Saturday, September 7, 2019

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT TÔN THỜ CỌP MÀ KHÔNG THỜ SƯ TỬ?

Giữa hai con vật này tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về tôn thờ. Trong khi cọp được gọi kính cẩn bằng những tên gọi như “Ông Ba Mươi”, “Thần Hổ”, “Chúa Sơn Lâm” thì sư tử chỉ là linh vật trang trí trong các công trình tín ngưỡng, tâm linh với vị thế là canh giữ công trình. Xin phép được lý giải thử vấn đề này từ phương pháp tiếp cận 3 góc độ: Sinh học - Lịch sử - Văn hóa.


Thứ nhất, từ góc độ sinh học, cọp (hổ) là loài động vật sống đơn độc, không theo bầy đàn. Trong khi đó, sư tử lại là động vật sống theo lối bầy đàn. Chính đặc tính này đã làm cho nhiều người ngộ nhận sức mạnh của cọp là không bằng sư tử. Khi có cơ hội đối đầu với nhau trong môi trường hoang dã, một bầy sư tử hiển nhiên là chiếm ưu thế hơn một con sư tử đơ độc. Tuy nhiên, thực tế từ nhiều kết quả nghiên cứu chỉ ra đã cho thấy đây là một nhận định sai lầm. Sức bền, sự dẻo dai của cọp là cao hơn hẳn so với loài sư tử. Ngay từ thời La Mã, cuộc chiến giữa cọp và sư tử đã được xem là thú vui giải trí của các tầng lớp quý tộc và sự thật đã cho thấy: Cọp luôn là kẻ giành phần thắng. Một số nhà sinh thái học qua thực nghiệm đã khẳng định về trọng lượng cơ thể, sức mạnh cơ bắp, khả năng tấn công của sư tử xếp sau voi và cọp. Mặt khác, sống trong điều kiện tự nhiên khác nhau thì việc phân biệt rạch ròi sức mạnh của hai loài vật này là điều không đơn giản. Trong khi sư tử với lối sống bầy đàn, phân bố chủ yếu ở khu vực thảo nguyên ở Châu Phi thì hổ lại là loài động vật phân bố chủ yếu ở núi rừng của Châu Á (danh hiệu “Chúa Sơn Lâm” cũng đã cho thấy rất rõ địa bàn cư trú của loài hổ). Việt Nam chúng ta là một quốc gia Châu Á và do đó, ở một chừng mực nhất định, hổ là loài động vật phổ biến hơn trong tâm thức cùa cộng đồng người dân.


Thứ hai, từ góc độ lịch sử, ở Việt Nam nói chung và ở Nam Bộ nói riêng, khi mà cộng đồng người Việt từ khu vực miền Trung di cư vào đây theo quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, đây vốn là vùng đất hoang sơ và rất hiểm trở. Một trong những biểu hiện cho sự hiểm trở và hoang sơ chính là sự hiện diện của loài cọp. Trong các tác phẩm viết về lịch sử và văn hóa của vùng đất Nam Bộ, không khó để ta thấy được sự khó khăn của cư dân tại vùng đất mới khi phải đương đầu với “Ông Ba Mươi”. Truyền thuyết về sự hóa thân của Phạm Nhĩ để biến thành ông Ba Mươi cũng là một phương thức để người Việt lý giải cho sự tôn sùng của mình dành cho loài động vật này. Quy luật tâm lý cho thấy khi con người phải đương đầu với những khó khăn gì, những hiểm họa từ gì thì sẽ có xu hướng tôn sùng, e dè trước nó. Và sự tôn thờ hổ là một ví dụ điển hình. Do vậy, tại một số địa phương thì hổ trở thành ông Hương cả – một chức quan lúc bấy giờ ở Nam Bộ; hay sự sắc phong các danh hiệu “Sơn quân chi thần”, “Sơn quân chúa xứ”, “Sơn quân mãnh hổ”… Mối hiểm nguy từ con hổ ngay từ thời gian đầu vào khẩn hoang vẫn còn để lại dấu ấn và hiện hữu cho đến ngày nay thông qua những địa danh ở Nam Bộ. Dần dần về sau này, khi mà điều kiện môi sinh của con người đã dần được định hình, hổ không còn hiện diện một cách công khai như trước, song, con người vẫn còn giữ được sự tôn trọng của mình loài động vật này. Tại một số đình, chùa ở Nam Bộ vẫn còn cho khắc hình tượng hổ lên trên các tấm bình phong đặt ngay trước cổng của công trình với mục đích là hù dọa các ông Ba Mươi không dám đến quấy phá dân làng. Đây là biểu hiện của sự phức tạp trong nhận thức của cư dân khi vừa tôn thờ cọp nhưng cũng đồng thời phải đối đầu để có được cuộc sống bình yên.


Thứ ba, từ góc độ văn hóa, sư tử là loài vật có hiện diện tại Ấn Độ và do đó, ngay từ sớm, nó đã nhập thân vào văn hóa Ấn Độ để trở thành biểu tượng cho sức mạnh. Chính sự giao thoa văn hóa giữa Ấn Độ và Việt Nam đã tạo điều kiện cho sư tử du nhập vào các công trình tâm linh, tín ngưỡng ở nước ta. Về vấn đề này, Đinh Hồng Hải đã có nhận xét:“… Biểu tượng sư tử được cho là linh vật có sức mạnh siêu việt trong văn hóa Ấn Độ nên nó đã được sử dụng khá phổ biến từ thời vua A Dục (Asoka) đặt trên đỉnh các cột kinh…”. Sự đối sánh giữa hình tượng cọp và sư tử mà tôi dẫn giải ở trên cũng lý giải thực tế là sư tử được du nhập vào Việt Nam do sự giao thoa văn hóa, trong khi đó, việc thờ cọp được nảy sinh như một nhu cầu tất yếu trong quá trình đấu tranh chống lại điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Do đó, vị thế của cọp cao hơn sư tử cũng là điều dễ hiểu. Ngoài ra, trong tín ngưỡng thờ Mẫu, “Quan Ngũ Hổ” cũng trở thành một bộ phận hữu cơ gắn bó với các đối tượng khác trong tín ngưỡng này; do vậy, trong quá trình di dân vào vùng đất mới, chúng đã tích hợp lại với nhau và tạo ra dạng thức thờ Hổ rất đặc sắc. Hình tượng “Hổ” được tôn thờ chính là một bước phát triển mới trong nhận thức về thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng người Việt.


Tóm lại, từ 3 góc độ sinh học-lịch sử-văn hóa, tôi thử lý giải vài nguyên nhân cơ bản nhất khi giải thích nguyên nhân người Việt thờ cọp chứ không thờ sư tử. Là một dạng tín ngưỡng dân gian, nhưng giá trị văn hóa ẩn chứa trong dạng thức tín ngưỡng này đã phản ánh một lịch sử khẩn hoang đầy cực nhọc của cha ông ta, đó chính là sự tích hợp các giá trị nhận thức để đấu tranh và sinh tồn trên vùng đất mới. Dấu ẩn ngày nay vẫn còn phản chiếu trong các địa danh, các truyền thuyết về con vật này. Hi vọng hữu ích cho người đọc.

