Sunday, October 11, 2026

THUẬT XEM TƯỚNG ĐOÁN TIỀN KIẾP - BẠN ĐẾN TỪ ĐÂU?

Từ các đạo trong lục đạo luân hồi chuyển sinh thành người, đều mang theo một số thói quen đặc trưng. Thông qua những thói quen này, chúng ta có thể phán đoán mình hoặc người khác từ đạo nào trong lục đạo đầu thai chuyển sinh.


Phật giáo giảng rằng, con người có đời trước đời sau, sống chết luân hồi không ngừng. Nhưng luân hồi chuyển thế không chỉ luân hồi trong đạo người, mà là “lục đạo luân hồi”. Lục đạo luân hồi có nghĩa là sinh mệnh sẽ được chuyển sinh trong lục đạo nội trong Tam giới. Lục đạo bao gồm: người Trời, Atula, người, súc sinh(súc vật), ác quỷ và địa ngục.

Chúng ta thường thấy hình thái sinh mệnh là người và súc sinh trong lục đạo, còn 4 loại hình thái sinh mệnh khác thì phải trong điều kiện đặc biệt mới có thể nhìn thấy.

Con người sau khi chết thăng lên cõi Trời hay tiếp tục đầu thai làm người, hoặc đọa địa ngục, ác quỷ, súc sinh, thì chủ yếu dựa vào đức (nghiệp thiện) và nghiệp lực (nghiệp ác) mà con người đã tích lũy trong nhiều đời. Từ các đạo trong lục đạo luân hồi chuyển sinh thành người, đều mang theo một số thói quen đặc trưng. Thông qua những thói quen này, chúng ta có thể phán đoán mình hoặc người khác từ đạo nào trong lục đạo đầu thai chuyển sinh.

Thân thể, tướng mạo của tất cả mọi người trong thế gian hết thảy đều là nhân quả. Thân hình tướng mạo, lời nói cử chỉ, hành vi hành động của con người thế gian, không ai là không có “thói quen”. Thói quen của mỗi người đều là có nguồn gốc, nhìn tướng mạo, ngôn hành, động tác của những người này là có thể biết được họ từ nơi nào trong lục đạo chuyển sinh đến thế gian con người.


Thói quen giống như mùi vị của tỏi, cho dù đã nghiền nát ra, xịt nước hoa lên, thì cũng khó tiêu trừ được. Vật tụ theo loài, con người cũng quần tụ theo thói quen, tạo ra cộng nghiệp.

Người từ trong địa ngục chuyển sinh nhân gian có các đặc trưng sau:

1) Giọng của họ rè và vỡ như lừa, la đang kêu, giọng rất lớn, gầm gào lại thô bạo, gấp gáp.

2) Những người này thường nói mà không giữ chữ tín, thường nói lời cuồng vọng, khiến người ta khó mà tin được. Họ giống như những người không có thân bằng cố hữu.

3) Những người này tướng mạo xấu xí, và không tôn kính thầy và bề trên, không tin chính Pháp.

4) Những người này bất hiếu bất nghĩa, không có tâm xấu hổ.

5) Họ thích những việc sát sinh, thường tạo rất nhiều nghiệp ác.

6) Họ thường đoản mệnh, không sống lâu.

7) Họ thấy việc thiện cũng khó phát tâm từ bi.

8) Loại người này chú định sau khi chết lại đọa vào trong 3 ác đạo.

Người từ đạo người chuyển sinh trở lại nhân gian có đặc điểm sau:


1) Những người này có cá tính hiền lương chính trực, thân cận bạn bè thiện, thường giữ chữ tín, có lòng trung thành và hiếu thuận.

2) Nếu có kẻ ác phỉ báng vu cáo họ, thì cuối cùng họ cũng sẽ không đối phó với người phỉ báng mình, bởi vì họ là người biết liêm sỉ, trung hậu thủ tín và có lòng khoan dung.

3) Họ thích thanh danh, trọng danh dự, là người khéo tay, có trí tuệ và được kính trọng. Họ có cái tâm biết xấu hổ, tâm tính dịu dàng, có lòng biết ơn và báo đáp đối với những người có ân huệ và chăm sóc mình.

4) Đối với sự dạy bảo của những người hiền, Thánh nhân, họ thuận theo mà không làm trái lại. Họ là người nhân từ, hiếu kính cha mẹ, tôn sư trọng đạo, cẩn thận kính trọng người bề trên, cấp trên.

5) Họ thấu hiểu người khác, làm việc có phương pháp, biết phân việc gấp việc thường, đối nhân xử thế có nguyên tắc, có chừng mực.

6) Họ khéo hòa hợp, thường vui và tin theo Đạo Pháp. Họ thích bố thí, thường hành thiện. Họ không thích mang nợ, không phụ bạc, phản bội người.

7) Họ có chút tiền tài thì thích làm việc thiện, dù có nghèo khổ vẫn làm việc thiện, giúp đỡ người khác, mong muốn người khác được yên vui, không muốn nhìn thấy việc người khác bị thống khổ.

Những người này với những hành vi như thế này thì chú định sau khi chết sẽ sinh ở cõi Trời, không bị đọa địa ngục, sau này lại chuyển sinh nhân gian, được sống vui vẻ, không phải chịu nhiều khổ cực, thường nhiều đời được thân người.

Người từ đạo súc sinh chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:


1) Những người này thần trí tối tăm, là người ngu xuẩn, ít trí tuệ, không có chừng mực, lười biếng.

2) Họ thường tham và ham ăn, đồ ăn gì cũng ăn, ăn tạp lại còn dương dương tự đắc là không cần để ý.

3) Những người này cá tính vừa bướng vừa dữ, nói chuyện rất lỗ mãng. Họ là người có sức lực, thường mang vác vật nặng.

4) Họ thích kết giao làm bạn tri kỷ với những người ngu si (tức người có cùng đặc tính súc sinh)

5) Họ thích nằm co chân.

