Monday, January 30, 2017

ĐẬU NGỰ

Thức ngon xưa tiến quân vương 
Tinh hoa trời đất đượm hương kinh thành 
Chè đậu ngự mát và thanh 
Đêm, dâng chén ngọc an lành châu thân
(Chè đậu ngự - Võ Quê)


Người Việt xa xứ, mỗi khi thèm chè đậu ngự thì phải dùng đậu ngự khô. Ngâm nước nhiều giờ liền cho vỏ mềm rồi bóc ra như đậu ván, khi ăn sẽ không được thơm ngon và bùi bở như đậu tươi.

Giàn đậu ngự và những kỷ niệm xưa

Đậu ngự có tên khoa học là Phaseolus thuộc họ đậu (Legumineuse) có nguồn gốc từ các nước Châu Mỹ. Ở nước ta còn được gọi là Ðậu kẻ bạc, Ðậu tiềm… loại cây sống được khoảng hai năm, cũng có thể sống lâu hơn do có rễ củ.

Cây có thân quấn dài tới 7-8m. Lá có 3 lá chét hình trái xoan, gốc tù, đầu nhọn, lá già nhẵn. Ra hoa vào mùa xuân và mùa hè, có màu trắng lục, nhỏ, cách quãng, xếp thành chùm thưa ở nách lá, mang hoa về phía nửa trên. Quả đậu ngự ngắn, thân dẹp, vỏ mỏng, dai, nhẵn, hơi cong hình cung. 


Khi già quả trở màu hơi úa, hạt lớn làm quả nặng thòng xuống đầy giàn... tách bên trong quả có từ 3 đến 5 hạt, màu trắng đốm nâu hoặc đốm hồng, bóc ra bên trong thịt đậu mầu trắng ngà to cỡ ngón tay cái, dạng trứng hơi giống hình cái bao tử, thường thay đổi cả về kích thước và màu sắc. 

Trong y học dân gian ở nước ta, đậu có dược tính được dùng làm thuốc, hỗ trợ các chức năng sinh học của cơ thể. Ăn đậu thường xuyên làm giảm lượng Insulin cần thiết để chữa bệnh tiểu đường, vì đậu làm đường trong máu tăng lên rất chậm.


Hạt đậu ngự là nguồn dinh dưỡng rất phong phú, có lượng chất đạm cao hơn các các loại ngũ cốc khác từ hai đến năm lần. Đậu tươi có mùi rất thơm, ít tinh bột, nhiều bó sợi nên dẻo bùi. Đậu khô nhiều tinh bột hơn nhưng không thơm và bùi bằng đậu tươi.

Đậu ngự được trồng rộng rãi khắp thôn xóm, nhất là vùng nông thôn ở nhiều tỉnh thành nước ta và hiện đang là một loại cây trồng phát triển mạnh tại các tỉnh tây nguyên như : Lâm Đồng, Dak Nông, Daklak …. 


Đậu ngự dễ trồng, tạp tốt, có khả năng sống trên đất xấu, đất nghèo màu bị rửa trôi. Lá dùng làm thức ăn chăn nuôi; giá trị dinh dưỡng cao hơn lá lạc, lá đậu tương… Quả hạt khi còn non có thể làm rau xào ăn với cơm. Hạt đậu già dùng chế biến được nhiều món ăn khác nhau như: luộc, hấp cơm, nấu chè, nấu xôi, nấu súp, hầm xương, chiên giòn, làm mứt ngày tết … 

Cách bóc vỏ đậu ngự nhanh: Nấu nồi nước sôi, tắt bếp, trút đậu vào đậy nắp để vài phút. Chắt bỏ nước nóng, cho nước lạnh vô là bóc vỏ dễ dàng, chỉ một loáng là xong cả rổ đậu to. 


Cách chế biến chè đậu ngự: Đem hấp cách thủy cho đậu chín kỹ, ăn thử thấy dẻo mềm là được, đem ra đậy kín nắp cho khỏi khô, từ từ chờ nguội. Cho lượng nước đủ dùng vào nồi, đặt lên bếp cho sôi, cho đường phèn vào khuấy (chè đậu ngự nấu với đường phèn mới ngon và chất lượng), đường tan sôi đều, vớt sạch bọt, chè này chỉ nên nấu với độ ngọt nhẹ. 

Nhắc nồi xuống cho vani, nhẹ nhàng trút tô đậu vào, đậy nắp lại để im cho chè thấm khoảng sau 1h chè nguội - Múc thật nhẹ nhàng ra chén hoặc ly để giữ hạt đậu còn nguyên, bỏ vào tủ lạnh ăn dần, ăn ngay thì bỏ ít đá cho lạnh ăn mới ngon. 


Ở quê tôi hầu như nhà nào cũng trồng ít nhất một vài bụi đậu ngự cho leo trên hàng rào hoặc làm dàn bít hết khoảnh sân trước hiên nhà để đậu leo cho mát sân nhà, lại có quả ăn thường xuyên.

Còn nhớ mãi, giàn đậu mẹ trồng trước sân nhà quanh năm xanh um tùm mát mẻ, trái non trái già “thòng” xuống khỏi giàn trông hết sức đẹp mắt.


Khi trái bắt đầu già, cứ vài ba bữa mẹ lại lấy cây khua nhẹ vào giàn đậu để đuổi rắn, lỡ có con nào còn ẩn nấp sợ mà bỏ đi, rồi bảo chị em tôi bắc ghế hái những trái đậu vừa già tới độ, lột vỏ lấy hạt đem vào cho mẹ, khi thì mẹ nấu chè, khi nấu xôi hoặc hầm với xương, lâu lâu mẹ cải thiện bữa ăn bằng trái non xào tỏi ăn với cơm nóng, hoặc nấu nồi cháo đậu ngự chung với gạo, với thịt để thay đổi khẩu vị cho cả nhà. 

