Tuesday, November 28, 2017

CẦN THƠ XƯA QUA TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH

Hiểu hơn về Cần Thơ xưa là mong muốn của những người yêu mến mảnh đất này. Chúng tôi đã lần tìm trong hàng chục tiểu thuyết của nhà văn Nam bộ Hồ Biểu Chánh với mong muốn phác họa một chút về Cần Thơ xưa qua những dòng văn của ông. Thật nhiều điều thú vị!


Hẳn nhiều người đặt vấn đề: tiểu thuyết- một thể loại văn học- chắc sẽ có điều hư cấu. Song, chúng tôi tìm hiểu Cần Thơ xưa ở khía cạnh này vì mấy lẽ. Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về Gò Công, Sài Gòn xưa qua tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh bởi tính xác thực của những thông tin mà ông miêu tả trong truyện. Cốt truyện, nhân vật ông có thể hư cấu nhưng bối cảnh, sự kiện thì hầu như có thật. Vậy, một người Gò Công, sống chủ yếu ở Sài Gòn như Hồ Biểu Chánh thì hiểu gì về Cần Thơ? Lần giở tiểu sử của ông mới hay, sau thời gian dài làm Ký lục hành chánh khắp Lục tỉnh Nam kỳ, ông thi đậu Tri huyện, được bổ nhiệm về làm Chủ Quận Càng Long (Trà Vinh); năm 1932 về làm Chủ Quận Ô Môn và đến năm 1934 thì làm Chủ Quận Phụng Hiệp (Cần Thơ). Chính những năm tháng làm việc nơi mảnh đất Cần Thơ đã mang lại cho nhà văn Hồ Biểu Chánh sự thông hiểu và cảm tình.

Mặt khác, chúng tôi tin vào lời nhận xét sau đây của cố nhà văn Sơn Nam: “Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là sử liệu về hoạt động miền đồng bằng, xa xôi tận Long Xuyên, Cà Mau: khung cảnh vườn tược, cách trang hoàng trong nhà điền chủ, nhà nông dân, đống rơm, bầy heo, sông rạch, lời ăn tiếng nói…” (“Đồng bằng sông Cửu Long- nét sinh hoạt xưa”, NXB TP Hồ Chí Minh, 1985, trang 160). Cần Thơ xưa mà chúng tôi muốn nói đến là bối cảnh khoảng những năm 1930 của thế kỷ XX.

Khung cảnh Cần Thơ


Đặc sắc nhất về khung cảnh Cần Thơ thời bấy giờ có lẽ là trong tiểu thuyết “Cư kỉnh”, được nhà văn Hồ Biểu Chánh viết ở Vĩnh Hội- Sài Gòn hồi năm 1941. Tiểu thuyết này đã được chuyển thể thành bộ phim “Tình án” khá hay. Bối cảnh của tiểu thuyết là vùng Châu Thành Ô Môn. Nhà văn Hồ Biểu Chánh mở đầu câu chuyện bằng việc miêu tả rạch Cái Tắc Ô Môn: “Tại Châu Thành Ô Môn, có một cái rạch nhỏ bắt đầu chỗ góc nhà thương tẻ vô làng Ô Môn, rồi chạy thẳng qua miền Ba Se đụng ngọn rạch Cần Thơ quanh co lò lên tới đó. Con rạch nhỏ này người ta kêu là rạch Cái Tắc”. Nhà văn còn lý giải thêm rằng, có lẽ là tại người ở Ô Môn nhờ con rạch này để đi tắt qua Ba Se, Cầu Nhiếm, Phong Điền khỏi phải đi vòng ngã Cần Thơ xa xôi nên gọi “Cái Tắc”.


Tiểu thuyết “Cư kỉnh” của nhà văn Hồ Biểu Chánh với bối cảnh là miệt vườn Ô Môn.
Đem những thông tin này đi hỏi người dân cố cựu ở Ô Môn thì được biết, rạch Cái Tắc đó chính là Tắc Ông Thục ngày nay, nối từ ngọn sông Cần Thơ ở Phong Điền đổ ra sông Hậu phía Ô Môn. Sở dĩ sau này có địa danh Tắc Ông Thục vì con rạch này đi tắt ngang qua nhà ông Thục- một người dân bổn xứ rồi ra sông Hậu, không phải qua vàm Ô Môn nên bà con gọi vậy. Đọc “Cư kỉnh” mới hay, Tắc Ông Thục thuở xưa “đã tiện lợi cho sự giao thông mà lại đẹp đẽ về phong cảnh nữa”. Nhà văn Hồ Biểu Chánh tả: “Hai bên rạch vườn tược thạch mậu, nhà cửa liên tiếp, hễ đến lúc nước lớn đầy thì những thảo mộc nhờ nước mà được sum sê, rồi phải hiệp nhau che tàn mà đậy mặt nước, nên vẻ ra cái bức tranh tốt tươi vui vẻ, gây nên cái không khí mát mẻ u nhàn”.

Rồi ông lại khoái trá như đưa người đọc vào thế giới của miệt vườn cây trái khi viết rằng, bên mé rạch, phía tay mặt, có đắp một con đường làng rộng rãi cao ráo, dọc theo đường trồng hai hàng dừa bị, gốc hai hàng mà ngọn de ra rạch, mấy khoảng lại trồng xen những mít, dâu, nhất là trồng đu đủ, cây nào cũng lùn thấp mà có trái đeo đầy cổ, với tay hái được, chẳng cần phải trèo leo. Một khung cảnh đẹp về sự trù phú của miệt vườn Cần Thơ qua ngòi bút văn sĩ từng là Chủ Quận nơi đây.

Tiểu thuyết "bỏ Vợ" của Hồ Biểu Chánh
Ở tiểu thuyết “Bỏ vợ”, được nhà văn Hồ Biểu Chánh viết xong năm 1938, kể chuyện thầy Vũ Như Bình thi đậu Ký Lục Sài Gòn, có lệnh bổ nhiệm tùng sự tại Tòa bố Cần Thơ. Sau này, ông lui tới miệt vườn Bình Thủy và có vợ là cô Hương, con bà chủ Phận ở Bình Thủy. Sau đây là đoạn thầy Bình nói với thân nhân về đường đi xuống Cần Thơ: “Ở Sài Gòn mình đi tàu Lục Tỉnh, nó chạy qua Mỹ Tho, lên Vĩnh Long, Sa Đéc, Châu Đốc, rồi đổ xuống Long Xuyên, Cần Thơ hay là mình đi xe lửa xuống Mỹ Tho rồi đi tàu nhỏ qua Cần Thơ cũng được”. Để giải tỏa nỗi lo của thầy Bình khi tùng sự ở đất Cần Thơ, ông Hương Thân Đáng nói rằng: “Ở đây khá lắm. Tỉnh giàu, hương chức biết ơn nghĩa, mà dân cũng dễ chịu”. Ắt hẳn đây là cá tính của người Cần Thơ được khái quát. Qua những đoạn đối thoại, biết thêm rằng, từ Cần Thơ lên Bình Thủy thì khoảng 3-4 ngàn thước, đi xe ngựa không mấy hồi thì tới.

Cũng trong tác phẩm “Bỏ vợ”, thầy Bình và vợ mua căn nhà ở rạch Cái Khế với giá 5 ngàn đồng. Theo nhà nghiên cứu Nhâm Hùng, 5 ngàn đồng thời đó có thể mua đến 5 ngàn giạ lúa. Lại thêm chi tiết mà Hồ Biểu Chánh miêu tả: “Xe chạy vòng vô rạch Cái Khế. Cô Huyền thấy nhà dài theo mé cái rạch cái nào cũng đẹp đẽ, trước sân bông hoa đua nở, sau vườn cây trái sum sê”. “Miêu tả vậy thật hợp với tình cảnh rạch Cái Khế lúc bấy giờ. Nhiều tài liệu cho biết, con đường ven rạch Cái Khế (giờ là đường Hoàng Văn Thụ- NV) có tên là Emery, nhà cửa sung túc, khang trang y như vậy”- ông Nhâm Hùng nói.