HUỲNH THIỆU PHONG

Friday, September 6, 2019

CON NGƯỜI ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH

Nhà Xuân vừa mở thọ diên,
Chén pha Giếng Cúc, bàn chen Non Đào.
Nguyễn Huy Tự

Mè được xem như là loại thực phẩm “cải lão hoàn đồng, trường thọ bất lão,” là “kho báu dinh dưỡng” thường xuất hiện trong các món ăn của Nhật Bản. (Hình: nhatngusenko)

Giấc mộng trường sinh, bất tử đã được ghi nhận từ thuở hoang sơ, khi con người còn ăn lông ở lỗ. Trong huyền thoại thần tiên, trong niềm mê tín dân gian, trong nguồn cảm hứng xuất thần của văn nhân thi sĩ hay luận lý của triết gia. Tân, Cựu Ước, kinh Koran cũng có nhắc tới nguồn nước trường sinh.

Nó là động lực thúc đẩy những nhà thám hiểm lặn lội đi tìm suối nước vĩnh cửu ở vùng đất lạ, cũng như là mục tiêu nghiên cứu của các khoa học gia xưa nay.

Nó đã tạo cơ hội làm giầu cho những lang băm, những tên lường gạt rao bán vịt trời giữa chợ với môn thuốc trường sinh bất tử.

Nó ám ảnh mọi người, mọi giống. Ai cũng mong mỏi sống mãi không già, thoát khỏi những tàn phá của cơ thể do thời gian, giữ mãi được những nét thanh xuân đầy nhựa sống. Ai cũng nghĩ là ở đâu đó, có môn thuốc mà khi uống vào ta sẽ thi gan cùng tuế nguyệt. Ta chỉ việc cố gắng, kiên nhẫn tìm là sẽ thấy nó.

Nhân dịp Xuân về, chúng tôi mời quý vị, ta lang thang vào cái vườn địa đàng này. Biết đâu lại may mắn nhặt được vài trái đào của Tây Vương Mẫu rơi rớt đó đây; uống lén được chút rượu Kim Tương. Để rồi cùng nhau bách niên giai lão, tiếp tục mè nheo người bạn đường sung sức…


Trường sinh trong Triết học


Đi trước các dân tộc khác, người Trung Hoa xa xưa đã có một khái niệm, một triết lý về sự sống lâu.

Lão Tử từng quan niệm là nếu một sự vật có thể biến thành sự vật khác thì với con người, sự chết cũng có thể thành bất tử. Như con nòng nọc có đuôi kia biến thành con cóc, con nhái, con sâu róm lột xác thành con bướm. Đạo Lão cho con người sống là nhờ sự hoà hợp của âm/dương, nếu giữ được sự hòa hợp này thì cuộc sống kéo dài.

Quan niệm này đã và vẫn là căn bản cho Y thuật Trung Hoa cùng các nước chịu ảnh hưởng văn hóa quốc gia này như Việt Nam, Triều Tiên. Lão cũng khuyên người ta phải tiết kiệm sinh lực bằng vô vi, tập phép hô hấp để tăng dưỡng khí cho não bộ, ăn nhiều trái cây, kiêng rưọu, thịt và sống cho phải đạo.

Câu chuyện người Luigi Cornaro, sanh năm 1470, sống cuộc đời phóng đãng hơn 30 năm. Thầy thuốc nói nếu tiếp tục như vậy sẽ không qua được tuổi 50. Ông ta bèn thay đổi nếp sống, tiết mực hơn và kết quả là sống tới tuổi 103, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm giá trị về bảo vệ sức khỏe. Hai trăm năm sau, nhiều người đã áp dụng lối sống của Cornaro.

Triết gia Plato, thọ 81 tuổi, khuyên ta không được rượu chè say sưa, nhất là ở tuổi trung niên, nếu muốn trường thọ.

Thủy tổ nền y học Tây Phương Hippocrates, sống tới 80 tuổi, nhắc nhở con người nên từ từ, dung hòa ở mọi lãnh vực để giữ gìn nhựa sống. Nhất là từ khi đặt chân lên ngưỡng cửa 60.

Có người muốn kéo dài sự sống thì cũng có người quan niệm ngược lại.

Sinh, Lão, Bệnh, Tử là lẽ thường của tạo hóa, hà cớ chi phải bận tâm quá đáng.

Sự chết cũng tốt cho loài người. Tre già măng mọc, đèn cạn dầu đèn tắt.

Và đã hưởng hết lạc thú rồi thì cầu sống lâu làm gì?

Trường sinh trong huyền thoại


Huyền thoại Hy Lạp, Ấn Ðộ, La Mã ghi lại nhiều giai thoại trường sinh thần tiên.

Nàng Eos yêu Tithonus hết mình, muốn cùng chàng bên nhau mãi mãi. Nàng xin Thần lãnh đạo Thiên Đường Zeus cho chàng được bất tử. Tithonus sống mãi, nhưng càng sống lâu càng trở nên đau yếu, bệnh hoạn và phải nuôi trong phòng riêng. Eos trở nên buồn, vì nàng đã quên không xin cho chàng vừa sống lâu vừa giữ được vẻ thanh xuân. Nàng đi kiếm người tình khác.

Người Ả Rập hay kể cho nhau nghe câu chuyện nhân vật quen thuộc El Khidr với Giếng Nước Vĩnh Cửu: Một hôm tình cờ El Khidr rửa con cá khô trong giếng nước, con cá tự nhiên quẫy động, sống lại. Không bỏ lỡ cơ hội, El Khidr nhẩy xuống giếng tắm và trở thành bất tử .

Hy Lạp xưa cũng có suối nước vĩnh cửu trong rừng Jupiter, mà, theo tục truyền, ai tắm nước đó sẽ được phục hồi tuổi trai tráng và khỏe mạnh.


Trường sinh trong văn học, nghệ thuật

Văn nhân thi xưa nay cũng khao khát sự trường thọ.

Thi sĩ Hy lạp Hesiod tả hình ảnh đầy hấp dẫn của giống người Golden Race, sống lành mạnh tới cả trên trăm tuổi. Đến khi chết, họ ra đi một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đi vào giấc ngủ say.

Pindar tả cảnh thiên đường trường thọ của dân chúng trong một hải đảo giữa biển Atlantic: sống cả ngàn năm trong hoan lạc, không biết gì đến đau yếu, bệnh tật.

Trong tiểu thuyết Lost Horizon xuất bản năm 1933, James Hilton tả cảnh sống thiên đường của dân chúng ở vùng Shangri-La.

Trong sách Metamorphoses, thi sĩ La Mã Ovid kể lại chuyện vua Aeson của Hi Lạp được phục hồi sức khoẻ bằng cách chích vào tĩnh mạch một hỗn hợp điều chế từ máu cừu đực chưa thiến, da rắn, thịt cú và rễ nhiều thảo mộc khác nhau.

Trường sinh với các nhà thám hiểm

Nhiều nhà thám hiểm cũng đã giương cờ đi khắp năm châu bốn bể để tìm thuốc trường sinh.

