Monday, September 2, 2024

THU TỪ - LƯU VŨ TÍCH


Thu từ - Lưu Vũ Tích

Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
Tình không nhất hạc bài vân thượng,
Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu.


秋詞 - 劉禹錫

自古逢秋悲寂寥
我言秋日勝春朝
晴空一鶴排雲上
便引詩情到碧霄


Thu Từ - (Dịch thơ: Lương Trọng Nhàn)

Xưa nay thu tới người buồn thay!
Ta thấy thu hơn xuân sớm mai.
Tạnh ráo đè mây tung cánh hạc,
Đưa thi hứng tới chín từng mây.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguồn: Thi Viện



TRẬN CHIẾN ĐÈO SABINE: 47 NGƯỜI ĐÁNH BẠI 5,000 QUÂN

Đây là một trong những trận đánh hiếm hoi trong lịch sử mà lực lượng ít ỏi hơn nhiều lại giành chiến thắng quyết định, trong khi không tổn thất một người nào.


Trận chiến Đèo Sabine lần hai diễn ra trong cuộc nội chiến Mỹ. Năm 1863, tướng William B. Franklin dẫn một lực lượng của liên bang miền bắc tấn công đèo Sabine để có thể tiến vào bang Texas bằng đường thủy.

Đội quân của Franklin gồm 5.000 lính, 4 chiến hạm, 18 tàu chở quân. Trong khi đó, đối thủ của họ chỉ là khoảng 47 binh sĩ thuộc một trung đoàn pháo binh của Liên minh miền nam. Đồn trú tại pháo đài Griffin, họ chịu sự chỉ huy của trung úy Richard Dowling và có 6 khẩu pháo.

Liên minh miền Nam chỉ với 47 người đã buộc quân miền Bắc với 5.000 binh sĩ phải rút lui.

Nội chiến Mỹ đẫm máu

Sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và lập ra liên minh miền Nam. 25 tiểu bang còn lại ủng hộ chính phủ liên bang miền Bắc. Lincoln chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ, trong khi liên minh miền Nam phản đối điều này và kết quả là chiến tranh nổ ra.

Sau hai năm đầu tiên nội chiến với những thắng lợi liên tiếp, cuộc chiến dần trở nên bất lợi với liên minh miền Nam. Đến năm 1863, phe miền Nam bắt đầu để mất những vùng lãnh thổ chiếm được, không còn thể hiện được ưu thế trên chiến trường.

Ở Gettysburg, nơi được coi là thành trì của liên minh miền Nam, liên bang miền Bắc đã giáng đòn mạnh mẽ để chiếm được thành trì này trong trận đánh ngày 1-3/7/1863, dù tồn thất tới 23.049 binh sĩ.

Ở Vicksburg, liên bang miền Bắc chia đôi lực lượng phe miền Nam làm đôi, sau khi chiếm quyền kiểm soát con sông Mississippi.

Đây là bàn đạp để liên bang miền Bắc tiếp tục tiến sâu xuống phía nam, nhắm đến Texas. Nhiều tàu chở quân, tàu pháo sẵn sàng khởi hành từ New Orleans, hướng qua đèo Sabine.

Ông Don Smart đã có hàng chục năm diễn lại những trận đánh nổi tiếng, bao gồm trận Đèo Sabine lần hai.

Trận đánh ở Đèo Sabine lần hai diễn ra vào ngày 8/9/1863 được ghi nhớ với chiến công lịch sử của phe miền Nam, khi làm nên điều không tưởng và ngăn liên bang miền Bắc bén mảng đến Texas trong suốt hai năm còn lại của nội chiến.

Don Smart, 67 tuổi, là một người chuyên diễn lại trận đánh lịch sử trong cuộc nội chiến và dĩ nhiên ông rất quen thuộc với trận đánh ở Đèo Sabine lần hai.

"Tôi đã diễn lại các trận đánh suốt hơn 20 năm qua", Smart nói. "Nhưng trận đánh ở Đèo Sabine khiến tôi nhớ rõ nhất".

Bởi đây là trận đánh sống còn đối với riêng bang Texas, Smart nói. Liên bang miền Bắc có thể dùng 5.000 quân chính quy và 10.000 quân dự bị để ngăn phe miền Nam giao thương với Mexico, bằng cách chiếm các cảng biển chính.

Nếu thành công, phe miền Nam có thể sớm cạn kiệt nguồn lực, không thể kéo dài chiến tranh. Tát cả những gì phe miền Bắc cần làm là vượt qua pháo đài Griffin ở Đèo Sabine. Trung úy Richard Dowling, chỉ huy pháo đài khi đó có không đến 50 binh sĩ dưới quyền, và 6 khẩu pháo.

Theo kế hoạch, 5.000 binh sĩ miền bắc với 4 tàu pháo và 18 tàu chở quân sẽ vượt qua Đèo Sabine bằng đường biển.

Trận chiến sống còn với bang Texas

Richard Dowling

Sáng sớm ngày 8/9, các tàu pháo của liên bang miền Bắc nã đạn dữ dội vào pháo đài Griffin. Dowling ra lệnh cho binh sĩ dưới quyền bình tĩnh chờ đối phương đến gần mới khai hỏa. Lợi thế của Dowling là đã sắp đặt sẵn 6 khẩu pháo ở vị trí thuận lợi để giáng đòn bất ngờ vào tầu chiến đối phương.

Kết quả trận đánh diễn ra thảm hại đối với một liên bang miền Bắc đang hừng hực khí thế. Tàu Khi tàu USS Sachem, USS Clifton của liên bang miền Bắc tiến đến gần căn cứ ở khoảng cách không đến 1km, Dowling ra lệnh cho binh sĩ đồng loại khai hỏa.

Sau 45 phút giao tranh ác liệt đầu tiên, tàu USS Sachem chìm nghỉm trước loạt đạn pháo trúng vào nồi hơi nước. Tàu USS Cliffton bị vô hiệu hóa hoàn toàn, rơi vào tay liên minh miền Nam.

Binh sĩ phe miền Nam phá hủy hoặc làm hỏng nhiều tàu của đối phương đến nỗi chúng chặn ngang dòng sông. Tình thế ấy buộc tướng William B. Franklin, chỉ huy chiến dịch của phe miền Bắc ra lệnh rút lui về New Orleans.