6)Họ có thể nằm trên đất bất kỳ chỗ nào, bất kỳ lúc nào, cũng không tránh những thứ dơ bẩn. Họ thích để mình trần, không biết xấu hổ (có thể không mặc y phục thì sẽ không mặc, không có lòng xấu hổ)

7) Tâm thường giả dối và nói lời cuồng ngôn. Họ thường tùy tiện nói người khác, xúc xiểm, không chân thật (hay nói xấu người khác, gây chuyện thị phi, siểm nịnh, lòng dạ cong vẹo, không đáng tin cậy)

8) Họ thích mưu tính lấy tiền tài của người khác, thường thích chối nợ (tìm cách chối nợ, quỵt nợ). Những người này thấy việc thiện không thể phát tâm, không tin chính Pháp, thường gây ra tội thập ác bất thiện.

9) Loại người này đã lưu lạc trong ác đạo nhiều lần, trải qua vô lượng ức kiếp không được làm người, đời này khó có được tấm thân người, nhưng vẫn như thế, vì vậy chú định sau khi chết lại quay lại biển khổ, chuyển sinh trở lại đạo súc sinh.

Người từ quỷ giới chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:

1) Tướng mạo của những người này đen gầy, không tươi sáng.

2) Họ để tóc ngắn xấu, hình dạng xanh đỏ tím vàng, uốn cong, mũi rụt mắt lồi, mắt trắng nhìn thẳng. (mũi cong vẹo, mắt hung dữ, lộ lòng trắng, ánh mắt thẳng)

3) Họ thường cảm thấy đói khát, thường thích ăn. Họ có cá tinh tham lam bủn xỉn, đố kỵ ghen ghét.


4) Họ rất chấp trước tà kiến, nói xấu sau lưng người khác, bình phẩm tốt xấu, gây chuyện thị phi. Họ có lòng tham và tâm dâm, thích tích trữ tiền tài, của cải, không bố thí cho mọi người (cực kỳ keo kiệt)

5) Họ ghét những người thiện lương, không thích trông thấy việc thiện, chỉ tin vào việc tà. Khi nhìn thấy tiền bạc, của cải, họ sẽ khởi tâm động niệm, không tự chủ được muốn đi lấy.

6) Họ thường khởi lòng tham và trộm cắp, mãi mãi không biết hài lòng, nếu bị thiệt một chút thì tức giận oán hận khôn nguôi.

7) Họ giành được chút tiền tài hoặc chút lợi thì trong lòng vui sướng. Nếu không giành được tiền tài thì sinh lòng ganh ghét muốn làm hại người.

8) Những người này không muốn phát tâm, lại tin tà kiến, không tu thiện pháp, bất kính chính Pháp. (họ tin thờ cúng quỷ thần, tự nhận mang sứ mệnh, thường đến nơi thờ cúng, thích cúng bái, thích đến những miếu thờ cô hồn dã quỷ, thích hầu đồng thượng đồng để xem việc, quỳ lạy cầu xin sinh lợi phát tài). Những người này chú định sau khi chết sẽ đọa địa ngục, trải qua thời gian dài không đếm xuể lại từ địa ngục ra, lại sinh thân quỷ, cư như vậy chuyển sinh trong biển khổ không ngừng.

Người từ A tu la đầu sinh nhân gian có đặc điểm sau:


1) Họ cao ngạo tự đại, cái tâm ngã mạn cực kỳ mạnh mẽ, không tin chính Pháp lắm, đôi khi cũng có người vào cửa Đạo cửa Phật, động cơ cũng không thuần, tranh đấu, vì lợi ích mà phá hoại sự hòa hợp, làm tổn hại đồng môn.

2) Họ thích nổi giận (động tí là tức giận), thích tranh cãi, đấu tranh với người khác.

3) Họ có lòng dạ cực kỳ hẹp hòi, ghi nhớ oán hận, ghen ghét hành ác (rất thù dai nhớ lâu, oán hận tìm cách phục thù, nhất định hạ gục người ta mới thôi, căm ghét người khác, không thích gặp người tốt, tâm đố kỵ rất nặng, vì vậy thường sinh lòng ghen ghét)

4) Họ nói chuyện xu nịnh và không thật, giả tạo, dối trá. Chối nợ mắng chửi người.

5) Họ là người cao lớn khỏe mạnh, mắt trắng tròn, răng chìa và thưa, răng nhọn lộ ra ngoài, dũng mạnh có sức lực, trong tâm thường nghĩ chuyện chiến tranh đánh nhau, ví dụ thích trò chơi chiến tranh và sinh tồn nơi hoang dã.

Vì những nghiệp bất thiện này, họ chú định sau khi chết sẽ đọa địa ngục, sau đó lại tùy theo nghiệp báo chuyển sinh vào ác đạo, sau đó lại chuyển sinh trở lại đạo A tu la.

Người từ cõi Trời chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:


1) Nếu có người giữ giới tu thiện thì có thể được sinh cõi Trời, khi từ cõi Trời rớt xuống và sinh vào nhân gian, họ sẽ có tướng mạo trang nghiêm, có chính tín chính kiến, tướng mạo đẹp tốt, là người thông minh trí tuệ, yêu thích thanh tịnh.

2) Họ thích đeo đồ trang sức trên đầu, xông hương, yêu thích sạch sẽ, thích chọn người hiền lương kết giao.

3) Họ thường vui thích tán thán ca múa. Họ thường thích ở lầu cao, không thích ở dưới thấp, nhà thấp. Họ thường hay cười, không sân hận, có đức hạnh (tức giận có đạo lý), nói chuyện thường nói lời hay ý đẹp, nói lời thành khẩn, khiến người nghe đều vui thích tin tưởng. Họ nói lời không gây tổn thương người, có đại trí tuệ.

4) Họ thường thích ăn mặc đeo đội những thứ trang trọng. Họ có tâm thiện, vui lòng xuất gia, tu Đạo. Nếu có minh sư họ sẽ tinh tấn tu trì, học Phật tu Đạo, không thích danh lợi thế gian, chí cầu Đạo Pháp.

Những người này có trí tuệ, nhiều kiếp tu hành, khó mà đánh giá, đoán định được, Họ là người hiền lương, có phúc.

Có nhiều người sẽ không hoàn toàn giống một cõi nào đó ở trên, có thể là do người đó đã trải qua nhiều cõi chuyển sinh khác nhau, có kiếp được làm người, có kiếp làm súc sinh, có kiếp bị giáng hạ xuống địa ngục…

Trên đây là một số kiến giải để mọi người giả tham khảo. Nếu từ ác đạo chuyển sinh thì cũng chớ buồn chán, thất vọng. Phật gia giảng đại ý; được thân người nào có dễ chi, nhân thân nan đắc. Do đó chúng ta cần phải tận dụng thời gian ở kiếp người để tu luyện, đề cao tâm tính và cảnh giới, bởi vì chỉ con người mới có thể tu luyện, mới được phép nghe Pháp.

Nếu tu luyện tốt bạn có thể nhảy xuất ra khỏi tam giới vĩnh viễn không phải chịu cái khổ luân hồi. Còn kém hơn chút ít thì cũng có thể làm người. Hồi tâm quy chính, nhất tâm hướng thiện, tín ngưỡng và thực hành Phật Pháp là điều con người cần phải làm và nên làm nếu muốn được hạnh phúc.

An Nhiên / Theo: vandieuhay

Mời các bạn xem video clip này nhé:


TRÙNG CỬU HẬU KIẾN TÂN CÚC - TRỊNH GIẢI


Trùng cửu hậu kiến tân cúc

Niên niên thì tiết cúc sơ khai,
Mãn sáp hoa chi đảo tửu bôi.
Kim nhật thu phong khi bệnh khách,
Duy tương bạch phát thượng đầu lai.


重九後見新菊

年年時節菊初開
滿插花枝倒酒杯
今日秋風欺病客
惟將白髮上頭來


Sau trùng dương thấy cúc mới
(Dịch thơ: phanlang)

Cúc chớm nở hàng năm đúng tiết
Cài đầy hoa nghiêng chén vui chơi
Nay gió thu coi thường người bệnh
Chỉ đưa thêm tóc trắng lên đầu


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trịnh Giải 鄭獬 (1022-1072) tự Nghị Phu 毅夫, người An Lục, An Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Niên hiệu Hoàng Hựu thứ 5 (1053), ông thi đỗ tiến sĩ hạng nhất, nhận chức thông phán ở Trần Châu. Vào thẳng Tập hiền viện, cuộc sống hằng ngày là biên soạn và chú giải. Thời vua Thần Tông, ông làm học sĩ Hàn lâm, quyền tri phủ Khai Phong. Bởi phản đối việc cải cách chính trị của Vương An Thạch, nên từ Thị độc học sĩ bị giáng làm tri phủ Hàng Châu. Về sau cáo bệnh xin từ quan và đề cử Hồng Khánh Cung lên thay. Ông giỏi về thơ, cách diễn đạt tự nhiên, chất phác, phong cách mạnh mẽ trong sáng. Ông cũng có tài làm từ, lời đẹp đẽ ý thâm trầm. Tác phẩm có Vân Khê tập 鄖溪集 (thơ), Hoa Am từ tuyển 花庵詞選 (từ).

Nguồn: Thi Viện

"THA ĐƯỢC CHO NGƯỜI CHỖ NÀO THÌ NÊN THA", VẾ TIẾP THEO LÀ GÌ?

Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn nhưng lại mang theo nội hàm bác đại tinh thâm đúc kết kinh nghiệm sống của người xưa qua hàng ngàn năm, phản ánh trong hầu hết các khía cạnh cuộc sống của chúng ta. Nó không chỉ giúp cho thế hệ sau ít phạm phải sai lầm trên đường đời mà còn giúp cho cuộc sống thêm ý vị, đặc sắc hơn…


Có một câu tục ngữ mà hầu như mọi người đều biết, đó là: ‘Tha được cho người chỗ nào thì nên tha’ (Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân). Câu tục ngữ này còn có vế tiếp theo. Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về lai lịch và ý nghĩa của nó…

Tha được cho người chỗ nào thì nên tha

Trong “Tây khê tùng ngữ” của nhà văn Diêu Khoan thời nhà Tống có viết như sau: “Có một đạo sĩ khi đánh cờ luôn nhường người khác đi trước, tức là để người khác cầm quân cờ đi trước một bước, để họ chiếm ưu thế trên bàn cờ. Chữ “nhiêu” không chỉ mang theo nghĩa tha thứ mà trong hoàn cảnh chơi cờ vây thời cổ đại, nó còn mang theo nét nghĩa là nhường đi trước một bước. Vị đạo sĩ này cũng từng làm một bài thơ:

“Lạn kha chân quyết diệu thông thần,
Nhất cục tằng kinh kỷ độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ,
Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân”

Tạm dịch:

Cờ vây chứa huyền diệu của Thần
Mỗi ván trải qua mấy mùa xuân
Có nước cờ đi không địch thủ:
Nhường được cho người mới cao thâm.

“Lạn kha” là tên gọi khác của cờ vây. Vị đạo sĩ này sau đó đã qua đời tại huyện Bao Tín, thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay. Trước khi mất, ông ủy thác việc lo hậu sự cho một ông lão trong làng. Vài năm sau, ông lão tuân theo di chúc thực hiện cải táng mộ vị đạo sĩ. Lúc mở quan tài ra, ông phát hiện thấy điều kỳ diệu, quan tài trống rỗng và chỉ có quần áo bên trong.


Hóa ra đạo sĩ là một người tu luyện đắc đạo, ông đã dùng thuật “thi giải” để rời đi. Thuật “thi giải” chính là, người tu luyện thành công trong Đạo gia thường sẽ dùng quần áo, gậy tre hoặc thanh gươm biến thành xác chết nằm trong quan tài, còn người thật đã trở thành Thần Tiên và rời đi.

Từ đó về sau, câu chuyện về vị đạo sĩ và bài thơ của ông được lưu truyền, dần dần câu thơ “nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân” được tách ra và trở thành câu tục ngữ mang hàm ý khuyên nhủ con người ta nên bao dung, độ lượng, cảm thông đối với những sai lầm của người khác và mang ý tha thứ.
 
Đến lúc buông tay thì cần phải buông tay

Câu tục ngữ “Tha được cho người chỗ nào thì nên tha” còn có câu tiếp theo mà ít người biết, đồng thời còn khiến chúng ta liên tưởng tới những suy nghĩ sâu xa hơn. Câu tiếp theo chính là “Đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”.

Buông xả, buông xả – có buông xả chúng ta mới hiểu được, đắc được càng nhiều thì chúng ta cũng mất đi càng nhiều. Khi chúng ta chuyên tâm làm việc, hao tổn không ít thời gian và mất đi thời gian nhàn rỗi, khi càng cố gắng kiếm thêm nhiều tiền, chúng ta sẽ mất đi thời gian ở bên gia đình.

Khi đến lúc phải buông tay thì đừng nên luyến tiếc, những gì đã mất cũng chưa hẳn sẽ vĩnh viễn mất, học cách mỉm cười với nỗi đau mất mát để chào đón một tương lai tốt đẹp hơn, đó mới là cái tinh túy của “đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”.

Ảnh: Shutterstock.

Nhiều lúc chúng ta phải đối mặt với những vướng mắc về tình cảm, nếu cứ cố níu kéo thì chỉ khiến cho một bên chịu nhận tổn thương. Khi đối mặt với công việc đang làm, nếu như tâm trạng không vui, không hạnh phúc, chúng ta cũng nên buông tay để nghỉ ngơi một chút, học tập thêm một chút để chuẩn bị cho điểm xuất phát mới.

Nếu nói “tha được cho người chỗ nào thì nên tha” là biểu hiện của ý chí rộng lớn, thì câu “đến lúc buông tay thì cần phải buông tay” lại là biểu hiện của dũng khí. Khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn trước mắt hoặc sự việc không đạt được như ý, nếu có thể lấy lùi để tiến thì hoàn cảnh sẽ chuyển biến tốt đẹp.
 
Lời kết

Hai câu tục ngữ trên muốn nhắn nhủ cho chúng ta một điều: nên kết thiện duyên, lấy lên được thì cũng buông xuống được, dùng tâm thái này để đối nhân xử thế thì mới có thể sống thoải mái hạnh phúc tại thế gian.

Làm người nên biết chừa lại cho mình một đường lui. Trên đời này không tồn tại sự yêu hận vô cớ, đều là do bản thân tự tay gieo xuống nhân quả thiện ác. Hy vọng mỗi người đều biết đối xử tốt với người khác, bỏ qua lỗi lầm của người khác, có như vậy, chúng ta cũng gặt hái được phúc khí.


Tuy nhiên, một người muốn đạt được cảnh giới bao dung tha thứ và buông xả thì cần có thời gian tu tâm dưỡng tĩnh lâu dài, gặp phải chuyện không như ý mà có thể nhìn xét lại sự việc một cách thấu đáo, mới có thể bình tâm và nhận thức cuộc sống một cách thanh tỉnh.

Những lời nhắc nhở chân thành của cổ nhân đã trở thành chuẩn tắc sống, cũng là phương pháp đối nhân xử thế cho các thế hệ sau. Đến hôm nay, những lời dạy này vẫn mang lại lợi ích không nhỏ cho chúng ta.

“Tha được cho người chỗ nào thì nên tha; đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”, nhìn có vẻ đơn giản nhưng kỳ thực lại là đại trí tuệ cõi nhân sinh, là tuyệt phẩm tinh tế, đem lại dư vị ngọt ngào nơi miền nhân thế.

Theo: Bình Tâm – Vision Times
San San biên dịch

MỸ NHÂN KHIẾN TRIỀU ĐẠI NHÀ MINH VONG QUỐC

Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn chỉ huy quân đội Mãn Thanh đã thâm nhập được quan ải do tướng quân Ngô Tam Quế trấn giữ, khiến nhà Minh của người Hán bị mất nước. Tội lỗi đó bị quy về một mỹ nhân sắc nước hương trời: Trần Viên Viên.

Ảnh minh họa. Nguồn: tinhhoa

Một trong giai đoạn lịch sử buồn của người Hán là bị nhà Thanh đô hộ trong gần 300 năm, chính xác là từ 1644 khi đến 1912. Quân đội của nhà Thanh dưới sự lãnh đạo của Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn đã thâm nhập được quan ải, khiến nhà Minh của người Hán bị mất nước. Tội lỗi đó bị quy về người đẹp Trần Viên Viên.

Trần Viên Viên người Hình Châu, mồ côi mẹ sớm, cha lại buôn bán xa nên gửi con cho người dì. Người dì nuôi dạy Viên Viên giỏi cả cầm kỳ thi họa rồi đem bán cho… kỹ viện. Sách Đinh Văn Lục chép “Mỗi khi nhìn ai, người đối diện cũng đều phải luống cuống khi lỡ nhìn vào cặp mắt đẹp mê hồn của nàng. Mái tóc của Viên Viên dài óng và mượt mà như nước hồ thu, nước da trắng ngần như sứ, thân hình mảnh mai và mỏng manh như thuỷ tinh”.

Lúc đó trong triều, vua Sùng Trinh (vua cuối nhà Minh) đang sủng ái Điền Quý phi khiến Hoàng hậu không vui. Cha của Chu hoàng hậu thấy vậy bèn mua Viên Viên đưa vào cung tiến vua để dùng sắc trị sắc, khiến vua xa lìa Điền Quý phi, lấy lại quyền lực nơi hậu cung cho Chu hoàng hậu. Quả nhiên, Sùng Trinh có mới nới cũ chuyển sang sủng ái Trần Viên Viên.

Sau vì chính sự đảo lộn, giặc giã nổi như ong, vua Sùng Trinh nghe lời can gián các quan nên tự sửa mình bằng việc bỏ chốn phòng the, xa rời nữ sắc. Viên Viên vì thế bị đem trả lại cho cha của Hoàng hậu. Chu quốc trượng (cha hoàng hậu) sau đó đem Viên Viên gả cho viên kiêu tướng Ngô Tam Quế.

Dù Sùng Trinh đã chịu sửa sang chính sự nhưng đã quá muộn khi xã hội nhà Minh lúc ấy đã loạn to. Lý Tự Thành nổi lên khởi nghĩa xưng là Sấm vương với hàng chục vạn nông dân tham gia. Quân của Sấm vương đánh đến tận kinh thành nhà Minh khiến Sùng Trinh phải treo cổ tự vẫn.

Sấm vương nghe nói sắc đẹp của Trần Viên Viên nên rắp tâm chiếm đoạt. Ngô Tam Quế lúc này đang chỉ huy 10 vạn quân đang đóng ở Sơn Hải Quan đề chống quân Thanh. Khi nghe Bắc Kinh bị huy hiếp, Ngô Tam Quế liền dẫn binh về cứu nhưng giữa đường nghe tin kinh đô đã thất thủ, vua Sùng Trinh đã chết, lại nghe Lý Tự Thành dụ dỗ, nên Ngô Tam Quế đã định hàng.

Nguồn: tinhhoa

Ngay cả khi nghe tin cha bị Lý Tự Thành giam thì Ngô Tam Quế vẫn cho rằng đó chỉ cách để Sấm vương ép mình hàng.Nhưng khi hay ái thiếp của mình là Trần Viên Viên bị Tự Thành chiếm đoạt, ông nổi giận đổi ý, đến đầu hàng quân Thanh. Chính Ngô Tam Quế đã mở toang quan ải đưa quân Thanh đánh thẳng vào Bắc Kinh. Từ đây, nhà Thanh áp đặt nền cai trị với người Hán mãi cho đến khi Phổ Nghi thoái vị năm 1912.

Cũng vì chuyện Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh nhập quan mà người Hán oán trách, căm thù, phỉ báng Trần Viên Viên, vì cho rằng nàng chính là nguyên nhân gây ra việc người Mãn đô hộ người Hán. Nhưng điều này là bất công vì nếu Sùng Trinh anh minh, Ngô Tam Quế tỉnh táo thì có 10 Trần Viên Viên cũng không giúp quân Thanh nhập quan được.

Kết cục sau đó của Trần Viên Viên không được rõ. Có tài liệu ghi là sau khi dẹp loạn Sấm vương, Trần Viên Viên đã được đoàn tụ với Ngô Tam Quế. Cũng có tài liệu ghi rằng nàng đã bị sát hại trong đám loạn binh khi Bắc Kinh thất thủ.

Ngoài ra, còn có kết cục được nhiều người kể là sau khi trở thành vương gia của nhà Thanh, Ngô Tam Quế lo ngại bị điều tiếng lấy phải kỹ nữ, nên đưa nàng lên sống cô đơn trên một ngôi chùa vắng ở Côn Sơn – Vân Nam. Cuối đời, Trần Viên Viên trở thành một vị đạo cô, nàng sống ẩn dật và chết một cách âm thầm trong cô quạnh.

An Nhiên
Theo: tinhhoa

BÀI THƠ ĐƯỜNG NÀO CHỈ CÓ 20 TỪ NHƯNG KHIẾN NGƯỜI ĐỌC "ĐỎ MẶT" ?

Trong tuyển tập Ba trăm bài thơ Đường, có một bài thơ khá đặc biệt bởi hình tượng được đặc tả bên trong khiến độc giả không khỏi đỏ mặt, thậm chí còn bị đánh giá là dung tục.


Nói đến thành tựu văn học phải nhắc đến viên ngọc sáng nhất trong lịch sử văn học nghệ thuật Trung Quốc - thơ Đường.

Cổ nhân đề cao sự lãng mạn, ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, họ đã có thể viết những câu thơ lãng mạn như“Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”.

Nhà Đường phát triển cực thịnh, trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Theo đó, nghệ thuật văn học thơ ca cũng đạt đến tầm cao mới. Bằng chứng là nhiều nhà thơ đại tài đã xuất hiện, chẳng hạn như Lý Bạch, Bạch Cư Dị…

Trong tuyển tập “Ba trăm bài thơ Đường” có một bài thơ khá đặc biệt bởi hình tượng được đặc tả bên trong khiến độc giả không khỏi đỏ mặt, thậm chí còn bị đánh giá là “dung tục”.

Thể thơ Đường khiến người đọc đỏ mặt

Bài thơ được đề cập thuộc phong cách “Ngọc đài thể”, là thơ tình của trai gái yêu nhau. Thời Đường, xã hội tương đối cởi mở, địa vị của phụ nữ tương đối cao, không còn sự trầm trọng của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Theo đó, người thời bấy giờ mạnh dạn thể hiện tình yêu và bản thân, bao gồm cả nét đẹp cơ thể của người phụ nữ. Đó cũng chính là lý do bạn thường thấy tạo hình trang phục của các bộ phim cổ trang thời Đường có phần táo bạo hơn những thời kỳ khác.


Vì thế mà phong cách làm thơ theo lối “Ngọc đài thể” đã xuất hiện, lấy tình yêu làm chủ đề chính, sử dụng chuyện khuê phòng giữa nam và nữ cùng hình ảnh táo bạo hơn để đặc tả những cung bậc cảm xúc trong tình yêu, khiến người hiện đại đọc xong phải đỏ mặt, thót tim.

Do đó, "Ngọc đài thể" trong thời nhà Đường rất nổi tiếng, và thi nhân nổi tiếng với những bài thơ theo phong cách này chính Quyền Đức Dư nổi danh gần xa. Mặc dù danh tiếng của ông ở thời hiện đại không bằng Đỗ Phủ và Lý Bạch, nhưng địa vị lại rất cao lúc bấy giờ, bởi vì ông là một vị quan rất to, có lúc còn lên được chức tể tướng.

Có người có thể hỏi, nếu tể tướng làm thơ theo phong cách “Ngọc đài thể”, trái ngược với bộ mặt thanh cao quyền quý của quan lớn, vậy thì mặt mũi còn đâu? Trên thực tế, “Ngọc đài thể” không phải là phong cách thơ khiếm nhã, “không trong sạch”, mà ngược lại rất thịnh hành ở thời nhà Đường, mượn hình tượng phóng khoáng để thể hiện những tầng ý nghĩa sâu xa hơn.

Mượn hình ảnh phóng khoáng để đặc tả vẻ đẹp tình yêu

Bài thơ theo phong cách "Ngọc đài thể" của Quyền Đức Dư được chọn vào "Ba trăm bài thơ Đường", thực ra chỉ có 20 từ, nhưng bị đánh giá là rất thô tục, những ai “nhút nhát” thì có lẽ không thể đọc đến câu từ cuối cùng.


Đêm qua, đai váy cởi,
Hôm nay, nhền nhện bay.
Phấn hoa không thể quên,
Chày gỗ ấy mà về. (tạm dịch)

Bài thơ này sử dụng góc nhìn của một người đàn ông để diễn giải những suy nghĩ của người vợ mong chờ chồng trở về để tâm sự chuyện khuê các, được Quyền Đức Dư miêu tả sinh động gói gọn trong 20 từ.

“Đêm qua, đai váy cởi”, có nghĩa là đêm qua chỉ một mình ta ở nhà, nhưng đai váy không biết vì sao mà buông lơi, sáng ngủ dậy đã thấy những con nhện chân dài “bay” thành từng cặp ngoài cửa sổ. Tác giả dùng hình ảnh nhền nhện “bay” được lý giải là vì loài nhện giăng tơ nhưng mắt thường khó thấy, nên cứ tưởng nhện đang lơ lửng trên không trung.

Thời xưa, đai váy tự rơi ra và những con vật đi thành cặp là điềm đại cát, điều tốt lành sớm đến. Ngày nay nhiều nơi ở Trung Quốc vẫn sử dụng những hiện tượng này để gửi gắm hy vọng nào đó. Đặc biệt là đối với phụ nữ, họ tin rằng khi thấy những điềm này thì sớm muộn cũng sẽ gặp được ý trung nhân để nương tựa suốt phần đời còn lại.

"Phấn hoa không thể quên, chày gỗ ấy mà về". Nhìn thấy những điềm tốt lành, người phụ nữ thầm chắc trong lòng rằng chồng mình sắp trở về nhà nên lập tức tô son dặm phấn để chuẩn bị sẵn sàng đón chồng. Từ khi chồng đi xa, cô không buồn ăn mặc chỉnh tề, không còn muốn ra dáng một người phụ nữ biết chiều chuộng bản thân, nhưng khi người mình thương về là phải tắm rửa thay đồ ngay lập tức để xuất hiện trước mặt đối phương với hình tượng xinh đẹp nhất. Cái “chày gỗ” được ví von tài tình cho người đàn ông mạnh mẽ.


“Tiểu biệt thắng tân hôn”, những lần chia tay lại khiến người ta bịn rịn, yêu thương nhau hơn. Người chồng nhìn thấy vợ xinh đẹp động lòng, nói không chừng tình cảm đôi bên càng thêm bền chặt. Hơn nữa không còn phải cách biệt hai nơi, người phụ nữ hy vọng được ở bên người mình yêu bên mọi lúc.

Toàn bộ bài thơ, Quyền Đức Dư đã diễn giải rất hay tâm tư của người phụ nữ chờ chồng về chỉ trong vài từ. Không như thời nay, thời xưa không có trang thiết bị tiên tiến để có thể liên lạc mọi lúc mọi nơi, mà mỗi lần chia tay tiễn biệt thì như cách cả thiên thu vạn dặm. Họ chỉ liên lạc với nhau qua thư từ; người gửi có lòng, nhưng thư đến tay người kia hay không lại là chuyện khác, bởi lẽ quá trình này đều do sức người vận chuyển.

Do đó, người xưa chỉ có thể gửi những niềm hy vọng tốt đẹp vào cuộc sống, chẳng hạn như “đai lưng tự cởi”, báo trước người chồng sẽ sớm quay lại. Vì vậy, nhiều người đang thắc mắc tại sao việc cởi đồ lại gợi lên những điều không đứng đắn, khiến họ phải đỏ mặt và cảm thấy dung tục.


Trên thực tế, vấn đề này liên quan đến quan niệm của từng thời đại. Ở thời Đường, không ai ở nghĩ rằng loại thơ cổ này không nghiêm túc hay khơi gợi những chuyện không đứng đắn nơi phòng the. Mà cũng nhờ những hình tượng bị vô tình gắn mác dung tục này lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa khiến người ta không thể ngờ tới.

Thật vậy! Không đơn giản mà bài thơ 20 chữ của Quyền Đức Dư lại nằm trong tuyển tập “Ba trăm bài thơ Đường”.

Tóm lại, bài thơ của Quyền Đức Dư nói riêng và phong cách thơ “Ngọc đài thể” nói chung, là một nét nổi bật và kinh điển trong thơ Đường, tuy không được truyền bá rộng rãi nhưng qua miêu tả của nhà thơ vẫn cho chúng ta hiểu được vẻ đẹp và hy vọng trong tình yêu.

PV / Theo: Thời Đại Plus

Saturday, October 10, 2026

ẨM THỰC LẠC DƯƠNG: HÀNH TRÌNH VỊ GIÁC VỀ CỐ ĐÔ NGÀN NĂM

Lạc Dương – một trong “tứ đại cố đô” tráng lệ của Trung Quốc – không chỉ cuốn hút du khách bởi bề dày lịch sử và di sản văn hóa, mà còn mê hoặc bởi nền ẩm thực vô cùng phong phú. Những món ăn tại đây mang đậm hơi thở vùng Hà Nam, kết hợp tinh hoa cung đình và hương vị dân dã, tạo nên một hành trình vị giác khó quên. Hãy cùng Kim Lien Travel khám phá 10 tuyệt phẩm ẩm thực đặc trưng, nơi hương vị kể chuyện lịch sử cố đô.

Lạc Dương mê hoặc du khách bởi nền ẩm thực vô cùng phong phú

Lạc Dương Thủy Tịch – “Bữa Tiệc Dưới Thiên Đàng”

Nếu có một món ăn đại diện cho sự tinh hoa của ẩm thực Lạc Dương, đó chính là Lạc Dương Thủy Tịch (Luoyang Shuixia). Món ăn trứ danh này có xuất xứ từ thời nhà Đường, được ví von như một “Bữa tiệc dưới thiên đàng” bởi sự cầu kỳ và quy mô hoành tráng.

Lạc Dương Thủy Tịch (Luoyang Shuixia)

Đặc trưng của Thủy Tịch là sự kết hợp của 24 món nước (chủ yếu là các loại súp và canh), được bày biện khéo léo thành hình tượng hoa Mẫu Đơn – loài hoa biểu tượng của Lạc Dương. Các món ăn được chế biến từ nhiều nguyên liệu tươi ngon như thịt bò, thịt cừu, lòng bò, rau củ và nấm, được hầm nhừ trong nồi đất cùng nước dùng đậm đà. Thủy Tịch mang hương vị thanh ngọt, dễ ăn, thường được dùng làm món khai vị trang trọng. Thưởng thức Thủy Tịch nóng hổi trong những ngày tiết trời se lạnh chắc chắn là một trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời và độc đáo không thể bỏ qua khi du lịch cố đô.

Canh Thịt Dê – Vị Thuốc Bổ Dưỡng Từ Cố Hương

Tiếp nối hành trình hương vị, Canh Thịt Dê là một món ăn truyền thống có lịch sử hàng trăm năm tại Lạc Dương. Món canh này nổi tiếng bởi hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng cao.

Canh Thịt Dê là một món ăn truyền thống có lịch sử hàng trăm năm tại Lạc Dương

Ngay từ lần đầu tiên nếm thử, du khách sẽ bị chinh phục bởi mùi thơm đậm đà lan tỏa. Tiếp theo là vị thịt dê mềm ngon, tan chảy ngay trên đầu lưỡi, được hầm kỹ lưỡng cùng các gia vị bí truyền. Đây là món ăn được người dân địa phương vô cùng ưa chuộng, đặc biệt vào mùa đông, bởi khả năng giữ ấm và bồi bổ sức khỏe. Canh thịt dê chính là lựa chọn hoàn hảo để du khách khởi đầu hành trình khám phá ẩm thực Lạc Dương.

Cá Chép Hóa Rồng – Tuyệt Phẩm Mang Ý Nghĩa May Mắn

Món Cá Chép Hóa Rồng (Longmen Liyu) của ẩm thực Lạc Dương là một tuyệt phẩm nghệ thuật, lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích dân gian về cá chép vượt vũ môn.

Món Cá Chép Hóa Rồng (Longmen Liyu) của ẩm thực Lạc Dương

Món ăn được chế biến từ cá chép tươi sống, sau đó chiên giòn vàng ươm hoặc hấp. Điểm nhấn chính là phần nước sốt chua ngọt đậm đà được rưới lên trên, tạo nên sự hài hòa tuyệt vời về hương vị. Cá chép tượng trưng cho sự thành công và may mắn, do đó, món ăn này thường xuất hiện trong các dịp lễ Tết hoặc sự kiện quan trọng, mang theo lời chúc tốt lành.

Bánh Mẫu Đơn – Vẻ Đẹp Tinh Tế Của Loài Hoa Biểu Tượng

Nếu hoa Mẫu Đơn là biểu tượng của Lạc Dương, thì Bánh Mẫu Đơn chính là linh hồn của những món ngọt truyền thống nơi đây.

Nguyên liệu chính của món bánh này là bột gạo nếp và bột đậu đỏ, được nhào nặn khéo léo và tạo hình thành bông hoa mẫu đơn tinh tế. Bánh Mẫu Đơn chinh phục thực khách bằng vẻ ngoài duyên dáng, màu sắc tươi sáng cùng kết cấu mềm xốp, độ ngọt vừa phải. Đây không chỉ là một món ăn vặt hấp dẫn mà còn là thức quà biếu ý nghĩa mà du khách nên chọn mua khi du lịch Lạc Dương.

Bánh Mẫu Đơn chính là linh hồn của những món ngọt truyền thống nơi đây.

Mì Sợi Tương – Hương Vị Dân Dã Đậm Đà

Bên cạnh những món ăn cung đình cầu kỳ, ẩm thực Lạc Dương còn phong phú với những hương vị đường phố mộc mạc. Mì Sợi Tương (Zhajiangmian) là một ví dụ điển hình.

Mì Sợi Tương mang hương vị đường phố mộc mạc

Đây là món ăn vô cùng hấp dẫn, dù cách chế biến có phần đơn giản. Sợi mì dai ngon, làm từ bột mì, được kết hợp cùng phần nước sốt tương đặc biệt làm từ đậu nành lên men, thêm thịt băm, rau củ và các loại gia vị khác. Món ăn này mang đậm hương vị dân dã, mặn mà, là trải nghiệm tuyệt vời cho những ai muốn khám phá văn hóa ẩm thực đường phố thực thụ của Lạc Dương.

Mì Thịt Bò – Bữa Sáng Tràn Đầy Năng Lượng

Đối với người dân địa phương, Mì Thịt Bò là món ăn sáng phổ biến và được yêu thích nhất.

Món mì này chinh phục thực khách bởi sự kết hợp hài hòa giữa sợi mì dai ngon, lát thịt bò mềm ngọt, rau củ xào và nước dùng đậm đà, được hầm xương công phu. Mì Thịt Bò không chỉ có hương vị thơm ngon mà còn cung cấp đầy đủ dưỡng chất và năng lượng để du khách sẵn sàng cho một ngày dài khám phá các di sản văn hóa tại Lạc Dương.

Mì Thịt Bò là món ăn sáng phổ biến và được yêu thích nhất

Mì Lạc Dương – Sự Lựa Chọn Đa Dạng

Tương tự như Mì Thịt Bò, Mì Lạc Dương cũng là một món ăn phổ biến với mức giá bình dân.

Sợi mì ở đây được làm từ bột mì nguyên cám, mang lại độ dai đặc trưng, kết hợp cùng nước dùng được hầm từ xương gà, xương lợn, nấm và rau củ, tạo nên hương vị đậm đà khó cưỡng. Du khách hoàn toàn có thể tùy chọn đa dạng các loại topping như thịt viên, rau cải, nấm hoặc thịt bò để biến tấu món ăn theo sở thích cá nhân.

Mì Lạc Dương cũng là một món ăn phổ biến với mức giá bình dân

Bánh Bao Nhân Thịt – Món Ăn Vặt Đơn Giản

Bánh Bao Nhân Thịt là món ăn vặt phổ biến tại Lạc Dương và khắp Trung Quốc.

Những chiếc bánh bao nhỏ nhắn, nhân thịt được nêm nếm ngọt đậm, có thể được hấp chín mềm hoặc chiên giòn. Đây là món ăn hoàn hảo để thưởng thức nhanh, đặc biệt vào những ngày trời lạnh. Bánh bao mang hương vị quen thuộc nhưng vẫn giữ được nét tinh tế, là món quà ẩm thực đơn giản nhưng đầy ấm áp mà cố đô dành tặng du khách.

Bánh Bao Nhân Thịt là món ăn vặt phổ biến tại Lạc Dương

Trà Hạnh Nhân – Thức Uống Thanh Tao Của Cung Đình

Chuyển sang thức uống, Trà Hạnh Nhân là một món tráng miệng hoặc đồ uống ngọt nổi tiếng tại Lạc Dương.

Trà được chế biến từ tinh bột sen, hạnh nhân và vừng, mang lại vị ngọt ngào và công dụng giải nhiệt tuyệt vời. Tương truyền rằng, các phi tần trong cung rất ưa chuộng món canh này để giữ cho làn da luôn dẻo dai và tươi sáng. Ngày nay, du khách có thể dễ dàng tìm thấy Trà Hạnh Nhân và cảm nhận hương vị thanh tao, béo ngậy của truyền thống ẩm thực cung đình.

Trà Hạnh Nhân được chế biến từ tinh bột sen, hạnh nhân và vừng, mang lại vị ngọt ngào

Trà Thảo Mộc Lạc Dương – Nét Văn Hóa Thưởng Thức Tinh Tế

Cuối cùng, Lạc Dương cũng nổi tiếng với các loại Trà Thảo Mộc và Trà Xanh chất lượng cao.

Trà Lạc Dương không chỉ nổi tiếng với hương vị thơm ngon mà còn có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe. Ghé thăm các quán trà truyền thống, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức một tách trà nóng, lắng đọng và tìm hiểu về nghệ thuật thưởng trà tinh tế của người dân địa phương, tạo nên một kết thúc nhẹ nhàng và đáng nhớ cho hành trình ẩm thực.

Trà Lạc Dương nổi tiếng với hương vị thơm ngon và có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe

Ẩm thực Lạc Dương thực sự là một bức tranh đa sắc, nơi mỗi món ăn đều chứa đựng câu chuyện về lịch sử và văn hóa lâu đời của cố đô. Dù là bữa tiệc Thủy Tịch tráng lệ hay bát Canh Thịt Dê ấm áp, mỗi hương vị đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách.

Hãy để Kim Lien Travel đồng hành cùng quý vị trên hành trình khám phá những hương vị độc đáo và những di sản văn hóa hấp dẫn tại Lạc Dương. Đừng bỏ lỡ cơ hội đặt chân đến vùng đất cổ kính này và thưởng thức tinh hoa ẩm thực ngàn năm.

Theo: kimlientravel

LÃNG ĐÀO SA KỲ 2 - LÝ DỤC


Lãng đào sa kỳ 2

Vãng sự chỉ kham ai,
Đối cảnh nan bài.
Thu phong đình viện tiển xâm giai,
Nhất nhiệm châu liêm nhàn bất quyển,
Chung nhật thuỳ lai.

Kim kiếm dĩ trầm mai,
Tráng khí hao lai.
Vãn lương thiên tịnh nguyệt hoa khai,
Tưởng đắc ngọc lâu dao điện ảnh,
Không chiếu Tần Hoài.


浪淘沙其二

往事只堪哀,
對景難排。
秋風庭院蘚侵階,
一任珠簾閑不卷,
終日誰來。

金劍已沉埋,
壯氣蒿萊。
晚涼天淨月華開,
想得玉樓瑤殿影,
空照秦淮。


Lãng đào sa kỳ 2
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chuyện xưa nhắc lại thêm buồn.
Trước người trước cảnh, càng vương thêm sầu.
Ngoài sân gió thổi lao xao.
Rèm châu lặng lẽ, cuốn cao lâu rồi.
Cả ngày lui tới bồi hồi.
Thương cây kiếm báu nổi trôi phương nào ?.
Tráng khí lớp cỏ bồng hao.
Khí trời mát mẻ, tối nào sáng trăng.
Lầu Ngọc rạng rỡi cung hằng.
Tần Hoài sáng tỏ, chẳng bằng trăng suông !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Dục 李煜 (937-978) tự Trùng Quang 重光, tự hiệu là Chung sơn ẩn sĩ 鍾山隱士, Chung phong ẩn sĩ 鍾峰隠者, Bạch liên cư sĩ 白蓮居士, Liên phong cư sĩ 蓮峰居士, người đời quen gọi là Nam Đường Hậu Chủ 南唐後主 hay Lý Hậu Chủ 李後主. Ông là người nhân huệ minh mẫn, văn hay hoạ khéo, biết âm luật. Phủ khố Giang Nam có thu tàng tác phẩm thư hoạ của ông rất nhiều.

Nam Đường bị nhà Tống diệt, phong ông làm An Mệnh hầu, sau lại bị Tống Thái Tổ cho uống thuốc độc chết. Miền Giang Nam được tin Hậu Chủ chết, các phụ lão đều thương khóc.

Hậu Chủ lúc chưa mất nước sinh hoạt rất hào hoa nên từ cũng rất uỷ mị hoan lạc. Sau khi mất nước, bị đưa về nhà Tống, ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt. Từ của ông lúc đó cũng rất thê thảm bi ai, đúng là vong quốc chi âm.

Nguồn: Thi Viện