Tuần nào gia đình tôi cũng được ăn ít nhất một vài lần những món mẹ chế biến từ giàn đậu đó. Cả nhà tôi ăn riết mà sao vẫn không chán. Lại thêm câu nói “hóm hỉnh” của mẹ : ”Loại đậu này ăn rất tốt cho sức khỏe, hồi xưa chỉ có vua chúa mới được thưởng thức. Bây giờ có sẵn “của nhà của cửa” các con cứ ăn đi, không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc”. 


Người mẹ hiền kính yêu nay đã ra người thiên cổ. Chị em tôi nay đã khôn lớn trưởng thành, mỗi đứa sống một phương trời, đứa nào cũng có gia đình riêng, có cuộc sống ổn định. Có những đứa định cư ở nước ngoài, xa quê hương đã lâu thi thoảng mới có dịp ghé về thăm bố, thăm lại quê nhà nơi “chôn rau cắt rốn”, với biết bao kỷ niệm thân thương của thời ấu thơ, bên người mẹ hiền yêu dấu một đời cực khổ, hy sinh vì chồng con … 

Giàn đậu trước sân nhà quanh năm vẫn xanh um tươi tốt, nhưng người trồng trọt chăm bón bây giờ không phải là mẹ mà là bố, bố cứ duy trì giàn đậu như khi mẹ còn sống, bụi này tàn lại có bụi khác thay mới để bố luôn tưởng nhớ đến người vợ hiền năm xưa. 


Những hạt đậu bố trồng no nước no phân béo “úc núc”, nhưng tiếc thay bây giờ không còn bàn tay khéo léo của mẹ chế biến thành những món ngon món lạ cho cả nhà thưởng thức, đành phải bán dùng tiền đó vào việc nhang khói cho mẹ, để hình bóng và linh hồn mẹ mãi quanh quẩn bên bố con chúng tôi đi suốt cuộc đời này và luôn hiện hữu trong ngôi nhà thân yêu đầy ắp những kỷ niệm…

Theo Dân Việt
(Sưu tầm trên mạng)


ƯỚC GÌ

Tôi đã nhiều lần nghe Mỹ Tâm hát bài "Ước gì", mỗi lần nghe là một lần cảm động. Bài hát nói lên sự trăn trở của những cái đã mất mát mà còn luyến tiếc hy vọng sẽ kéo được thời gian trở lại để thay đổi chuyện đã qua. Cho nên trong cuộc sống khi làm những việc gì thì phải suy nghĩ chính chắn chớ không phải biết sai mà vẫn làm, làm để rồi hối hận thì nó đã quá trễ rồi. Thời gian không bao giờ trở lại, chuyện cũ đã thành một dấu hằn trong tâm.


Hôm nay tôi đọc được một câu chuyện rất ngắn, Cái "ước gì" trong câu chuyện này rất trong sáng, rất chân thành, bao dung và đấy ắp tình người: "tình anh em". Một câu chuyện nhỏ nhưng sẽ làm con tim bạn cảm thấy ray rức đấy. (LKH)

ƯỚC GÌ

Tôi được tặng một chiếc xe đạp rất đẹp nhân dịp sinh nhật của mình. Trong một lần đạp xe ra công viên dạo chơi, có một cậu bé cứ quẩn quanh ngắm nhìn chiếc xe với vẻ thích thú và ngưỡng mộ.
“Chiếc xe này của bạn đấy à?”, cậu bé hỏi.
“Anh trai mình đã tặng nhân dịp sinh nhật của mình đấy”, tôi trả lời, không giấu vẻ tự hào và mãn nguyện.


“Ồ, ước gì tớ...”, cậu bé ngập ngừng.
Dĩ nhiên là tôi biết cậu bé đang ước điều gì rồi. Cậu ấy hẳn đang ước ao có được một người anh như thế. Nhưng câu nói của cậu thật bất ngờ đối với tôi.
“Ước gì tớ có thể trở thành một người anh như thế!”, cậu ấy nói chậm rãi và gương mặt lộ rõ vẻ quyết tâm. Sau đó, cậu đi về phía chiếc ghế đá sau lưng tôi, nơi đứa em trai nhỏ tàn tật của cậu đang ngồi và nói:
“Đến sinh nhật nào đó của em, anh sẽ mua tặng em chiếc xe lăn, em nhé!”


(Sưu tầm trên mạng)

Bài hát "Ước gì" của Mỹ Tâm, bây giờ nghe lại mới thấm thía ước gì không chỉ có tình yêu của 2 người, ước gì có thể là mong muốn gì đó cho thế gian này. Khi Mỹ Tâm dừng xe hát cùng một người khiếm thị bài hát "Sầu tím thiệp hồng", tôi mới biết "ước gì" của Mỹ Tâm cũng cao cả lắm.



CẦU RẠCH MIỄU

Mấy ngày nay xem lại chương trình "Người Hùng Tí Hon", trong một tiết mục dự thi, nghe Cu-Tin Huỳnh Minh Hoàng 4 tuổi nghêu ngao bài dân ca. Lắng nghe lắm mới nghe được câu "Bậu qua phà Rạch Miễu".


Hai tiếng "Rạch Miễu" cứ vang vang trong tai, tôi lên mạng mới biết đó là bài hát: "Phải lòng con gái Bến Tre" do Phan Ni Tấn sáng tác, phổ nhạc từ bài thơ: "Ta may mắn được làm thi sĩ nhờ đã phải lòng gái Bến Tre" của Luân Hoán. Tôi nghe hết bài hát do Quang Lê và Mai Thiên Vân trình bày, hay quá, dễ thương và cảm động quá.
Nhưng bây giờ phà Rạch Miễu đã đi vào dĩ vãng vì cây cầu Rạch Miễu đã khánh thành ngày 19/01/2009. Có một tâm tình của một người dân bản xứ bùi ngùi tiếc quá cho con phà Rạch Miễu.

