Wednesday, April 3, 2024

CHUYỆN CHƯA KỂ VỀ TUẦN TRĂNG MẬT TẠI VIỆT NAM CỦA "VUA HỀ SÁC-LÔ"

Tối nay xem lại chương trình đặc biệt kỷ niệm 28 năm phát sóng "Ai là Triệu phú" với người chơi là diễn viên Mạnh Trường. Anh chơi rất hay nhưng cũng phải dừng lại ở câu hỏi số 12, một câu hỏi ít ai biết đến. (LKH)


Ít ai ngờ rằng "Vua hề Sác-lô" từng có tuần trăng mật mặn nồng với người vợ thứ 3 tại Huế và Hà Nội.

Người ta gọi Vua hề Sác-lô (Charlie Chaplin) là kẻ chọc cười cả thế giới. Mỹ từ bóng bẩy này có vẻ không hề quá bởi những gì mà Chaplin cống hiến cho cuộc đời này.

Charlie Chaplin nổi tiếng, Chaplin giàu, Chaplin đào hoa... những điều này chẳng ai có thể bàn cãi.

Khi Chaplin 26 tuổi, ông đã trở thành người nổi tiếng nhất nhì thế giới. Hiếm có ngôi sao nào thời ấy có thu nhập 670.000 USD mỗi năm như Chaplin.

Ngày ấy người ta còn kháo nhau rằng nhiều người sống ở Châu Phi, Châu Á chỉ biết nói duy nhất 1 từ tiếng Anh và từ đó là: Charlee!. Còn chuyện đào hoa của Chaplin, mỗi khi có dịp nói về chuyện tình yêu, ông đều hồ hởi khoe rằng từng qua lại với tận... 200.000 cô gái.

Một trong số những chuyện tình lấy nhiều giấy mực của báo chí chính là mối tình của ông và người vợ thứ 3 - cô đào nổi tiếng nhất nhì Hollywood - Paulette Goddard.

Chuyến du lịch ngoài dự kiến

Chaplin và Paulette Goddard trong Modern Times.

Chaplin bắt đầu bị cô gái xinh đẹp có tên là Paulette Goddard cướp mất trái tim vào tháng 7/1932. Dù chuyện tình yêu này từng được báo chí đặt cho những cái tên đầy toan tính thế nào đi chăng nữa thì nó vẫn là một đoạn tình khó quên trong cuộc đời Chaplin.

Cả hai hẹn hò bí mật và Chaplin làm mọi cách để bạn gái trở nên nổi tiếng. Chaplin không ngại ngần giao cho cô vai chính trong phim Modern Times (1936).

Khoảng cách 22 tuổi có vẻ như không làm vua hề cảm thấy phiền lòng.

Sau một thời gian hẹn hò bí mật, Paulette Goddard chính thức dọn về ở chung với Chaplin tại biệt thự sang trọng tại Beverly Hills.


Cả hai đã lên một kế hoạch cho chuyến đi kỷ niệm tình yêu từ Mỹ tới Honolulu. Tuy nhiên, trên đường đi, cặp đôi bỗng dưng muốn thay đổi kế hoạch. Chaplin quyết định cả hai sẽ khám phá Châu Á với quốc gia đầu tiên là Nhật Bản và tiếp theo là Trung Quốc.

Cả hai đã chọn Thượng Hải làm nơi tổ chức đám cưới bí mật và đặc biệt chọn Việt Nam để hưởng tuần trăng mật.

Tuần trăng mật tại Việt Nam

Hình ảnh trong chuyến du lịch của Chaplin và vợ.

Sau khi rời Quảng Đông, Chaplin cùng vợ đặt chân tới Huế và chọn khách sạn Saigon Morin Huế làm nơi nghỉ chân.

Việc Chaplin lựa chọn Saigon Morin Huế cũng không có gì là lạ lẫm bởi thời bấy giờ đây là khách sạn đẹp nhất của Huế. Trong khách sạn 4 sao sang trọng này còn có chứa cả 1 rạp phim.


Với 4 mặt tiền, Saigon Morin Huế là nơi dừng chân của rất nhiều ngôi sao điện ảnh, chính khách nổi tiếng.

Đến Saigon Morin Huế, Chaplin yêu cầu được ở phòng sang trọng nhất ở đây. Cuối cùng, sau vài lựa chọn, Chaplin quyết định ở phòng ngay trên tầng 2 - tầng cao nhất của khách sạn.

Căn phòng này được trang bị những thiết bị tân tiến nhất của thời ấy như quạt trần, điện thoại quay số mang phong cách Pháp, máy nghe nhạc bằng đĩa than cao cấp, bồn tắm bằng đồng...

Đặc biệt, căn phòng này có thể giúp Chaplin nhìn xuống sông Hương, cầu Trường Tiền và phố Lê Lợi rợp bóng cây.

Bức ảnh hiếm hoi tại Huế của Chaplin và vợ.

Theo nhiều tài liệu kể lại thì để đảm bảo an toàn, trước cửa phòng khách sạn của Chaplin luôn có sự xuất hiện của những võ sĩ người Nhật Bản to cao lực lưỡng làm nhiệm vụ vệ sĩ. Khi ông và vợ đi dạo những tay vệ sĩ này cũng thường đi sát ngăn fan hâm mộ tiếp cận.

Cũng có giai thoại kể lại rằng khi đến Huế, Paulette rất thích xoài xanh và măng cụt. Chính vì thế, cô đã nhờ người lùng sục khắp thành phố Huế để mua 2 món này. Tiếc rằng thời điểm Paulett tới Huế thì những thứ hoa quả này lại chưa tới mùa.

Trong thời gian ở Huế, Chaplin và vợ dành thời gian ghé thăm biển Thuận An và các lăng tẩm đền đài tại đây.

Hiện tại, căn phòng mà Chaplin nghỉ tại Huế vẫn được khách sạn cố gắng giữ lại mọi thứ nguyên dạng như đánh dấu những ngày ông từng ở đây.Trong gian phòng, khách sạn đã đặt tại đây khá nhiều tranh ảnh, sách về tiểu sử cũng như các tác phẩm của ông.

Bức ảnh hiếm hoi chụp tại Huế của vợ chồng Chaplin cũng được đặt trong căn phòng này.


Sau thời gian ghé thăm Huế, Chaplin và vợ ra Hà Nội và nghỉ tại khách sạn Metropole. Theo nhiều tài liệu ghi lại thì việc Chaplin chọn Metropole làm nơi nghỉ ngơi là do khách sạn này mang đậm hơi hướng Châu Âu và cũng là khách sạn sang trọng nhất nhì thời ấy của Hà Nội.

Metropole có 2 mặt tiền trông ra hai con phố Ngô Quyền và Lý Thái Tổ. Đây cũng được xem là 2 con phố đầy màu sắc và phong cách của thủ đô Hà Nội. Căn phòng mà Chaplin và Paulette Goddard nghỉ là phòng hạng sạng thuộc tầng 3 tại Metropole.

Được biết, căn phòng sang trọng này của Chaplin rộng khoảng tầm 50m vuông, căn phòng thường dành cho các cặp tình nhân.

Toàn bộ cách bài trí trong căn phòng theo phong cách Pháp từ màu sơn mang gam trầm của màu kem kết hợp màu vàng và nâu cánh gián tới những vật dụng như sô pha, máy nghe đĩa hát, điện thoại, bồn tắm...