Juan Ponce de Leon, người Tây Ban Nha, đã lên đường thám hiểm Tân Thế Giới với hy vọng kiếm được thuốc hồi xuân. Ông ta đã già yếu, không thỏa mãn được cô vợ trẻ sung sức. Đồng thời ông ta cũng muốn kiếm thần dược dâng Quốc Vương Ferdinand II. Không kiếm ra thuốc, nhưng ông ta đã tìm ra tiểu bang phì nhiêu, hiền hòa Florida năm 1513. Ông qua đời vì vết thương bị nhiễm độc trong khi giao tranh với thổ dân gốc Indian vào tuổi 63.

Tần Thủy Hoàng Đế, sau khi gồm thâu lục quốc, dựng nên nghiệp Đế, muốn bất tử để trị vì trăm họ. Ông đã phái các phương sĩ Từ Phước và Lư Sinh căng buồm ra Biển Đông tìm thần dược. Lư Sinh, Từ Phước không tìm ra linh dược, nhưng đã lánh nạn và tìm được những mùa Xuân bất tận cho nhiều thế hệ con cháu trên đất Phù Tang mầu mỡ.

Năm 1498, Columbus tuyên bố là đã tìm ra miền vĩnh cửu ở dọc theo bờ biển Venezuela, gần đảo Trinidad.


Trường sinh với căn bản khoa học

Bên cạnh những ý kiến, dữ kiện khó tin, nhiều người đương thời đã có cái nhìn nghiêm túc hơn về sự hóa già và phương cách trì hoãn diễn biến này.

Tu sĩ dòng Franciscan kiêm khoa học gia Roger Bacon đã lý luận rằng con người già vì sự mất bớt nhiệt năng bẩm sinh. Nếu sống hợp lý cộng với thuốc men hiệu nghiệm, ta có thể trì hoãn sự mất mát này và sống lâu hơn. Ông ta hỗ trợ thuốc chế từ thịt rắn, tim hươu nai và một vài thảo mộc trong rừng ở Nam Phi hay nước san hô, ngọc trai. Nhưng phương thức mà ông ta ưa thích nhất là hít sinh khí hơi thở của trinh nữ.

Người Do Thái khi xưa cũng tin rằng con gái là phương thuốc chữa bệnh tốt. Vua David, khi về già không được khỏe, cơ thể lạnh toát, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ ấm. Thần dân bèn đặt Người nằm cạnh những thiếu nữ với ý định là để chân khí từ thiếu nữ tiếp sức cho vua cha. Và Ngài khỏe ra.

Boerhaave, danh y người Đức, sống từ 1668 tới 1738, cũng khuyên viên thị trưởng Amsterdam là nếu muốn lấy lại sinh lực thì hãy nằm giữa hai thiếu nữ còn trinh.

Công dụng hơi thở thiếu nữ cũng thấy ghi trong ngôi mộ cổ của một lão nhân Ai cập, nói rằng ông ta sống tới tuổi 115 là nhờ những hơi thở này.

Nhà luyện kim kiêm y sĩ Paracelsus của Đức, vào thế kỷ 16 đã tin tưởng rằng lão hóa là do sự thay đổi hóa chất trong cơ thể như sự rỉ sét của kim loại. Ông ta khuyên nên ăn uống cân bằng, sống tại vùng khí hậu ôn hòa, dùng những thuốc do ông ta chế.

Theo Leonardo Da Vinci, con người mau già là do hậu quả của mạch máu dầy lên, máu lưu thông khó khăn, dinh dưỡng suy giảm.

Những thế kỷ kế tiếp, việc tìm kiếm phương thức trì hoãn sự lão hóa mang ít nhiều tính cách khoa học hơn và được thực hiện bởi nhiều nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề này.

Mùa Thu năm 1885, Charles Ed. Brown Sequard, 72 tuổi, nguyên giáo sư Đại Học Harvard, hùng hồn trình bày trước các học giả uy tín của College of France. Ông ta cho hay là đã lấy lại được sinh lực, thỏa mãn đòi hỏi tình dục cuả người vợ trẻ bằng cách dùng nước tinh chế từ ngọc hành loài chó. Y giới mọi nơi vội vàng áp dụng môn thuốc này, nhưng hiệu quả không được như lời nói.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, viên y sĩ người Nga, Serge Vernof, sang Pháp và cấy tế bào ngọc hành cho nhiều người để tăng cường sinh lý.

Ở Mỹ, mấy năm sau, John Romulus Brinkly cũng áp dụng phương pháp này cho thân chủ, kiếm được nhiều tiền, mua đài phát thanh và ra tranh cử chức thống đốc tiểu bang Arkansas.

Descartes, Benjamin Franklin, Francis Bacon, Christopher Hufeland… với nhiều công sức nghiên cứu đều tin tưởng là sự lão hóa và sự tử vong sẽ bị khoa học khuất phục. Hufeland còn khuyên ta nên tránh sự tức giận, sự tự hủy hoại và coi chúng là kẻ thù của trường thọ.

Các nghiên cứu hiện đại

Jean Martin Charcot, y sĩ Pháp, được nhiều người coi là cha đẻ của Lão-khoa-học, xuất bản cuốn sách đầu tiên về khoa này năm 1867 nhan đề Clinical Lectures on Senile and Chronic Diseases. Tác giả đề nghị nghiên cứu diễn tiến sự hóa già, nguyên nhân già, thay đổi cơ thể khi về già.

Bác Sĩ Ignatz Leo Nascher vận động để các trường Y Khoa đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu vấn đề liên quan tới hóa già.

Sir Peter Medawar và Sir Mac Farlane Burnet là những người đầu tiên lưu ý tới ảnh hưởng của gene trong sự lão hóa.

Quá trình lão hóa có thể bị đảo ngược từ DNA. (Hình minh họa: Google)

Sau Thế Chiến Thứ Hai, tốc độ nghiên cứu về vấn đề già phát triển mạnh. Tờ báo uy tín Journal of Gerotology ấn hành số đầu tiên vào năm 1946 ở Hoa Kỳ.

Từ năm 1970, tại Mỹ, do sự đòi hỏi của dân chúng, các khoa học gia và chính trị gia liên kết thúc đẩy chính phủ trợ cấp nhiều hơn nữa cho việc nghiên cứu các vấn đề về lão hóa. Do sự ủng hộ tích cực củaThượng Nghị Sĩ Alan Cranton, cơ quan Quốc Gia Tuổi Già (National Institute of Aging) được chính thức thành lập năm 1976. Cơ quan này có ngân sách cao tới cả nửa tỷ Mỹ kim và chuyên chú về các vấn đề liên quan tới người cao tuổi.

Ngày nay, trên thị trường thương mại, ta có thể kiếm được nhiều sản phẩm được công nhận bởi cơ quan có thẩm quyền về y khoa học, hoặc được người chế ra quảng cáo là có công hiệu trì hoãn sự lão hóa.

Nhớ lại vào giữa thập niên năm mươi, đồng bào ta ở Việt Nam nhiều người đua nhau dùng thuốc Gerovital-KH3. Thuốc này được một y sĩ Lỗ Ma Ni điều chế và nghe nói các nhân vật nổi danh như Tưóng De Gaulle, Thủ Tướng Adenauer, văn hào Sommerset Maugham cũng có dùng. Gerovital vẫn còn được bán tự do ở Âu Châu, nhưng không được cơ quan Dược Phẩm Hoa kỳ công nhận giá trị chống lão hóa.

Nhiều người hiện đang dùng các loại sinh tố, khoáng chất, anti-oxidant, các loại kích thích tố, Q-10, Glutathione, Melantonin, Sod, DHEA, Omega-E,… Và được giới thiệu là có thể làm chậm sự lão hóa.

Các khoa học gia đang đi xa hơn trong công việc này. Họ nhắm vào việc thay đổi gene trong nhiễm thể tế bào, việc giới hạn tác hại của các phó sản trong biến hóa căn bản của tế bào.

Đi xa hơn nữa, họ nghĩ tới chuyện thay thế những bộ phận hư hao bằng bộ phận tạo ra do chính tế bào của mình, được nuôi dưỡng, cấu tạo trong phòng thí nghiệm hay trên bào thai, để tránh hiện tượng khước từ thông thường. Một ngày nào đó, biết đâu ta lại chẳng tân trang được cơ thể con người và chỉ cần đưa đi kiểm tra định kỳ mười năm một lần, như một chiếc xe hơi.


Kết luận

Trở lại với thực tại, ta thấy tuổi thọ con người đã tăng đáng kể trong hơn trăm năm qua.

Chừng nửa thế kỷ nữa, Hoa Kỳ sẽ có khoảng 75 triệu người trên 65 tuổi trong tổng số trên dưới ba trăm triệu dân. Tại các quốc gia khác, số người cao tuổi cũng tăng theo cùng nhịp độ. Đó là thành qủa những tiến bộ tuyệt vời của khoa học cũng như sự thay đổi nhân sinh quan của loài người.

Nhà bác học người Pháp, Louis Pasteur, năm 1856, đặt nền móng cho việc tiêu diệt hầu hết các bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân tử vong cao ở các thế kỷ trước, đã là người có công đầu trong việc tăng gia tuổi thọ.

Rồi khi sống lâu, loài người lại phải đối phó với những khó khăn mới gây ra do môi trường cũng như do thói quen, những bệnh nan y. Con người đã ý thức được vấn nạn đó và đang ứng phó rất hiệu nghiệm, tài tình.

Do sự tăng gia số, người cao tuổi sẽ có nhiều mầu sắc mới, sinh hoạt mới trong gia đình, xã hội. Những người trên 70 tuổi sẽ có nhiều việc để bận rộn trong khoảng thời gian trên dưới 30 năm còn lại của cuộc đời. Sẽ có nhiều người, 70, 80 tuổi còn đi làm, hoặc đi học để cập nhật kiến thức.

Tỷ lệ lão niên nữ sẽ cao hơn nam vì sống lâu hơn. Sẽ có nhiều cặp nhân tình đầu bạc sống chung để nương tựa, đầm ấm với nhau. Sẽ có nhiều trường hợp con cái dọn về ở với cha mẹ già để các cụ bớt đơn côi.

Kỹ nghệ phục vụ nhu cầu người cao tuổi sẽ phát triển mạnh. Hãng du lịch sẽ phát triển mạnh để thảo mãn nhu cầu người già.

Đồng thời, khối cử tri của người cao tuổi sẽ có ảnh hưởng nhiều tới các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Người già sẽ lấy lại được sự trân trọng như trong thời kỳ Nữ Hoàng Anh Quốc Victoria xưa kia.

Và trong tương lai, khoa học nghiên cứu sẽ hướng nhiều vào việc “tăng đời sống cho năm tháng chứ không chỉ tăng năm tháng cho cuộc đời” (adding life to years, not just adding years to life). Để nhân loại sống trong thế kỷ thứ hai mươi mốt với tinh thần “Sống lâu, Sức khoẻ, mọi vẻ mọi hay.”

Đó sẽ là những chén rượu Kim Tương, những trái Bàn Đào mà chúng ta mong đợi.

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

MÓN KÍNH COONG

Món thịt thối đặc sản “lúc nhúc ròi” ở vùng núi Sơn La



Mùi hôi nồng của món canh thịt thối và rau thối ở Sơn La sẽ khiến những ai lần đầu thưởng thức đều thấy sợ và khó chịu nhưng khi đã ăn quen thì nó lại dễ gây nghiện, khiến ta nhớ mãi.

Sơn La là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc không chỉ nổi tiếng về các điểm du lịch như Hồ Tiền Phong, thác Dải Yếm, núi Pha Luông… nơi đây còn nổi tiếng bởi nhiều món đặc sản độc, lạ mà khiến người nghe, người nhìn vừa thích thú, vừa hãi hùng. Trong đó Thịt thối có giòi là món ăn không thể thiếu trong các dịp quan trọng của dân tộc Khơ Mú.

Kính Coong theo cách hiểu của ngôn ngữ phổ thông có nghĩa là canh thịt thối.

Bước chân vào nhà người Khơ Mú, đập vào mắt du khách sẽ là những miếng thịt trâu, bò, lợn và cả nội tạng treo ở gác bếp đã ngả màu và bốc mùi hôi. Đây chính là nguyên liệu vô cùng quan trọng trong món Kính Coong – món ăn truyền thống từ lâu đời của dân tộc Khơ Mú, cũng là món không thể thiếu của người Khơ Mú trong những dịp cưới xin, lễ tết. Đối với họ, miếng thịt có mùi thối luôn là một hương vị đặc biệt, càng thối càng ngon, và những ai ăn quen sẽ nghiện.

Theo tiếng Khơ Mú, Kính nghĩa là một loại canh thập cẩm, Coong là tên gọi của tổng hợp hầu hết các loại gia vị, rau củ quả,... nấu với thịt thối. Nôm na, Kính Coong theo cách hiểu của ngôn ngữ phổ thông có nghĩa là canh thịt thối.


Để tạo ra thịt thối, họ treo thịt lên gác bếp hàng tuần, rồi hàng ngày vẩy nước để tạo độ ẩm, thu hút ruồi nhặng bay đến đậu vào làm tổ, mang theo cả vi sinh vật.

Để tạo ra thịt thối, họ treo thịt lên gác bếp hàng tuần, rồi hàng ngày vẩy nước để tạo độ ẩm, thu hút ruồi nhặng bay đến đậu vào làm tổ, mang theo cả vi sinh vật. Thịt không được tẩm ướp muối, gia vị mà treo chờ phân hủy đến khi bốc mùi thì mang ra chế biến, thịt càng thối càng đạt tiêu chuẩn và đặc biệt càng có nhiều giòi người chế biến càng thích, món ăn càng ngon. Họ chỉ treo những phần thịt dễ bị thối nhất như nội tạng, thịt bụng...

Để nấu được món Kính Coong, người ta phải đổ nước hầm nát nhừ, rồi cho các loại rau củ quả, gia vị thêm một ít bột gạo cho sóng sánh. Trong số gia vị đó có đầy đủ tiêu rừng, tỏi, gừng, lá cây rừng, ớt, sả… giúp người ăn chữa bệnh dạ dày, gan, mật ổn định.

Trước đây, món Kính Coong lấy từ thành phẩm săn bắt của người Khơ Mú. Mọi thú vật săn bắt được vật như lợn, trâu, bò, hoẵng đều được đưa vào chế biến. Đặc biệt, chuột là món rất được ưa chuộng bởi dễ gây mùi thối nhất trong các loại thịt. Có những trường hợp lên rừng, gặp 1 con vật đã chết lâu, người Khơ Mú vẫn lấy thịt về dùng.

Ngày nay thú rừng ít đi, người Khơ Mú dùng chính sản phẩm gia súc, gia cầm nuôi trong nhà để chế biến thành món Kính Coong.

Đây là một món ăn không thể thiếu trong các bữa tiệc đãi khách của người Khơ Mú. Theo họ, nếu trên bàn ăn không có món này thì coi như chủ nhà thất lễ với khách. Và nếu khách mà từ chối món ăn với bất kỳ lý do gì thì cũng đều là phụ lòng gia chủ. Vậy nên, đến với Sơn La, bạn hãy thử khám phá món ăn có một không hai này.


Rau thối cũng được xem là món ăn nổi tiếng của ẩm thực Sơn La

Ngoài thịt thối, Sơn La còn nổi tiếng với món rau thối “độc nhất vô nhị”. Đây là loại cây dây leo, lá kép màu xanh thẫm, mọc đối xứng nhau. Thân cây và cành lá có rất nhiều gai nhọn. Sở dĩ người ta đặt cho nó cái tên rau thối là cũng bởi vì mùi hôi nồng mà dù có đứng cách xa cả mấy mét vẫn dễ phát hiện ra.

Rau thối mọc hoang nhiều trong các cánh rừng. Thân cây vươn dài, quấn quanh vào bất cứ cây nào sống bên cạnh. Những chồi lá non tơ hướng thẳng lên cao, hứng trọn hết những giọt sương thuần khiết và tia nắng mai vàng óng của đất trời Tây Bắc.

Rau thối được người Thái chế biến thành nhiều món như nấu canh, xào hoặc làm nộm. Với phong cách nấu nướng không quá cầu kì, người Thái thường kết hợp rau cùng thịt trâu, thịt lợn hoặc mớ cá tươi mới bắt từ suối về. Cũng có khi chỉ cần ít mỡ hành phi thơm rồi cho nắm rau xanh mướt ấy vào xào nhanh tay là cũng khiến bữa ăn trở nên hấp dẫn lạ thường. Cái vị ngai ngái, ngầy ngậy cộng thêm chút hương nồng cứ vương vấn nơi cổ họng, đủ để khiến bất kì ai yêu thích các đặc sản vùng cao phải ứa nước miếng thòm thèm.


Nhiều người thường ví rau thối với quả sầu riêng. Mùi hôi nồng của chúng khiến những ai lần đầu thưởng thức đều thấy sợ và khó chịu nhưng khi đã ăn quen thì nó lại dễ gây nghiện, khiến ta nhớ mãi.

Món Kính Coong và rau thối đều được xem là hai món ăn nổi tiếng, được sử dụng phổ biến trong bữa cơm của người dân tộc ở Sơn La. Nếu có dịp du lịch một lần qua đây, hãy đừng quên thưởng thức để cảm nhận ẩm thực độc đáo vùng đất Tây Bắc.

Hải Triều
Tổng hợp

BỒ TÁT CHỈ NGỒI ĐỂ THẤY ...


Chuyện kể rằng…

Một người nọ nhìn thấy cái kén của con bướm. Sau đó,anh thấy một cái lổ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ và thấy nó cố gắng vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó. Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.

Thấy tội nghiệp nên người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén. Con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt. Thế là, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thề sưng phồng và đôi cánh co lại. Nó không bao giờ bay được…


Cho nên Quy tắc thứ ba của người Ấn độ : “Trong mỗi khoảnh khắc mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm”. Người đàn ông tốt bụng đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự vùng vẫy của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó có đủ sức mạnh để cất cánh bay…

Vì vậy, đừng bao giờ tin vào quan niệm Bồ Tát độ mình cả, nếu Bồ Tát đến độ mình tức là Bồ Tát can thiệp vào việc mình cần phải làm là để thoát ra khỏi cái kén (thoát khỏi vô minh) chính mình là người cần phải mở ra mọi cái mà mình đã trói buộc vào, không có Bồ Tát nào làm thay cho mình…


Quan niệm Bồ Tát cứu độ bị hiểu sai kiểu như người mẹ giúp con ” thôi con đừng đánh vần để mẹ đánh vần cho… Con đừng làm toán để mẹ làm toán cho…vân vân…và vân vân…”

Bồ Tát chỉ ngồi để thấy, để xem mình đau khổ như thế nào và thoát khỏi đau khổ như thế nào… mà Tâm Ngài vẫn hoàn toàn bất động, đó mới chính là Bồ Tát chân chính nhất.

Qua câu chuyện trên, con nhộng chỉ cần đợi thêm một chút nữa, nó có thể tự vùng vẫy thoát ra khỏi cái kén, thì nó mới đủ sức mạnh cất cánh bay cao… cũng như con người ta cần phải chịu đựng đau khổ thêm một chút nữa thì mới có được bài học Giác Ngộ cho chính mình… Thế cho nên, Bồ Tát chỉ khai thị mà không có cứu độ… khai thị cho mọi người thấy ra mọi cái đã có sẳn nơi mỗi người, và để mọi người biết tự trở về với chính mình…


Trong nhà Phật không có quan niệm có người khác cứu độ… đừng xin xỏ mong cầu mà trở thành mê tín…

Đức Phật dạy, Pháp hộ trì người sống đúng Pháp, thuận Pháp… Những người sống thuận Pháp, khi gặp chuyện thì tự động có Chư Thiên hộ Pháp độ trì… Cũng như một người sống đúng tốt thì được nhiều người tin tưởng giúp đỡ… 

Chân lý chính là Thực Tế chứ không phải ảo tưởng

Thiền sư Viên Minh

Thursday, September 5, 2019

TÌM LẠI ĐƯỜNG TƠ NAY ĐÃ DỨT

Nếu gặp gỡ mà tôi có được với bà quả phụ Huy Cận, là một gặp gỡ Ngậm ngùi, vì sự ra đi vĩnh viễn của tác giả Lửa thiêng thì cuộc gặp gỡ tôi có được với tác giả những ca khúc đã trở thành bất tử, như: Mơ hoa, Ngày về, Quê hương, Khúc hát thương binh... lại là một gặp gỡ đầm ấm, hạnh phúc trong căn nhà nằm sâu trong một con ngõ của phố cổ Hàng Bạc, Hà Nội.

Nhạc sĩ Hoàng Giác và vợ năm 2017 - Ảnh: Nguyễn Trương Quý

Cảm nhận của tôi, tối thiểu cũng đã không sai trước nụ cười, vẻ rạng rỡ, nét sang cả, phong cách khuê các không bị thời gian ác độc lấy đi khỏi gương mặt, giọng nói của bà Kim Châu.