Rạch Cái Khế
Nét sinh hoạt miệt vườn

Tiểu thuyết gia Hồ Biểu Chánh được đánh giá là bậc thầy trong văn tả cảnh. Sự chi li, tinh tế và am hiểu văn hóa địa phương khiến người đọc mường tượng như cảnh thật. Một vài đoạn văn Hồ Biểu Chánh miêu tả về những ngôi nhà của người thời xưa ở Cần Thơ khá thú vị. Đó là nhà Huyện Hàm Tân ở Ô Môn trong “Cư kỉnh”: “Cách Châu Thành Ô Môn chừng vài trăm thuớc, có một tòa nhà nguy nga, nền đúc đá, cửa cuốn gạch, tường trắng toát, nóc đỏ lòm, trước nhà có một cái sân lớn chứa kiểng vật tốt tươi, bông hoa đủ sắc còn hai bên và phía sau nhà, thì vườn tược sởn sơ rậm rạp”. Còn đây là đoạn ông miêu tả cảnh lịch xinh tươi của những ngôi nhà ở làng Bình Thủy: “Xe lên tới Bình Thủy, đậu trước nhà Xã trưởng Tồn. Mấy tòa nhà ngói đồ sộ, ngoài có hàng rào xây gạch, sân có để kiểng vật đủ thứ. Mặt trời vừa mới lặn mà trong nhà đèn đốt sáng trưng” (“Bỏ vợ”).

Trong tiểu thuyết “Cư kỉnh”, thông qua lời kể của nhân chứng về cái chết của văn sĩ Chí Cao, ta lại hình dung một nếp sống sôi động ở Ô Môn thuở trước. Qua lời cô Túy với Chí Cao được biết, thời đó, ở chợ Ô Môn người ta đọc sách, tiểu thuyết khá nhiều và còn chọn cho mình những tác giả yêu thích để đọc. Khi Chí Cao bị đâm chết, ngay lập tức xóm làng lao xao, ông Hương quản làng Thới Thạnh và thầy đội đồn Ô Môn đều có mặt để xử trí.

Sông Ô Môn
Thú vị nhất là chi tiết để chứng tỏ mình không có mặt ở hiện trường vụ án, tên Quận là người ở bồi (giúp việc) cho Chí Cao kể rằng, tối đêm đó anh đi coi hát Tiều ở ngoài vàm Ba Rích. Từ chỗ rạch Cái Tắc tới Ba Rích đi xuồng chừng nửa tiếng đồng hồ thì tới. Chúng tôi suy luận rằng, việc hát Tiều chỉ có thể có ở chùa Hoa mà tại vàm Ba Rích ngày nay có một ngôi chùa Hoa là Cảm Thiên Đại Đế đã hơn 100 tuổi, phải chăng tên Quận đã đi coi hát ở đây? Cũng qua lời tên Quận và bạn bè của y, phác họa được một bức tranh đi coi hát của người Cần Thơ xưa, đông vui và thâu đêm suốt sáng. Tên Quận khai: “Vì hát (Tiều) hay, lại có anh em cầm ở coi nên tôi coi hát tới hừng đông tôi mới về”. Theo lời nhận định của quan Chủ Quận thì coi hát là dịp quy tụ đông đảo, con người ta đông nghẹt. Tên Canh là bạn của tên Quận thì khai như vầy: “Lối 3 giờ khuya hai anh em tôi mới gặp tên Quận lại. Tên Quận rủ anh em tôi đi ăn cháo. Ba đứa tôi đi ăn uống chơi cho tới vãn hát rồi kiếm ghe qua sông mà về”. Một không khí thật náo nhiệt khi mà 2-3 giờ sáng quán xá vẫn buôn bán như thường, minh chứng cho sự phát triển của vùng đất Ô Môn thuở trước.

Miệt vườn sông nước Cần Thơ được nhà văn Hồ Biểu Chánh miêu tả khá nhiều trong các tiểu thuyết.
Cố nhà văn Sơn Nam từng nói về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh: “Tất cả nhân vật sống trong đồng quê bát ngát, dọc theo những con sông mà người nhà quê bơi những chiếc xuồng ba lá”. Trong khung cảnh yên ả đó, nhà văn Hồ Biểu Chánh đã dành không ít trang viết để phác họa hương sắc Cần Thơ.


Đăng Huỳnh
Nguồn: Báo Cần Thơ Online


NÚI CÔ TIÊN - NHA TRANG

Tôi đến Nha Trang lần đầu năm 1993, lúc đó chúng tôi đến Hòn Chồng. Từ Hòn Chồng, người tài xế kiêm dẫn đoàn chỉ chúng tôi trông về dãy núi mà anh ta nói là "Đồi Trinh Nữ", có mái tóc, gương mặt, vùng bụng, đùi,..như một người con gái và anh ta còn nói thêm bây giờ vùng bụng bắt đầu nhô cao nên có lẽ cô không cón là trinh nữ nữa. Cá nhân tôi không biết nhưng hôm nay lại được một tài liệu nói nó là "Núi Cô Tiên" và có một câu chuyện truyền kỳ. Dù thế nào đi nữa "truyền kỳ" và "huyền thoại" sẽ đa dạng hóa tình tự dân gian mà mọi người xin đừng nên thắc mắc nhé. (LKH)


NÚI CÔ TIÊN - NHA TRANG

Nhắc đến Nha Trang, người ta nghĩ ngay đến nắng vàng cát trắng và biển xanh ngút ngàn. Nhưng ít ai biết rằng, ngoài những bãi biển đẹp được xếp hạng nằm trong một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới, Nha Trang còn làm đắm lòng nhiều du khách khi du lịch đến đây bằng nhiều danh lam thắng cảnh khác. Một trong số những địa điểm du lịch nổi tiếng đó là núi Cô Tiên. Nào, hãy cùng Mytour.vn cùng khám phá nhé!

Vẻ đẹp say đắm lòng người của thiên nhiên hữu tình nơi đây

Tương truyền ngày ấy mảnh đất Nha Trang này chỉ có cỏ lau, mai rừng mọc tràn trên cát trắng, biển ngày ấy chưa êm đềm xanh biếc như ngày nay. Con người khi ấy sinh sống thật gian truân khổ ải. Cuộc sống của họ chỉ dám quanh quẩn trên bờ, trong khi dưới biển cá tôm đầy rẫy. Nhưng họ ko bao giờ dám bước tới chân sóng bãi cát để đánh bắt cá tôm. Bởi vì dưới biển xanh có 1 con quỷ biển hung dữ vô cùng. Nó sẵn sàng tung những con sóng cao ngất đỏ ngầu lên bờ cuốn lấy kẻ nào đứng gần đấy để nhận chìm ăn thịt.

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

Con người bị quỷ biển hoành hành, luôn lo sợ trước số phận nhỏ bé của mình.


Tiếng kêu cứu của họ vọng lên thiên đình, lọt đến tai 1 nàng tiên. Nàng liền nhờ 1 thiên tướng nhà Trời dùng phép diệt trừ quỷ giúp lương dân. Nhưng do lười biếng, thiên tướng kia lắc đầu: "Đấy là chuyện của lão Long Vương, nàng xuống nhờ lão ấy". Nàng tiên buồn rầu... Thế rồi nàng quyết định từ giã thiên đình để xuống trần gian giúp dân lành.