Hàng chục tàu chiến của phe miền Bắc tiến vào Texas qua pháo đài Grifffin nhưng buộc phải rút lui.

Theo các nhà sử học Mỹ, phe miền bắc trong trận đánh này tổn thất tới 200 người, hai tàu pháo bị đánh chìm hoặc rơi vào tay quân miền Nam. Ngược lại, phe miền Nam không mất một người nào.

Chiến thắng của Dowling và các đồng đội đã ngăn liên bang miền Bắc chiếm Texas trong suốt hai năm còn lại của cuộc nội chiến, giúp khu vực này không bị tàn phá bởi chiến tranh.

"Texas được cứu khỏi sự hủy diệt, giống như phần còn lại của liên minh miền Nam", Smart nói.

Ngày nay, một phần của tàu USS Cliffton vẫn còn được trưng bày trong bảo tàng. Sau trận đánh ở Đèo Sabine lần hai, liên minh miền Nam sửa chữa lại tàu Cliffton, sử dụng nó làm vật cản ngăn phe miền Bắc.

Dù giành chiến thắng không tưởng ở Đèo Sabine nhưng nỗ lực trên là không đủ để liên minh miền Nam có thể kết thúc chiến tranh trong vinh quang.


Quân miền Bắc đông hơn gấp đôi, lại có tướng giỏi chỉ huy và Tổng thống Mỹ Lincoln thì tiếp tục đắc cử lần hai, dẫn đến kết cục thắng lợi tất yếu vào năm 1865.

Kết quả sau nội chiến là toàn bộ người nô lệ tại các bang miền Nam được thả tự do. Nô lệ tại các tiểu bang ranh giới, kể cả Washington, D.C., được trả tự do vào mùa xuân năm 1865. Tổng cộng có khoảng 4 triệu nô lệ được tự do.

Đăng Nguyễn / Theo: Dân Trí
Link tham khảo:





Sunday, September 1, 2024

NGƯỜI DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ KHÔNG MUỐN LÀM HOÀNG ĐẾ, ÔNG ĐÃ 3 LẦN TỪ CHỐI NGAI VÀNG

Hoàng đế là người cai trị tối cao của xã hội cổ đại. Hoàng đế cũng là người quyền lực lớn nhất. Có thể nói, ngai vàng là một vị trí mà mọi người đều muốn ngồi. Từ xa xưa, các hoàng tử cũng phải tranh đua để lên ngôi báu. Hầu hết các vị vua đều phải trải qua quá trình tranh đấu để làm thiên tử. Tuy nhiên, trong lịch sử có một vị hoàng tử độc nhất vô nhị, ông được làm hoàng đế, nhưng từ chối cương vị.


Sinh ra vào thời nhà Đường thịnh thế, có ba cơ hội lên ngôi nhưng ông đều từ bỏ. Ông là con trai thứ tám của Hoàng đế Đường Cao Tông Lý Trị và con trai út của Hoàng đế Võ Tắc Thiên, là hoàng đế kế nhiệm Đường Trung Tông Lý Hiển, ông chính là Hoàng đế Đường Duệ Tông Lý Đán.

Đường Duệ Tông

Lý Đán thường được biết đến với danh nghĩa là cha của Hoàng đế Đường Huyền Tông Lý Long Cơ. Ông vừa là hoàng đế thứ năm vừa là hoàng đế thứ bảy của nhà Đường với hai lần đăng cơ.

Con đường trở thành hoàng đế của Lý Đán không mấy suôn sẻ, thậm chí là gặp nhiều khúc quanh. Các lần lên ngôi cũng liên quan rất lớn đến việc bỏ ngai vàng “ba lần” của ông.

Lịch sử viết, Lý Đán tin vào Đạo giáo và từng triệu tập Tư Mã Thừa Trinh – một đạo sĩ từ núi Thiên Thai về để xin ông chỉ dạy thuật âm dương. Tư Mã Thừa Trinh nói với Lý Đán:“Cái gọi là ‘Đạo’ có nghĩa là bị tổn thất hết lần này đến lần khác cho đến khi vô vi”. 

(ảnh: Suho).

Lý Đán lại hỏi:”Đối với việc tu luyện cá nhân, vô vi là cảnh giới cao nhất, vậy cảnh giới cao nhất của một quốc gia là gì?”

Tư Mã Thừa Trinh trả lời:“Việc cai trị đất nước cũng giống như việc tu luyện cá nhân, chỉ cần chúng ta tuân theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật và loại bỏ tư tưởng ích kỷ thì đất nước sẽ có thể đạt được sự cai trị lớn mạnh”.

Người ta cho rằng những tư tưởng và hành vi sau này của Lý Đán có thể đã bị ảnh hưởng bởi quan điểm của Đạo giáo.

Võ Tắc Thiên

Vào năm Tự Thánh thứ nhất, Võ Tắc Thiên phế truất Đường Trung Tông và lập Lý Đán vốn là Dự vương lên làm hoàng đế, hiệu Duệ Tông. Tuy kế thừa ngai vàng nhưng Lý Đán không nắm quyền hành trong tay. Ông không những không được chấp chính mà còn không được ở trong chính điện.

Vào tháng 2 cùng năm, Võ Tắc Thiên đổi niên hiệu thành Văn Minh, phong vợ của Lý Đán là Lưu thị lên làm hoàng hậu, và con trai cả của bà là Lý Hiến làm thái tử.

Sau khi dẹp loạn cuộc binh biến ở Dương Châu và cuộc nổi dậy của người trong tôn thất, vào năm Thuỳ Củng thứ hai, Võ Tắc Thiên ban chiếu chỉ trả lại quyền lực cho Đường Duệ Tông. Biết rất rõ ý định của mẹ chỉ là muốn cho thiên hạ thấy mà không thật tâm trao quyền hành nên ông không dám nhận Phụng chiếu. Vì vậy, Võ Tắc Thiên lại tiếp tục nhiếp chính.

Năm sau, Võ Tắc Thiên phong vương cho các con trai của vua Đường Duệ Tông, bao gồm: Hằng vương Thành Nghĩa, Sở vương Long Cơ, Vệ vương Long Phạm và Triệu vương Long Nghiệp. Nhìn bề ngoài, Đường Duệ Tông tưởng chừng có uy nghiêm của hoàng đế nhưng thực chất ông chỉ là bước đệm để Võ Tắc Thiên đạt đến đỉnh cao chính trị.