Trải qua nhiều năm, căn phòng đã được thay thế bằng những vật dụng hiện đại nhưng về phong cách chủ đạo vẫn mang hơi hướng Pháp cổ xưa thâm trầm và cổ kính.


Đặc biệt, khách sạn vẫn cố gắng giữ lại những chi tiết đặc biệt nhất từ hồi Chaplin còn nghỉ tại đây như màu tường và những vật dụng cơ bản.

Ngày nay, trong căn phòng mà Chaplin từng ở được treo khá nhiều tranh ảnh liên quan tới ông. Trong phòng cũng được bài trí khá nhiều tài liệu, sách vợ liên quan tới cuộc đời của "kẻ chọc cười cả thế giới".

Hiện tại, căn phòng mà Chaplin từng nghỉ tại Metropole được đặt tên Charlie Chaplin như để kỷ niệm chuyến du lịch đặc biệt của ông tới Hà Nội.

Trong một số bài báo viết về Chaplin của Pháp có kể lại rằng trong chuyến trăng mật của ông tại Hà Nội, hoạt động mà ông yêu thích nhất là khoác tay vợ đi dạo quanh vườn hoa con cóc gần khách sạn.

Pa Dun / Theo: Tri Thức Trẻ

NINH HÒA MÓN NEM NGÀY XA LẮC

Hồi xưa, thường hay từ Vạn Giã đi Nha Trang, rồi về cùng với thằng bạn tên Hưng. Thuở ấy, làm hợp tác xã nông nghiệp, mỗi ngày công có một ký lúa. Làm gì có tiền đi Nha Trang? Thằng Hưng hồi đó làm kế toán trưởng HTX. Nó vừa có xe gắn máy SS50 đời 67, vừa có tiền đổ xăng, vừa có tiền xài trong chuyến đi.


Đi Nha Trang về lúc nào cũng chạy ngang chợ Ninh Hòa. Lúc nào cũng là buổi chiều. Lúc nào cũng ghé hàng cô bán nem trước chợ. Tiền nem lúc nào cũng do thằng Hưng trả. Nem thời khốn khổ đó ngon thật. Nếu như về mặt đo đếm khoa học, nem ngày ấy ngon bằng bây giờ, thì về mặt tâm lý nem ngày ấy ngon hơn.

Nem Ninh Hòa gói bằng lá chùm ruột.
Nhớ những chiếc ghế thấp của cô hàng nem. Sà xuống ghế là phải ăn món nem nướng cái đã. Nhìn mấy xiên thịt nướng trên bếp khói nghi ngút, tiếng kêu xèo xèo của mỡ tứa ra rớt xuống lửa, là nước miếng đã phải nuốt ừng ực. Dễ gì có tiền để ăn được thịt heo, nói chi nem nướng. Xiên nem được cô bán hàng cắt ra từng miếng nhỏ. Bánh tráng ướt cuốn nào nem, rau sống các thứ: xà lách, chuối chát, khế chua, dưa leo, tía tô, diếp cá, hẹ, kèm thêm hai cái bánh tráng cuốn ram nhỏ nữa, là cả một vũ trụ hương và vị chất chứa. Tuyệt vời hơn cả là món nước chấm của người Ninh Hòa tạo ra.


Nước chấm nem Ninh Hòa lại là một vũ trụ hương vị khác. Nó gồm nếp nấu nhừ, trộn với nước xương heo, đậu phộng, tôm, gan heo, hành băm, nước tương, nước mắm, ớt, dầu điều. Chấm ngập một phần cuốn bánh tráng vào chén nước tương sền sệt đó nó ngon không biết tả làm sao cho xứng đáng. Cho người khác đồng cảm.


Tôi chợt nghĩ đến những lời ông Tyler Cowen khen món ăn Việt Nam ở Mỹ trong chương 6 cuốn An Economist Gets Lunch 1 (tạm dịch: Một nhà kinh tế ăn uống). Ông rút ra cấu trúc món ăn Việt Nam luôn luôn gồm gia vị, đồ bổi và nước chấm. Giá mà ông có cơ hội ăn được món nem nướng Ninh Hòa, ông còn đại ngộ hơn! Hai vũ trụ cuộn và chấm đó còn hội đủ các loại kết cấu tác động lên khẩu cảm của ta. Cái dai sần sật của thịt, cái giòn giòn của bánh ram, cái xơ mềm của rau sống, cái sền sệt của nước chấm.


Những người ca ngợi món nem này thường trưng ra hai câu: “Mây Hòn Hèo, heo Đất Đỏ” trong một bộ sáu câu tục ngữ tả về những thứ đặc trưng của sáu địa phương; một của Phú Yên và năm của Khánh Hòa. Ngoài hai câu trên còn có: “Mưa Đồng Cọ, Gió Tu Bông, Cọp Ổ Gà. Ma Đồng Lớn.”

Hòn Hèo là một bán đảo ở phía nam đầm Nha Phu, thị xã Ninh Hòa. Nơi đây nổi tiếng nhiều dây mây rừng. Đất Đỏ còn gọi là núi Xích Thổ, “theo thực địa thì nằm ở phía tây vùng Dục Mỹ, liên tiếp với núi Tam Phong về phía tây bắc”, Ngô Văn Ban ghi nhận 2. Tác giả không nhắc đến chất lượng heo nuôi ở Đất Đỏ khi đi thực địa. Cho nên câu dẫn ở trên để nói đến chất lượng thịt heo làm nem là không chính xác. Heo Đất Đỏ là muốn chỉ đến vùng núi có nhiều heo rừng.


Đồng Cọ thuộc TP. Tuy Hòa, Phú Yên, nổi tiếng vì hay mưa đột ngột. Tu Bông thuộc huyện Vạn Ninh, một nơi đến mùa gió, gió suốt cả tháng, sức gió có thể đẩy cả xe Jeep chạy trên đường dạt xuống ruộng. Ổ Gà thuộc huyện Ninh Hòa, ngày xưa cọp nhiều. Ở đây hiện còn có miếu thờ Ông Hổ. Đồng Lớn thuộc xã Diên Khánh, nơi diễn ra chiến tranh liên tục giữa Gia Long và Tây Sơn, nhiều người chết, uất khí nặng nề một thuở.


Nói không phải là heo Đất Đỏ, nhưng để có nem ngon nổi tiếng cả nước, người làm nem Ninh Hòa cũng phải chọn thịt từ con heo. Chỉ lấy thịt đùi và thịt sống lưng. Thịt phải lọc hết gân và mỡ để có miếng nem giòn và khô ráo. Theo Ngô Văn Ban, thịt được giã trong chiếc cối chuyên dùng. Giã liên tục cho đến lúc thịt có màu trăng trắng mới thôi. Lại còn phải rành kỹ thuật, lúc “giã nặng”, lúc “giã nhẹ”. Bì heo cũng lấy từ con lợn cho thịt. Làm sạch, cạo thật sạch lông, luộc rồi xắt sợi thật đều. Tỷ lệ thịt giã xong trộn với bì tùy theo lò.


Trong món nem nướng Ninh Hòa có bánh tráng cuốn và bánh tráng ram giòn để cuốn cùng với rau và nem. Bánh tráng được sản xuất tại Xóm Rượu. Xóm này thuộc phường Ninh Hiệp, trước kia có lò nấu rượu, nhiều lò bánh tráng, nhưng nó lại chết với tên Xóm Rượu.

Nem Ninh Hòa ăn tại chỗ hay tại Nha Trang thường là nem nướng. Nem Ninh Hòa đi xa là nem chua, gói bằng lá chùm ruột ở trong và ủ bằng lá chuối dày ở ngoài.


Ngoài nem nướng và nem chua, người Ninh Hòa còn có một phiên bản nem chiên mỡ. Thay vì đem nướng, nem được tráng bên ngoài một lớp mỡ cho ướt đều rồi cho vào chảo mỡ sôi, trở một lượt rồi gắp ra xắt miếng trước khi dọn ăn. Không những làm nem chiếc, các lò nem Ninh Hòa còn làm nem đòn như đòn bánh tét.

Đặc trưng của nem chua Ninh Hòa là gói bằng lá chùm ruột, loại lá chua chua, chát chát.

Một buổi chiều muộn, tôi thấy lại những lá chùm ruột ở quê nhà trong một chiếc nem.


Tôi đếm. Chiếc nem được áo bằng 41 lá chùm ruột. Chắc những bàn tay gói nem ấy sẽ không đếm lá bằng lý trí mà chỉ bằng cảm giác của kinh nghiệm nhà nghề. Bàn tay ấy còn tồn tại bao lâu?

Tôi nhớ hai cây chùm ruột bên hiên nhà, phía trước cái giếng bằng tuổi ngôi nhà cất từ năm 1960. Lúc đó phía trước nhà toàn đất cát, chỉ có trồng dừa. Mấy cây dừa trước nhà hiện còn một cây, những cây kia đã bị đường dây điện đàm Bắc Nam của Đường Sắt đưa “lên thớt” sau năm 1975. Cây còn lại cũng xơ xác vì nó “xui” sống gần đường dây, cứ tới đợt nó ra lá cao là bị đường sắt tới “xởn đầu”. Nên trái không có mấy. Trước hàng rào nhà còn có một cây me. Không ai trồng. Chắc là ai ăn me quăng hột ra, có hột mọc cây, cây lớn riết thành bóng cả, rọi mát và cho đọt nấu canh chua, cho trái tới mùa gần tết bán mão. Bây giờ cây me ấy đã bị hậu bối bán mất rồi.


Trước đây trước sân nhà còn có hàng cây chùm dẹp làm hàng rào. Bên dưới chân chùm dẹp là những cây lưỡi long – một loại xương rồng không có gai cứng – má tôi trồng để hái sắt cho heo ăn. Có lần theo chồng về quê, vợ tôi dân Sài Gòn lộn chùm dẹp với me nên đã hái đọt nêm vào nồi canh chua. Cả nhà cười ngất. Chùm dẹp còn có tác dụng nữa là hột trong trái của nó xổ lãi cho heo. Tên chùm dẹp có lẽ do trái ra từng chùm, dài và dẹp lép. Gần đây tôi nghe có người mách là lá và bông của nó nấu nước uống dài ngày trị được bịnh phổi đã bị thầy chạy. Thôi thì cũng hê lên làm phước. Bây giờ những cây làm hàng rào ấy đã được thay bằng hàng rào sắt và hàng rào lưới B40. Hiện đại chủ nghĩa đã giết mất những ngày xưa thân ái.

Hai cây chùm ruột có lẽ do nắng nóng, không có người chăm tưới giờ đây đã chết mất dấu. Thật lâu lắm sau đó mới gặp lại những cây chùm ruột ở trong vườn một căn nhà ở Bangkok. Và chiều nay, gặp lại lá chùm ruột, thời gian cách lần trước cũng lâu lắm…

oOo


Còn nhớ ngày xưa, thời còn ở trong trại gia binh Đồng Đế, Nha Trang, sau nhà cũng có một cây chùm ruột. Mỗi lần chợ có cá mai, cá suốt hoặc cá lẹp tươi, má thường hay mua về làm gỏi cho cả nhà ăn. Nhất là những kỳ ba tôi vừa lãnh lương. Trái chùm ruột được hái làm chất tạo chua để tái thịt cá làm gỏi.


Còn nhớ mỗi lần má mua cá về, tôi phụ má moi ruột cá. Ba tôi hái trái chùm ruột vào nhà bếp, ông rãi chúng lên cái sàng để trên cái mâm, dùng một vỏ chai bia con cọp lăn trên mớ trái ấy. Chúng tươm nước chua ra. Xác trái ở lại phía trên sàng. Nước chua lọt xuống mâm. Nước ấy được ông dùng để bóp cá cho tới khi những miếng thịt cá trắng như ta đem nấu trong nước sôi. Rồi chúng được trộn rau răm, rau thơm, đậu phộng rang hơi già lửa và hành tây xắt nhuyễn… Bây giờ ở Sài Gòn tôi chưa bao giờ ăn được món gỏi tươi ngon của một thời ở Đồng Đế.

Có dịp gần tết về quê cách đây mấy năm, tôi đi chợ cá buổi sáng sớm, gặp và mua một mớ cá suốt. Đem về nhà hai má con lui cui làm món gỏi nhớ ngày xưa. Cá được tái chua bằng giấm và chanh. Những cây chùm ruột đâu còn để lấy trái tạo chua. Ba cũng đã đi xa. Món gỏi làm xong, ăn mà thấy buồn và nhớ.

oOo


Những chiếc nem Ninh Hòa mặc áo lót bằng lá chùm ruột. Bên ngoài đám lá chùm ruột là một chiếc áo lá chuối hình ngũ giác có ba mặt đứng tạo thành hình tam giác cao chừng 3-4cm và hai mặt đáy nhỏ hơn. Bên ngoài chiếc áo lá chuối một lớp ấy là một sợi dây bằng lá chuối cuốn lại cột ngang bụng cái lõi nem một cách cẩn thận.

Rồi bên ngoài nữa là một lớp “mền” dày quấn quanh ba cạnh đứng của lõi nem gồm 12 lớp lá chuối.

Cuối cùng là lớp lá chuối tạo hình cho chiếc nem vẫn giữ nguyên khối năm mặt như bên trong, có điều kích thước đã lớn hơn, được cột bằng hai nuột dây thun (trước kia cột bằng lạt, đã là một phôi phai). Hai chiếc nem ghép lại thành một hình gần như lập phương.

Còn bao nhiêu lâu nữa chiếc nem quê nhà gói bằng tay công phu như thế vẫn giữ được căn cước của mình? Ruột nem đã không còn bì sợi và liệu có còn được giã bằng tay nữa không?


Từ lúc giã quết nem cho đến lúc gói xong một chiếc là cả một sinh thành gian nan. Trong khi đó chả, món đối lập với nem quê nhà đã bị cơ giới hoá từ lâu lắm rồi, và được ca ngợi như là một thành tựu của văn minh. Điều đó cũng cho thấy, giờ đây các bà “ăn đứt” các ông một cửa, theo cái điệu thành ngữ Việt bảo ông thích chả bà thích nem. Chả làm sao công phu bằng nem! Nhất là bây giờ chả được tạo cảm giác dai giòn bằng hoá chất.

Lá chùm ruột chỉ nhỉnh một chút chua, còn lại là chát, được dùng hãm chua cho chiếc nem Ninh Hòa, thay vì dùng bao nylon như nem trong Nam. Cộng với nhiệt độ được giữ bên trong mười mấy lớp lá chuối tươi. Ba ngày nem mới chua.

Vài chiếc lá chùm ruột ăn với miếng nem vừa chua sau ba ngày, thế cân bằng chua chát thật vững.

Năm rồi, về lại Nha Trang, nhớ nem quê nhà. Ông chú Dũng, giám đốc một hãng thể thao biển ở Khánh Hòa, mới nói: “Nem Ninh Hoà mà ăn ở những địa chỉ nhà tour chở đến tại Nha Trang là sỉ nhục nem quê nhà.” Và ông, lúc đó, lấy xe chở đi, dù trời đã tối, đã gần 11g, ăn nem Ninh Hoà tại Ninh Hoà. Một cái quán ở ngay đầu thị xã.


Chiều này, gặp lại lá chùm ruột, bên chiếc nem quê nhà, chợt nhớ quê nhà. Dù mới từ quê trở vào đem theo xâu nem vừa đủ ngày chua. Quê nhà bây giờ, ta như một kẻ bị khai trừ. Bị xa lạ. Bị ruồng rẫy. Gặp chị vợ góa của anh Mạnh ngày xưa biết bao thân tình, chị cũng chỉ cúi mặt đi ngang. Một khoảng cách quê và thị chăng?

Quê nhà rốt cùng rồi cũng chỉ để xa thì nhớ, về thì bị khai trừ. Về lúc nào cũng hụt hẫng muốn nhanh nhanh hồi tha hương Sài Gòn. Một tha hương đầy bao dung tha thứ cho nhiều kẻ ngồi ở trong lòng nó mà chê bai, rủa nguyền những thứ Sài Gòn không bằng những thứ ngoài kia.

Ngữ Yên



5 ĐIỀU KHÓ NHẤT TRÊN ĐỜI

Mọi thứ ở đời đều là vô thường, bạn sẽ không bao giờ biết ngày mai sẽ là hoa thơm hay trái đắng...


Trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng đã phải trải qua 81 kiếp nạn khó khăn mới có được chân kinh và tu thành chính quả. Thực ra, cuộc đời con người cũng chính là quá trình vượt qua những gian nan thử thách như vậy. Vậy những điều khó nhất trong đời là gì, và làm sao để vượt qua chúng?

1. Điều khó thay đổi nhất chính là THÓI QUEN

Trong cuộc sống, không ít người có thói quen trì hoãn, lười biếng, ngủ muộn, thiếu kiên trì và bỏ cuộc giữa chừng,… Những thói quen này tuy nhỏ nhưng có thể vô tình tác động xấu tới cuộc đời của chúng ta một cách từ từ.

Tuy thay đổi thói quen là khó, nhưng không phải là không thể thực hiện được. Từ hôm nay, bạn có thể bắt đầu những bước đầu tiên trên hành trình tu sửa thói quen sống của chính mình. Nếu cảm thấy việc đọc sách quá khó, hãy thử duy trì đọc chỉ 5 trang sách đều đặn mỗi ngày. Nếu cảm thấy việc tập luyện quá khó, bạn có thể thử chạy bộ chỉ 10 phút mỗi ngày. Nếu việc dậy sớm là quá khó đối với bạn, bạn chỉ cần thử dậy sớm hơn ngày hôm trước 5 phút thôi. Những thay đổi nhỏ trong cuộc sống sẽ dần dần tạo nên thói quen, tiếp thêm năng lượng và giúp bạn hoàn thiện bản thân qua từng ngày.

Tuy thay đổi thói quen là khó, nhưng không phải là không thể thực hiện được.
 
2. Điều khó tìm nhất chính là TRI KỶ

Một số nhà khoa học đã thống kê rằng, chúng ta sẽ gặp khoảng 8.263.563 người trong cuộc đời, 3.619 người trong số đó trở thành bạn với chúng ta, 275 người rồi sẽ trở thành bạn thân, và rồi họ sẽ dần biến mất.

Bởi thế nên người xưa mới nói rằng, bạn bè nhậu thì dễ tìm, còn tri kỷ là điều hiếm thấy. Bạn có thể gặp rất nhiều người, nhưng có rất ít người thực sự hiểu bạn. Bạn tâm giao không phải là những người đi cạnh bạn trong một thời điểm nhất định, mà là sự đồng hành lâu bền của tâm hồn với sự thấu hiểu. Nếu may mắn có được tri kỷ trong đời, hãy trân quý.

3. Điều khó đoán nhất chính là TƯƠNG LAI

Mọi thứ ở đời đều là vô thường, bạn sẽ không bao giờ biết ngày mai sẽ là hoa thơm hay trái đắng. Tương lai không ai có thể đoán định trước, và cách tốt nhất để đối mặt điều đó là bình tĩnh và chấp nhận đương đầu mọi thử thách.

Tương lai không ai có thể đoán định trước, và cách tốt nhất để đối mặt điều đó là bình tĩnh và chấp nhận đương đầu mọi thử thách.

4. Điều khó làm nhất chính là HÀI LÒNG

Người hạnh phúc là người biết hài lòng với cuộc sống và cảm thấy đủ đầy trong mọi hoàn cảnh. Vào thời nhà Minh, có một người đàn ông tên Jiushao ngày nào cũng tới chùa thắp hương lễ Phật, tạ ơn trời đất đã ban thêm cho mình một ngày được sống. Bà vợ ông thấy vậy cười nói: “Ngày chỉ có 3 bữa cơm nhạt, thế mà ông cũng coi đó là phúc lộc?”.

Jiushao chậm rãi nói: “Thứ nhất, chúng ta đang ở thời đại đất nước hòa bình và thịnh vượng, không có chiến tranh. Thứ hai, chúng ta không phải lo lắng về cơm ăn, áo mặc. Thứ ba, chúng ta có sức khỏe tốt, không có bệnh gì, cũng không có lỗi lầm phải vào tù ra tội. Tại sao cuộc sống may mắn như vậy lại không được coi là phúc lộc?”.

Hẳn vậy, hài lòng mãn nguyện chính là trạng thái hạnh phúc nhất của cuộc sống. Hạnh phúc không bao giờ phụ thuộc vào những yếu tố bên ngoài, mà chỉ xuất phát từ chính trái tim của bạn. Chỉ có người biết tu dưỡng, có lòng khoan dung và hòa ái, không màng danh lợi, không so đo sân si mới có thể nắm lấy hạnh phúc.

5. Điều khó suy đoán nhất chính là LÒNG NGƯỜI

Trên đời có hai chữ khó đoán định nhất chính là lòng người. Có nhiều lúc, dù có bao nhiêu của cải, con người ta cũng khó có thể đổi lấy một tấm lòng chân thật. Trong cuộc sống, đừng dễ dàng nhận định về một con người, cũng đừng vội đánh giá quá cao vị trí của bản thân trong lòng người khác.

Bình An / Theo: Visiontimes

"NGŨ HUYỀN THUẬT" CỦA TRUNG HOA GỒM NHỮNG BỘ MÔN NÀO?

Còn rất nhiều vấn đề thú vị đằng sau "ngũ huyền thuật" của Trung Hoa cổ đại. xét theo nghĩa rộng thì đó là những tư tưởng và phương pháp do các bậc tiên triết thời xưa dựa vào cơ sở Triết học cổ đại là bộ Kinh Dịch, kết hợp với quá trình vận dụng thực tiễn lâu dài...


"Ngũ huyền thuật", xét theo nghĩa rộng thì đó là những tư tưởng và phương pháp do các bậc tiên triết thời xưa dựa vào cơ sở Triết học cổ đại là bộ Kinh Dịch, kết hợp với quá trình vận dụng thực tiễn lâu dài, đã đúc kết nên quy luật vận hành của Đạo, cùng những nguyên lý phổ biến và huyền bí trong vận mệnh của con người, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng, là tìm đến trạng thái hài hòa giữa con người với trời đất, với giới tự nhiên. Xét theo nghĩa hẹp, ngũ huyền thuật chính là những phương cách "tìm cát tránh hung, trừ tai phòng họa" để hướng đến một cuộc sống hạnh phúc và viên mãn.

SƠN (山) - SỰ TU LUYỆN THỂ XÁC VÀ TINH THẦN

Sơn, tức là các thuật tu đạo, tu luyện, dưỡng sinh, khí công, các thuật tu dưỡng thân tâm được tiến hành trên núi cao (sơn). Đây là loại hình học vấn dùng các phương pháp thực nhĩ, trúc cơ, huyền điển, quyền pháp, phù chú… để rèn luyện thể xác và tinh thần, nhằm hoàn thiện thân tâm. Thực thị là phương pháp lợi dụng các loại ẩm thực để tăng cường thể chất. Trúc cơ là phương pháp lợi dụng thiền, tĩnh toạ để khống chế tinh, khí, thần mà thăng tiến thể lực. Huyền điển là một loại phương thức lấy tư tưởng thánh hiền đạo nhân làm cơ sở tinh tiến mà đạt đến tu tâm dưỡng tính. Quyền pháp là phương pháp lấy tập luyện các loại võ thuật để tăng cường thể phách. Phù chú là một loại phương thuật thông linh, có tác dụng chủ yếu để tránh tà, trấn áp cái hung, hướng về cát tường.


Y (醫) - ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT

Y, tức y thuật, gồm các phương pháp chữa trị bệnh, cách chế tác thuốc, cách sử dụng thuốc, châm cứu, bấm huyệt, linh trị… với mục đích điều trị bệnh tật, duy trì sức khỏe.

Phương thuốc: sử dụng các loại thảo mộc, các vị thuốc hoặc các loại thuốc thành phẩm để chữa trị các bệnh, điều trị các tật, hoặc tăng cường bồi bổ sức khỏe.

Châm cứu: cách gọi chung của "châm" và "cứu". "Châm" thì dễ hiểu, là dùng vật nhọn tác động vào một vị trí nào đó trên cơ thể, còn "cứu" nghĩa là hơ nóng trên ngọn lửa. Châm cứu vận dụng nguyên lý tuần hoàn khí huyết và hệ thống kinh lạc, hệ thống huyệt vị trong cơ thể con người để kích thích các bộ phận mắc bệnh, từ đó điều hòa khí huyết về trạng thái cân bằng, tức là chữa khỏi bệnh. Gần giống với các phương pháp "vật lý trị liệu" ngày nay. Những y thuật khác tương tự là xoa bóp (mát-xa) và ấn huyệt, day huyệt. Điểm huyệt và giải huyệt lại thuộc về SƠN, mặc dù khá gần với ấn huyệt.

Linh trị: Tác động đến trạng thái tâm lý của con người nhằm chữa trị bệnh tật. Gần giống với các phương pháp "trị liệu tâm lý" ngày nay.


MỆNH (命) - THẤU TỎ VẬN MỆNH CỦA CON NGƯỜI, TÌM RA QUỸ ĐẠO ĐỜI NGƯỜI

Mệnh (hay mệnh lý), tức các thuật (các dạng học vấn) dùng để suy đoán về số mệnh và vận mệnh của con người, nhằm đạt đến mục đích tìm điều lành, tránh điều dữ (tìm cát tránh hung) để cải thiện cuộc sống. Phương pháp chủ yếu là căn cứ vào thời điểm sinh ra của chủ thể và giới tính của chủ thể, vận dụng các nguyên lý của các học thuyết âm dương, ngũ hành (cốt lõi của Kinh Dịch). Những loại hình đoán mệnh chủ yếu gồm: Bát tự Hà Lạc, Tứ trụ đoán mệnh, Tử vi Đẩu số, Thiết Bản thần số.

Bát tự Hà Lạc: dự đoán vận mệnh con người, căn cứ vào 8 chữ (bát tự) Can và Chi của năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh (và giới tính). Để xem chủ thể nhận được quẻ gì trong số 64 quẻ Văn Vương, người ta phải dùng các con số trong Hà Đồ và Lạc Thư (thực chất là các số tự nhiên từ 1 đến 10) để tính toán, cộng trừ, nhân chia. Sau đó, dùng các lời bình luận về từng quẻ của thánh nhân (thoán từ, hào từ) để suy đoán. Có sử dụng Ngũ Hành, nhưng ít hơn nhiều so với Tử vi Đẩu số.

Tứ trụ đoán mệnh: dự đoán vận mệnh con người, căn cứ vào Can Chi của năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh để nạp các nhân tố âm dương, ngũ hành, lục thần, lục sát, nạp âm vào trong đó, rồi tiến hành những phân tích về mệnh lý. "Tứ trụ" hiểu là 4 cột trụ, chính là từng cặp Can Chi kể trên.

Tử vi Đẩu số: dự đoán vận mệnh con người, căn cứ vào Can Chi của năm sinh, tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh (và giới tính). Sau đó, sắp xếp trên dưới 100 ngôi sao vào 12 cung, gồm: cung Mệnh, cung Huynh đệ (anh chị em), cung Phu thê (vợ chồng), cung Tật ách (bệnh tật), cung Thiên di (xuất ngoại), cung Nô bộc, Tài bạch (của cải), cung Điền trạch (đất đai, nhà cửa), cung Phụ mẫu (cha mẹ), cung Quan lộc (sự nghiệp), cung Phúc đức, Tử nữ (con cái). Ngoài ra, còn cung Thân - dùng để dự đoán tương lai của đời người. Cung này tương phối cùng các cung khác, chứ không có vị trí riêng. Trong đó, cung Mệnh là cung quan trọng nhất.


TƯỚNG (相) - CHỈ RA MỐI LIÊN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI

Tướng, có nghĩa là phương pháp quan sát về hình dạng bên ngoài của người, vật, sự việc, địa hình (thế đất)… từ đó rút ra kết luận về vận mệnh của con người (của chủ thể hay của con cháu họ).

Có 5 loại phổ biến là: nhân tướng (xem hình dạng, mặt mũi, vân tay…), gia tướng (xem đất xây nhà), mộ tướng (xem đất xây phần mộ), ấn tướng (xem con dấu, chữ ký), danh tướng (xem tên họ).

Nhân tướng: Quan sát hình dạng, sự cân đối, khí sắc, các đường rãnh, nếp nhăn trên mặt và bàn tay, ngón tay để suy đoán.

Gia tướng: Quan sát hình dáng, thế đất, địa hình xung quanh, phân tích cách cục của mảnh đất hay ngôi nhà để từ đó suy đoán về trạng thái cát hung cho chủ thể (cũng như cho con cháu họ) khi sinh sống trên mảnh đất hay ngôi nhà đó. Loại hình này còn gọi là phong thủy dương trạch.

Mộ tướng: Loại hình này còn gọi là phong thủy âm trạch. Quan sát hình dáng, thế đất, địa hình xung quanh, phân tích cách cục của mảnh đất xây mộ (người xưa quan niệm, đó là ngôi nhà dưới âm) an táng di hài tổ tiên, cốt sao cho có sự phù trợ, giúp ích tối đa cho đời con cháu.

Ấn tướng: Quan sát hình dáng con dấu (cái triện) của người có chức quyền để từ đó suy đoán về tình hình làm quan cai trị của chủ thể.

Danh tướng: Phân tích họ và tên của người có chức quyền hoặc thương gia để từ đó suy đoán về tình hình làm quan (hay làm ăn) của chủ thể. Ngày nay, người ta chủ yếu phân tích tên cửa hàng, cửa hiệu.


BỐC (卜) - TÌM RA QUY LUẬT PHÁT TRIỂN TIẾP THEO CỦA SỰ VẬT

Bốc (tên đầy đủ là Bốc phệ), có nghĩa là bói toán, bói quẻ, bắt nguồn từ 8 quẻ (Bát quái) trong Kinh Dịch. Mục đích là dự đoán và xử lý các sự việc sẽ xảy ra trong tương lai gần hay tương lai xa. Có 3 loại chính:

Chiêm bốc: "Chiêm" vốn có nghĩa là hỏi về các điềm triệu, "bốc" vốn chỉ hành động "đốt mai rùa", sau đó căn cứ vào các hình rạn nứt trên đó để luận bàn cát hung. Thời cổ đại, chiêm bốc giữ một vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, quân sự và sinh hoạt đời thường. Phương pháp suy đoán, dự báo của chiêm bốc là dựa trên quan điểm về sự thống nhất, tương đồng giữa trời và người (Thiên - Nhân hợp nhất), quan điểm về sự chế ức lẫn nhau của ba giới trời, đất, người (Thiên-Địa-Nhân) và cơ sở lý luận của Kinh Dịch. Người xưa dùng các hình thức đốt mai rùa, bói cỏ thi, lập quẻ (quẻ Chu Dịch, quẻ Mai Hoa Dịch, quẻ Văn Vương), và chiêm tinh (xem sao, cụ thể là xem sự tồn tại, độ sáng tối, sự chuyển dịch của các ngôi sao trên bầu trời vào buổi đêm, so sánh vị trí của chúng với 28 vì tinh tú ở bốn phương trời).

Trạch cát: Tác phẩm tiêu biểu là "Kỳ môn độn Giáp". Kết hợp các phương pháp bố cục (sắp xếp các cục), bố đẩu (hình thái bố trí các sao), bùa chú để xử lý những nhân tố gây tác động xấu đến sự phát triển của sự vật. Trong lĩnh vực quân sự cổ đại, đây là cách bài binh bố trận, sắp xếp các đội quân và quy định sẵn quy luật biến hóa đội hình, vận động đội hình để khi quân đối phương sa vào trận đồ, sẽ không tìm thấy lối ra, dễ dàng bị quân ta bao vây tiêu diệt.

"Kỳ môn độn Giáp" căn cứ vào mối quan hệ điều hòa đối ứng giữa sự xoay vần của bốn mùa trong năm với Cửu cung Lạc Thư và Hậu thiên bát quái. "Kỳ môn độn Giáp" dùng 9 Can còn lại là Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý (Giáp đã bỏ trốn) để đánh dấu trạng thái tiêu trưởng của hai khí âm dương trong một năm, sau đó dùng nguyên tắc Cửu Cung (trong Lạc Thư) để xác định trạng thái tiêu trưởng của âm dương.

"Kỳ môn độn Giáp" dùng Địa bàn tượng trưng cho quỹ đạo của Trái đất, và đặt Thiên bàn lên trên, tượng trưng cho Trái đất tự quay; đặt Nhân bàn ở giữa Thiên bàn và Địa bàn, tượng trưng cho sự biến đổi của người, vật, sự việc.

Một môn tượng số gần với "Kỳ môn độn Giáp" là "Đại lục nhâm", song sự khác biệt là "Đại lục nhâm" dùng Thiên bàn tượng trưng cho quỹ đạo của Trái đất, dùng Địa bàn tượng trưng cho Trái đất tự quay, rồi đặt Nhân bàn ở giữa Thiên bàn và Địa bàn.


Trắc cục: Tác phẩm tiêu biểu là "Thái Ất thần số". Là một môn Tượng số học, sử dụng quẻ tượng của 12 vận để suy đoán về vận mệnh, khí số của quốc gia và quy luật diễn biến của lịch sử.

Tại Trung Hoa, dân gian có lưu truyền truyền thuyết rằng ngũ huyền thuật có nguồn gốc rất cổ xưa, từng được hệ thống trong "Kim Triện Ngọc Hàm" (sách ngọc) do Hoàng Đế chép lại từ thiên thư, để lại pháp môn tu luyện cổ đại. Sau này Khương Tử Nha tìm thấy sách ngọc tại Côn Luân, nhờ các phương thuật mà mà trợ Chu phạt Trụ, khiến triều Chu thịnh trị 800 năm.

Thời Chiến Quốc thì một phần lại truyền đến tay Quỷ Cốc Tử. Ông truyền các bí thuật mình lĩnh ngộ được cho các đồ đệ: Tô Tần, Trương Nghị, Tôn Tẫn, Bàng Quyên, khiến các đồ đề này trở thành những bậc kỳ tài nổi danh hiển hách thời bấy giờ. Đến triều Hán, Trương Lương cùng với Hoàng Thạch Công được truyền thừa, khiến nhà Hán hưng vượng 400 năm. Đến thời kỳ tam quốc thì một phần lại truyền thừa đến Gia Cát Lượng, giúp ông phò tá Lưu Bị tạo thành thế chân vạc. Tuy nhiên càng truyền thì những ghi chép trong "Kim Triện Ngọc Hàm" càng bị phân khai dần, không hoàn thiện, mà phần tu luyện quan trọng thì bị mất, chỉ còn truyền thừa những phần phương thuật khác nhau. Người đời sau lại tiếp tục đưa vào những kiến giải của bản thân nữa. Đến thời kỳ lưỡng Tấn Nam Bắc triều, Tuỳ, Đường, Ngũ Đại, thì nó đã phân ra rất nhiều nhánh như đạo thuật Gia Cát Lượng, Kham Dư thuật (âm dương phong thuỷ) của Quách Phát, Dương Quân Tùng,...

Sau này nội dung "Kim Triện Ngọc Hàm" kinh qua 4.000 năm lưu truyền, bị thêm bớt, cải biến, chia làm nhiều lưu phái, rồi lại được người đời sau tổng hợp phân chia thành 5 loại chính: Sơn, Y, Mệnh, Tướng, Bốc, được gọi chung là huyền học ngũ thuật.

MA / Theo: Dân Việt

NHẬN BIẾT "BA KIỂU NGƯỜI" KHÔNG NÊN KẾT GIAO

Người xưa có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Chọn bạn không chỉ đơn giản là kết bạn, mà là chọn ở bên những người có cùng chí hướng. Rốt cuộc, một người bạn chơi bài sẽ chỉ thúc giục bạn chơi bài, và một người bạn nhậu nhẹt sẽ chỉ thúc giục bạn uống rượu. Chúng ta nên thận trọng khi kết bạn. Cho dù đó là ở nơi làm việc hay trong cuộc sống, điều vô cùng quan trọng là hãy học cách biết phân biệt mọi người. Nếu bạn gặp ai đó có ba đặc điểm này, hãy nhớ không nên kết giao.


1. Người không thành thật

Làm bạn với nhau, quan trọng nhất là phải đối xử chân thành với nhau bởi vì chân thật là nền tảng của một con người. Hãy nhớ rằng nếu bạn không có niềm tin vào người ta thì bạn cũng không thể giao nó cho họ được. Khi bạn gặp một người không trung thực, bất kể bên kia có cố ý hay không thì bạn tuyệt đối không nên tạo mối quan hệ tình bạn sâu sắc với đối phương. Người cố tình không nói lời chân thật, phần lớn là vay tiền sẽ không trả, thất hẹn và đầy gian dối mà không nói thật. Bạn đừng vì người khác xa lánh họ mà vì thế bạn trở nên mềm lòng và tốt bụng nhất thời với họ, nếu không, khi vấp ngã bạn có thể sẽ có một bài học thực sự khi nhận biết ra.

Những người không có ý định trung thực hầu hết đều không biết mình là người như thế nào, và họ thích đưa ra những lời hứa với khuôn mặt tốt thậm chí là tạo niềm tin chân thành với bạn ngay lúc đó qua vẻ bề ngoài. Khi họ tiếp xúc với người khác thì luôn thích khoe khoang khoác lác, nhưng thường bị áp đảo và không thể phát huy được. Nếu bạn không sợ họ thay đổi khuôn mặt bất cứ lúc nào và thói quen khoe khoang, thì bạn có thể kết bạn với họ, nhưng cuối cùng bạn sẽ là người thiệt thòi nếu cho họ cơ hội tiếp xúc bạn.


2. Hai là buôn chuyện

Cái gọi là đúng sai là chỉ về hành vi dựa vào tin đồn hoặc dựa vào lời nói tung tin của người khác, thậm chí còn tung tin đồn nhảm một cách vô cớ. Những người “nói sự thật” có tư tưởng cởi mở và đầy sở thích, tất cả những điều này cho thấy tính cách của họ có vấn đề và quá trình tu dưỡng bản thân của họ rất tốt. Còn người thích “kể lể” thì thông thường sẽ khó thành công.

Những người “ngồi lê đôi mách” thích nói xấu sau lưng và gây sự chia rẽ. Nó không chỉ có tác động tiêu cực đến người khác mà còn gây ra rất nhiều rắc rối không đáng có cho chính mình, khiến họ không còn sức lực để lo cho tốt những gì bản thân thực sự muốn và sẽ luôn gặp khó khăn để đạt được một điều gì đó. Chúng ta nên làm gì nếu gặp một người như vậy? Cần phải ngay thẳng và thẳng thắn, nghĩa là không nên nghe, không tin, không cổ súy và tạo cơ hội cho những người thích buôn chuyện tầm phào.

Khi bên kia nói về người khác, trước tiên bạn có thể theo dõi giọng nói của họ, xem thử cách họ nói về những thiếu sót mà người kia có thực sự đúng hay không, sau đó nói về nhiều ưu điểm của người ấy để đưa ra kết luận chính xác. Nếu tật xấu kể lể đã trở thành một đặc điểm của một số người, thì bạn chỉ cần phớt lờ họ và nghe lời họ nói như gió thoảng.


3. Người mất kiểm soát cảm xúc

Người mất kiểm soát cảm xúc chủ yếu thể hiện ở hai khía cạnh: một là hay ủ rũ, bốc đồng; hai là hay phàn nàn về người khác và tràn đầy năng lượng tiêu cực. Những người ủ rũ, họ có xu hướng không kiểm soát được cảm xúc của mình và thường xử lý chúng một cách quá cảm tính trong cuộc sống và trong công việc. Một khi bị kích thích thì họ rất dễ hành động trái với lẽ thường và hành động một cách bốc đồng.

Người tràn đầy năng lượng tiêu cực thì luôn kêu ca, phàn nàn, lo lắng: cuộc sống không suôn sẻ, công việc không hạnh phúc, mẹ chồng nàng dâu không hòa thuận, vợ con không hòa thuận, trầm cảm, số phận thật bất công… dù họ có xe có nhà, công việc ổn định, nhưng tâm luôn bất an và lo lắng đến mức không buồn ăn uống.


Nói chung, khi bạn chọn một người bạn cũng là cách mà bạn nâng cao giá trị của chính mình và có một cuộc sống ý nghĩa. Suy nghĩ của một người sẽ quyết định tính cách của một người, và cách người ta tiếp cận với mình là vì mục đích gì. Lấy tính cách làm tiêu chuẩn đầu tiên để có thể kết giao với người bạn cùng chí hướng và xứng đáng.

Đăng Dũng / Theo: vandieuhay

Tuesday, April 2, 2024

TRẬN CHIẾN NÀO TRONG THẾ CHIẾN 2, MÁU CHẢY THÀNH SÔNG, KHIẾN 1.9 TRIỆU NGƯỜI BỎ MẠNG?

Trận đánh quyết định ở Stalingrad khiến 1,9 triệu người thiệt mạng trong Thế chiến 2 cho đến nay được ghi nhận là "địa ngục trần gian", nơi người lính bằng mọi giá phải đấu tranh để sinh tồn.

Ảnh minh họa.

Theo National Interest, kể từ tháng 7/2012, thế giới phải chứng kiến đất nước Syria, với những thành phố Aleppo, Raqqa chìm trong đống đổ nát vì chiến tranh. Con số người chết trong cuộc nội chiến Syria tính đến năm 2016 ước tính lên tới 300.000 người.

Trong chiến tranh Iraq kéo dài từ năm 2003-2011, một thống kê cho biết có 405.000 người Iraq thiệt mạng do giao tranh. Kể từ khi Mỹ can thiệp vào Afghanistan giai đoạn năm 2001-2015, ước tính 91.991 người mất mạng.

Tỉnh tổng cả 3 quốc gia này trong giai đoạn 15 năm, con số người chết vì chiến tranh là 796.991.

Nhưng những thống kê trên vẫn còn khá khiêm tốn so với trận Stalingrad, trận đánh đẫm máu và tồi tệ nhất lịch sử nhân loại với 1,9 triệu binh sĩ Đức, Liên Xô và dân thường thiệt mạng chỉ trong 6 tháng.

Tháng 6/1941, trùm phát xít Adolf Hitler bất ngờ ra lệnh xâm lược Liên Xô. Trong vòng một năm sau, đội quân Đức chiếm một khu vực rộng lớn hàng ngàn km2. Tất cả những gì quân Đức cần khi đó chỉ là thành phố Stalingrad để làm bàn đạp.

Dân số Stalingrad trước chiến tranh vào khoảng 400.000 người. Đây là thành phố chiến lược với cảng biển và nhiều khu công nghiệp quan trọng.

Quân Đức chiến đấu trong trận Stalingrad.

Lãnh tụ Liên Xô Stalin khi đó chủ trương bảo vệ Stalingrad bằng mọi giá còn Hitler cũng sẵn sàng đổ 1 triệu người vào trận đánh lịch sử này.

Ban đầu, quân Đức đạt bước tiến nhanh chóng, chiếm nhiều khu vực bên trong Stalingrad. Đến tháng 11, quân Đức đẩy phòng tuyến Liên Xô về phía bờ sông Volga. Cả hai bên đều ghi nhận con số thương vong hàng trăm ngàn người.

Nhưng đó chỉ mới là sự bắt đầu của trận đánh đẫm máu nhất lịch sử thế giới hiện đại. Đúng và sai, đạo lý và danh dự của những người lính đều được gác lại cho một lý do duy nhất, chiến đấu vì sự sống còn.

Năm 2001, bộ phim Hollywood mang tên "Enemy at the Gates" phác họa cảnh đối đầu giữa hai lính bắn tỉa Liên Xô và Đức. Đây được coi là vũ khí đáng sợ nhất của cả 2 phe. Bởi nó có thể cướp đi sinh mạng người khác từ xa, khiến không một ai cảm thấy an toàn.

Một lính bắn tỉa Liên Xô, tên Anatoly Chechov kể lại lần đầu tiên cướp đi mạng sống của người khác: "Tôi cảm thấy tồi tệ. Tôi đã giết người. Nhưng sau khi nhận ra quân Đức đã tàn sát nhiều người khác, tôi chỉ còn biết xả đạn không ngừng vào họ".

Đây là những lời nói của Chechov ngay tại chiến trường đẫm máu này, phác họa phần nào cảnh tượng "địa ngục trần gian" ở Stalingrad.

Trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đứng trước khả năng thua trận, không thể phòng ngự được cho đến đêm, tướng lĩnh Liên Xô Alexander Rodimtsev đưa ra quyết định can đảm.

Giao tranh ở Stalingrad diễn ra trên từng ngôi nhà, con phố.

Tướng Rodimtsev dẫn đội quân do mình chỉ huy vượt sông, bất chấp máy bay Đức quần thảo trên bầu trời. Một nhân chứng cho biết, chiếc thuyền chở tướng Rodimtsev và bị trúng bom Đức trước khi cập bờ, khiến hầu hết binh lính thiệt mạng.

Bản thân Rodimtsev bằng một cách nào đó đã sống sót. Nhưng những người đồng đội thì lại không may mắn như vậy.

Albert Burkovski, một trong những người lính Liên Xô làm nhiệm vụ cố thủ bên kia sông, mô tả lại cảnh tượng thảm khốc đối với quân đoàn số 13. "Họ cố gắng vượt sông, xác người chết rải rác khắp nơi. Những con thuyền chở binh sĩ, đạn dược, súng máy nổ tung ngay trước mắt tôi".

Quân Đức khi đó chiếm ưu thế ở bên kia sông nhờ các cao điểm, liên tục xả đạn súng máy không ngừng về phía Hồng quân Liên Xô. "Tưởng chừng như đợt phản công của Liên Xô là tự sát nhưng họ đã thành công", Michael Jones, tác giả cuốn sách viết về trận đánh Stalingrad nói.

Quân đoàn 13 do tướng Rodimtsev chỉ huy cận chiến với quân Đức, đánh chiếm các tòa nhà quan trọng và làm chủ khu vực bờ bên kia sông.

Cảnh tượng ở bên kia chiến tuyến còn khốc liệt hơn. Theo trang WW2History, một người sống sót tên Helmut Walz mô tả lại cảnh chiến đấu trên từng con phố, căn nhà ở Stalingrad.

Xác quân Đức nằm la liệt ở Stalingrad.

Bất ngờ, Walz đụng độ với binh sĩ Liên Xô, hứng trọn đòn đánh trời giáng vào mặt, khiến máu trào ra từ miệng. Walz chợt nghĩ đó là dấu chấm hết nhưng một đồng đội lao đến trợ giúp, không ngừng lấy báng súng đánh vào đầu người lính Liên Xô.

Cảnh tượng kinh hoàng đó chưa chấm dứt, khi Walz đang được đồng đội băng bó, một người lính Liên Xô khác tiến đến bắn thẳng vào đầu đồng đội của Walz từ phía sau. Walz kể rằng đó là lần đầu tiên nhìn thấy đầu người vỡ làm đôi còn não bộ rơi ra ngoài.

Những cảnh tượng mà người lính Liên Xô thuộc quân đoàn 13 phải trải qua và Helmut Walz ở bên kia chiến tuyến đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt 6 tháng giao tranh đẫm máu.

Chiến sự cuối cùng cũng kết thúc vào tháng 2/1943, khi tập đoàn quân số 6 của Đức Quốc xã, do tướng Friedrich Paulus chỉ huy ra hàng. Quân Đức từ hàng triệu người, nay chỉ còn 90.000 lính.

Thất bại trên sông Volga đánh dấu bước ngoặt trên chiến trường, khiến quân Đức không ngừng thua trận và thất bại ngay tại thủ đô Berlin hai năm sau đó, cùng với cái chết của trùm phát xít Hitler.

Trong số 90.000 tù binh Đức, chỉ có khoảng 6.000 người là còn có thể quay trở về quê nhà, trong giai đoạn những năm 1950.


Có thể nói, 1,9 triệu người chết, với những trải nghiệm kinh hoàng, cận chiến trong những tháng ngày mùa đông rét thấu xương ở Liên Xô đưa Stalingrad trở thành nơi diễn ra trận đánh tồi tệ nhất lịch sử thế giới.

Đăng Nguyễn / Theo: Khám Phá
Link tham khảo:



KHÚC GIANG KỲ 2 - ĐỖ PHỦ


Khúc giang kỳ 2 - Đỗ Phủ

Triều hồi nhật nhật điển xuân y,
Mỗi nhật giang đầu tận tuý quy.
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
Nhân sinh thất thập cổ lai hy.
Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện,
Ðiểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi.
Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,
Tạm thời tương thưởng mạc tương vy.


曲江其二 - 杜甫

朝回日日典春衣
每日江頭盡醉歸
酒債尋常行處有
人生七十古來稀
穿花蛺蝶深深見
點水蜻蜓款款飛
傳語風光共流轉
暫時相賞莫相違


Sông Khúc kỳ 2 - (Dịch thơ: Hải Đà)

Tan chầu, nao nức đón xuân
Đầu sông say khướt, chiều tàn mới thôi
Rượu nầy vay nợ đủ nơi
Bảy mươi sống thọ, mấy người gặp may
Đùa hoa, lũ bướm vờn bay
Chuồn chuồn chấm nước, cánh dài chao nghiêng
Cảnh trời thay đổi thường xuyên
Dại chi không hưởng mà quên muộn phiền.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.....

.....Các nhà thơ Đường hiếm có ai nghèo khổ, lao đao và chịu ảnh hưởng của chiến tranh và loạn lạc nhiều như ông. Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo túng quá, đành phải tạm đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp, mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về táng tại chân núi Thủ Dương, ở Lạc Dương (Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ Thẩm Ngôn.
 
Khi Đỗ Tự Nghiệp đưa linh thân Đỗ Phủ qua Kinh Châu, có gặp thi sĩ Nguyên Chẩn trên đường đi. Nguyên Chẩn viết một bài minh đề trên mộ Đỗ Phủ, nói rằng: "Từ khi có thi nhân đến giờ, không có ai vĩ đại bằng Tử Mỹ!". Đúng thế, Đỗ Phủ chẳng những vĩ đại đối với Trung Quốc mà còn vĩ đại đối với cả nhân loại nữa...

Nguồn: Thi Viện