa nguyên tố đất hiếm còn được ứng dụng trong nghiên cứu điều trị ung thư nhờ khả năng phát xạ năng lượng đặc trưng.

Một tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Nature Reviews Materials ghi nhận rằng vật liệu đất hiếm đang mở ra nhiều hướng mới cho công nghệ lượng tử và điện tử nano.

Nhu cầu lớn từ các ngành năng lượng xanh và công nghệ số khiến đất hiếm trở thành tài nguyên không thể thay thế. Xe điện cần lượng nam châm vĩnh cửu lớn. Tua bin gió ngoài khơi cũng phụ thuộc mạnh vào chúng để duy trì hiệu suất ổn định. Công nghệ trí tuệ nhân tạo, thiết bị thông minh và các hệ thống quốc phòng hiện đại đều sử dụng vật liệu đất hiếm ở nhiều vị trí trọng yếu.

Đất hiếm giữ vai trò quan trọng trong nhiều ngành công nghệ và năng lượng hiện đại (Ảnh minh họa: Getty).

Sự mâu thuẫn giữa tên gọi đất hiếm và bản chất phong phú của chúng được giải thích bởi 2 yếu tố: Thứ nhất là sự phân tán về mặt địa chất khiến việc khai thác kinh tế khó khăn. Thứ hai là quá trình tinh chế phức tạp và tốn kém tạo rào cản lớn làm nguồn cung toàn cầu bị thu hẹp.

Nếu trữ lượng tự nhiên là thước đo duy nhất thì đất hiếm không phải là loại tài nguyên hiếm. Điều hiếm ở đây là năng lực khai thác sạch, công nghệ luyện kim tinh vi và vị thế kiểm soát chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh thế giới dịch chuyển sang năng lượng sạch và công nghệ cao, nhóm nguyên tố này ngày càng có ý nghĩa chiến lược.

Nhiều quốc gia đã công bố kế hoạch tăng cường tự chủ đất hiếm. Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đầu tư mạnh vào tái chế nam châm cũ và phát triển công nghệ tách rửa thế hệ mới. Các nghiên cứu tại Đại học Cambridge và Viện Công nghệ Tokyo cho thấy khả năng thu hồi đất hiếm từ pin cũ và từ thiết bị điện tử thải bỏ đang mở ra hướng giảm phụ thuộc vào khai thác nguyên khai.

Tất cả những nỗ lực này cho thấy đất hiếm không hiếm trong tự nhiên nhưng lại hiếm trong khả năng tiếp cận. Vì vậy chúng được ví như nguồn lực chiến lược định hình tương lai công nghệ toàn cầu.

Hải Yến / Theo: DNews

THỜI XƯA DÙNG VỎ SÒ THAY TIỀN, VÌ SAO NGƯỜI NGHÈO KHÔNG ĐI NHẶT LÀM GIÀU?

Câu chuyện tưởng như đơn giản này lại mở ra một lát cắt thú vị về kinh tế - xã hội thời cổ đại.

Vỏ sò từng có giá trị thay thế tiền tệ thời xưa tại nhiều nơi trên thế giới (Ảnh: Getty).

Giá trị đáng kinh ngạc của vỏ sò

Khoảng 3000 năm trước, tại vùng Trung Nguyên (ngày nay là khu vực Hà Nam và các tỉnh phụ cận ở Trung Quốc), thứ được xem là “tài sản cứng” không phải vàng hay ngọc, mà là những chiếc vỏ sò tự nhiên đến từ các bờ biển.

Ở thời nhà Thương và nhà Chu, những chuỗi vỏ sò treo bên hông quý tộc là hình ảnh không quá khó để bắt gặp. Loại tiền đặc biệt này còn được lưu lại trong sử sách chữ Hán, khi phần lớn các đoạn liên quan đến tài sản, giao thương... đều mang từ “bối”.

Dựa trên các thư tịch cổ, nguồn tin từ Sohu tiết lộ rằng giá trị giao dịch của vỏ sò có thể khiến bạn kinh ngạc. Điển hình, một nữ tướng Phù Hạo được cho là đã dùng 700 vỏ sò mua 90 mẫu ruộng. Hay một quyền trượng ngọc thời Tây Chu được định giá 80 vỏ sò, cùng nhiều thửa đất đi kèm. Trong khi đó, giá của một nô lệ thời kỳ đó chỉ tương đương vài vỏ ốc.

Nhìn vào đó, không ít người trong số chúng ta nghĩ rằng chỉ cần ra biển nhặt vài cái vỏ sò là có thể lập tức “đổi đời”. Song đối với người xưa, việc ấy gần như là bất khả thi, và khoa học, lịch sử cũng cho thấy lý do rất rõ ràng.

Tìm vỏ sò không dễ

Trước hết, phần lớn cư dân Trung Nguyên sống ở vùng nội địa Thiểm Tây – Hà Nam, cách biển quá xa để có thể tiếp cận.