(ảnh: 997788).

Đến năm Vĩnh Xương thứ nhất, Võ Tắc Thiên ra lệnh cho quốc gia thống nhất lịch tuần, đổi tên thành Chiếu, đổi niên hiệu thành Tái Sơ, đồng thời quy định mọi sắc lệnh ban hành sau này đều phải tương xứng với việc chế thư (làm sách).

Lúc này, Võ Tắc Thiên đã đạt đến quyền lực tối cao về mặt chính trị và có khả năng thay đổi triều đại. Bà đã huy động lực lượng của mình và yêu cầu các quan cùng nhau tấu chương yêu cầu thay đổi triều đại. Nhưng điều này bị người nhà họ Lý và một số quan lại Nho giáo kịch liệt phản đối. Tuy nhiên, ngay sau đó họ hoặc là bị giết hoặc bị bịt miệng.
 
Lần đầu tiên nhường ngôi hoàng đế cho Võ thái hậu

Trước tình hình này, Đường Duệ Tông đã ra một chiếu chỉ thỉnh cầu Võ hậu lên ngôi hoàng đế. Hành vi “nhường ngôi” này đã tạo cơ hội cho Võ Tắc Thiên bước lên làm nhân vật chính của sân khấu chính trị, đồng thời giúp Lý Đán bảo vệ mình một cách khôn ngoan trong cơn bão quyền lực này.

Vào năm Thiên Thụ đầu tiên, Võ Tắc Thiên chấp nhận lời thỉnh cầu của các quan đại thần lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Thánh Thần Hoàng đế, đổi nhà “Đường” thành nhà “Chu”. Cùng lúc đó, Đường Duệ Tông bị giáng xuống làm hoàng tử, cho đổi thành họ Võ, chuyển đến Đông Cung, giữ nguyên cung cách của một thái tử. Còn Thái tử Lý Thành Khí bị giáng làm thái tôn.

Tuy nhiên, cuộc sống của Lý Đán không vì vậy mà bình yên. Người thị nữ thân tín nhất của Võ Tắc Thiên là Vi Đoàn Nhi lại đem lòng yêu Lý Đán. Khi bị từ chối tình cảm, bà ta đã trả thù bằng cách cố gắng gài bẫy hai người vợ được Lý Đán yêu quý là Lưu thị và Đậu thị.

(ảnhL Kknews).

Đầu tiên Vi Đoàn Nhi chôn một bức tượng gỗ khắc hình của Võ Tắc Thiên trong cung điện của họ, rồi vu khống hai người này có mưu đồ sát hại Võ Tắc Thiên. Vì vậy, một ngày vào năm Trường Thọ thứ hai, Lưu thị và Đậu thị như thường lệ đến thăm Võ Tắc Thiên nhưng đã bị hành quyết trong bí mật, không còn trở về.

Tuy nhiên, Đường Duệ Tông không dám hỏi mẹ tung tích của hai người vợ. Ông chỉ có thể coi như không có chuyện gì xảy ra. Vi Đoàn Nhi vẫn chưa hả giận, bởi vì bà ta vẫn không thể có được trái tim của Lý Đán. Vi Đoàn Nhi tiếp tục tố cáo ông với hoàng đế. Thế nhưng lần này, Võ Tắc Thiên không suy xét mà lập tức xử tử Đoàn Nhi.

Cùng năm đó, Lý Đán lại bị vu cáo tội mưu phản. Võ Tắc Thiên vô cùng tức giận, lệnh giam lỏng ông ở trong phủ, không cho đại thần gặp mặt, đồng thời phế các con ông từ thân vương xuống làm quận vương. Những người bị nghi đồng phạm đều bị tra tấn dã man.

Bấy giờ nhạc công An Kim Tàng đã tự mổ bụng của mình để chứng minh sự trong sạch cho Lý Đán. Thái hậu nghe tin cảm động, lệnh cho thái y cứu sống Kim Tàng và xá miễn cho con trai.

Lần thứ hai nhường ngôi cho anh trai Lý Hiển

Vào năm đầu tiên Thánh Lịch, Võ Tắc Thiên đưa Lý Hiển trở về kinh đô – người đã bị giáng chức và đuổi khỏi cung làm Lư Lăng vương. Nhìn thấy điều này, Lý Đán tin rằng mẹ của ông có thể sẽ phong anh trai ông làm hoàng đế. Vì vậy ông nhiều lần nói dối nói rằng mình bị bệnh, không thể đến triều. Đồng thời yêu cầu xin nhường ngôi thái tử cho Lý Hiển.

Sự nhượng bộ chủ động của Lý Đán không chỉ giúp Võ Tắc Thiên hỗ trợ Lý Hiển đăng cơ mà còn ngăn chặn xung đột giữa hai anh em. Lý Đán từ thái tử trở thành thừa tướng, và Lý Hiển trở lại làm hoàng thái tử.

Vào năm Thần Long thứ nhất, Tể tướng Trương Giản Chi và những người khác lên kế hoạch đảo chính, buộc Võ Tắc Thiên phải thoái vị và lập Lý Hiển lên làm hoàng đế. Như vậy, ngôi vị của Đường Trung Tông đã được khôi phục với hiệu mới là Ứng Thiên Hoàng đế.

Đường Trung Tông Lý Hiển (ảnh: Soundofhope).

Vì Lý Đán là người vô cùng khiêm tốn nên rất được anh trai tin tưởng. Hoàng đế phong ông làm An Quốc Tương vương, chức Thái úy (tương đương thừa tướng), sau đó lại định lập ông làm thái đệ nối ngôi, nhưng Lý Đán đã từ chối. Khi này, Trung Tông mới lập con trai là Lý Trọng Mậu làm hoàng thái tử.

Vào năm Cảnh Long thứ tư, Hoàng đế Đường Trung Tông băng hà. Lý Trọng Mậu lên kế vị hiệu là Đường Thương Đế. Vi Ôn hoàng hậu lên làm thái hậu muốn nhiếp chính giống như Võ hậu trước đây. Sau này, vì hành vi của Vi hậu đi quá xa nên gây bất bình khắp triều đình.