Người phụ nữ hoa khôi, nổi tiếng một thời của Hà Thành. Người bạn đời như một chiếc phao cưu mang nhạc sĩ Hoàng Giác trên dưới sáu mươi năm. Người đàn bà hương sắc một thời, đã mở rộng vòng tay đón tôi. Bà Kim Châu thương yêu cầm tay, dắt tôi bước vào cái khoảng không gian có phần khiêm tốn, thanh bạch, nhưng không kém phần đầm ấm của ông bà.

Bà reo vui giới thiệu tôi với nhạc sĩ Hoàng Giác. Bà nói với ông về tôi, như thể tôi là đứa cháu được bà thương yêu nhất, lâu ngày mới gặp lại. Bà chỉ tôi ngồi xuống chiếc ghế cách nhạc sĩ Hoàng Giác một chiếc bàn nước nhỏ. Nụ cười đôn hậu, an bình của tác giả Ngày về gửi sang tôi niềm hân hoan bồng bềnh. Nhưng giữa những chân tóc đã bạc của ông, tôi vẫn thấy lấp ló đâu đó, ít nhiều nhẫn nhịn, chịu đựng.

Nhạc sĩ Hoàng Giác (1924 - 2017). Ảnh: Nguyễn Khánh

Tôi đặt bàn tay nhỏ bé, run rẩy của mình lên bàn tay tài hoa của ông, nghe được những đợt hơi ấm, từ trái tim ông, ân cần chuyền qua tôi. Không một khoảng cách. Tuy nhiên, nếu không có sự đon đả, cởi mở đầy tình thân của bà, chắc tôi không biết nên mở lời, nên nói với ông điều gì. Tôi chợt nhớ tới điều mẹ tôi thường nhắc nhở: “Chẳng phải khi không một người phụ nữ bỗng trở thành bà Văn Cao, bà Huy Cận...”.

Tôi tiếc mẹ không ở bên cạnh tôi lúc này, khi bà Hoàng Giác mang cuốn album lưu giữ từng bản nhạc của Hoàng Giác, kèm theo ảnh chân dung những người con gái được coi là linh hồn hay nguồn gốc của những tình khúc nổi tiếng của ông.

Bà Hoàng Giác thân ái chỉ tôi thấy từng người. Kể vanh vách từng tên tuổi, thành tích “kẻ thù” của bà, bằng giọng ngân nga tự tin. Thế nhưng, bà vẫn không che giấu được ít nhiều biếm nhẽ khi tôi chỉ bức hình người con gái rất đẹp, đi kèm bản nhạc Mơ hoa, tôi những tưởng đó là chân dung thời thiếu nữ của bà.

Đâu ngờ, bà lắc đầu, cười bao dung, buông gọn: “Bà làm gì mà tân thời được đến thế, con!”. Tôi nhìn qua ông, đã bước qua tuổi 80 nhưng nét phong nhã của một nghệ sĩ đất Thăng Long vẫn còn lưu luyến. Ông nhìn lại tôi, với nụ cười hóm hỉnh, gục gặc đầu nửa như xác nhận, nửa như xấu hổ…

Nói về cuộc hôn nhân mà định mệnh (rất hiếm khi rộng lượng) đã gõ và mở lớn cánh cửa ước mơ thầm kín của mình, bà Kim Châu kể, trước ngày toàn quốc kháng chiến, năm 1945, theo ghi nhận của một một số người cùng thời, thì bà được coi là hoa khôi đường Quán Thánh.

Sinh trưởng trong một gia đình nho phong nề nếp, sắc đẹp của bà không chỉ là đề tài trên môi của nhiều tài tử, giai nhân, bà còn là niềm mơ ước thầm kín của rất nhiều chàng trai Hà Thành. Nhưng những người này đâu biết rằng, chỉ sau một vài lần theo cha mẹ tham dự mấy buổi trình diễn nhạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội, trái tim thanh khiết của cô hoa khôi đường Quán Thánh đã thầm trao gửi cho tiếng hát, tiếng đàn của người nhạc sĩ trẻ tuổi mang tên Hoàng Giác.

Điều nên nhấn mạnh ở đây là, không chỉ những người theo đuổi bà, mà ngay người nhạc sĩ trẻ tuổi mang tên Hoàng Giác, cũng không hề hay biết trái tim nàng Kim Châu đã ký thác cho ông, như một ước nguyền trăm năm, bất biến. Bà kể, có thể khi ấy, tác giả Ngày về vẫn chưa ra khỏi giấc mơ đầu đời, bất hạnh. “Ông vẫn còn mụ người vì cái cô hàng xóm, đã lấy chồng, người khiến ông viết bài Mơ hoa con à!...”, bà cười kể.

Tới đây, không một chút ý hướng bênh vực nào hết, tôi trộm nghĩ, nếu không có giấc mơ bẽ bàng kia, liệu nền tân nhạc Việt Nam, giai đoạn mở đường, có thể có một Hoàng Giác, nhạc sĩ mà tài năng được thực chứng ngay tự ca khúc đầu tay? Một tác phẩm nằm trong dòng lãng mạn, nhưng không quá sướt mướt, bi lụy, như đa số những ca khúc tiền chiến, mở đường: “Tan giấc mơ hoa / bóng người khuất xa / đôi đường từ đây / ai bước đi không hẹn ngày...”
 
Các bản nhạc của Hoàng Giác ấn hành những năm 1948-1954 - Ảnh: Nguyễn Trương Quý

Biết đâu, chính cái tâm sự “bên đèn một bóng / tháng ngày chờ mong” của nhạc sĩ Hoàng Giác, đã chẳng khiến nàng Kim Châu nhận ra tính thủy chung của tác giả. Nên chi, khi Hoàng Giác cất tiếng hát, ông đã vô tình làm thành một giấc “Mơ hoa” khác, âm thầm thắp sáng trái tim thiếu nữ chớm biết tương tư của nàng Kim Châu?

Bà Kim Châu kể rất thành thật rằng, giống như thần may mắn đã mỉm cười với giấc Mơ hoa thầm kín của bà, khi song thân tác giả Ngày về nhờ người mai mối bà cho con trai của họ. Lúc đó, nhạc sĩ Hoàng Giác đã 28 tuổi. “Con có biết đàn ông con trai thời đó, 28 tuổi mà vẫn chưa vợ thì kể như là trai già rồi đấy!” - bà Hoàng Giác dí dỏm.

Trở lại với “tình sử” của mình, bà Hoàng Giác tiết lộ, trong gặp gỡ đầu tiên kia, chỉ riêng bà biết, định mệnh đã nghe được lời khẩn nguyện tha thiết của bà. Trong khi tác giả Mơ hoa lại tự hỏi, ông ngủ mơ chăng khi nàng Kim Châu nhận lời cầu hôn của ông? Tới giờ chót, ông vẫn còn hồi hộp, lo lắng.

Bà Hoàng Giác nói, sở dĩ có chuyện ông “hồi hộp, lo lắng” vì ngay khi có tin “Hoàng Giác cầu hôn Kim Châu” dư luận Hà thành đã xôn xao, bàn tán. Rất nhiều người bằng nhiều hình thức khác nhau, lên tiếng cảnh cáo, can ngăn bố mẹ bà không nên gả con gái cho một anh chàng nhạc sĩ “nghèo rớt mồng tơi”, nhưng bà quyết liệt cho thấy, nếu không phải là Hoàng Giác thì bà sẽ không lấy bất cứ một người đàn ông nào khác, dù giàu có, hoặc địa vị tới đâu.