Hành trình tới biển phải băng qua đầm lầy, rừng sâu, thú dữ và nguy cơ bệnh tật như sốt rét. Các bộ lạc dọc đường cũng không mấy thân thiện, nhiều nơi sẵn sàng bắt người lạ làm nô lệ. Việc đi nhặt vỏ sò là một cuộc phiêu lưu đánh đổi bằng sinh mạng.

Nhưng ngay cả khi ai đó may mắn tới được biển, họ sẽ nhanh chóng nhận ra những vỏ sò nằm lẫn trên bãi cát hoàn toàn không phải là thứ có thể quy đổi thành tiền tệ.

Quý tộc thời xưa thường đeo những chuỗi vỏ sò bên hông như một biểu tượng cho quyền lực (Ảnh: Getty).

Những vỏ được dùng làm tiền thời Thương – Chu chủ yếu thuộc các loài hiếm như ốc tiền vòng, trai hổ... phân bố ở vùng biển ấm xa xôi phía nam Phúc Kiến.

Đây cũng là đặc điểm chung được ghi nhận ở nhiều nền văn hóa dùng vỏ sò làm tiền trên thế giới. Cụ thể tại Châu Phi, loại vỏ sò có tên cowrie chỉ có thể được lấy ở vùng nước sâu và phải qua nhiều khâu tuyển chọn.

Ở Bắc Mỹ, người Chumash chế tác vỏ sò thành chuỗi với độ đồng nhất cao đến mức gần như “chuẩn công nghiệp”. Đây là lý do khiến việc tự thu thập và chế tác vỏ sò là bất khả thi. Nhiều vương triều thậm chí độc quyền thu gom vỏ sò, biến chúng thành tài sản chiến lược.

Bên cạnh sự khan hiếm tự nhiên, kỹ nghệ chế tác cũng là yếu tố ngăn cản việc “nhặt sò đổi của”.

Các tài liệu khảo cổ học cho thấy tiền vỏ sò thời Thương - Chu đều được mài nhẵn, khoan lỗ, đánh bóng trước khi xâu chuỗi. Đó là quy trình tinh xảo chỉ những thợ thủ công chuyên nghiệp mới thực hiện được.

Không phải vỏ sò nào cũng được quy đổi thành tiền tệ (Ảnh: Getty).

Hệ thống này gần giống một “xưởng đúc tiền” cổ đại, đảm bảo tiêu chuẩn và hạn chế làm giả. Theo tư liệu lịch sử, nhà Thương áp dụng cơ chế “phát hành tập trung”, nghĩa là chỉ những vỏ sò đã được hoàng gia chứng thực mới có giá trị lưu hành. Và việc người dân tự ý nhặt vỏ mang đi giao dịch là điều không thể xảy ra.

Quy tắc này không khác mấy so với tiền tệ hiện đại. Cụ thể, tiền chỉ có giá trị khi được xã hội thừa nhận, được bảo đảm bởi thể chế và có cơ chế kiểm soát phát hành. Khi nguồn cung vượt ngưỡng, lạm phát xảy ra.

Cuối thời Thương, bằng chứng khảo cổ cho thấy vỏ sò bắt đầu mất giá do tình trạng bắt chước và mô phỏng bằng đồng. Đây cũng là hiện tượng từng xảy ra ở châu Phi và các đảo Thái Bình Dương, khi việc “mở rộng nguồn cung” khiến tiền vỏ sò sụp đổ, nhường chỗ cho tiền kim loại.

Theo: www.sohu.com

Saturday, December 27, 2025

1,200 HIỆU THUỐC ĐÓNG CỬA HOÀN TOÀN, HẢNG DƯỢC PHẨM LỚN THỨ 3 NƯỚC MỸ NỘP ĐƠN XIN PHÁ SẢN SAU 63 NĂM GÂY CHẤN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG

Sau 63 năm kinh doanh, một trong những chuỗi hiệu thuốc lớn nhất nước Mỹ đã nộp đơn xin phá sản và đóng cửa toàn bộ cửa hàng vì những khó khăn về tài chính.


Hồi kết sau sáu thập kỷ hoạt động

Ngày 3/10/2025, Rite Aid Corporation - biểu tượng của ngành bán lẻ dược phẩm Mỹ - chính thức khép lại hành trình 63 năm bằng thông báo ngắn gọn trên website: "Tất cả các cửa hàng Rite Aid hiện đã đóng cửa. Chúng tôi cảm ơn những khách hàng trung thành đã ủng hộ trong nhiều năm”. Dù vậy, trang web vẫn hoạt động để hỗ trợ khách hàng cũ truy xuất hồ sơ kê đơn và tiêm chủng như một lời tri ân cuối.