Vào tháng 6 cùng năm, Lâm Chi vương Lý Long Cơ và Thái Bình công chúa dẫn quân tiến vào cung, không chỉ giết chết hoàng đế và Vi thái hậu mà còn diệt trừ hết cả lũ tùy tùng lẫn vây cánh.

Sau khi cuộc đảo chính thành công, các quan đại thần lần lượt viết tấu sớ nói rằng:“Quốc gia đã trải qua nhiều khó khăn, nên bổ nhiệm một người lớn tuổi và đáng kính hơn làm hoàng đế”.
 
Lần thứ ba từ chối ngôi báu

Lý Đán một lần nữa tìm đủ mọi cách để từ chối ngôi vị, nhưng cuối cùng, dưới sự thuyết phục của mọi người, Đường Thương Đế đã ban hành chỉ dụ nhường ngôi cho Lý Đán, bản thân quay về làm Ôn vương như cũ.

Lý Đán (ảnh: Soundofhope).

Đến năm Đường Long thứ nhất, Đường Duệ Tông trở lại ngai vàng. Một tháng sau, ông phong cho con trai Lý Long Cơ làm thái tử và đổi niên hiệu thành Cảnh Vân.
Nhường ngôi cho con trai

Tuy nhiên, Đường Duệ Tông cũng không ở lâu trên ngai vàng. Lý do là con trai của ông Lý Long Cơ và em gái của ông là Công chúa Thái Bình tranh giành quyền lực khiến ông nhiều lần đau đầu. Vì tương lai của nhà Đường và vì sự an toàn của bản thân, Lý Đán quyết định nhường ngôi cho con trai – một người thât sự có năng lực. Còn Duệ Tông thoái vị làm Thái Thượng hoàng an hưởng tuổi già. 

Đường Huyền Tông và Dương Quý phi (ảnh: Min).

Sự thật lịch sử đã chứng minh quyết định của Đường Duệ Tông là điều vô cùng sáng suốt. Triều đại nhà Đường do hoàng đế Đường Huyền Tông Lý Long Cơ cai trị ngày càng hùng mạnh, mở ra thời kỳ Khai Nguyên thịnh thế nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

Như vậy, Hoàng đế Đường Duệ Tông là ông vua duy nhất trong lịch sử không muốn làm hoàng đế. Nhưng ông từ chối thừa kế đến ba lần vẫn không thoát khỏi việc phải lên ngôi. Suy cho cùng, người có thiên tử dẫu không tranh giành vẫn sẽ làm đế vương vậy.

Minh Nguyệt
Nguồn: Soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)

TRUYỆN XƯA TÍCH CŨ: ĐIỆU MÚA TRÊN CUNG TRĂNG, "VŨ Y THẤP THOÁNG, NGHÊ THƯỜNG THIẾT THA"

Nếu “ngôn ngữ là linh hồn dân tộc”, thì cũng có thể nói một phần linh hồn Việt đã được gói ghém trong các tác phẩm văn thơ xưa. Nhưng để hiểu về văn thơ cổ đại thì không thể không nhắc đến những điển tích, điển cố mang nhiều nội hàm và ý nghĩa sâu xa. Chỉ khi tìm về với tích cũ truyện xưa, ta mới có thể thưởng thức trọn vẹn tinh hoa văn hoá của nước nhà, và cũng để thấy rằng thi ca cổ đại quả thực là “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”…


Bạn có biết, sự tích rằm Trung Thu gắn liền với một điển tích trong các tác phẩm thi ca xưa?

Trong hai thi phẩm bằng chữ Nôm nổi tiếng của Việt Nam, là kiệt tác “Cung oán ngâm khúc” và truyện thơ “Bích Câu kỳ ngộ”, đều cùng nhắc đến một điển tích có liên quan đến chị Hằng, đó là Nghê Thường.

Nói về “Cung oán ngâm khúc”, đây là bài ca sầu bi của một cung nữ tài sắc, từng được vua yêu chiều, ái ân thắm thiết nồng nàn. Nhưng đến khi hương nhạt hoa tàn, chỉ mình nàng gối chiếc đơn côi, người cung nữ quạnh quẽ trong cấm cung mà xót thương cho thân phận mình, lòng thầm hoài niệm về một thời đã xa. Khi ấy, sắc thì “hương trời đắm nguyệt say hoa”, trí thì “cờ tiên rượu thánh ai đương”, còn tài thì:

“Dẫu mà tay múa, miệng vang
Thiên tiên cũng ngảnh Nghê Thường trong trăng…”

Khác với “Cung oán ngâm khúc”, “Bích Câu kỳ ngộ” lại là tình yêu trong sáng giữa chàng thư sinh Trần Tú Uyên và nàng tiên Giáng Kiều. Câu chuyện diễn ra dưới thời vua Lê Thánh Tông, kể rằng: Một hôm trong chuyến du xuân ở chùa Ngọc Hồ, chàng nho sinh Tú Uyên nhặt được chiếc lá hồng có đề câu thơ. Chàng vừa định đề thơ hoạ lại thì thấy thấp thoáng một bóng hồng, khiến chàng từ ấy ngày đêm tơ tưởng. Thì ra, đó chính là nàng tiên Giáng Kiều trong bức tranh tố nữ mà sau này được treo ở thư phòng của chàng. Gặp nhau thật xiết bao ân tình, nàng đã hoá phép ra lâu đài thành quách, lại bày tiệc hoa để cùng chàng kết nghĩa phu thê. Đoạn miêu tả vũ khúc hát mừng cặp tân lang tân nương, trong truyện viết:

“Lả lơi bên nói bên cười,
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang.
Đong đưa khoe thắm đua vàng,
Vũ y thấp thoáng, Nghê Thường thiết tha.”

“Nghê Thường” là tên gọi của một điệu múa nơi thiên giới, có tên đầy đủ là “Nghê Thường vũ y khúc”, bắt nguồn từ câu chuyện du tiên vừa hư vừa thực, vừa mộng vừa ảo của Hoàng đế Đường Huyền Tông (685-762).


Đường Huyền Tông bình sinh là một người sùng Đạo, kính Trời, ông cũng thường qua lại với một trong Bát Tiên là Trương Quả Lão, coi Trương Quả Lão như người bạn thân thiết của mình.