Chuyện tình đẹp của nhạc sĩ trẻ Hoàng Giác với hoa khôi Kim Châu từng gây xôn xao Hà thành. Ảnh: TLHG

Để kết luận chuyện tình đẹp của mình, bà bảo: “Lúc đám cưới diễn ra, bà vừa đúng 19 tuổi con à!”.

Rồi bà quay lại khúc phim gia đình ly tán. Đó là thời gian toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Hà Nội sơ tán. Nhạc sĩ Hoàng Giác tham gia đoàn Tuyên truyền xung phong. Trong lần được phép về thăm vợ con (khi đó đã tản cư tới Phúc Yên) để đánh dấu ngày gặp lại, Hoàng Giác viết Ngày về. Một Ngày về ngợi ca tình yêu. Một Ngày về đơm hoa cho quá khứ đã tan nát... Một Ngày về mà, “tổ ấm” đôi lứa, cũng là Tổ quốc - người yêu trong ca khúc, cũng là quê hương: “Tung cánh chim tìm về tổ ấm / Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm / nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi / luyến tiếc bao nhiêu ngày xanh”…

Bà Hoàng Giác còn kể cho tôi nghe cái tai nạn bất ngờ mà ca khúc Ngày về mang lại. Đúng hơn, đó là cơn bão khủng khiếp đã úp chụp xuống gia đình bà. Bà nói, vào khoảng giữa thập niên 1960, miền Nam Việt Nam dùng ca khúc Ngày về của nhạc sĩ Hoàng Giác làm nhạc hiệu cho chương trình phát thanh chiêu hồi. Thảm họa trên trời giáng xuống cả gia đình, đã biến bà từ vai trò một người vợ yếu đuối, thành người lo toan chuyện cơm áo, chạy vạy nuôi cả gia đình.


Bà Hoàng Giác kể, trong suốt thời gian đằng đẵng ấy, đã có không biết bao đêm thức trắng, cúi xuống chiếc máy may cũ kỹ, cầm lên những que đan sờn tróc để may vá, đan thuê cho người. Thời gian ấy, để cứu sống chồng con, bà cũng không từ bất cứ công việc gì, kể cả những việc chỉ đem lại cho bà một lợi tức bèo bọt...

Kết luận về thời gian bi thương nhất của cuộc đời mình, với nụ cười hãnh diện, bà Hoàng Giác nói: “Thời gian đó, cũng là thời gian bà rất hạnh phúc, con à. Bà cảm thấy hạnh phúc không chỉ vì chia sẻ được hoạn nạn, khó khăn với chồng con, mà còn vì bà từng bắt gặp ông che mặt khóc, khi thấy bà quá cơ cực. Với bà, chừng đó, đã là một đền bù đáng kể rồi, con à...”.

Bà không nói, nhưng tôi biết, biết rất rõ, bà còn được trời đất đền bù cho bà những người con thành đạt. Mà trong số những người con đó, có thể kể nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, một tài hoa của Hà thành hôm nay.

“Tung cánh chim tìm về tổ ấm...”- chỉ mấy ca từ đơn giản vậy thôi, mà mỗi giây, âm vang một khuếch đại trong tôi, như những dòng thác ầm ầm đập dội bốn vách tường ký ức.
Hoàng Giác sinh năm 1924, quê gốc ở làng Chèm, nay thuộc phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Cha của Hoàng Giác là một người chơi đàn bầu rất hay nhưng lại ham mê quyền Anh, từng giữ chức chủ tịch Liên đoàn Quyền Anh Bắc kỳ.                                                                                                                                                             
Bản thân Hoàng Giác cũng là người say mê thể thao. Thuở nhỏ, ông học trường Bưởi. Từ khi còn là học sinh, ông đã tìm tòi học hỏi nhạc theo các tài liệu sáng tác cũng như hòa thanh của Pháp. Năm 1945 ông viết ca khúc đầu tay Mơ hoa. Hoàng Giác chuyên sử dụng nhạc cụ là Hạ Uy cầm và từng nhiều năm làm giảng viên ghi-ta tại Trường Sư phạm Nhạc - Họa Trung ương và Trường Âm nhạc dân lập.                                                                                                                                     
Hoàng Giác sáng tác không nhiều, chỉ khoảng 20 ca khúc. Trong số đó, có những bài hát nổi tiếng và vượt thời gian như Mơ hoa, Ngày về, Lỡ cung đàn...                                                                                               
Hoàng Giác lập gia đình với bà Kim Châu vào năm 1951. Ngày 14.9.2017, ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội do tuổi cao sức yếu, hưởng thọ 94 tuổi.
Orchid Lâm Quỳnh
Nguồn: Người Đô Thị Online



XEM TƯỚNG KHÔNG TỐT, SỐ KHÔNG TỐT, PHONG THỦY KHÔNG TỐT SAO VẪN GIÀU CÓ?

Ba vị thầy coi xem ông chủ này thấy rằng tướng không tốt, số không tốt, phong thủy cũng không tốt, nhưng vẫn là một người giàu có. Cuối cùng thì mới hiểu ra, chính là nhờ một chữ này!


Từ xưa con người rất coi trọng các vị thầy “xem tướng”, “coi số”, “phong thủy”. Những người này được gọi là thầy sau thầy giáo, thầy thuốc, thầy tu, thầy chùa… Trong số ấy có những vị học rộng tài cao, rất uyên bác, “trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”. Các vị này sống đạm bạc, khiêm tốn, cuốc đất trồng rau, dạy học… Nếu có ai cần họ tư vấn các vấn đề về Đông phương học, họ sẵn sàng hướng dẫn tìm cát tránh hung; hoàn toàn miễn phí, không sống bằng nghề thầy bói.

Tuy nhiên, ngày nay “xem bói” đã trở thành một nghề trong xã hội và có cạnh tranh. Những thầy bà này nói xấu nhau, cãi vã nhau… Để không kém người khác, họ đã tự phong làm “Phong Thủy đại sư” . Đi bói dạo kiếm tiền khắp hang cùng ngõ hẻm, thực tài thì ít, giả tài lại nhiều, làm mất đi những tinh hoa của Đông Phương học.

Có một câu chuyện xưa trong dân gian truyền lại như sau. Ngày ấy, có ba ông thầy, mỗi ông chuyên sâu một môn: thầy xem Tướng, thầy tính Số, thầy xem về địa lý phong thủy. Ba thầy hợp lại đi chu du khắp nơi. Với họ không phải chỉ là kiếm tiền mà chủ tâm vào nghiên cứu học hỏi.

Buổi chiều nọ, các thầy đến một nông trại, cả ba muốn tá túc nơi đây qua đêm. Thầy Tướng đi tiên phong, ánh hoàng hôn làm thầy Tướng phấn kích.

Thầy bước tới cổng thấy một người đàn ông oai vệ, thầy cất tiếng: “Xin chào ông chủ, ba chúng tôi lỡ đường xin được nghỉ tại điền trang đêm nay”.