Ngọn núi sừng sững hiện lên nổi bật trên nền trời và nước hồ một màu xanh thăm thẳm

Bay xuống bãi biển, nàng gọi Long Vương. Nhưng lão còn đi ngao du tới tận góc biển xa vời nào nên ko nghe thấy và chỉ có con quỷ biển hung ác nổi lên. Nhìn thấy nàng tiên có cười sằng sặc:

- Ha...ha...ngươi dám kêu người giết ta à?

- Quỷ kia, sao ngươi lại ko cho người sinh sống bình yên?

- Biển là của ta, ta có quyền nhai hết lũ người đó. Ngươi khôn hồn về chốn thiên cung mà vui đùa, chọc giận ta thì đùng trách...


Nàng tiên nổi giận rút thanh bảo biếm " Tùng Long " nạm vàng hóa trăm phép rực rỡ hào quang chỉ thẳng vào mặt quỷ dữ:

- Mi là đồ quỷ ác quấy nhiễu dân lành, lại còn hỗn láo với ta. Vậy ta sẽ giết mi trừ ác...!

Quỷ biển cũng nổi giận đùng đùng, nó vặn mình tung sóng dữ lao tới...Từ dưới biển 1 con rùa khổng lồ hiện lên chắn sóng thần cho nàng tiên. Quỷ biển hăng máu tung sóng chớp giết nàng tiên. Thanh bảo kiếm trong tay nàng tiên vung lên chém đứt những vòi rồng đen kịt của nó đang muốn quấn vào nàng. Khắp trời đất nổi phong ba dữ dội. Con quỷ biển gào thét quyết bóp nàng tiên dũng cảm. Trong lần quyết tử, nó lao ầm cùng con sóng thần cao ngất. Bàn tay hung bạo của nó cầm 1 hòn đá to như quả núi ném thẳng vào nàng. Nàng ngã xuống. Con quỷ đắc thắng lao tới hòng lôi nàng xuống biển. Nhưng dù bị thưong nặng, nàng vẫn cố dùng chút sức lực cuối cùng lao thanh kiếm vào ngực con quỷ. Trúng gươm thần, con quỷ bị trọng thương lảo đảo bỏ chạy ra biển nhưng chỉ mấy bước nó gục xuống tắt thở, xác nổi từng khúc trên biển.

Còn nàng tiên biết mình ko thể nào sống được, ngước mắt nhìn biển đang xanh dần trong bình yên rồi nằm xuống ngủ yên mãi mãi, trên môi như có nụ cười mãn nguyện.


Đến với núi Cô Tiên, du khách có thể vừa chiêm ngưỡng núi non trùng điệp, vừa đắm mình dưới làn nước hồ trong vắt

Thảm thực vật phong phú, bao phủ bề mặt núi một màu xanh bạt ngàn

Đứng ở đỉnh núi, ta có thể bao quát một vùng thiên nhiên rộng lớn để cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi

Ngày nay ai đến với Nha Trang đều thấy nàng đã hóa đá, thành dãy núi màu lam, nằm trải dài xõa tóc xuống biển xanh. Dưới mái tóc của nàng thỉnh thoảng có những đám rong đỏ trông như những vệt máu chảy ra từ xác con quỷ bị chết trôi tới. Và con rùa tốt bụng như đang bơi dưới mái tóc của nàng. Người ta gọi là hòn Rùa. Cách đó ko xa, dấu tích của hòn đá vẵn hằng in vết tay con quỷ ném vào nàng. Người ta gọi là hòn Chồng, còn con quỷ gãy khúc hóa thành dãy đảo hòn Tre.

Chặng đường leo núi gian nan cho ta nhiều trải nghiệm thú vị

Được đánh giá là một trong những địa danh du lịch tiềm năng của thành phố Nha Trang, núi Cô Tiên cùng với thắng cảnh bãi Hòn Chồng ngày nay thu hút sự quan tâm đông đảo của khách du lịch gần xa. Hãy một lần đến với những thắng cảnh giàu tính nhân văn này để mở mang vốn kiến thức của mình và tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn nhé.


Theo: MyTour



ĐÀN VỊT TRỜI

Có nhiều vấn nạn nói thì ai cũng biết mà làm được hay không thì không ai biết sẽ ra sao ? Nói là vấn nạn thì cũng không đúng lắm mà phải nói là một hiện trạng thực tế đang xảy ra mọi nơi đang chờ sự giải đáp.
Tôi thì không biết gì về chánh trị nên không có gì để phê phán hay góp ý, có bài này hay hay nên share với các bạn đọc chơi cho biết và chỉ mong:
"Chúng ta hãy suy ngẫm tới tình đồng loại và những quy luật của đàn vịt trời mà đối xử với nhau trong cùng một cộng đồng hay đoàn thể".


ĐÀN VỊT TRỜI

Vào những mùa đông, chúng ta thường thấy hàng đàn vịt trời bay thành hình chữ V, bay hàng trăm dặm từ Bắc xuống Nam để tìm nơi ấm cúng. Các nhà khoa học đã khám phá rằng những đàn vịt trời đó có những quy luật di chuyển rất đáng cho chúng ta suy gẫm về tinh thần đoàn thể.
1. Mỗi khi con vịt vẫy cánh bay, chúng sẽ tạo ra một luồng gió quyện và tạo ra một hấp lực nâng con vịt bay bên cạnh. Như vậy khi chúng bay theo đội hình chữ V, thì con nọ nương vào hấp lực của con kia, chúng có thể bay nhẹ nhàng hơn và tăng khả năng bay xa hơn gần gấp đôi.
Con người ta cũng vậy, nếu những người có cùng một chí hướng mà biết cách hợp quần thành những đoàn thể hay cộng đồng để nương tựa nhau thì dễ đạt được những mục đích cao cả hơn.
2. Khi một con vịt bị xa rời khỏi đội hình, thì nó sẽ cảm thấy bị đuối sức vì phải tự lực, nên nó lại phải cố gắng bay vào trong đội hình để nương tựa vào hấp lực của những con vịt bay trước.


Nếu chúng ta biết xếp chặt hàng ngũ, không xa rời đoàn thể hay cộng đồng thì sẽ có lợi lớn.
3. Riêng con vịt bay đầu đàn là không được hưởng hấp lực của bạn đồng hành, nên nó rất chóng mỏi mệt. Khi nó mệt thì nó sẽ bay xuống nương vào đội hình và sẽ có con vịt khoẻ mạnh khác bay vào vị trí dẫn đầu, cứ như vậy thay đổi trong suốt ngày baỵ
Trong cộng đồng con người cũng vậy, vai trò lãnh đạo luôn luôn đuợc thay đổi tùy theo tình thế, theo tinh thần dân chủ.
4. Trong khi bay, chúng thường lên tiếng kêu quác quác để thúc dục nhau bay theo kịp một tốc độ.
Trong các đoàn thể, người ta phải biết nhắc nhở nhau để giữ vững tinh thần hay thắt chặt tình đồng đội, Trong quân ngũ, các quân nhân thường lên tiếng đếm hoặc hát để tất cả đoàn đi theo nhịp quân hành.


5. Khi một con vịt bị đau hay bị bắn trọng thương phải rời khỏi đội hình, thì sẽ có hai con vịt đồng hành rời theo để nâng đỡ và bảo vệ. Hai con đó ở bên cạnh con vịt yếu kém cho đến khi tự bay đuợc, hoăc bị rớt chết, thì chúng mới bỏ bay theo đoàn vịt khác.
Chúng ta hãy suy ngẫm tới tình đồng loại và những quy luật của đàn vịt trời mà đối xử với nhau trong cùng một cộng đồng hay đoàn thể.
(Sưu tầm trên mạng)

Monday, November 27, 2017

BIẾNG GÌ THÌ BIẾNG, ĐỪNG BIẾNG ĂN !


Bệnh hoạn đúng là chuyện ngoài dự kiến. Nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ. Biếng ăn sau cơn bệnh nặng, do thiếu máu, sau nhiều ngày điều trị với thuốc kháng sinh, hoặc do dùng quá nhiều thuốc kháng toan… tuy cũng là bệnh nhưng lại là hậu quả nằm trong vòng dự kiến. Nói thế không có nghĩa phải chấp nhận như chuyện bình thường! Tình trạng biếng ăn nếu kéo dài sẽ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, như sụt cân, thiếu máu, teo cơ, loãng xương, thậm chí trầm cảm! Theo nhiều chuyên gia ngành tâm lý tình trạng không muốn ăn đến độ sợ bữa ăn hay thậm chí từ chối món ăn dưới hình thức nôn mữa là biểu tượng đi kèm với tình trạng phân liệt cá tính và rối loạn nội tiết tố. Bệnh nhân vì thế cần được điều trị đúng bài bản trên cả hai mặt tâm thể. Mặt khác, thân nhân cũng có thể phần nào hỗ trợ liệu pháp nếu biết cách giúp người bệnh tìm lại cảm giác thèm ăn.

Người Nhật quả thật có lý khi quả quyết có thể ăn rất ngon nhờ đôi mắt. Khéo hơn nữa nếu biết cách kích thích cảm giác thèm ăn nhờ màu sắc của món ăn. Bàn ăn của người chán ăn vì thế không nên thiếu các loại rau quả có màu cam hay vàng cam rực rỡ vì theo các nhà phân tâm màu này có tác dụng gây cảm giác đói qua trục phản xạ thần kinh thị giác – tuyến yên. Kế đến, đừng chọn khẩu phần có lượng lớn nhưng đơn điệu. Ngược lại, bữa ăn càng đa dạng càng tốt, càng có nhiều khẩu vị trái ngược, như món chua đi kèm món cay, càng hay.

Bên cạnh đó:
  • Nên có hải sản nếu thực khách không ghét mùi tanh, hoặc chọn sô-cô-la làm món tráng miệng, loại càng đen càng tốt, vì cơ thể người biếng ăn chắc chắn thiếu kẽm, nhân tố cần thiết cho tính bén nhạy của thần kinh vị giác.
  • Chú trọng các gia vị gay gắt một chút như thì là, rau ôm, quế, ngò gai, tai vị… Tuy chưa có công trình nghiên cứu chính thức nhưng tô phở nhà mình chắc là món ăn nên thuốc cho người mới ăn vài miếng đã no ngang.
  • Ưu tiên cho trái bơ làm món ăn vặt để nhờ sinh tố E tu bổ niêm mạc dạ dày theo nhiều kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây.
  • Uống nhiều nước chia đều trong ngày với vài lần là trà có tính lợi mật như trà cúc hoa, trà a-ti-xô, trà đắng Cao Bằng.

Mặt khác, nạn nhân đương nhiên cần tránh các yếu tố khiến thần kinh vị giác làm… biếng!, chẳng hạn:
  • Giới hạn các món màu trắng như cháo, sữa, bánh lạt… vì gây cảm giác chán ăn.
  • Né món có mùi tanh. Do đó nếu ăn cá thì đừng quên nhỏ vài giọt chanh trong khi chiên xào và trước khi ăn.
Bác Sĩ Lương Lễ Hoàng.

"ĐẢO DƯƠNG CẦM"


"ĐẢO DƯƠNG CẦM" - DI SẢN VĂN HÓA MỚI Ở TRUNG QUỐC

Hòn đảo Kulangsu (鼓浪嶼 - Cổ Lãng Tự) nổi tiếng với những bãi biển, con đường quanh co, lối kiến trúc đa dạng và bảo tàng âm nhạc cổ điển, được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào tháng 7.


Kulangsu là một hòn đảo có diện tích khoảng 2 km², không có ôtô, nằm ngoài khơi bờ biển Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, phía nam Trung Quốc. Hòn đảo này là nơi ở của khoảng 20.000 dân, mỗi năm đón hàng triệu du khách ghé thăm.


Với vị trí ngay tại bến cảng chính của Hạ Môn, một trong những cảng thương mại lớn đầu tiên của Trung Quốc giao thương với châu Âu, Kulangsu đã trở thành địa điểm lý tưởng để sinh sống và kinh doanh thương mại. Trong suốt đầu thế kỷ 19, thương gia, nhà truyền giáo và đại diện ngoại giao từ nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan và Bồ Đào Nha đã định cư tại đây.


Holiday Villa hay khách sạn Zhong De Ji là một trong những lâu đài mang phong cách kiến trúc châu Âu được xây dựng từ thế kỷ 19.


Vào giữa những năm 1800, rải rác trên hòn đảo mọc lên các tòa nhà lãnh sự quán, trường học, trung tâm cộng đồng và studio âm nhạc. Các nhà ngoại giao, cựu quan chức người phương Tây sống và làm việc tại đây và đem theo nhiều yếu tố văn hóa châu Âu trong đó có âm nhạc cổ điển và đàn dương cầm. Ngày nay trên hòn đảo vẫn còn 13 tòa nhà lãnh sự quán nước ngoài và hơn 600 tòa nhà di sản.


Công viên ven biển Shuzhuang Garden được xây dựng từ năm 1913 có các công trình ấn tượng mang phong cách Trung Quốc, đường đi bộ trên biển, những cột sơn đầy màu sắc và bảo tàng dương cầm lớn nhất thế giới.


Hòn đảo nhỏ này còn là nơi sản sinh ra nhiều tài năng nghệ thuật, như nghệ sĩ dương cầm Xu Feiping. Bảo tàng dương cầm là sự pha trộn giữa ảnh hưởng của phương Đông và phương Tây, là biểu tượng của phong cách kiến trúc sớm của Kulangsu. Bên trong bảo tàng trưng bày hơn 100 cây đàn, trong đó có những cây đàn được mạ vàng. Đây là bảo tàng dương cầm duy nhất ở Trung Quốc và lớn nhất thế giới. Chính vì vậy Kulangsu còn có tên gọi là “Đảo dương cầm” hay “Đảo âm nhạc”.


Kulangsu có khí hậu ôn hòa, bờ biển tuyệt đẹp với những bãi cát trắng trải dài. Nhờ một con đường mòn vòng quanh hòn đảo, khách du lịch có thể tới những con đường ít người ở bờ biển phía bắc, hướng ra cảng Hạ Môn phía tây và một loạt hòn đảo nhỏ khác.


Với phong cảnh lãng mạn, Kulangsu là một trong những địa điểm chụp ảnh cưới lý tưởng ở Trung Quốc. Mỗi ngày du khách đều nhìn thấy những cô dâu và chú rể ở mọi nơi trên đảo, đặc biệt là bãi biển Guanhai.


Đồi vàng - một tảng đá cao hơn 90 m - là điểm cao nhất trên đảo, từ đỉnh đồi có thể quan sát toàn cảnh hòn đảo và thành phố Hạ Môn bên kia eo biển. Đứng trên đồi vàng vào buổi chiều tối, ta có thể ngắm hoàng hôn và đường chân trời lấp lánh của Hạ Môn.


Nối liền giữa Kulangsu và Hạ Môn là những chuyến phà dài 7 phút phục vụ 24 giờ mỗi ngày. Gần đây Kulangsu đã giảm bớt số chuyến phà du lịch để hạn chế đám đông và bảo vệ di sản của hòn đảo.

THÀ MỘT PHÚT HUY HOÀNG RỒI VỤT TẮT


Tinh anh phát tiết ra ngoài, 
Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Mấy ngày nay vẫn còn tức về ông PGS-TS họ Bùi, trên mạng người chửi rất nhiều mà lại có thêm mấy thằng ngu muốn vào ăn vạ chắc cùng nhau "muốn ngu mà nổi tiếng" theo cái kiểu:

"Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt,
Còn hơn le lói suốt trăm năm"

Tôi nhớ đến Bùi Kiệm có lẽ ông là tổ nhiều đời của ông PGS-TS này nên lên mạng tìm xem có tích chi để "nêu gương" cho hậu bối của ông (ngài PGS-TS Bùi...Điên) thì quả thật "con nhà tông không giống lông cũng giống cánh". Anh Vũ Đức Sao Biển có một bài mà gần như nó đoán được cho ngày nay cho cháu chắc của nó, thằng PGS-TS họ Bùi sẽ phát tiết như thế nào để muốn thành nổi tiếng dù bị người ta chửi là "thông minh như heo nọc".



Thơ ôi là thơ!


Bùi Kiệm và Trịnh Hâm là hai học trò con nhà giàu có, ăn chơi lười biếng, học hành không tiến bộ chút nào. Ấy vậy mà trong một lần tham gia trại sáng tác do hội văn nghệ tổ chức, Trịnh Bùi phải nghiến răng bỏ ra sáu tiếng đồng hồ, tư duy và thực hiện viết chung một bài thơ để nộp lên cho ban tổ chức.

"Thơ phải bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, phải mang theo hơi thở cuộc sống" - hai chàng nghĩ vậy. Họ ngồi bàn bạc hướng chọn, tiếp cận và xử lý đề tài thì thấy một con cóc lớn nhảy ra đi kiếm ăn. Họ nhất trí chọn con cóc - hình tượng tiêu biểu và sinh động của nông thôn để làm chủ đề cho thơ. Hai chàng thống nhất nội dung bài thơ phải giải quyết cho được ba vấn đề lớn: "Con cóc ở đâu mà xuất hiện? Nó xuất hiện để làm gì? Tiếp theo đó, nó đi đâu?". Từ hướng xử lý các nội dung trên, hai chàng hợp soạn bài Thơ con cóc, hy vọng để lại cho đời một danh tác thi ca bất hủ:

Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.
Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó.
Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi.

Viết bài thơ lên tờ giấy hoa tiên xong, Trịnh Bùi bần thần suy nghĩ rồi đâm ra sợ hãi. Trịnh Hâm nói: "Bùi huynh, tôi nghe người ta nói tinh anh phát tiết sớm thì dễ chết yểu". Bùi Kiệm gật gù: "Ý Trịnh huynh muốn nói là thơ của chúng ta hay quá, sợ chúng ta không sống lâu được, phải không?". Bùi Kiệm vỗ đùi: "Bùi huynh đúng là thiên tài. Hai chúng ta làm thơ quá hay, sợ rằng chúng ta sẽ… chết sớm. Mà chết sớm thì quá uổng bởi đời này còn rất nhiều mỹ nhân như Nguyệt Nga, Kim Liên". Trịnh Hâm: "Tiểu đệ cũng đã nghĩ đến chỗ đó. Nhưng chẳng lẽ tham gia trại sáng tác, anh em ta không có tác phẩm thì coi kỳ quá. Thà chúng ta chết sớm vì có tài hơn là sống đại thượng thọ mà bất tài". Bèn nộp bài thơ lên cho ban tổ chức trại.


Ban tổ chức họp hội đồng nghệ thuật tuyển chọn thơ. Nhiều bài thơ cùng có chung ý hướng phác thảo về một nông thôn mới; đầy đủ những điện, đường, trường, trạm. Nhiều bài thơ với ngôn ngữ lạ lùng, hiện đại, tạo ra một cái nhìn mới về tương lai.

Anh về Giồng Gáo hôm nay,
Ê a tiếng trẻ học bài, quá thương!
Quê ta có một cái trường,
Hôm nay có điện, miệt vườn sáng trưng.

Và:

Hỡi các chiến sĩ kiểm lâm,
Các anh là những người phủ trọc đồi xanh (?).

Và:

Thưa anh quản lý thị trường,
Nhìn anh tôi thấy lòng thương dạt dào.
Xăng qua biên giới ào ào,
Chống quân buôn lậu anh nào sá chi…

Đọc tới bài Thơ con cóc của Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, ban tổ chức cả cười. Họ nhận xét: Hình thức bài thơ có vẻ hiện đại nhưng ý tứ nghèo nàn, quan điểm không rõ bởi không đưa ra được nét mới của cuộc sống. Đánh giá chung: Đây là bài thơ dở nhất thế kỷ!

Ngôn ngữ ở Việt Nam - Hội nhập và phát triển (tập 1) dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân trí phát hành.
Trong lễ tổng kết bế mạc trại sáng tác, hai nhà thơ Trịnh Hâm và Bùi Kiệm xấu hổ bước lên nhận giải bài thơ dở nhất. Tuy nhiên, bụng họ vẫn mừng thầm bởi họ không thể bị chết yểu. Thơ hay mới chết yểu; thơ dở được sống lâu - cụ Nguyễn Du đã nói như thế. Sách vở làm chứng như vầy:

Tinh anh phát tiết ra ngoài,
Ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa.

Họ mừng vì mình không thuộc loại người phát tiết với phát canh!

Buổi trưa, ông thầy đồ nằm trên võng, thiu thiu định ngủ. Hai học trò Trịnh Hâm, Bùi Kiệm ra ngồi bên bờ rạch hóng mát, thì thào bàn tán chuyện mừng vì làm thơ dở là được sống lâu. Họ nói rất nhỏ nhưng âm thanh vẫn lọt vào tai thầy.

Thầy gọi: "Trịnh Hâm, Bùi Kiệm! Hai trò có chuyện chi mà thì thầm vậy? Đến trình thầy nghe coi". Trịnh Bùi chạy đến khoanh tay. Trịnh Hâm bẩm trước: "Trình thầy, vừa qua hai con tham dự trại sáng tác của hội văn học - nghệ thuật tổ chức. Hai con học hành kém cỏi, làm chung một bài thơ. Ban tổ chức phê bình thơ dở quá. Con quả thật đã phụ lòng thầy". Thầy đồ điềm nhiên: "Thiên tài chỉ là sự cố gắng lâu dài. Các trò không sợ thơ dở. Cái dở nhất là không chịu học hỏi để có thể làm ra bài thơ hay". Bùi Kiệm thưa: "Con biết mình hư thân mất nết, trước nay chỉ làm thơ vịnh đàn bà con gái. Khi cùng Trịnh huynh viết ra bài Thơ con cóc, chúng con tưởng đã có được một tác phẩm văn học để đời. Ngờ đâu ban tổ chức chê, phát cho cái giải thơ dở nhất nước. Thiệt là thà hổng thi còn hơn thi hỏng".

Thầy đồ cười: "Các trò đừng lo chuyện bao đồng. Mọi vật đều đồng nhất với chính nó, con voi là con voi. Tay mù này rờ đúng cái đuôi, bảo voi giống cán chổi. Tay mù kia ôm trúng cái chân, bảo voi giống cột đình. Không chừng mấy vị trong hội đồng nghệ thuật đánh giá thơ theo kiểu bốn anh mù sờ voi. Đâu, thơ hay đoạt giải thế nào, các trò đọc cho thầy nghe".

Trịnh Hâm hắng giọng, đọc thầy nghe bài thơ hay đầu tiên. Nghe bài thơ, thầy cười: "Đúng là hiện thực thô thiển. Chỗ nào hôm nay mà không có trường học, đâu phải chỉ Giồng Gáo mới có? Mà hôm nay mới có điện về thì việc đếch gì mà tự hào? Đáng lẽ phải có điện mấy chục đời tám hoánh rồi chứ?".


Bùi Kiệm đọc bài thứ nhì. Thầy đồ lại cười rung cả người: "Trời hỡi! Trước nay ta chỉ nghe "phủ xanh đồi trọc", nay mới được nghe cụm từ "phủ trọc đồi xanh". Nói kiểm lâm là người "phủ trọc đồi xanh" có nghĩa nhà thơ mắng họ là lâm tặc phá rừng. Ha ha, bài thơ định thổi phồng ngành kiểm lâm hóa ra lại bóp teo họ, mà lại sử chiêu cầm nã Song long thướng châu, bóp với luồng lực đạo quá mạnh!".

Trịnh Hâm đọc bài thứ ba. Thầy đồ nói: "Hóa ra thơ lục bát biến thành bài vè nịnh ngành quản lý thị trường. Thầy bảo đảm với hai trò làm xong bài vè nịnh này, tác giả ít nhất cũng uống một chục lon bia, nhai mất vài đĩa thịt rừng". Trịnh Hâm, Bùi Kiệm ngơ ngác. Thầy nói tiếp: "Bài Thơ con cóc của hai trò dù tình ý ngô nghê, nhưng sử dụng điệp ngữ trong tu từ pháp rất triệt để, xứng đáng là bài thơ khá. Họ chê hai trò làm thơ dở là quyền họ. Thầy còn đọc nhiều bài thơ dở hơn".

Nghe thầy bảo trên đời có thơ dở hơn thơ mình, Trịnh Bùi cả sợ. Trịnh Hâm mà rằng: "Xin thầy đọc cho hai con nghe". Thầy đồ bóp trán: "Lâu quá, thầy cũng quên. Nhưng có một nhà thơ viết đại để như vầy: "Em hãy vén váy lên". Trời ơi! Thi ca cần đến ngôn ngữ nghệ thuật tươi đẹp, đâu có cần "vén váy lên" y như chuyện dâm bôn! Một nhà thơ khác lại viết: "Tay anh tìm lên đỉnh nhũ sơn". Ai không biết nhũ sơn là núm vú? Thơ mà cứ y như kịch bản phim sex".


Bùi Kiệm than: "Thầy ôi! Trước nay, người ta thường phỉ báng Bùi Kiệm có máu dê! Hóa ra hai "nhà thơ" này còn là sư tổ của Kiệm". Thầy đồ cười: "Cho nên các trò đừng buồn. Đời này có nhiều người làm thơ dở hơn các trò nữa. Có người hiếu sự, muốn bầu thơ lục bát làm quốc thơ. Thật là nát bét đến năm bảy tầng. Chỉ có quốc thi chứ làm gì có nửa Nôm nửa Hán quốc thơ? Một thuật ngữ mà dùng chưa chuẩn thì nói gì đến bình bầu với bình chửa? Bài Thơ con cóc của hai trò dùng ngôn ngữ thuần Việt, là một bài thơ hay hơn nhiều bài thơ khác từng được in ra. Ha ha".

Trịnh Hâm, Bùi Kiệm chào thầy mà lui ra. Quả nhiên, sau đó họ chết sớm. Trịnh Hâm chết năm 40 tuổi. Bùi Kiệm chết năm 49 tuổi. Ấy bởi vì bài Thơ con cóc của họ quá hồn nhiên, quá dễ thương đúng với nghĩa tinh hoa phát tiết. Các nhà thơ khác thì thọ lâu dài!


Vũ Đức Sao Biển

Sunday, November 26, 2017

NHÀ THỜ CHA TAM

Xin nói trước tôi không phải là người đạo Công Giáo, tôi tin Phật nhưng cũng chưa quy y Phật. Lúc còn ở Việt Nam, tôi cũng hay theo bạn vào nhà thờ, qua Úc lúc đầu cũng theo những người Úc đi nhà thờ dự lễ nhưng không vào đạo. Sau này cũng đôi khi đi chùa nhưng không thường xuyên chỉ có ngày Tết Nguyên Đán mới đi chùa lễ Phật. Hôm nay đọc được nhiều tài liệu nói về nhiều nhà thờ ở Việt Nam nhưng với tôi khi nói về nhà thờ ở Việt Nam thì trong đầu tức khắc lóe lên cái tên "Nhà thờ Cha Tam" ngay lập tức vì tôi chỉ biết đó là nơi anh em cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trú ẩn trước khi bị hạ sát.


Mới đọc xong tài liệu này, nó quá mới đối với tôi cho nên tôi muốn post lên chia sẻ với các bạn. Phải xem video phía dưới có nói đến di tích và sự kiện anh em TT Diệm dự thánh lễ cuối cùng ở đây. (LKH)

NHÀ THỜ CHA TAM

Nhà thờ Cha Tam có tên chính thức là Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê vì thuộc Giáo xứ Phanxicô Xaviê, Tổng Giáo phận Thành phố HCM, là một nhà thờ cổ, hiện tọa lạc tại số 25 đường Học Lạc, phường 14, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Đầu thế kỷ XX, xét thấy ở khu vực Chợ Lớn thuộc giáo xứ Chợ Quán, người Việt gốc Hoa theo đạo Công giáo không có nơi cầu nguyện, đô đốc Lagrandière lúc đó đang là Thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh cho Sở Công trình công cộng dùng tiền công để xây dựng một ngôi nhà thờ.

Được sự hỗ trợ của chính quyền, giám mục Dépierre đã cử linh mục Pierre d’ Assou có tên Hoa là Đàm Á Tố (Tam An Su), đọc sang âm Việt là Cha Tam, đứng ra mua một khu đất rộng 3ha ở xóm Lò Rèn, ngay trung tâm Chợ Lớn để xây dựng. Ngày 3/12/1900, nhân ngày lễ Thánh Phanxicô Xaviê (Saint Francisco Javier), vị giám mục địa phận Sài Gòn Mossard, đã đến làm phép đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường và đặt theo tên vị thánh này. Bản vẽ kiến trúc do thầy Gioan Baotixita Huỳnh Tịnh Hướng thiết kế. Hai năm sau, vào ngày 10/1/1902, lễ cung hiến thánh đường được tiến hành một cách trọng thể, tuy nhiên, vì linh mục Pierre d’ Assou, người đứng ra xây dựng nhà thờ và cũng là vị cha sở đầu tiên, nên dân gian quen gọi là nhà thờ Cha Tam.



Nhìn chung, nhà thờ có lối kiến trúc Gothique - có cửa sổ nhiều và kích thước cửa sổ lớn, giống như các nhà thờ ở Châu Âu, nhưng yếu tố văn hóa Hoa vẫn được coi trọng như: cổng nhà thờ xây kiểu tam quan, tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán, mái lợp ngói âm dương, các đầu đao cong, hai bên cây thánh giá, có hai con cá chép. Trên nóc nhà thờ còn gắn hoa sen, hai bức liễn ở hai bên cửa ra vào cũng viết bằng chữ Hán, bốn cây cột nơi chính điện sơn đỏ là màu không phổ biến trong nhà thờ Công giáo. Nơi treo hình tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh là hai bức liễn sơn son thiếp vàng, chạm chữ màu đen:


Ảo thế phù vinh bất túc mãn nhân nguyện, (幻世浮榮不足滿人願)
Thiên hương vĩnh phúc phương năng suy thiện tâm. (天鄉永福方能充善心)


Tạm dịch:

Những vinh hoa phù phiếm hư ảo không thể làm thỏa mãn ham muốn của con người,
Ơn đức lâu dài thơm thảo của Thiên Chúa giúp người suy gẫm về lòng thiện.


Trong khu vực nhà thờ có một trường học, nhà nuôi trẻ, một nhà nội trú và một số nhà dành để cho thuê. Vào năm 1990, tháp chuông nhà thờ được tu sửa lại và cung thánh được tân trang. Trong vòng một trăm năm qua, nhà thờ hiện nay đã được tu sửa nhiều lần. Lần cuối cùng vào ngày 2/1/2000, Đức Tổng Giám Mục Gioan Baotixita đã đến chủ sự khánh thành nhà sinh hoạt gồm tầng trệt và hai tầng lầu, trong đó có tám lớp học, một hội trường có thể chứa được 400 người.

AL.
Nguổn: MyTour


TIỂU SỬ CHA TAM (Phanxicô Xaviê Tam Assou)

Cha Phanxicô Xaviê Tam Assou sinh năm 1855 tại Macao, Trung Quốc. Cha có một người em trai. Lúc còn nhỏ, cha mẹ ngài gửi hai anh em cho các dì phước Nhà Trắng ở Hồng Kông coi sóc nuôi dưỡng. Đức Cha Pellerin ban phép Thánh Tẩy và đỡ đầu cho ngài. Sau một thời gian, người em của ngài lâm bệnh và đã qua đời. Cha Phanxicô lúc ấy chừng 8 tuổi, thì bà Benjamin đem sang Sàigòn. Lúc ấy bà Bề trên sai bà Benjamin lập dòng. Bà mẹ Benjamin dày công khó với Cha Phanxicô lắm; lúc bé bà chịu khó dưỡng nuôi, lớn lên cho ăn học, bà hết lòng lo lắng, khi ngài chịu chức Thầy Cả, thì bà thêu cho ngài 2 bộ áo lễ trắng. Cha Phanxicô hằng trân trọng giữ gìn như của quý báu, để kỷ niệm công lao khó nhọc của bà mẹ Benjamin. Trong cuốn lịch sử của Dòng Thánh Phaolô de Chartres (Histore de la congrégation des surs St. Paul de Chartres) mới xuất bản ít năm nay, có ghi lại sự tích bà mẹ Benjamin nuôi dưỡng ngài lúc ngài còn thơ ấu, và cũng thuật lại cuộc lễ vinh quy Cha làm tại nguyện đường của Dòng Thánh Phaolô de Chartres Sàigòn. Điều này chứng tỏ nhà Dòng rất lấy làm vinh hạnh, vì thấy hai trẻ nhỏ nhờ các bà nuôi dưỡng, bây giờ đã công thành danh toại, được quyền chánh tế hiển vinh, nên đã ghi chép trong cuốn sử của nhà Dòng, để lưu truyền cho hậu thế. Tưởng lúc bà mẹ Benjamin quỳ chầu lễ mở tay của Cha Phanxicô, thì bà vui mừng thoả dạ là dường nào. Vì thấy rằng công khó lúc xưa nay được kết quả rất trọn lành quý báu.


Khi tới Sàigòn, bà mẹ Benjamin cho ngài về ở cùng Cha Philipphê, Cha Sở họ đạo Chợ Lớn. Ở đây ngài học tiếng Triều Châu và tiếng nước Hẹ. Cha Philipphê thấy ngài có tánh tốt và ham học, nên Cha Philipphê hết lòng lo lắng dạy dỗ, và một ít năm sau, khi ngài được 13 tuổi, nhân dịp ngài trở về Pháp dưỡng bệnh, thì Cha Philipphê đem ngài qua học tại Đại Chủng Viện Penang.

Tại trường Penang, cậu Phanxicô được học 6 năm. Cha giáo Chibaudel thấy cậu tánh tốt lại sáng trí, nên rất thương và nhận đỡ đầu cho. Về sau, khi Phanxicô đã làm Linh mục và khi bề trên đã rút Cha Chibaudel về Paris lo cho Hội Thừa Sai, Cha Phanxicô vẫn hay ca ngợi tài đức Cha giáo xưa của mình trong nhiều dịp nói chuyện.

Cha Tam (Phanxicô Xaviê Tam Assou)
Trong Nhà Nguyện trường Penang, trước bàn thờ chính, dưới ngay đèn Nhà Tạm, là phần mộ của Đức Cha Pellerin, người ngày xưa khi ở Hongkong, đã rửa tội và đỡ đầu cho cậu Phanxicô. Vì thế ra vào Nhà Nguyện, cậu hay đến mộ phần Đức Cha để cầu nguyện, xin cho được ơn bền đỗ. Chắc chắn bên toà Chúa, Đức Cha cũng không thể quên được người con thiêng liêng của mình.

19 tuổi, khi đã học xong các lớp nhỏ ở trường Penang, chú Phanxicô được về học tại Chủng Viện Sài Gòn. Cũng như khi ở Penang, Thầy siêng năng học tập, trau dồi tính nết, dần dần được chịu các chức nhỏ; đến chức tư, thì được giữ lại làm giáo sư tại Chủng Viện. Thầy dạy 3 năm liền. Nhiều học trò của Thầy đã làm linh mục. Mãi đến năm 1882, Đức Cha Colombet mới phong chức Linh Mục cho Thầy. Chịu chức xong, Cha đã dâng lễ mở tay đầu tiên tại Nhà Nguyện Tu Viện Thánh Phaolô Sài Gòn. Về sau, khi mừng Kim Khánh Linh mục, Cha vẫn không quên dâng 1 lễ tại Nhà Trắng cho bà mẹ Benjamin, người đã dày công nặng nghĩa với Cha.

Đức Cha sai Cha Phanxicô về làm phó tại Nhà Thờ Chính Toà Sài Gòn, đồng thời làm giáo sư cho trường Taberd. Cha Phanxicô còn được giao nhiệm vụ tập hát và đánh đàn cho Nhà Thờ Đức Bà. Bấy giờ, Cha Le Mée là Cha Sở họ Sài Gòn và Cha Joubert là bề trên của trường Taberd.


Cha phục vụ tại Sài Gòn như vậy được 16 năm. Năm 1898, Đức Cha Dépierre thấy giáo dân họ đạo Thanh Nhân trong Chợ Lớn ngày càng giảm sút - chỉ còn khoảng chừng 40 người - nên đã sai Cha Phanxicô về Thanh Nhân để chấn chỉnh lại. Đức Cha rất trông đợi ở Cha, vì Cha vừa là người đồng hương, lại vừa nói được rất nhiều tiếng các vùng của người Hoa đang cư trú tại Chợ Lớn.

Trước khi nhận nhiệm sở mới, Cha xin phép đi nghỉ một thời gian. Qua Singapore, Cha về thăm lại Chủng Viện Penang, nơi xưa Cha đã được huấn giáo. Khoảng tháng 8 năm 1898, Cha trở về Chợ Lớn. Mới đầu, Cha tạm trú tại họ đạo Annam Chợ Lớn với Cha Maritte, để đi kiếm đất xây Nhà Thờ. Không phí công tìm lâu, Cha đã thấy được một lô đất rộng hơn 3 mẫu tây ở ngay trung tâm Chợ Lớn, vừa đủ để cất Nhà Thờ, trường học và nhà xứ. Nhưng thật khó mua, vì là đồng sở hữu của 9 Hoa Kiều. Lô đất này xưa nguyên là nhà hội của người Thanh dùng làm nơi nghỉ ngơi, giải trí và bàn tính công việc. 20 năm qua, đất đã bỏ hoang, chủ đất kẻ về Tàu, người biệt tin tức. Muốn mua, phải tìm sao cho ra 9 người chủ hay là con cháu thừa kế của họ. Thật là nan giải. Nhưng Cha vẫn một lòng trông cậy Chúa và cầu nguyện gửi gấm cho Thánh Phanxicô Xaviê là bổn mạng của Cha. Cha hứa sẽ dựng Nhà Thờ mới, nhận Thánh danh Phanxicô để kính nhớ. Cha đã đi khắp nơi Chợ Lớn - Sài Gòn, gửi nhiều thư ra Bắc, qua Trung Quốc, Cao Miên, Thái Lan để truy tầm chủ đất. Sau nhiều tháng, Cha mới gặp được 8 người thừa kế của các chủ đất. Cha mời hội 8 người lại để ngỏ ý mua. Ban đầu, có chủ chê rẻ không bán. Nhưng cuối cùng mọi người đều đồng ý và sẵn sàng đến phòng chưởng khế làm giấy bán.


Qua biết bao gian nan vất vả, Cha Tam Assou mới được như ý nguyện. Các thủ tục mua đất hoàn tất đúng ngày lễ kính Thánh Phanxicô Xaviê. Đối với Cha Tam, đây thật là ngày có ý nghĩa.

Mua đất xong xuôi, Cha khởi công ngay việc dựng một ngôi nhà tạm làm Nhà Thờ cho giáo dân người Hoa (Thanh Nhân) và nhà xứ. Cuối năm 1898, Cha dọn hẳn về đây, sắp xếp công việc xây cất Nhà Thờ mới. Cha tổ chức quyên góp. Rất nhiều người: giáo dân có, các nhà giàu có và thương gia người Hoa bên lương cũng có, đều sẵn lòng rộng tay giúp đỡ Cha.

Ngày 03/12-1900, lễ Thánh Phanxicô Xaviê, Đức Cha Mossard đã về làm lễ trọng thể thánh hoá và đặt viên đá đầu tiên xây dựng Thánh Đường. Rất mau chóng, ngôi Thánh Đường đã được hình thành. Bấy giờ, Cha Gioan Baotixita Huỳnh Tịnh Hướng còn là Thầy Năm, được Bề trên sai về Chợ Lớn, học tiếng Hoa. Thầy Gioan khéo tay vẽ kiến trúc và thành thạo việc xây dựng, nên khoảng 10 tháng sau, ngôi nhà đã gần xong. Điều không may là Cha Tam Assou lâm bệnh nặng, phải nằm bệnh viện 2 tháng. Còn lại một mình Thầy Gioan xoay sở. Dầu vậy, công việc vẫn tiến hành. Ngày 10/02-1902, Đức Cha Mossard làm lễ khánh thành và làm phép Nhà Thớ mới. Lễ nghi rất long trọng. Nhiều linh mục Pháp, linh mục Việt, nhiều quan chức chính quyền, đông đảo giáo dân tham dự. Nhà Thờ mang tên Thánh Phanxicô Xaviê, xây theo kiểu Gô-tích (Gothique). Mặt tiền và lầu chuông do Cha Pianet vẽ.

Tuy bệnh đã khỏi, nhưng còn rất yếu, nên cất xong Nhà Thờ, Cha Tam đã xin Bề trên đi nghỉ. Cha qua Hongkong, Macao và đến đảo Thượng Xuyên viếng mộ Thánh Phanxicô Xaviê.

Đi nghỉ về, Cha lập nhà Dục Anh giúp nuôi những trẻ mồ côi người lương. Hằng năm số trẻ này ở đây được rửa tội rất nhiều. Riêng năm 1952, đã thánh tẩy cho 1.093 em.

Nhà Thờ Cha Tam, xây năm 1900 tại đường Marin (Trần Hưng Đạo B)
Cha xây thêm một trường học, giao cho các dì phước Dòng Thánh Phaolô Thành Chartres giúp các trẻ người Hoa học giáo lý, kinh bổn. Năm 1907, kỷ niệm 25 năm lãnh chức Linh Mục, giáo dân đã tổ chức mừng Ngân Khánh cho Cha rất trọng thể.

Bấy giờ Chợ Lớn có nhiều nhà thương, nên Cha cũng phải chăm lo thăm viếng cho những người bệnh trong các nhà thương này. Cha còn lập nhà Bảo Trợ trẻ em; đích thân Cha cũng dạy cho các trẻ trong nhà này. Chiều thứ Năm hằng tuần, nhiều người đem con tới nhờ Cha dạy giáo lý. Mỗi năm, Cha rửa tội cũng như lo cho rất nhiều trẻ em được rước lễ vỡ lòng.

Xét về số giáo dân, thì Thanh Nhân không phải là một xứ đạo lớn, nhưng việc truyền giáo lại gặp nhiều khó khăn. Trước hết là vì người Hoa qua Việt Nam chỉ quan tâm việc làm ăn buôn bán, để khi có ít của, là trở về quê quán. Mấy ai nghĩ đến để lập nghiệp! Giáo dân Hoa cũng vậy, nên số người trong giáo xứ khi tăng khi giảm. Hơn nữa, số người Công Giáo rất ít, sống tứ tán trong các làng các tỉnh, khó quy tụ lại thành một xứ. Đồng thời, một nguyên nhân khác cũng làm trở ngại không ít, là nhiều người qua Việt Nam, làm công trong các cửa tiệm, các sở hãng, gặp phải những người chủ tham việc, không muốn người Công Giáo có giờ đi học kinh, dâng lễ.

Vì những lý do đó mà số giáo dân người Hoa ở Thanh Nhân không tăng lên bao nhiêu. Trước năm 1876, Cha Jacquemin, người Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, đang ở Quảng Đông, được Đức Cha Colombet cho qua Chợ Lớn giúp giáo xứ Thanh Nhân và truyền giáo cho người Hoa. Nhưng sau 3 năm tận lực cố gắng, cũng không đạt được kết quả bao nhiêu, nên muộn phiền, Cha lại xin trở về Trung Quốc.

Còn trong giáo xứ, nhờ tài khéo léo, từ hai bàn tay trắng, Cha Phanxicô đã ổn định được nhiều việc. Chúa đã chúc phúc cho các việc Cha làm. Tuy cũng có những lúc khó khăn, nhưng Cha luôn cậy trông Thiên Chúa và Thánh Phanxicô bổn mạng, nên mọi việc đều thành công.

Đó là vài nét sơ lược về những công việc Cha Phanxicô Xaviê Át Xu đã thực hiện trong 50 năm sống với giáo xứ mà Ngài phụ trách. Còn tính nết và lòng đạo hạnh của Cha, thì nhiều nhân chứng đã kể lại rằng, ai đã từng diễm phúc được quen biết Cha Phanxicô đều yêu mến và thấy rõ Cha là một Linh mục rất đứng đắn, tính tình vui vẻ hoà nhã, ăn nói khôn ngoan bặt thiệp, lịch lãm, yêu thương mọi người và đặc biệt, rất quý trọng những kẻ hiền tài.

Cung Thánh Nhà Thờ Cha Tam, quận 5
Dù Cha đã được Chúa gọi về từ lâu, nhưng công lao và tinh thần của Cha Tam Át xu vẫn còn sống mãi trong lòng mọi người, cách riêng với những giáo dân, không phân biệt Việt Hoa, tại Giáo xứ Phanxicô Xaviê hôm nay và trải dài đến mãi mãi sau này.

Xin ghi lại đây vài tâm tình đơn sơ để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ vị thừa sai nước ngoài, người đã làm bùng cháy và sáng lên ngọn lửa yêu thương của Đức Kitô, trên mảnh đất thân yêu của quê hương nhỏ bé là Quận 5 Chợ Lớn Việt Nam.

Xuân Thái
Theo: tgpsaigon