Trong cuộc đời mình, Hoàng đế Đường Huyền Tông đã nhiều lần mộng thấy tiên cảnh. “Thái Bình Quảng Ký” chép rằng, Đường Huyền Tông từng mơ thấy hơn mười vị Tiên cưỡi mây ngũ sắc đáp xuống sân rồng, mỗi vị cầm trên tay một loại nhạc cụ cùng diễn tấu. Bản nhạc ấy du dương thánh thót, đúng là âm thanh từ thiên thượng. Đến khi nhạc dừng lại, một vị Tiên tiến lên phía trước nói: “Bệ hạ có biết đây là bản nhạc gì không? Đây là ‘Tử Vân Khúc’ của Thần Tiên, giờ tôi muốn truyền thụ lại cho bệ hạ để làm âm nhạc tiêu chuẩn cơ bản của Đại Đường”. Lát sau ông tỉnh lại, dư âm của bản nhạc dường như vẫn còn vang vọng, ông hồi tưởng lại và sau đó làm thành bản Tử Vân Khúc nổi tiếng trong Nhạc phủ.

Vậy còn vũ khúc Nghê Thường thì sao? Theo sách “Dị Văn Lục”, đó là vào đêm rằm Trung Thu niên hiệu Khai Nguyên, Đường Huyền Tông ngẩng lên trời thấy trăng sáng, lòng mơ tưởng được đặt chân lên cung chị Hằng thăm thú. Lúc ấy, vị đạo sĩ La Công Viễn đã dùng phép tiên, biến dải lụa trắng thành chiếc cầu đưa hoàng đế lên cung điện Nguyệt.

Trong cung điện lưu ly rực rỡ ánh đèn, các nàng tiên môi thắm má đào, xiêm y lộng lẫy đang thướt tha nhảy múa theo tiếng nhạc du dương. Hoàng đế Đường Huyền Tông vốn am hiểu âm luật, nên chỉ cần lắng nghe vũ nhạc ông đã có thể ghi nhớ trong lòng.


Huyền Tông hỏi vị đạo sĩ: “Trang phục các tiên nữ đang mặc là gì?”.

Vị đạo sĩ trả lời: “Đó là vũ nhung phục, còn điệu múa này là Nghê Thường vũ y khúc”.

Trở lại Trường An, Đường Huyền Tông vẫn không quên cảnh tượng ông vừa chứng kiến. Ánh trăng vẫn sáng vằng vặc, và giai điệu ca múa của các tiên nữ như vẫn thấp thoáng ẩn hiện đâu đây, ông dần dần hồi tưởng rồi chép lại những gì mình nhớ được.

Một ngày kia tới trạm Tam Hương, Đường Huyền Tông dõi nhìn ra núi Tiên Sơn phía xa xa. Trước cảnh núi non điệp trùng, mây mờ che phủ, ông bỗng tức cảnh sinh tình, nhớ lại toàn bộ cảnh tượng trong chuyến du Nguyệt trước đây. Sau khi trở về, ông sáng tác Khúc Nghê Thường với kết cấu của một đại khúc sử dụng cho cung đình.


Cũng từ đó, hai chữ “Nghê Thường” đã trở thành điển tích để miêu tả những điệu múa thướt tha, vừa đẹp mà cũng vừa thoát tục thanh cao như chỉ có ở nơi tiên cảnh.

Vũ khúc Nghê Thường, hay chuyến du ngoạn của Hoàng đế lên cung trăng (Emperor’s Journey to the Moon):

Tâm Minh / Theo: ĐKN



CẢNH GIỚI CAO CỦA CUỘC SỐNG: BIẾT ĐỦ, BIẾT ĐIỂM DỪNG, BIẾT LẼ PHẢI

Làm người, có ba cảnh giới tưởng đơn giản nhưng lại khó đạt được, đó chính là: Điết đủ, biết điểm dừng và biết lẽ phải. Biết đủ để thấy đời hạnh phúc, biết điểm dừng để tiến xa hơn, biết lẽ phải để đi trên con đường chính Đạo, cuối cùng đạt được sự khoái đạt, ung dung và thoải mái.


Biết hài lòng

Có câu nói: “Chim hồng tước làm tổ trong rừng sâu, chuột uống nước sông mà no bụng.”, có nghĩa rằng, chim hồng tước chỉ cần sự tự do, có cành cây để làm nơi ở trong rừng, con chuột chỉ cần uống nước sông, cốt là có thể đỡ khát, no căng cái bụng, thế là đầy đủ, mãn nguyện.

Đối với con người thì không phải vậy, con người thường chạy đua với nỗi lo “cơm, áo, gạo, tiền”. Thế nhưng, dù có nhiều tiền đến mấy cũng không ăn quá 3 bữa chính trong một ngày.

Đời người vốn dĩ không hề đau khổ, đắng cay, bất quá chỉ vì con người truy cầu quá nhiều, lòng người vốn dĩ không mỏi mệt, mệt là bởi vì luôn cảm thấy không đủ. Con người khi đến với thế gian là hai bàn tay trắng, không đem theo thứ gì, khi từ giã cõi tạm cũng trống rỗng, hư không. Duy chỉ có hài lòng, biết đủ với cuộc sống hiện tại, mới cảm nhận được hạnh phúc đích thực.

Vào thời Minh có một người tên là Lão Trương, xuất thân từ một gia đình nghèo khó, ông dạy con trai nỗ lực học tập và làm việc chăm chỉ, với ông, hàng ngày có cơm ăn, áo mặc, như vậy là đủ. Mỗi ngày, Lão Trương thường thắp hương cầu nguyện, tạ ơn ông Trời đã ban cho mình một ngày bình an. Vợ ông cảm thấy khó hiểu, bèn cười nhạo ông: “Ngày ba bữa với cháo, với rau, phúc đức cái nỗi gì cơ chứ?”.

Lão Trương từ tốn trả lời: “Điều may mắn thứ nhất, chúng ta đang sống trong thời hòa bình, thịnh vượng. Điều may mắn thứ hai, người già, trẻ trong nhà đều có cơm ăn áo mặc, không bị đói và lạnh. Điều may mắn thứ ba là, trong nhà không có ai nằm trên giường bệnh,…, đây lẽ nào không phải hạnh phúc sao?”