Người đàn ông chắp tay nói: “Dạ thưa, ông chủ ở trong kia, tôi chỉ là người gác cổng. Mời ba ngài vào tệ xá”.


Trên đường đi, thầy Tướng không khỏi phân vân. Khi vào phòng khách, chủ nhà chào đón rất chân tình. Chủ nhà sai người dâng trà, sau đó làm bữa cơm thịnh soạn thiết đãi. Trong khi ăn, thầy Số hỏi chủ nhà về gia cảnh và xin cho biết Bát Tự (can và chi của giờ, ngày, tháng, năm, sinh, là 8 chữ) của ông. Chủ nhà hoan hỷ phúc đáp từng ý của thầy. Ba thầy được nghỉ đêm trong một phòng khách bài trí hài hòa, đồ đạc giản dị, gọn gàng ngăn nắp.

Trước khi ngủ, thầy Tướng cho biết: “Thiên hiệp hề tiện yểu túc ác. Nghĩa là trán hẹp, lệch, tướng yểu, nghèo khổ. Ngũ quan phá tướng chẳng tốt”.

Thầy Số cho hay: “Ông này Mệnh Triệt, thân Tuần. Ba cung tam hợp Mệnh, Tài, Quan không tốt, có song Hao cư tại Phúc Tài là không giữ được tiền của. Chỉ được cung Phúc tại Tuất có sao Thái âm, cung xung chiếu tại Thìn có sao Thái dương là hai sao cư Đắc cách. Như thế Tướng không tốt, số chẳng lành. Tại sao giàu có làm ông chủ? Người có tướng làm ông chủ lại là người canh cổng kia??? Phải chăng nhờ mồ mả ông bà được táng nơi âm trạch tốt Đại phát? Sáng mai xin chủ nhà dẫn đi xem Âm trạch ra sao”.

Ba thầy nằm thao thức mong trời mau sáng.

Sáng hôm sau, ba thầy dùng trà, ăn sáng. Sau đó đích thân chủ nhà dẫn ba thầy đi đến nơi an táng ông bà, cha mẹ. Đường đi vòng vèo khá xa mới tới khu mộ được táng, nơi này có suối chảy qua.

Thầy Địa lắc đầu: “Đây là nơi thủy xuất, chẳng tụ, có thể nói là không đẹp. Long hổ dữ thủy thuận, gia trung tài dụng tận”.

Sau đó mọi người ra về, khi về thì đường rất gần, chẳng vòng vèo như lúc đi.

Ba thầy hỏi: “Sao khi đi ông không đi đường này mà đi vòng chi cho xa?”.


Ông chủ nhà từ tốn đáp: “Khi dẫn ba thầy ra ngoài cổng tôi thấy hai mẹ con người nông phu đang cắt trộm lúa của tôi. Nếu tôi đi qua đó họ sẽ bỏ lúa mà chạy. Tôi cũng chẳng xuống ruộng lấy lại lúa, chuột sẽ ăn, họ lại bị đói nên mới làm vậy!”

Cả ba thầy đều đồng thanh:
“Ồ, vậy ngài được chữ ĐỨC, chính ĐỨC đã thay đổi vận mệnh của ngài. Đức minh minh chi chung”.
Nguồn: tuvisomenh.com

Wednesday, September 4, 2019

NHỮNG CHIẾC "MẶT NẠ THỜI GIAN"

"Mặt nạ thời gian" là một cụm từ mà tôi mới được nghe khi xem chương trình "Người Bí Ẩn mùa 6 - Tập 16" tối nay. Lúc bắt đầu tôi cứ nghĩ loại mặt nạ này thường thấy ở các nước Đông Nam Á như Nhật Bản, Trung Quốc,...nhất là loại mặt nạ trong loại hoạt hình ngệ thuật ở Thành Đô Trung Quốc nhưng sau khi xem xong tôi mới thấy nó thật sự là một nghệ thuật độc đáo của riêng Việt Nam mà cho đến bây giờ mới biết. Mỗi một chiếc" mặt nạ thời gian" là một câu chuyện mà nghệ nhân đã để vào trong đó và chắc chắn là không có chiếc thứ hai.


Tôi lên mạng tìm được một bài viết giới thiệu về nghệ nhân này, ông Bùi Quý Phong, xin chia sẻ cùng các bạn và có kèm theo clip ngắn của "Người Bí Ẩn" (LKH).


Mê mẩn với những chiếc 'mặt nạ thời gian'

Đến Hội An, hỏi về mặt nạ giấy bồi hẳn ai cũng sẽ nhắc tới tên ông Bùi Quý Phong (62 tuổi), một người đàn ông dành cả trái tim vào những chiếc mặt nạ giấy bồi truyền thống.

Số 66 Bạch Đằng, phố cổ Hội An đã trở thành một không gian đầy màu sắc dưới bàn tay trang trí của ông Phong.

Ông Phong cho biết, làm mặt nạ trải qua rất nhiều công đoạn. Ban đầu là đắp mặt nạ bằng giấy trên các khuôn có sẵn, việc đắp giấy đòi hỏi người đắp phải có bàn tay khéo léo, đắp sao cho đều, mịn, tránh “gồ ghề” sẽ ảnh hưởng đến thần thái của mặt nạ sau này.Viền mặt nạ được làm bằng dây mây hoặc tre.


Tính từ lúc đắp mặt nạ cho đến khi vẽ xong, một mặt nạ hoàn chỉnh phải cần đến 2 ngày để thực hiện.

Phong cách nghệ thuật mặt nạ của ông Phong rất đa dạng. Từ mặt nạ tuồng, mặt nạ truyền thống, cho đến những phong cách mới được ông học theo những họa sĩ nổi tiếng trên thế giới.

Năm 2016, cửa hàng “Mặt nạ thời gian” của ông chính thức đi vào hoạt động, không gian nghệ thuật mặt nạ này thu hút rất nhiều du khách đến tham quan. Nếu muốn, du khách sẽ được ông Phong hướng dẫn vẽ mặt nạ và sản phẩm đó, sẽ là món quà lưu niệm ấn tượng cho chính du khách vừa vẽ xong.

Là một người yêu nghệ thuật tuồng, yêu cái đẹp truyền thống, ông Phong rất tâm tư về những giá trị văn hóa dân gian đang dần bị mai một. Nhiều lần con cháu khuyên ông chuyển sang làm nghề khác đỡ vất vả hơn nhưng ông nhất quyết gắn bó với những chiếc mặt nạ của mình để có thể quảng bá những giá trị truyền thống đến với khách du lịch ở Hội An.

Ông tâm sự: “Nếu tôi làm mặt nạ bằng nhựa, sẽ nhanh hơn và tiện hơn rất nhiều, lại tiết kiệm được nhiều công sức lao động và tiền nguyên liệu, chiếc mặt nạ cũng bóng hơn và đẹp hơn…”

Tuy nhiên, ông đã quyết định lựa chọn giấy làm nguyên liệu chính cho những chiếc mặt nạ, bởi nó là nguyên liệu truyền thống của dân tộc, lại thân thiện với môi trường.

Vũ Thế Sơn