Wednesday, September 30, 2026

THU DẠ HỮU CẢM - NGUYỄN KHUYẾN


Thu dạ hữu cảm

Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh,
Độc toạ thư đường khán nguyệt minh.
Hà xứ thu phong xuy nhất diệp,
Dẫn lai vô hạn cố viên tình.


秋夜有感 - 阮勸

山河寥落四無聲
獨坐書堂看月明
何處秋風吹一葉
引來無限故園情


Cảm xúc đêm thu
(Dịch thơ: Trương Việt Linh)

Non sông bốn phía lặng yên
Phòng văn tựa ghế ngắm vầng trăng soi
Gió thu một chiếc lá rơi
Mối tình quê cũ bời bời trào dâng


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Khuyến 阮勸 (15/2/1835 - 5/2/1909) tự Miễn Chi 勉之, hiệu Quế Sơn 桂山, vốn tên là Nguyễn Thắng 阮勝, sau vua Tự Đức mến tài ban tên Khuyến với nghĩa là đáng khuyến khích. Ông sinh tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, mất tại Yên Đổ. Quê nội của ông là làng Và, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cha ông là Nguyễn Tông Khởi 阮宗起 (1796-1853), thường gọi là cụ Mền Khởi, đỗ ba khoá tú tài, dạy học. Mẹ là Trần Thị Thoan 陳氏湍 (1799-1874), nguyên là con của Trần Công Trạc 陳公鐲, từng đỗ tú tài thời Lê Mạt.

Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ tam nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ hoàng giáp Phạm Văn Nghị. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức giải nguyên) trường Hà Nội. Năm sau (1865), ông trượt thi hội nên phẫn chí, ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ hội nguyên và đình nguyên (hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.

Nguồn: Thi Viện