Làm người nên noi gương Lão Trương, không lưu luyến quá khứ, không nhún nhường trước hiện tại, không lo lắng về tương lai, luôn thản nhiên và hạnh phúc với những gì bản thân đang có.

Khổng Tử có 3000 đệ tử, nhưng ông hài lòng nhất về đệ tử Nhan Hồi, không chỉ có tấm lòng ham học, dù cho hoàn cảnh sống không mấy thuận lợi nhưng vẫn luôn lấy niềm yêu thích học hành, lấy đủ làm niềm vui.

Một người giàu có, nếu không biết đủ và hài lòng, sẽ sống mãi trong lo lắng, u sầu, cuộc sống sẽ không có niềm vui và sự như ý.


Biết điểm dừng

Trong “Kinh Dịch” có nói: “Khi nào dừng thì dừng, khi nào hành thì hành”, nghĩa là biết lựa sức mình, dừng lại đúng lúc và đúng thời điểm, như vậy tiền đồ mới có thể tươi sáng. Nếu không biết điểm dừng, thì cuối cùng cũng tự rước họa vào thân.

Có một vị thiền sư tu hành trên núi, nổi tiếng xa gần, rất nhiều người xuống núi tìm ông để cầu Đạo.

Ngày nọ, có một cậu thanh niên ghé thăm, đúng lúc thấy vị thiền sư đang gánh nước lên núi. Cậu quan sát lượng nước trong hai thùng gỗ của Thiền sư không đầy, chỉ có một nửa, liền thấy rất tò mò, cậu liền hỏi vị Thiền sư: “Tại sao Ngài không đổ thêm nước?”

Vị thiền sư mỉm cười, và nói với cậu thanh niên: “Con xem, ta đã đổ vừa lượng nước vào hai cái xô. Nếu như ta đổ đầy sẽ rất khó di chuyển, trên đường đi nước sẽ dễ bị tràn ra. Nếu thêm lượng nước là ngoài khả năng cũng như nhu cầu của ta”.

Cậu thanh niên suy ngẫm hồi lâu rồi hiểu ra: Một người có thể làm bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, tất cả đều tùy sức mà lành, nếu quá phạm vi năng lực của bản thân, thì cuối cùng sẽ tự chuốc lấy thất bại mà thôi. Làm người, không chỉ cần biết bản thân mình thực sự cần gì, mấu chốt là cần biết khả năng của bạn thân ở đâu.

Khi về già, cần hiểu rằng sức khỏe đã không thể như trước, đừng cố tỏ ra cứng cỏi trước mặt mọi người, mệt rồi thì hãy cho phép bản thân được nghỉ ngơi, khi dục vọng nhiều quá, hãy hiểu rằng thực lực của bản thân không đủ, lúc đó, hãy nên tự hạ thấp đi tiêu chuẩn và kì vọng của bản thân, thay vì là cứ chấp nhất vào con đường và mục tiêu “quá sức” đối với chính mình.

Biết điểm dừng không phải là hèn nhát hay yếu nhược, đôi khi cũng là một sự dũng cảm. Chính là “khi cần làm thì hãy làm, khi cần dừng thì hãy dừng”, cần lựa sức mình.

Trên thế gian này, danh lợi là vô biên, phiền phức cũng đầy rẫy, khó nạn liên miên, chỉ có cách “biết người, lượng sức mình”, biết cách dừng lại đúng thời điểm, như vậy mới có thể tìm được chốn bình yên trong tâm hồn.


Biết lẽ phải

Cái được gọi là biết điều, biết lẽ phải, chính là không nói về thành tựu trước mặt người kém, không tỏ ra bản thân giàu có trước người có hoàn cảnh khó khăn, không bàn về việc bản thân có sức khỏe tốt trước người có thân thể yếu ớt. Làm người, cần học cách khiêm tốn. Trên thực tế, luôn có những người luôn cho mình là đúng, cao minh và xuất sắc hơn người, kiểu người này luôn tỏ ra mình có bản sự và xuất chúng, nhưng kì thực là không biết lẽ phải.

Có một câu nói rất hay: “Trời không tự khoe mình cao, đất không tự khoe mình dày”.

Những người không suy xét đến cảm nhận của người khác, luôn chủ động khoa trương bản thân, kì thực là biểu hiện của người có EQ thấp.

Người biết điều và lẽ phải, họ biết lựa chọn và nói những lời nên nói, làm những điều nên làm, hiểu được cảm nhận của đối phương, bởi vậy, mọi người thường vui vẻ khi được kết giao với họ. Cuộc sống là quá trình tích lũy dần dần và liên tục, vì vậy chúng ta cần phải liên tục “phủi bụi” trong tâm hồn.

Làm người biết đủ và hài lòng, sẽ cảm nhận được sự thản nhiên, bình an trong tâm hồn, tích về cho mình thật nhiều phúc báo vì tấm lòng luôn khoáng đạt, rộng mở.

Làm người biết tiến lên và dừng lại đúng lúc sẽ tránh được nhiều tai họa, biết lựa sức mình để làm nên những điều lớn lao.

Làm người biết lẽ phải trên đời, không tự khoe khoang, không tự phô trương, luôn vui sống hòa thuận, sẽ có một cuộc sống tốt đẹp, thuận lợi.

Lan Hòa biên tập
Theo: vandieuhay

CÀNH LÊ TRẮNG ĐIỂM MỘT VÀI BÔNG HOA


Hôm nay là ngày đầu tiên của mùa Xuân nước Úc, mấy cây lê và sugar plum ở vườn sau nhà mình có nụ đầy và mới nở mấy đóa làm mình chợt nhớ mấy câu trong Truyện Kiều:

"Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa." 



TẠI SAO LÃ ĐỘNG TÂN NÓI: "TA THÀ ĐỘ ĐỘNG VẬT CÒN HƠN ĐỘ NHÂN!"

Trong Bát tiên lưu truyền rất nhiều kỳ tích trong việc trừng trị cái ác và hồng dương điều thiện, cứu độ con thế gian và giảm bớt sự đau khổ. Tám vị thần bất tử là Trương Quả Lão, Hán Trung Ly, Hàn Tương Tử, Thiết Quản Lý, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Hà Tiên Cô và Lam Thải Hòa.


Theo dân gian, tám vị thần bất tử này tượng trưng cho nam, nữ, già, trẻ, giàu, sang, nghèo, hèn thuộc các tầng lớp khác nhau trên thế gian, và muốn nhắn nhủ thế gian rằng: mọi người ở mỗi tầng lớp khác nhau trong xã hội đều có thể trở thành bất tử thông qua tu luyện.

Lã Động Tân lúc 5 tuổi đã vượt qua 2 người thầy

Lã Động Tân, họ Lữ tên Nham, tự là Động Tân người thời nhà Đường, được xưng là Lã Tổ. Họ Lữ làm quan từ bao đời nay, cha của Lã Động Tân là Lã Nhượng quê ở quận Vĩnh Lạc, Phổ Châu, ông là Thứ sử Hải Châu lúc bấy giờ, tương truyền rằng trước khi sinh ra ông, mẹ của Lã Động Tân đã có hai lần thu mộng thấy điềm báo: bà đã nhìn thấy có rất nhiều vị thần xếp hàng để phái đệ tử đi đầu thai. Khi Lã Động Tân sinh ra, trong nhà tỏa ra hương thơm, ngoài trời có tiếng nhạc du dương.

Năm bốn tuổi, Lã Động Tân đã học xong kinh sử,lên năm tuổi ông đã có thể vượt qua hai người thầy, lên tám tuổi ông đã có thể đọc thuộc lòng và làm thơ. Khi đối mặt với sự kiểm tra của cha mình, Động Tân luôn có thể đối đáp trôi chảy, và cũng có thể bày tỏ những quan điểm và kiến giải khác nhau. Lã Nhượng vì thế mà cảm thán nói: “Đây là con ngựa ngàn dặm của nhà ta.”

Lã Động Tân cũng nói với cha mình rằng: “Học Khổng Tử là con đường đúng đắn để nhập thế gian. Lời nói của ông ấy dễ hiểu và thân thiện, và ông ấy có thể làm hình mẫu cho người khác. Nếu mọi người đều như vậy, thế gian có thể hòa bình, nhất thời không phải cai quản. Về phần nghĩa trọng sinh thì xưa nay Trong “Đạo Đức Kinh” ai cũng tu hành, trị vì vạn năm cũng không bao giờ có loạn … ”

Lã Động Tân – Ảnh Internet

Thề sẽ cứu độ 3.000 người

Một ngày nọ, Lã Động Tân hỏi sư phụ Hán Trung Ly của mình : “Đệ tử đã được Sư phụ giải thoát, siêu thoát sinh tử, có được bí quyết trường sinh vô cùng vi diệu, trong đạo môn của chúng ta vẫn còn có tận cùng của luân hồi sao?

Hán Trung Ly nói: “Đó là vô tận! Kể từ khi vũ trụ bắt đầu hỗn độn đến nay, một tiểu kiếp khiến thế gian hỗn loạn, thánh nhân đã tận, Nho giáo cũng đã kiệt, đạo giáo và nho giáo cũng đã kiệt. Đây là số kiếp.

Lã Động Tân lại hỏi: “Vào ngày sư phụ thành đạo, lúc đó là bao nhiêu tuổi?

Hán Trung Ly nói: “Tính từ đời Hán đến đời Tống là 1.000 năm có lẻ”

Lã Động Tân hỏi: “Sư phụ 1.100 năm, cứu được bao nhiêu người?”

Hán Trung Ly nói, “Con chỉ có thể cứu được 1 người”

Lã Động Tân hỏi: “Tại sao con chỉ cứu được một đệ tử? Có phải do môn phái của chúng ta không chịu từ bi cứu độ chúng sinh?. Nếu sư phụ cho đệ tử ba năm, chỉ ở mảnh đất Trung Nguyên này con sẽ cứu độ 3000 người, quảng truyền Đạo pháp chúng ta”.

Hán Trung Ly nghe vậy thì cười lớn: “Thưa thầy, im đi! Trên đời có rất nhiều người bất trung, và cũng có rất nhiều người bất hiếu. Người không nhân từ và bất chính làm sao có thể trở thành thần thánh được ? ta đã dạy được ba năm, nhưng ta cũng chỉ có tìm được một người có thành quả đó là con mà thôi”.

Lã Động Tân nói: “Hôm nay con xin từ biệt sư phụ, đệ tử đi vân du.”

Vô duyên đối diện bất tương phùng

Sau khi Lã Động Tân nói lời từ biệt với sư phụ của mình, ông quyết định tìm kiếm người mà ông có thể độ nhân. Tuy nhiên, ông tìm kiếm cả năm trời cũng không tìm được ai có nhân duyên.

Vào một ngày, Lã Động Tân lên đỉnh Thái Hư ngắm cảnh, từ xa ông đã nhìn thấy một thanh khí trung thiên – khí xanh bay lên. Lã Động Tân đến nơi có thanh khí hiện lên, sau khi dò hỏi,mới biết là ở phủ thành Tây Kinh Hà Nam có một vị hậu duệ của Ân Khai Sơn thời Đường, người này hơn 30 tuổi, có 7 đời là thân nữ nhi, không xuất giá, mấy đời phụng đạo, tích được âm quả.

Lữ Động Tân hóa thành một vị đạo nhân bẩn thỉu, đi tới trước cửa hàng Ân Gia. Vị phu nhân kia mặc trang phục đạo sĩ, hai đầu lông mày tiềm ẩn thanh khí. Động Tân gọi “Kê Thủ”,vị phu nhân lúc đó đang nói chuyện với người trong cửa hàng, và khi nghe thấy giọng nói, vị phu nhân quay lại và nói: “Ông đã vất vả quá”

Lã Động Tân đắc đạo thành tiên

Động Tân bước tới để xem xét và thấy người phụ nữ đó nộ khí quá nặng nên Động Tân nói: “Thật đáng tiếc!” Sau đó ông nhét một mảnh giấy vào tay áo, trong có bốn câu thơ:

Xuất sơn phát nguyện độ tam thiên,
Tầm biến diêm phù độ kết duyên.
Đặc địa lai thì chân hữu ý,
Khả liên Ân thị cốt nan tiên.

Dịch nghĩa:

Rời núi có nguyện vọng độ 3 ngàn người,
Tìm khắp Diêm Phù chưa có ai kết duyên.
Khu đắc địa này lúc đến thật có ý,
Đáng tiếc người họ n xương khí khó mà thành Tiên.

Sau bài thơ, ông viết: “Khẩu khẩu Tiên tác.” Ân Thị mở ra, vừa nhìn nhận ra nhìn thấy 口口 (khẩu khẩu) chính là chữ Lã (吕),biết người bên kia là hóa thân của Lã Tổ, bà vội vàng đổi theo, nhưng người đàn ông đã biến mất như một cơn gió. Đó chính là “Vô duyên đối diện bất tương phùng”.

“Bất thức Lư Sơn chân diện mục” – không thấy được dạng thật của núi Lư Sơn

Ở Đông Kinh Khai Phong phủ phố Mã Hàng có một vị quan viên tín phục Đạo giáo tên là Vương Duy Thiện, vì chúc mừng sinh nhật của Thuần Dương chân nhân. Đã chuẩn bị trai tiệc chiêu đãi 2000 đạo sĩ đến lập đàn tại nhà.

Lã Động Tân biết tin, biến thành một người đàn ông nghèo xơ xác, trên người đầy mụn nhọt. Nhìn thấy Vương Duy Thiện là một vị minh quân, giữa lông mày hiện lên lục quang, nhận thấy ông ta một lòng muốn tìm đường tu đắc Đạo, nhưng cơ hội chưa tới. Lã Động Tân suy nghĩ một lúc, và quyết định sử dụng công năng của mình để khai sáng cho ông ta.

Sau khi trai tịnh đã xong, Lã Động Tân nói với Vương Duy Thiện: “Bần Đạo thích vẽ tranh thủy mạc, hãy mang lụa đến, ta muốn vẽ một bức thủy mặc để tạ ơn”. Mọi người nhìn thấy Lã Động Tân vẩy mực lên lụa và làm rách tấm vải lụa. Vương Duy Thiện thấy vậy nói: “Người này thật lỗ mãng! Lừa gạt quan hạ! Đem hắn đi.”

Thấy Vương Duy Thiện tức giận, Lã Động Tân quay người bỏ đi. Khi đám đông đến, Lã Động Tân đã biến mất trong một làn gió. Chỉ thấy trên không có một tờ giấy trắng, mọi người mở ra trong đó có bốn câu thơ:

Trai Đạo dục cầu tiên cốt,
Cập chí ngã lai bất thức.
Yếu tri bần đạo tính danh,
Đán khán quyên hạ đan đích.

Dịch nghĩa:

Đến trai Đạo để tìm tiên
Ngay khi ta đến lại không biết
Muốn biết tính danh của bần đạo
Nhìn vào tranh lụa là thấy ngay.

Vương Duy Thiện cầm lấy tấm lụa, vừa nhìn là thấy chân dung toàn thân của Lã Động Tân, lúc này mới biết quý nhân tới là thần, nhưng hối hận đã muộn.

Sau đó Vương Duy Thiện xin triều đình từ quan và đi tu ở núi Võ Đang.

Lã Động Tân triển hiện Thần uy – Ảnh: Internet

Có tâm cứu người, không ngộ rượu biến thành nước giếng.

Một lần, Lã Động Tân, đóng giả làm người bán dầu, đi tới đi lui trên phố để bán dầu, để tìm người có thể cứu độ. Còn tiêu chuẩn của ông là: người đến mua dầu mà không đòi lấy thêm dầu liền được ông hóa độ.

Đáng tiếc là Lã Động Tân đã bán dầu được vài năm, ai mua cũng chỉ muốn đổ thêm một ít dầu, khi đó chỉ có một bà lão đến mua dầu, bà ta mua bao nhiêu đều không đòi hỏi đổ thêm dầu. Sau đó Lã Động Tân hỏi bà lão: “Mọi người mua dầu đều muốn đổ thêm, tại sao bà không cần thêm?” Bà lão trả lời: “Bán dầu không dễ, làm sao bà có thể xin thêm được”. Bà lão về sau còn mang rượu đến để tạ ơn Lã Động Tân.

Lã Động Tân vì muốn cứu độ bà, nên đã ném vài hạt gạo xuống giếng trong san của bà lão và nói với bà lão rằng bán nước giếng sẽ kiếm được nhiều tiền. Lã Động Tân nói xong liền rời đi. Bà lão nhìn vào thì thấy nước trong giếng đã thành rượu. Bà lão sau đó bắt đầu bán rượu trong giếng, bán được một năm thì kiếm được rất nhiều tiền.

Một ngày nọ, Lã Động Tân đến nhà bà cụ, thì xảy ra chuyện, bà cụ đã ra ngoài và chỉ có con trai của bà cụ ở nhà. Lã Động Tân hỏi con trai bà lão: “Mấy năm nay rượu bán thế nào?” Người con trai nói: “Cũng tốt, nhưng tiếc là rượu không cho lợn ăn được.” Nghe xong Lã Động Tân không khỏi than thở: “Con người tham lam đến mức này sao?”.

Sau đó ông lấy gạo trong giếng và rời khỏi nhà của bà lão. Khi bà lão trở về nhà, bà bàng hoàng phát hiện rượu trong giếng đã biến thành nước. Bà lão vội vã ra ngoài tìm Lã Động Tân nhưng chẳng thấy một bóng người.

Lã Động Tân từ Nhạc Dương đến Động Đình. Sau đó ông để lại bài thơ: Ba lần đến Nhạc Dương người không biết – Ngâm thơ bay qua Động Đình hồ.

Thần cứu người bằng cách nhìn vào lòng người, thấy người ta làm việc thiện thì ban thưởng, phước báu này có thể là của cải, sức khỏe, bình an, thậm chí là quan chức, địa vị.

Tuy nhiên,việc thưởng phước cho người tốt là làm cho người ta tiếp tục hướng thiện, nâng cao đạo đức của bản thân, nếu vì phước báo mà tham lam thì sẽ mất phước vì lòng tham. Vì vậy, Lã Động Tân đã lấy gạo từ giếng lên.

Trong suốt quãng thời gian ở trần thế Lã Động Tân đã chứng kiến cảnh con người đã quá mê ở chốn người thường, không thể cứu độ được. Nên ông nói một câu: “Ta thà độ động vật còn hơn độ nhân”.

Nguyệt Hòa / Theo: vandieuhay