Bậu sang phà Rạch Miễu, Qua lẽo đẽo theo sau,
Đôi bóng trăng trên đầu màu (ơ hờ) hường như áo cô dâu.
Áo bậu đỏ cánh kiến (ơ hơ) da bậu vàng phù sa,
Mắt ngời xanh nước biển, tim bậu hồng lòng qua.
Bậu sang phà Rạch Miễu, ngoe nguẩy xuống Bến Tre,
Về Cái Mơn, Lương Hòa hay là, Về Sơn Đốc, Ba Tri ?
Guốc bậu rụng tiếng lá (ơ hơ), thoang thoảng mùi làm duyên,
Thoáng mùi thương quá đỗi, mùi tình Lục Vân Tiên. 
(LKH)

CẦU RẠCH MIỄU

Cây cầu Rạch Miễu, được khởi công ngày 30/4/2002, với vai trò tạo động lực phát triển cho tỉnh Bến Tre, địa phương bị cô lập với các tỉnh ĐBSCL khác bởi bốn bề sông nước Tiền giang.

Cầu Rạch Miễu là công trình cầu dây văng đầu tiên do Việt Nam tự thiết kế, thi công, dài 8.246m. Cầu đã được hợp long ngày 20/8/2008 nhưng chưa thể thông xe.
Hiện nhà thầu đang tiến hành nốt phần thi công bê tông nhựa nóng mặt cầu, hệ thống chiếu sáng, lắp đặt lan can, xây dựng trạm thu phí. Dự kiến cầu sẽ chính thức khánh thành vào cuối năm.
Tổng trị giá đầu tư cầu khoảng 1.400 tỉ đồng, trong đó 58% vốn ngân sách nhà nước và 42% vốn BOT.
Cây cầu hoàn thành sẽ mang lại niềm vui lớn cho nhiều người, đặc biệt là với người dân Bến Tre khi cửa ngõ chính vào tỉnh này rộng mở, cùng với nó là nhiều cơ hội giao thương đầy hứa hẹn...


Nhưng thật lòng cũng thấy tiếc... Tiếc những chuyến phà đã bao năm tận tụy đưa khách sang sông.
Rồi đây, hình ảnh đó sẽ không còn.
Có cảm giác như sắp phải mất một cái gì thân thương lắm...
Rồi đây, mỗi khi bon chen mệt mỏi chốn thị thành, tìm về ẩn dật ở xứ dừa, bậu sẽ không còn qua phà Rạch Miễu để ai đó lẽo đẽo theo sau nữa... Bậu sẽ được bon bon trên cây cầu dây văng mới biết bao thuận tiện. Nhưng, ngược lại, bậu mất đi cái phút thanh thản ngắn ngủi đứng trên phà, thả hồn ngắm trời mây sông nước, ngắm những xóm làng ven sông xum xuê cây trái, ngắm những nắng sớm, những chiều tà và những giề lục bình vô định trên sông... Ngắm cho thật đầy, hít cho thật sâu, để khi dời gót, lại thêm nhớ, thêm thương mảnh đất và con người hồn hậu ở miền sông nước hiền hòa này...


Và, bậu cũng không còn mấy cơ hội để giương máy chộp lại những khoảnh khắc như ráng chiều hôm ấy.
Tiếc...
07/10/2008
(Sưu tầm trên mạng)



THIÊN LONG BÁT BỘ CỦA KIM DUNG

Trong “Thiên Long bát bộ” của nhà văn Kim Dung, các nhân vật tuy khác nhau nhưng đều có một vị Thần đối ứng trên thiên thượng. Quan điểm không giống nhau sẽ có nhận thức khác nhau, điều này cũng giống như tầng tầng lớp lớp hình thái chúng sinh cấu thành nên đại thiên thế giới, trong đó bao gồm cả con người thế gian.


Thiên Long bát bộ của Kim Dung: 8 nhân vật đối ứng 8 bộ Thần Hộ Pháp

“Thiên Long bát bộ” bắt nguồn từ Kinh Phật, dùng để chỉ 8 dạng thần hộ Pháp trong Phật giáo, bao gồm Thiên Chúng, Long Chúng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu Na La.

Thiên Long bát bộ chính là hình ảnh phản ánh “thế giới chúng sinh”, ngụ ý tượng trưng cho tầng tầng chúng sinh trong đại thiên thế giới, phía sau bao hàm sự vô biên và siêu thoát của Phật Pháp. Ý nghĩa chính của toàn bộ tiểu thuyết đơn thuần chính là “vô nhân bất oán, hữu tình giai nghiệt”, tức là không người nào mà không ai oán, có tình đều là nghiệt. Tác phẩm hùng vĩ bi tráng, quả là một bộ sử thi lớn lột tả chân thật và sâu sắc hết nhân tính và bi kịch nhân gian. Như vậy, mỗi nhân vật chính trong tác phẩm đều biểu thị cho bộ tương ứng trên thiên giới.

Tiêu Phong – Thiên Chúng


Cảm giác mà Tiêu Phong mang đến cho người ta trong toàn bộ tiểu thuyết chính là hình ảnh của Thiên Chúng, bất kể là thân hình, tướng mạo, khí chất, cho đến công phu, nhân phẩm, tính cách đều toát ra được phong thái của Thiên Chúng. Ngoài ra, Tiêu Phong cũng là nhân vật chính đầu tiên trong truyện, ăn khớp với địa vị đứng đầu của vị Thần hộ Pháp này.

Ghi chép của Phật gia có nói: “Thọ mệnh của Thiên Chúng cuối cùng rồi cũng sẽ chấm hết, Thiên Chúng cũng sẽ phải chết đi. Khi Thiên Chúng chết thường xuất hiện năm loại trạng thái: xiêm y cáu bẩn, vòng hoa trên đầu úa tàn, thân thể bốc mùi, nách đổ mồ hôi, không thích vị trí của bản thân, đây chính là “thiên nhân ngũ suy”, là điều bi ai lớn nhất của một vị thần tiên”.

Thần vũ của Tiêu Phong tuy giống hệt Thiên Chúng, nhưng vẫn không tránh khỏi việc anh hùng mất sớm, nỗi bi ai của ông tuy không giống như Thiên Chúng, nhưng hết thảy đều khiến người ta phải chắp tay ngưỡng mộ. Tiêu Phong không những là Thiên Chúng, mà còn là thủ lĩnh của chúng Thần—vua trời Đế Thích.

Đoàn Dự – Long Chúng


Trong bát bộ thì Thiên Chúng và Long Chúng đứng đầu, ngoài Tiêu Phong thì Đoàn Dự là nhân vật chính thứ hai. Ngoài ra, Đoàn Dự là hoàng đế tương lai của Đại Lý, trong mắt người cổ đại, hoàng đế chính là rồng; sự tôn kính đối với rồng thời Ấn Độ cổ, cũng ăn khớp với thân phận vương tử của Đoàn Dự được mọi người tôn sùng.

Long Chúng hướng Phật ngày từ lúc còn nhỏ, điều này cũng phù hợp với Đoàn Dự. Ngoài ra, các hoàng đế trong suốt chiều dài lịch sử của Đại Lý đều xuất gia ở “Thiên Long tự”, điều này cũng đủ để chứng minh mối quan hệ giữa các hoàng đế Đại Lý và rồng, qua đó cho thấy địa vị “Thần Long” của Đoàn Dự.

Tứ đại ác nhân – Dạ Xoa


Quỷ Dạ Xoa, thường xuất hiện theo bầy đoàn, từ đó mới có những danh từ như “Dạ Xoa bát đại tướng”, “thập lục đại Dạ Xoa tướng”, v.v…

Kim Dung từng đề cập: “Dạ Xoa mà chúng ta nói đến hiện nay đều là chỉ ác quỷ, nhưng trong kinh Phật, rất nhiều Dạ Xoa hãy còn tốt, nhiệm vụ của ‘Dạ Xoa bát đại tướng’ là ‘duy hộ cảnh giới của chúng sinh'”.

Như vậy chúng ta có thể thấy được, ý của Kim Dung là Dạ Xoa không hẳn đều là ác quỷ như trong tưởng tượng của mọi người. Dạ Xoa cũng có mặt tốt của họ. Dựa vào căn cứ trên đây, người ta cho rằng Dạ Xoa chính là tứ đại ác nhân.

Tứ đại ác nhân là một nhóm được Kim Dung dày công tạo dựng, mặt mũi dữ tợn, hung ác tàn bạo, giống như “Dạ Xoa” mà chúng ta thường nói đến. Tuy nhiên, song song đó, tứ đại ác nhân cũng có những nỗi đau sâu thẳm từ tận đáy lòng, ai nấy cũng đều có một mặt tốt. Ngay cả ác nhân bại hoại nhất là Vân Trung Hạc cũng từng cứu mạng Vương Ngữ Yên. Vậy nên, quỷ Dạ Xoa trong nhóm tứ đại ác nhân đã nói với chúng ta rằng không có thiện ác tuyệt đối.

A Châu – Càn Thát Bà


Càn Thát Bà là một vị Thần không ăn rượu thịt, chỉ lấy hương thơm làm thức ăn, là một trong những nhạc thần phục thị vua trời Đế Thích, trên thân tỏa ra mùi hương lạnh nồng, “Càn Thát Bà” trong tiếng Phạn lại có ý nghĩa “biến hóa khôn lường”. Mùi hương và âm nhạc đều là thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện, khó nắm bắt được. Từ trong đoạn giải thích này chúng ta rất dễ dàng liên tưởng đến rằng, Càn Thát Bà chính là A Châu.

Hai nữ nhân có quan hệ gần gũi với “vua trời Đế Thích” tức Tiêu Phong nhất chính là A Châu và A Tử. A Châu tất nhiên là một trong những nhạc Thần phục vụ vua trời Đế Thích. A Châu vừa mới xuất hiện đã là “biến hóa khôn lường”, dễ dàng cải trang thành rất nhiều nhân vật, nhưng mùi hương trên người cô lại bị Đoàn Dự nhìn rõ thân phận.

Một tầng hàm nghĩa từ đó được suy ra, chính là: giấc mộng cưỡi ngựa chăn cừu ngoài biên ải đã không thành, A Châu đối với Tiêu Phong mà nói chỉ là hình ảnh thấp thoáng lúc ẩn lúc hiện, để lại một mùi hương thoảng qua, nhưng lại lấy đi con tim của Tiêu Phong. Từ đó, “vua trời Đế Thích” Tiêu Phong đã xuất hiện điềm báo của “thiên nhân ngũ suy”.

Mộ Dung Phục – A Tu La


A Tu La không còn nghi ngờ gì nữa, chính là Mộ Dung Phục.

A Tu La có những đặc điểm dưới đây: Y thường hay dẫn theo thuộc hạ đánh nhau với vua trời Đế Thích; nhưng luôn bại trận. Người này tính khí tàn bạo, cố chấp và đố kỵ; quyền lực rất lớn, năng lực có thừa nhưng lại lo sợ rằng thiên hạ không được loạn; cộng thêm bệnh đa nghi rất nặng. Y nghĩ rằng Phật Tổ thiên vị Đế Thích, vì thế mà tranh đấu mãi không thôi.

Những đặc điểm này của A Tu La gần như hoàn toàn trùng khớp với Mộ Dung Phục: Mộ Dung Phục và Tiêu Phong cùng được xưng là “bắc Kiều Phong, nam Mộ Dung”. Mộ Dung cũng là kẻ bại trận dưới tay Tiêu Phong; lại có tính khí cố chấp và hay đố kỵ. Y là thái tử Đại Yên, vì để phục quốc mà khiến thiên hạ đại loạn; bệnh đa nghi của y cũng không kém. Dẫu cho A Tu La – Mộ Dung Phục được xếp ngang hàng với Đế Thích – Tiêu Phong, nhưng y mãi mãi là kẻ thất bại.

Cưu Ma Trí – Ca Lâu La


Luận giải về các Hộ Pháp Thần này có đoạn viết: Ca Lâu La là chim đại bàng cánh vàng, đầu có một cái bướu to gọi là Như Ý Châu, tiếng kêu bi thảm, được người Trung Hoa bản địa gọi thành Đại Bàng Kim Sí Điểu. Ca Lâu La thích ăn rồng, khi chết chất độc xông lên đốt cháy nó thành tro, chỉ còn lại một trái tim xanh biếc.

Trong tác phẩm văn học cổ có nói rằng Nhạc Phi chính là “Đại Bàng Kim Sí Điểu” đầu thai chuyển thế, Ca Lâu La chính là Đại Bàng Kim Sí Điểu, mỗi ngày nó cần ăn một con rồng và năm trăm con rồng nhỏ. Đến khi mệnh tận, các con rồng nhả độc, không cách nào ăn tiếp nữa. Thế là Đại Bàng Kim Sí Điểu không ngừng bay lượn, bay đến đỉnh Kim Cang Luân để tận mệnh. Bởi nó một đời bắt rồng (rắn độc lớn) làm thức ăn, nên trong thân thể đã tồn trữ một lượng lớn khí độc, khi chết chất độc phát tán tự thiêu hủy chính bản thân mình.

Ca Lâu La hiển nhiên là Cưu Ma Trí. Cưu Ma Trí bảo tướng trang nghiêm; ông đối địch với Thiên Long tự nước Đại Lý, trong toàn truyện đều gây khó dễ cho “Thần Long” Đoàn Dự; cuối cùng tẩu hỏa nhập ma, nỗi đau đớn đó giống như tự thiêu sống bản thân mình. Tuy nhiên, Cưu Ma Trí là Ca Lâu La may mắn, ông cuối cùng đã đem độc khí (nội lực) chuyển sang cho Thần Long – Đoàn Dự, cũng vì vậy mà ngộ Đạo.

A Tử – Khẩn Na La


Khẩn Na La, giỏi múa hát, cũng là một trong những vị nhạc Thần của Đế Thích. Trong mối liên hệ với Càn Thát Bà trước đó, rất dễ phán đoán rằng Khẩn Na La chính là A Tử. Khẩn Na La trong tiếng Phạn có ý là “nhân phi phân”, thật ra hình dáng của nó cũng tương tự như con người, nhưng trên đầu có bộ sừng, và là một nữ thần giỏi múa hát. “Nhân phi nhân” của A Tử xin được lý giải như sau: A Tử từ nhỏ sống ở Tinh Tú hải, trong một môi trường ác liệt nên tình tình rất khó nắm bắt. Một mặt, cô độc ác điêu ngoa, mặt khác lại đơn thuần si tình, nói về “nhân phi nhân” của A Tử chính là lúc cô ôm thi thể tỉ phu nhảy xuống vực thẳm, thời khắc đó không ai có thể lý giải hoặc hiểu được A Tử, dù chỉ là một chút.

Hư Trúc – Ma Hầu La Già


Trong giải thích kinh Phật, “Ma Hầu La Già là thần rắn, mình người đầu rắn”, giải thích ở phần trước trong kinh Lăng Nghiêm có thêm phần sau: “Ma Hầu La Già, còn gọi là Đại Long hay Thần rắn; thuộc loại bò sát; vì ngu si độc ác nên tự chiêu mời rắc rối, đần độn vô tri, muốn thoát luân hồi nên đã tu luyện từ bi trí huệ, vãn hồi hậu quả gây ra, thoát được luân hồi”.

Điều này nói lên rằng, Ma Hầu La Già là Địa Long đối ứng với Thiên Long, nguyên là loài bò sát, nhưng bởi “đần độn vô tri” mà trái lại có thể “thoát khỏi luân hồi, tu luyện từ bi trí huệ”, cuối cùng cứu vãn được tiền căn, thoát khỏi xác thân bò sát, thay da đổi thịt.

Qua giải thích này, mọi người chắc cũng đã rõ, Ma Hầu La Già chính là Hư Trúc.

Hư Trúc vốn là hòa thượng thiếu lâm bình thường, là “loài bò sát” (thân phận thấp kém) nhưng bởi “đần độn ngu si”, trái lại được phúc, cuối cùng đã thay da đổi thịt, tu luyện từ bi trí huệ, sau cùng vãn hồi tiền căn (vốn là con trai của Huyền Từ và Diệp Nhị Nương), trở thành Thần rắn kiêm cung chủ núi Linh Thứu và phò mã nước Tây Hạ, cũng là Địa Long đối ứng với Thần Long – Đoàn Dự.

Tiểu Thiện, dịch từ NTDTV

Sunday, January 29, 2017

THỰC ĐƠN CỦA VUA BẢO ĐẠI

Nhắc đến cựu hoàng Bảo Đại, mình không biết nhiều về lịch sử nhưng chỉ nghĩ ông không có công cũng chẳng lắm tội gì với núi sông. Nói về nhân quả, ông kiếp trước có làm phước nhiều lắm nên được sanh ra trong hoàng tộc dù trong thời mạt vận của triều Nguyễn.


Muốn hay không ông vẫn là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến VN. Bài viết tôi share với các bạn hôm nay nói về ẩm thực của một nhà vua mà ngày hôm nay các bạn vẫn có thể thưởng thức được. Nó không ngoài tầm tay của những bạn có tiền nhưng nó vẫn là ước mơ xa vời không biết bao giờ mới thành hiện thực của đại đa số quần chúng lao động VN.

THỰC ĐƠN CỦA VUA BẢO ĐẠI
Cô Tôn Nữ Cẩm Bàn là một trong số ít người Huế xưa còn nắm giữ được sự tinh tế của ẩm thực đất cố đô nhờ sinh trưởng trong một gia đình “danh gia vọng tộc” thời trước. Hiện sống ở quận Bình Thạnh, TP. HCM, gia đình cô Cẩm Bàn từng nấu món Huế thết đãi cựu hoàng Bảo Đại.
Vào những năm 1949-1954, ông Ưng An – thân phụ của cô Cẩm Bàn (ông gọi vua Minh Mạng là cố nội) là trưởng đại diện văn phòng quốc trưởng Bảo Đại tại miền Nam. Có những lúc về Sài Gòn, sau những bữa tiệc chiêu đãi, cựu hoàng nói với ông Ưng An: “Thèm món Huế quá”.

Cuốn tôm chua
Nghe vậy, ông Ưng An nói với vợ là bà Nguyễn Ích Thiện chuẩn bị các món Huế mà gia đình vẫn ăn thường ngày nhưng được làm cầu kỳ và tinh tế hơn để thết đãi cựu hoàng. Hồi đó cô Cẩm Bàn chừng 15 tuổi nên nhớ kỹ cách thức làm món ăn Huế nhà làm dành riêng cho thực đơn của vua Bảo Đại - ông vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Trong số các món ăn dành cho vua Bảo Đại, trước hết và không thể thiếu là món thịt luộc tôm chua truyền thống Huế. Để chế biến món ăn giản dị này phải lựa được miếng thịt ba rọi da thật mỏng, mỡ hay nạc nhiều đều không được. Thịt phay không quá mỏng, không quá dày và xếp đẹp mắt trong dĩa. Rau ăn kèm gồm có chuối chát, khế chua, trái vả xắt mỏng, tía tô, húng cây, húng lủi, ngò.
Tôm chua pha thêm một chút đường và ớt tươi, tỏi băm nhỏ. Còn các món cuốn Huế để ăn chơi mời cựu hoàng có cuốn tôm chua Huế và cuốn diếp.
Trong số các món ăn cho vua Bảo Đại, món trước được làm với bánh ướt tráng thật mỏng, nhân gồm khoai lang, bún, cọng rau muống, cuốn xong thì cắt thành từng miếng vừa ăn, bên trên đặt một miếng thịt xắt mỏng, một con tôm chua và một cọng ngò trang trí trông thật hấp dẫn và đẹp mắt.

Gỏi vả trộn tôm thịt
Nước chấm của cuốn tôm chua giản dị nhưng rất khác với các loại nước chấm thông thường: khoai lang luộc chín, lột vỏ, quết thật mịn và trộn với ruốc cho thấm; phi mỡ hoặc dầu ăn với tỏi cho thơm rồi cho đổ hỗn hợp khoai, nước ruốc đã để lắng, đường, tương đậu nành, thêm chút nước vào khuấy cho đến khi sệt lại, có màu vàng sóng sánh, tạo nét tinh tế cho thực đơn của vua Bảo Đại.
Món cuốn diếp không dùng tôm chua mà cuốn với tôm tươi luộc bóc nõn, thịt ba rọi luộc xắt nhỏ, bún tươi, rau diếp hoặc cải bẹ xanh, các loại rau thơm như húng quế, ngò…
Nước chấm cuốn diếp được làm bằng đậu phộng luộc xay nhuyễn, nấu với tương bắc. Cuốn diếp phải đẹp, nhìn thấy màu đỏ của tôm, màu trắng của bún, màu xanh của các loại rau, và được cột bằng cọng hành đã luộc chín.
Thực đơn của vua Bảo Đại không thể thiếu các món trộn. Cựu hoàng cũng rất thích ăn các món trộn xứ Huế như mít non trộn, vả trộn, măng trộn. Các món trộn ăn cùng với bánh tráng mè đen dày rất hợp vị và món nào cũng rắc mè rang, ngò gai xắt nhỏ.

Canh rau muống nấu tôm tươi
Riêng gỏi bưởi thì phải tách từng tép bưởi, trộn với mực nướng xé nhỏ, nước mắm pha chanh tỏi ớt đường và không có tôm như “phiên bản gỏi bưởi” ở nhiều vùng khác. Cựu hoàng còn ưa các món mắm Huế như mắm cà, mắm nêm và các món ăn có mắm ruốc.
Trời mùa hè, nấu bữa mời cựu hoàng mẹ cô Cẩm Bàn làm cơm nắm ăn với muối sả, tôm chấy hoặc tôm rim, thêm bát canh rau, gọi là canh bà oảng hay canh thả, nhưng khi nấu nhất thiết phải có mắm ruốc pha để thật lắng, chỉ lấy nước trong, rau phải thật xanh.
Bát canh rau nước phải trong vắt, thêm mấy con tôm hồng hồng hoặc tôm quết thành viên bên trên. Để trang trí tô canh, bà Nguyễn Ích Thiện dùng trái ớt tươi chẻ đôi, bỏ hột, xắt khoanh. Thực đơn dành cho vua Bảo Đại, được cựu hoàng ưa thích nhất là canh nấm tràm nấu rau tập tàng.
Bát canh đẹp như một bức tranh vì có màu xanh của rau, màu nâu của nấm, sắc vàng nhạt của măng, sắc hồng của tôm. Món canh rau phải dọn chung với món mắm cà mới đúng điệu.

Chè hạt sen nhãn lồng
Nhìn chung, các món ăn dành riêng cho cựu hoàng Bảo Đại không chỉ ngon mà phải đẹp về hình thức, ít dầu mỡ và phải do chính tay mẹ cô Cẩm Bàn chế biến dù trong nhà lúc ấy có nhiều đầu bếp.
Mỗi bữa ăn của cựu hoàng có khoảng năm món, tất cả đều không hề cầu kỳ: một hai món khai vị, món chính gồm một món kho, món xào, món canh và món tráng miệng thường là trái cây, mùa nào thức đó, nhưng đặc biệt được ông ưa thích là chè hạt sen nhãn lồng nấu với đường phèn.
(theo Doanh nhân Sài Gòn/Báo Du lịch)
(Sưu tầm trên mạng)

CÂU CHUYỆN VỀ MIẾNG BÍT TẾT GIÁ $3,000.00 USD

Nói đền thịt bò ngon chắc chắn dù ăn hay chưa ăn qua thì ai cũng nghĩ đến thịt bò Kobe, một loại thịt ngon và đắt tiền. 


Ở VN, ở Mỹ và một số nước khác có quảng cáo nhập được thị bò Kobe nhưng thật ra đều là hàng giả. Bò Kobe phải sản xuất tại Kobe, mà nếu lấy giống của nó nuôi ở nơi khác cũng không được gọi là bò Kobe nữa. Bởi vì số lượng thịt Bò Kobe "do chính Hãng Kobe xuất xưởng" không có nhiều, mỗi ngày chỉ có vài con "Ngay chính người Nhật muốn đặt thịt bò Kobe do hãng Kobe cung cấp cũng có khi vài tháng mới đến lượt" cho nên những món được quảng cáo là thịt bò kobe thì rất có thể chỉ là loại thịt bò được nuôi theo phương pháp kobe hoặc có xuất xứ ở địa danh trên chứ chưa chắc đã phải là thịt bò do chính hãng Kobe cung cấp.
Thịt bò Kobe tuy rất nổi tiếng nhưng thực khách chỉ có thể tìm được bò Kobe thứ thiệt tại Nhật Bản, Macau và Hồng Kông. Kể từ năm 2011, Macau là nơi duy nhất trên thế giới được nhập khẩu loại thịt bò này, và bắt đầu nhập khẩu vào Hồng Kông vào tháng 7 2012, chỉ ở 2 nơi này bạn mới có thể hy vọng là ăn được thịt bò Kobe chính cống.


Ở Úc có nuôi và sản xuất loại thịt bò lai giống từ bò Kobe và đã nuôi rất thành công ở Western Australia, với cái tên Blackmore Wagyu. Thịt rất ngon mềm không thua gì thị bò Kobe nhưng chỉ có cái là không thể mang cái tên Kobe được nhưng những nước khác nhập vào và giả danh thành bò Kobe.
Vậy mà hôm nay tôi tìm được một tài liệu khác có giống thịt bò còn ngon hơn, đắt tiền hơn. Đó là thịt bò BLONDE AQUITAINE của nước Pháp. Lạ quá phải không? Mời các bạn đọc bài viết sau: (LKH)


CÂU CHUYỆN VỀ MIẾNG BÍT TẾT GIÁ $3,000.00 USD

Những con bò nuôi lấy thịt được sống trong không gian gần gũi với thiên nhiên, có nhà nghỉ 5 sao và chết trong khung cảnh thư giãn nhất có thể.

Frenchman Alexandre Polmand cung cấp loại thịt bò đắt nhất thế giới (giá lên tới 3.000 USD một miếng). Anh là đời thứ 6 của gia đình nông dân có truyền thống bán thịt bò từ năm 1846, sở hữu cửa hàng thịt cao cấp Boucherie Polmand ở phố St.Germain des Pres, trung tâm thành phố Paris, Pháp.


Công việc kinh doanh thực sự của gia đình Polmand mới có bước phát triển vào những năm 1990 khi ông nội và cha Polmand nghiên cứu, giới thiệu loại thịt "ngủ đông". Loại thịt này được đặt trước quạt thổi gió lạnh với vận tốc gió 120km/ h trong không gian -43 độ C. Việc đó giúp bảo quản thịt trong thời gian dài mà không hề giảm chất lượng. Số tiền đầu tư cho lò mổ trong trang trại lên tới một triệu euro. Mỗi tuần chỉ có 4 con bò bị giết thịt. Chúng được "ra đi" trong khung cảnh độc đáo giúp giảm thiểu sự căng thẳng trước khi chết.


Giống bò làm ra loại thịt đắt nhất thế giới có tên Blonde Aquitaine. Chúng được nuôi ngoài thị trấn nhỏ Saint Mihiel, đông bắc nước Pháp. Polmand không muốn bò phải sống trong không gian chuồng chật hẹp. Chúng cần được sống trong không gian mở và có sẵn nhà nghỉ tiêu chuẩn 5 sao để trú chân khi trời mưa. Polmand nói chuyện với bò hàng ngày để đảm bảo chúng cảm thấy thoải mái, dễ chịu, không căng thẳng, tránh sinh ra glycogen và axit lactic trong thịt, mất đi độ mềm và hương vị thơm ngon.


Dường như mức giá "khủng" không ngăn thực khách đặt trước hàng tháng để được phục vụ những miếng thịt hiếm này. Polmand chỉ cung cấp thịt cho những nhà hàng cao cấp, nơi có các đầu bếp tay nghề cao. Trước khi bán thịt cho các nhà hàng đó, anh còn đến thăm từng nơi để chắc chắn họ đủ tinh tế, đủ điều kiện để chế biến thịt của mình. Hầu hết thịt đã được ủ lạnh từ 28 đến 56 ngày.


Boucherie Polmand trông giống một tiệm trang sức quý hoặc hàng rượu cổ hơn là nơi bán thịt với nội thất gỗ chạm khắc độc đáo, không gian tinh tế. Polmand chỉ bán thịt bò từ trang trại của anh. "Tất cả tình yêu và sự quan tâm chúng tôi dành cho lũ bò, thực khách có thể cảm nhận được khi thưởng thức miếng thịt trên đĩa", ông chủ trang trại nói. "Chúng độc nhất vô nhị". Điều đó được chứng minh bằng lượng thực khách hâm mộ bít tết Polmand đổ về cửa hàng ở Paris.


Một trong những đầu bếp Polmand tin tưởng nhất để giao thịt bò của mình là Fabrice Vulin, người Pháp ở nhà hàng hai sao Michelin Caprice trong khách sạn Four Seasons, Hong Kong.
Như Bình (theo Vnexpress, CNN)
(Sưu tầm trên mạng)

CÔNG ĐỨC

Thành phố bé nhỏ yên ổn này sáng nay chợt náo nhiệt ồn ào cả lên. Tiếng người nói, tiếng chân chạy, tiếng kèn, tiếng chuông ầm ĩ cả một góc phố.


Tôi nhỏm dậy, bò ra khỏi giường, quấn vội vào người mảnh vải và đưa đầu ra khỏi cửa sổ ngóng nhìn ra xa.

Thì ra hôm nay là ngày khánh thành một ngôi đền (hay một ngôi chùa, thánh đường) do một người rất giàu có bỏ tiền ra xây cất.

Tôi biết lão này. Lão ta đã xây vài ngôi đền rồi. Lão là người "đầu tư vốn vào tôn giáo" (investment his wealth in religion). Hắn là một tên lái buôn gian manh, bỏ vốn "buôn bán tôn giáo." Hắn bỏ một lời mười.

Tại sao hắn "đầu tư vào tôn giáo"? Vì hắn sẽ được cả danh lẫn lợi. Thực sự, hắn chỉ là một kẻ "đại bịp" và những kẻ a dua theo hắn là một lũ ngu xuẩn tội nghiệp. Hắn bỏ tiền ra lúc đầu và hô hào mọi người giúp thêm để làm nơi sinh hoạt tôn giáo. Vì trình độ thấp kém, quá tin vào bề ngoài giầu có của hắn, nên nhiều người đã ít nhiều giúp hắn thâu lợi. Nhưng khi xây xong một ngôi đền nào, thì chỉ có tên hắn trên bảng vàng, còn ngoài ra đều là vô danh tiểu tốt cả. Cứ như thế, hắn càng giầu thêm và có quyền lực thêm.



Tiền có thể mua trái đất này, tiền có thể mua cả thiên đường. Vì tiền, người ta cam tâm làm mọi hành động tội lỗi, ngay cả buôn bán thần thánh.

Tôi có nghe chuyện một lão nhà giàu, khi chết bay lên gõ cửa thiên đường. Sứ giả mở cửa và hỏi:

-"Lão là ai?

-Úy trời đất ơi! Ngài không biết danh ta sao? Bộ tin tức đám ma của ta chưa lên đến đây hả?

-Lão muốn gì đó, nói đi!

-Ta cần gì phải muốn, đương nhiên là ta vào thiên đàng rồi. Thôi, cho Ngài vài đồng, mở cửa đi!



-Này, cái thói tiền bạc đó chỉ có ở trái đất của các người thôi nhé. Tại đây không có lệ này. Ta hỏi ngươi đã làm được điều tốt lành gì không mà muốn vào cửa thiên đàng này?

-Chậc chậc, thực tình ở trên này bắt tin tức chậm quá. Ta là người giầu lòng bác ái mà. Việc ta làm, ta không bao giờ kể công đâu, nhưng thôi các ngài đã hỏi, ta sẽ nói. Ðể ta nhớ lại coi. À, ta có bố thí 10 xu cho một bà già ăn mày.

-Có đúng không? Sứ giả quay lại hỏi thần ghi sổ công đức.

Thần Công Ðức dò sổ, gật đầu:

-Ðúng, lão có cho 10 xu.

-Ðược rồi, còn gì nữa không?

-À, còn chớ, một lần nữa ta cho một thằng nhỏ mồ côi 5 xu.



-Có đúng không?

Thần Công Ðức gật đầu công nhận có.

-À, còn nữa à nghen, cái này mới dễ nễ nghen. Ta có dự một buổi đại hội từ thiện xã hội và ta đã ký 10,000 đồng vào sổ vàng công đức. Sau đó, ta lại ký cho một nhà thờ đang xây cất 10,000 đồng nữa, tên ta đứng đầu sổ đó nghen. Ai ai cũng khen tặng ta hết. Cho như vậy mới đáng cho chứ. À, còn . . .

-Thôi thôi, đủ rồi, này Thần Công Ðức, ý ông nghĩ sao?

-Cho hắn xuống địa ngục là vừa rồi. Làm việc từ thiện mà khoe khoang, giả dối quá. Lên đây mệt thêm.

-Ý á, ý áaaaaaaaaaa . . . .



Ðó, loài người là vậy. Khi làm được một chút gì đều muốn khoe khoang cho cả làng xóm đều nghe và giở trò bịp bợm, lợi dụng. Ðối với tôn giáo, ngôn ngữ đồng tiền không có ý nghĩa gì, nhưng con người vẫn sử dụng đồng tiền để "buôn bán tôn giáo." Vì thế, đạo đức, nhân nghĩa, v.v. đã mất dần, bọn "con buôn tôn giáo" tha hồ hoạt động vì những người khác đều "câm ngọng "hết rồi.

Theo "Pointing The Way" của Bhagwan Shree Rajneesh
Tì kheo ni Thích Nữ Minh Tâm dịch