Tuy nhiên, việc hàng loạt các cửa hàng thuốc đóng cửa không phải là một cú sốc đột ngột, mà là đỉnh điểm của một quá trình thanh lý tài sản và tái cấu trúc thất bại kéo dài gần hai năm.

Chuỗi nhà thuốc Rite Aid lần đầu tiên nộp đơn xin bảo hộ phá sản vào tháng 10 năm 2023 do gánh nặng nợ khổng lồ vượt 4 tỷ USD cho hàng nghìn vụ kiện tụng liên quan đến cáo buộc kê đơn thuốc giảm đau opioid bất hợp pháp. Bên cạnh đó, Rite Aid cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các chuỗi cửa hàng dược phẩm lớn khác.

Trong nỗ lực đầu tiên, Rite Aid đã đóng cửa 500 cửa hàng, trả được 2 tỷ USD nợ, đảm bảo được 2,5 tỷ USD nguồn vốn để duy trì các hoạt động còn lại. Qua đó, công ty thoát khỏi tình trạng phá sản.

Mặc dù vậy, công ty vẫn còn nợ 2,5 tỷ USD sau lần tái cấu trúc đầu tiên. Chỉ chưa đầy một năm sau, Rite Aid lại buộc phải nộp đơn xin phá sản lần thứ hai vào tháng 5 năm 2025. Đến thời điểm đó, công ty chỉ còn vận hành khoảng 1.200 đến 1.250 cửa hàng trên 15 tiểu bang, giảm khoảng một nửa so với năm 2023.

Do cạn kiệt tiền mặt và thất bại trong việc đảm bảo nguồn tài chính, Rite Aid đã tuyên bố sẽ bán hết tất cả tài sản còn lại và đóng cửa mọi chi nhánh. Theo đó, chuỗi hiệu thuốc này bán phần lớn dịch vụ dược phẩm tại các cửa hàng cho các đối thủ cạnh tranh là CVS Pharmacy, Walgreens, Albertsons và Kroger, với tổng cộng hơn 1.000 địa điểm.

Trong số đó, CVS Pharmacy là bên đấu giá lớn nhất, mua lại hồ sơ kê đơn từ 600 địa điểm và trực tiếp mua 64 cửa hàng Rite Aid. Đến tháng 7 năm 2025, tổng số cửa hàng đã đóng cửa kể từ tháng 10 năm 2023 đã vượt mốc 1.000. Cuối cùng, 89 cửa hàng còn lại đã đóng cửa hoàn toàn trong những ngày đầu tháng 10 năm 2025.


Hành trình phát triển

Rite Aid bắt đầu hành trình vào tháng 9/1962, khi Alex Grass mở cửa hàng đầu tiên mang tên Thrift D Discount Center tại Scranton, tiểu bang Pennsylvania của Mỹ. Công ty sau đó nhanh chóng mở rộng sang 5 tiểu bang khác vào năm 1965 và sau đó chính thức trở thành công ty đại chúng dưới tên Rite Aid vào năm 1968. Rite Aid niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) vào năm 1970.

Chỉ 10 năm sau khi mở cửa hàng đầu tiên, Rite Aid đã vận hành 267 cửa hàng thuốc tại 10 tiểu bang. Nhờ vào các thương vụ mua lại, Rite Aid đã vượt qua mốc 2.000 cửa hàng dọc theo Bờ Đông và đạt cột mốc doanh thu 1 tỷ USD vào năm 1983.

Bước ngoặt lớn diễn ra vào năm 1996, khi Rite Aid mua lại chuỗi Thrifty PayLess với 1.000 cửa hàng ở Bờ Tây, mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động. Đỉnh cao quy mô của Rite Aid đạt được vào năm 2007 sau thương vụ mua lại Brooks Pharmacy và Eckerd Pharmacy. Thương vụ này đã đưa Rite Aid trở thành nhà bán lẻ dược phẩm lớn thứ ba nước Mỹ.

Đến năm 2008, Rite Aid sở hữu tổng cộng 5.059 cửa hàng với 112.800 nhân viên. Ngay cả giai đoạn sắp thoái trào, công ty vẫn ghi nhận doanh thu ấn tượng là 24.04 tỷ USD năm tài chính 2021, mặc dù đã chịu khoản lỗ ròng 90.9 triệu USD.

Tuy nhiên, ngay cả ở thời kỳ hưng thịnh nhất, Rite Aid đã lộ ra những vết nứt tài chính nghiêm trọng. Cụ thể là vào năm 1999, do thua lỗ phát sinh từ việc mở rộng quá nhanh, cổ phiếu của công ty đã giảm mạnh từ mức 30 USD/cp xuống 4,4 USD/cp.


Những đòn giáng chí mạng

Sự sụp đổ cuối cùng của Rite Aid là kết quả của ba nguyên nhân chính kết hợp lại. Thứ nhất, gánh nặng nợ và việc tái cấu trúc không bền vững luôn là bóng đen phủ lên công ty. Mặc dù đã giảm nợ từ 6,6 tỷ USD xuống 3.9 tỷ USD vào năm 2003, các thương vụ mua lại lớn sau này đã đẩy gánh nặng tài chính tăng cao trở lại.

Sau lần nộp đơn xin bảo hộ phá sản đầu tiên vào năm 2023, việc chỉ giảm được một nửa khoản nợ ban đầu và vẫn phải gánh 2,5 tỷ USD nợ khiến công ty không đủ khả năng chống chịu trước các cú sốc thị trường. Kết quả là, trong lần nộp đơn phá sản thứ hai vào năm 2025, công ty thừa nhận không thể duy trì các cửa hàng do chủ nợ quay lưng.

Thứ hai, khủng hoảng thuốc giảm đau opioid và chi phí pháp lý khổng lồ đã giáng một đòn chí mạng. Rite Aid phải đối mặt với hàng nghìn vụ kiện liên bang, tiểu bang và địa phương cáo buộc công ty đã kê đơn thuốc giảm đau gây nghiện bất hợp pháp. Mặc dù công ty đã phủ nhận các cáo buộc và đạt được thỏa thuận với Bộ Tư pháp Mỹ (DOJ) vào tháng 6 năm 2024 để giải quyết các cáo buộc với mức phí 7.5 triệu USD, các chi phí pháp lý và thiệt hại danh tiếng kéo theo đã bào mòn nền tảng tài chính của công ty.

Cuối cùng, sự cạnh tranh khốc liệt và thất bại trong các thương vụ sáp nhập đã làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của Rite Aid. Vào năm 2017, Walgreens đã hủy bỏ thỏa thuận sáp nhập trị giá 9.4 tỷ USD với Rite Aid. Thay vào đó, Walgreens chỉ đồng ý mua lại 1.932 cửa hàng với giá 4.38 tỷ USD. Việc mất đi một phần lớn mạng lưới đã khiến Rite Aid chỉ còn lại khoảng 2.600 cửa hàng và trở nên quá nhỏ bé để đối đầu với CVS và Walgreens.

Hơn nữa, nỗ lực sáp nhập tiếp theo với Albertsons vào năm 2018 cũng đã thất bại do không nhận được sự ủng hộ của cổ đông. Do đó, việc phải bán hồ sơ kê đơn cho chính các đối thủ cạnh tranh lớn (CVS, Walgreens) trong lần phá sản cuối cùng đã là sự thừa nhận rõ ràng nhất về thất bại của Rite Aid trên thị trường bán lẻ dược phẩm Mỹ.

Giám đốc điều hành Matt Schroeder của Rite Aid đưa ra tuyên bố rằng công ty đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của vô số người Mỹ. “Tôi sẽ mãi biết ơn hàng nghìn cộng sự của chúng tôi vì sự tận tâm của họ đối với Rite Aid và sứ mệnh của công ty”, ông nói.

Sự sụp đổ của Rite Aid không chỉ là hồi kết cho một thương hiệu bán lẻ mà còn là lời cảnh tỉnh về những thách thức kinh tế và pháp lý đang tác động đến toàn bộ ngành công nghiệp dược phẩm Mỹ, nơi ngay cả những tên tuổi lớn hơn cũng đang phải thu hẹp quy mô và đóng cửa chi nhánh.

Tổng hợp: CNN, New York Times, ACB News

Anh Dũng
Theo: Nhịp Sống Thị Trường
Link tham khảo:




CÁC DẠ (閣夜) - ĐỖ PHỦ (杜甫)


Các dạ

Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh,
Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu.
Ngũ canh cổ giốc thanh bi tráng,
Tam Giáp tinh hà ảnh động diêu.
Dã khốc kỷ gia văn chiến phạt,
Di ca sổ xứ khởi ngư tiều.
Ngoạ long dược mã chung hoàng thổ,
Nhân sự âm thư mạn tịch liêu.


閣夜 - 杜甫

歲暮陰陽催短景
天涯霜雪霽寒霄
五更鼓角聲悲壯
三峽星河影動搖
野哭幾家聞戰伐
夷歌數處起漁樵
臥龍躍馬終黃土
人事音書漫寂寥


Đêm tối trên gác
(Dịch thơ:Anh Nguyên)

Năm tàn, ngày tháng qua mau,
Chân trời sương tuyết, đêm đâu lạnh lùng.
Tù và, tiếng trống bi hùng,
Ngân Hà, Tam Giáp rung rung nền trời.
Nhà ai tiếng khóc ỉ ôi,
Ngư tiều, ca rợ vài nơi hát hò.
Anh tài rồi cũng nấm mồ,
Tình người, thư vắng, mong chờ uổng công!...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện