Sunday, May 10, 2026

NGẪU THÀNH - CHU HY


Ngẫu thành - Chu Hy

Thiếu niên dị lão học nan thành,
Nhất thốn quang âm bất khả khinh.
Vị giác trì đường xuân thảo mộng,
Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.


偶成 - 朱熹

少年易老學難成
一寸光陰不可輕
未覺池塘春草夢
階前梧葉已秋聲


Ngẫu thành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Tuổi trẻ có học mới thành. 
Một tấc lên tận trời xanh mấy người. 
Ao xuân cỏ mộng xanh ngời. 
Thoảng nghe chiếc lá thu rơi ngoài thềm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Hy 朱熹 (1130 - 23/4/1200) là nhà tư tưởng đời Tống, tự Nguyên Hối 元晦, hiệu Hối Am 晦庵, người Vụ Nguyên, Huy Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 18 (1148).

Nguồn: Thi Viện



THỜI TRẺ CHU NGUYÊN CHƯƠNG VIẾT MỘT CHỮ NHẤT, THẦY TOÁN MỆNH BẢO ÔNG TRỐN ĐI

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từ ăn xin đến làm hoàng đế, nên bản thân ông đã có rất nhiều truyền kỳ, những câu chuyện về ông nhiều không đếm xuể. Câu chuyện ông xem toán mệnh trước trận chiến đánh bại cường địch Trần Hữu Lượng chính là một trong số đó.


Trước trận quyết chiến với Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương dẫn đại quân từ Hòa Châu vượt sông hành quân theo đường Thái Bình, sau đó tạm thời đóng quân. Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. Hôm đó, Chu Nguyên Chương mặc bộ y phục vải thô rách rưới, cũng không đem theo thị vệ, một mình đi ra ngoài.

Do chiến tranh loạn lạc liên miên, đại đa số người dân đều ăn chưa đủ no, nên trên phố rất đìu hiu. Chu Nguyên Chương vừa đi vừa than thở. Lúc này đột nhiên bên tai ông vọng đến tiếng gọi: “Vị đại huynh này tướng mạo phi phàm, nhìn là biết người đại phú đại quý. Này… đừng đi nhé, tôi vốn là thầy toán mệnh, không đúng không lấy tiền”.

Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. (Ảnh: epochtime)

Chu Nguyên Chương thuận thế bước đến, buộc miệng hỏi: “Tiên sinh đoán tiền đồ cho tôi nhé”.

Thầy toán mệnh quan sát Chu Nguyên Chương một lát, sau đó bảo ông hãy viết một chữ. Thế là Chu Nguyên Chương viết lên mặt đất chữ Nhất (一) rồi nói: “Là chữ Nhất này, mời tiên sinh đoán đi”.

Thầy toán mệnh kinh nhạc nhìn một lát rồi ngẩng đầu nhìn Chu Nguyên Chương, rồi đột nhiên cuống quýt xóa chữ đi, sau đó kéo Chu Nguyên Chương lại và ghé tai nói nhỏ: “Anh mau trốn đi, không được nói bất cứ điều gì. Chạy thoát mạng là quan trọng nhất”.

Chu Nguyên Chương lắc đầu, cứ nhất quyết hỏi cho rõ ràng. Thầy toán mệnh nói khẽ: “Chữ Nhất (一) này, viết ở trên mặt đất, tức Thổ (土) thì chính là chữ Vương (王). Sau này anh nhất định sẽ làm hoàng thượng. Hiện nay Chu Trọng Bát (tên gốc của Chu Nguyên Chương) đã đem quân đến rồi, sẽ quyết chiến với Trần Hữu Lượng. Nếu việc này mà để Chu Trọng Bát biết được thì cái mạng của anh khó mà giữ được. Nghe nói ông ấy rất tin vào những việc như toán mệnh, đoán chữ như thế này. Anh còn nói nhiều lời gì nữa, mau trốn đi”.

Chu Nguyên Chương vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thầm nghĩ: “Theo như những lời này của thầy toán mệnh, vậy trận quyết chiến với kẻ địch mạnh Trần Hữu Lượng lần này, mình sẽ khắc chế được và chiến thắng chăng?”.

Thế là Chu Nguyên Chương lại hỏi: “Vậy ngài xem, Chu Trọng Bát và Trần Hữu Lượng, ai sẽ chiến thắng?”

Thầy toán mệnh vừa đẩy Chu Nguyên Chương đi vừa nói: “Phùng hung chi xứ bất thị hung, chỉ nhân Trọng Bát hựu phùng xuân (Gặp nơi hung hiểm lại không hung hiểm, Trọng Bát lại gặp mùa xuân). Trọng Bát ắt sẽ thắng. Chớ nói nhiều nữa, mau chạy đi”.

Chu Nguyên Chương vốn muốn đưa tiền cho thầy toán mệnh, nhưng lại phát hiện ra không mang theo một xu nào, thế là Chu Nguyên Chương ôm quyền nói: “Xin thụ giáo, sau này nếu phát đạt, tại hạ nhất định sẽ đến cảm tạ”.


Nhiều ngày sau, trong trận chiến hồ Bà Dương, Chu Nguyên Chương quả nhiên nhất cử tiêu diệt Trần Hữu Lượng. Thế là Chu Nguyên Chương đích thân đến tìm thầy toán mệnh này, nhưng tìm khắp mà không thấy.

Câu chuyện truyền kỳ này cũng được ghi chép trong sử sách “Minh triều tiểu sử” rằng: “Thái tổ từ Hòa Châu vượt sông đi đường Thái Bình, gặp một thuật sĩ, hỏi rằng: Thiên hạ loạn lạc, sẽ thuộc về ai? Thuật sĩ trả lời rằng: Xin viết một chữ để xem bói. Thái tổ lập tức rút dao vẽ một chữ Nhất trên mặt đất. Thuật sĩ cúi xuống xe rồi bái lễ nói rằng: Một chữ Nhất trên mặt đất tức trên chữ Thổ, thần biết ngài là Vương”.

Tường Hòa
Theo Apollo

Saturday, May 9, 2026

VÌ SAO NGƯỜI QUÂN TỬ COI CÁI CHẾT NHẸ TỰA LÔNG HỒNG?

Đời người như mộng, sinh lão bệnh tử cũng là lẽ thường. Nhưng khi đứng trước lằn ranh sinh tử, có mấy ai coi chuyện sống chết tựa như lông hồng?


Trang Tử coi cái chết như một trò đùa

Men theo dòng sông lịch sử cuồn cuộn của văn minh phương Đông, ta hãy trở ngược về thời Tiên Tần, nơi ta sẽ bắt gặp một trong những triết gia cá tính nhất của Trung Hoa cổ đại: Trang Tử.

Trang Tử sống đời ẩn dật, sử sách ghi chép về ông rất kiệm lời. Một trong những bộ sách cổ xưa nhất chép về ông là “Sử Ký” (Tư Mã Thiên) cũng chỉ dành khoảng vài trăm chữ nói rất sơ lược trong “Truyện Trang Tử”. Ở đó dù không biết Trang Tử sinh mất năm nào, quê quán ở đâu, nhưng đại để ta có thể vẽ lại một chút tính cách con người ông thế này: Học rộng, hiểu nhiều, viết một bộ sách 10 vạn chữ (Nam Hoa Kinh), gần với đạo Lão Tử mà chê đạo Khổng, cá tính mạnh, ghét cường quyền, thích tiêu diêu tự tại. Trang Tử là một trượng phu đầy hào khí, tính tình phóng khoáng, phiêu dật, có phần cao ngạo. Quan niệm về sự sống – cái chết của ông rất khoáng đạt, nói cách khác ông không coi cái chết ra gì.

Chuyện kể rằng, vợ Trang Tử chết, có người bạn là Huệ Tử đến viếng. Vừa vào nhà, Huệ Tử đã giật nẩy người khi thấy Trang Tử xoạc chân ngồi gõ ình ình vào một cái vò mà hát nghêu ngao. Huệ Tử kinh hãi nói:

– Ăn ở với người ta, người ta nuôi con cho, nay người ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ư?

Trang Tử nghe bạn nói vậy, cứ vừa cười vừa gõ vò mà rằng:

– Không phải! Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thương xót? Nhưng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa, chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái Nhà Lớn (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc.

Tình thân quyến thật nặng, ấy vậy mà Trang Tử chỉ coi như cơn gió thoảng qua. Vợ chết rồi vẫn ung dung ngồi nói được những lời kia. Thật là một tư tưởng kỳ lạ! Bạn đừng quên Trang Tử sống ở thời Chiến Quốc, cách đây ít nhất cũng phải 2300 năm…

Trang Tử thật cổ quái, vợ chết còn hát nghêu ngao, cho đến khi chính mình đang lâm cơn hấp hối vẫn giữ một thái độ thản nhiên! Chuyện kể rằng, lúc Trang Tử sắp lâm chung, các đệ tử vây quanh ông khóc lóc. Có người nói rằng phải làm tang cho thầy thật hậu để tỏ rõ uy đức của Trang Tử. Ông nghe được, bèn gạt đi, nói:

– Chớ làm vậy! Ta chết đi đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?

Các học trò lại thưa:

Chúng con sợ diều quạ sẽ rỉa xác thầy.

Trang Tử thản nhiên đáp:

Ta trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục, đằng nào cũng vậy. Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài trên mà cho các loài dưới?

Hàng nghìn năm qua, câu chuyện này đã trở thành đề tài bàn luận của biết bao nhiêu nhân sĩ. Có người chê Trang Tử bỡn cợt, trào phúng quá. Có người nói Trang Tử có lẽ không muốn học trò tốn công tốn của hậu táng mình mà nói thế. Lại có người cho đây chỉ là câu chuyện đời sau thêu dệt… Ta chưa có bằng cứ nào nói rằng ai đúng ai sai. Nhưng với tính cách phiêu dật của mình, Trang Tử có thể làm ra những điều đó lắm chứ! Trang Tử cả đời theo đuổi triết thuyết vô vi, thuận theo tự nhiên của mình, hẳn có lẽ cũng thấu hiểu được sự vô thường của nhân sinh.

Người ta chết rồi chính là trở về với tự nhiên. Nào công hầu, nào danh tướng, nào mỹ nhân, nào già nào trẻ, nào ngu nào hiền, chết đi rồi cũng chỉ vỏn vẹn một nấm mồ xanh mà thôi. Có gì là quan trọng đây?

Socrates lấy cái chết ra để bảo vệ chân lý

Gần như cùng thời với Trang Tử, ở phương Tây cũng có một người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ấy là Socrates. Là một triết gia nhưng Socrates mạnh mẽ chẳng kém gì những dũng tướng đương thời. Bởi những nỗ lực truyền bá tri thức của mình, ông bị toà án Athens kết án vì một lý do rất quen thuộc mà giới cầm quyền thường đưa ra: “Gieo rắc nghi ngờ các thần linh mà chính thể Athens thời đó tôn thờ, kêu gọi nhân dân tôn thờ các thần linh ngoại lai và làm hư hỏng thanh thiếu niên”. “Tội” của Socrates quá lớn. Chính thể Athens không thể để con người “nguy hiểm” và “nổi loạn” ấy ở lại được nữa. Họ ép ông phải tự tử bằng một chén thuốc độc.

Nhưng Socrates đã không hề run sợ. Trong bức tranh nổi tiếng “Cái chết của Socrates” của danh hoạ người Pháp thuộc trường phái Tân Cổ điển Jacques-Louis David vẽ năm 1787, Socrates hiện lên như một vị Thần, xung quanh là những môn đệ đau đớn, gục ngã khi phải chứng kiến bi kịch của thầy. Trong bức tranh, Socrates vừa nói vừa giơ tay trái lên trời, phong thái hùng hồn, tự tin. Tay phải ông dửng dưng với lấy chén thuốc độc không hề run sợ. Trước cái chết, Socrates vẫn điềm tĩnh lạ thường! Bức tranh của David đâu chỉ là một tác phẩm hội hoạ kiệt xuất, ấy là sự ca tụng dành cho những người kiên trì chân lý, thậm chí có thể lấy cái chết ra để bảo vệ đức tin của mình.


Cái chết không đáng sợ như người ta nghĩ. Điều đáng sợ lớn nhất lại chính là người ta luôn… sợ chết! Hiểu được nhân sinh là ngắn ngủi, trần gian là cõi tạm không phải là cái khí khái liều mình không sợ chết đến mức sẵn sàng phung phí sinh mệnh của mình. Đó là cái hiểu của bậc trí giả, của người có hàm dưỡng. Có một điều cần phải nói là người xưa… ít sợ chết hơn người thời nay, dù y tế và các phương pháp kéo dài tuổi thọ ngày càng trở nên tinh vi hơn.

Người xưa không sợ cái chết bởi họ tin rằng cái chết không phải là kết thúc cuối cùng. Nó giống như mở ra một cánh cửa khác, bước vào một không gian khác vậy thôi. Lòng thành kính vô hạn với Thần Phật cho phép họ có được đức tin ấy. Với họ, điều đáng sợ nhất lại chính là sự sống sau cái chết vậy, là sự trừng phạt dưới âm gian, là cái giá phải trả ở “Ngày phán xét” cuối cùng!

Cái chết, quả thực, không doạ được người quân tử.

Tiểu Lý / Theo: ĐKN

BẢO VẬT TRẤN SƠN CỦA NGŨ ĐÀI SƠN: CHẠM VÀO LẠNH BUỐT DƯỚI NẮNG GẮT

Phía sau chánh điện của ngôi chùa trên núi có một tảng đá khổng lồ tự nhiên mang tên "Thanh Lương thạch", xứng đáng là bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn. (Nguồn ảnh: hecke71/stock.adobe.com)

Bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn

Từ chân núi Nam Đài đi về hướng Tây Bắc khoảng 20 km, có một thung lũng tên là Thanh Lương Cốc, tận cùng thung lũng tọa lạc một ngôi cổ tự ngàn năm đẹp như tranh vẽ tên là chùa Thanh Lương. Phía sau chánh điện của ngôi chùa có một tảng đá khổng lồ tự nhiên mang tên “Thanh Lương thạch”, xứng đáng là bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn. Mặt trên của đá bằng phẳng, mặt dưới lõm vào, dài khoảng 5m, rộng 2,5m, cao 2m, hình dáng tổng thể tựa như một cây linh chi khổng lồ.

Khí hậu ở Ngũ Đài Sơn vốn rất khắc nghiệt, mùa hè nóng bức, mùa đông lạnh giá, quanh năm cát vàng cuồn cuộn, chim muông thú rừng đều không thể sinh tồn ở đây, bá tánh xung quanh lại càng phải chịu nhiều khổ cực. Bồ tát Văn Thù với tấm lòng từ bi đã phát nguyện cứu độ sinh linh, bèn đi đến Long cung ở Đông Hải, muốn mượn một viên bảo thạch để mang lại sức sống cho Ngũ Đài Sơn.

Thế là, Bồ tát Văn Thù hóa phép thành một lão hòa thượng đi khất thực đến Long cung, ngỏ ý mượn Long Vương một tảng đá trước cổng cung điện để cải thiện khí hậu Ngũ Đài Sơn, tạo phúc cho nhân gian. Long Vương lộ vẻ khó xử, hóa ra tảng đá đó tên là “Yết Long thạch” (Đá rồng nghỉ). Mỗi khi năm người con trai của Long Vương (Ngũ long tử) đi làm mưa làm gió trở về, mồ hôi đầm đìa, nóng bức khó chịu, chỉ cần nằm lên tảng đá đó là có thể nhanh chóng phục hồi tinh thần, nên đây là bảo vật mà Long Vương và các long tử trân quý nhất. Long Vương không tiện từ chối thẳng, nhưng nghĩ rằng tảng đá nặng hơn vạn cân, lão hòa thượng chưa chắc đã mang nổi, bèn nói: “Tảng đá ngoan cố này cũng chẳng phải bảo vật gì, nhưng lại rất nặng, nếu ngài có bản lĩnh thì cứ mang nó đi.”

Thanh Lương Tự

Nào ngờ, Bồ tát Văn Thù thần thông quảng đại, miệng nhẩm thần chú, biến tảng đá khổng lồ trở nên nhỏ nhắn như viên đạn súng cao su, từ từ bay vào trong tay áo của Bồ tát. Bồ tát bay đi nhẹ nhàng, chỉ còn lại Long Vương sững sờ, trong lòng kêu khổ không ngớt. Ngũ long tử về cung, biết tin Yết Long thạch bị Bồ tát Văn Thù mang đi thì tức giận lôi đình, hầm hầm bay tới Ngũ Đài Sơn chuẩn bị cướp lại bảo thạch. Ngũ long tử tuổi trẻ bồng bột, gặp Bồ tát thì kiêu ngạo vô lễ. Bồ tát bèn thi triển chút phép thuật, gộp hai ngọn núi Trung Đài và Bắc Đài lại, kẹp chúng ở giữa. Các long tử không thể nhúc nhích, chỉ có thể giãy giụa vung vẩy đuôi rồng.

Chỉ thấy đuôi rồng quét qua sườn núi, những tảng đá lớn lăn lông lốc xuống, trở thành “Long Phiên thạch” (Đá rồng lật) mà người đời nay vẫn truyền tụng; quét qua đỉnh núi, lập tức san phẳng thành một bình đài bằng phẳng. Cuối cùng, Ngũ long tử bị Bồ tát Văn Thù thu phục. Tảng “Yết Long thạch” đó thì được đặt vĩnh viễn trên Ngũ Đài Sơn, linh khí tràn ngập khắp núi đồi. Từ đó Ngũ Đài Sơn trở nên mát mẻ, mưa thuận gió hòa; đỉnh núi cỏ xanh tươi tốt, trở thành đồng cỏ tự nhiên; trong núi cây cối rậm rạp, kỳ hoa dị thảo muôn màu muôn vẻ, khắp nơi tràn đầy sức sống. Ngũ Đài Sơn cũng chính thức có tên là “Thanh Lương Sơn”, và Yết Long thạch cũng được đổi tên thành “Thanh Lương thạch”.

Thành phần chính của Thanh Lương thạch là đá thạch anh và đá phiến ma, dù phơi mình dưới cái nắng chói chang thì khi chạm vào vẫn có cảm giác lạnh buốt, dường như mang một thuộc tính mát mẻ nhất định. Tuy nhiên ngoài điều đó ra, Thanh Lương thạch không có điểm gì đặc biệt khác. Lẽ nào nó thực sự có thể quyết định khí hậu của cả một vùng núi sao?

Thanh Lương Thạch

Trong vùng núi, hoặc nằm rải rác ở những thung lũng hẻo lánh, hoặc khảm vào những vách đá dựng đứng, để lộ ra nhiều tảng đá có hoa văn kỳ dị. Những đường vân đó trông như những lớp trang sách, lại giống như những gợn sóng nước, nhô lên như phù điêu, loáng thoáng hé lộ thông điệp từ thời viễn cổ. Theo khảo sát của các học giả, đây là một loại hóa thạch sinh học có tên là stromatolite, hoa văn của nó chính là dấu vết sự sống của những sinh vật tảo cổ xưa nhất, nguyên thủy nhất thời tiền sử. Những sinh vật nhỏ bé này sinh sống trong đại dương cách đây khoảng 3 tỷ năm.

Còn tuổi thọ của khối đá Ngũ Đài Sơn lên tới khoảng 2,5 tỷ năm. Trải qua những tác động địa chất mạnh mẽ và phức tạp, Ngũ Đài Sơn đã nhô lên từ đáy biển, là một trong những vùng đất lộ diện trên mặt nước sớm nhất trên Trái đất, đồng thời cũng là một trong những dãy núi cao nhất được cấu tạo bởi các tầng địa chất cổ đại được biết đến trên thế giới.

Địa mạo cận băng

Ngũ Đài Sơn có nhiều nơi thể hiện rõ nét địa mạo cận băng điển hình. Ghi chép sớm nhất về hiện tượng địa mạo cận băng cổ đại xuất phát từ quyển du ký của Từ Hà Khách: “Ta đi trước đến phía nam đài, trèo lên Long Phiên thạch, nơi đó có hàng vạn tảng đá nằm ngổn ngang, nhô lên đỉnh núi.” Các nhà địa chất học cho rằng, Long Phiên thạch chính là “biển đá” (felsenmeer), thường phát triển trên các bề mặt san phẳng ở đỉnh núi hoặc những nơi có địa hình thoải. Còn trên những vách đá cuồn cuộn sóng xanh của Ngũ Đài Sơn lại phủ đầy những tảng đá vỡ xếp dọc, tuôn rơi như một thác nước, đây là một hiện tượng “sông đá” khác, thường phát triển ở các vùng đất trũng hoặc thung lũng trong vùng đất đóng băng, có trạng thái nhúc nhích chậm chạp.

Thanh Lương Thạch

Ngoài cảnh quan đá vỡ ngoạn mục, tại sườn dốc của các ngọn núi cao chót vót lại càng xuất hiện nhiều khối phình to nhô lên một cách đột ngột, giống như một chiếc mặt trống lồi. Chúng chính là “gò băng trương nở” (pingo), còn gọi là đồi băng, thuộc loại địa mạo đất đóng băng. Còn trên các đồng cỏ trên đỉnh núi, đâu đâu cũng có thể thấy những hố trũng được bao quanh bởi đá vỡ, đây cũng là một trong những hiện tượng của địa mạo cận băng – “hồ nhiệt dung” (thermokarst).

Những hiện tượng trên phần lớn được hình thành do sự tác động chung của nhiều yếu tố như sự trương nở do đóng băng, sự tan chảy vì nhiệt, trọng lực, sức gió…, đa số xuất hiện ở các khu vực có vĩ độ cao, độ cao trên 4.000 đến 5.000 mét so với mực nước biển. Tuy nhiên, Ngũ Đài Sơn lại nằm gần vĩ độ 38° Bắc, độ cao cao nhất trên đỉnh núi cũng chỉ hơn 3.000 mét, vậy mà lại xuất hiện những đặc điểm địa chất đặc trưng của vùng núi cao lạnh giá.

Đồng thời, Ngũ Đài Sơn nằm ở vùng khối núi đứt gãy, bên trong lòng núi chi chít những khe nứt, nước mưa và nước ngầm lưu trữ, phân bổ trong đó, hình thành nên các dòng suối tuôn trào, cuối cùng tạo thành một mạng lưới thủy văn dày đặc trong vùng núi. Những dòng suối ngọt ngào trong vắt lặng lẽ chảy, đi đến đâu cũng mang lại cảm giác mát mẻ lạnh giá cho con người. Cộng thêm luồng không khí ấm áp, ẩm ướt từ đại dương kết hợp với hơi nước của núi rừng tạo thành lượng mưa dồi dào, cùng với các cảnh quan thiên nhiên mang biểu tượng cát tường như mây khói bao phủ, hào quang rực rỡ sắc màu.

Lê Huyền / Theo: Vision Times
Link tham khảo:



NGU MỸ NHÂN - ÁN KỶ ĐẠO


Ngu mỹ nhân

Phi hoa tự hữu khiên tình xứ,
Bất hướng chi biên truỵ.
Tuỳ phong phiêu đãng dĩ kham sầu,
Cánh bạn đông lưu lưu thuỷ, quá Tần lâu.

Lâu trung thuý đại hàm xuân oán
Nhàn ỷ lan can kiến
Viễn đàn song lệ tích hương hồng.
Ám hận ngọc nhan quang cảnh, dữ hoa đồng.


虞美人 - 晏幾道

飛花自有牽情處,
不向枝邊墜。
隨風飄蕩已堪愁,
更伴東流流水、過秦樓。

樓中翠黛含春怨,
閑倚闌杆見。
遠彈雙淚惜香紅,
暗恨玉顏光景、與花同。


Ngu mỹ nhân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Hoa rơi chẳng phải vô tình. 
Cành cây nghiêng ngả, cho mình ngả nghiêng. 
Gió sầu, phiêu lãng niềm riêng. 
Xuôi dòng nước chảy, chốn thiêng Tần Đài. 
Lầu xuân vương vấn nét ngài. 
Lan can tựa cửa, ngóng hoài xa xăm. 
Đôi dòng lệ ướt thấm khăn. 
Dung nhan tươi thắm, băn khoăn hoa ngời !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊. Văn tứ của ông rất mới, tác phẩm của ông có tập Tiểu Sơn từ.

Nguồn: Thi Viện

4 TIỆC RƯỢU KINH ĐIỂN NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

Trong chiều dài lịch sử 5000 năm Trung Hoa đã từng có 4 tiệc rượu diễn ra giữa các bậc anh hùng, mà qua đó đã khiến cục diện lịch sử của vùng đất Thần Châu này có nhiều thay đổi đáng kể.


1. Nâng kiếm tại Hồng Môn Yến tiệc

Tiệc Hồng Môn yến là một sự kiện lịch sử diễn ra vào năm 206 tại Hồng Môn bên ngoài Hàm Dương, kinh đô của Triều đại nhà Tần, bữa tiệc này chính là cuộc gặp gỡ giữa Lưu Bang và Hạng Vũ. Sự kiện này là một trong những điểm nhấn của chiến tranh Hán-Sở, một cuộc đấu tranh quyền lực cho uy quyền tối cao trên toàn Trung Quốc giữa Lưu Bang và Hạng Vũ, kết thúc với sự thất bại của Hạng Vũ và sự thành lập Triều đại nhà Hán với Lưu Bang là hoàng đế đầu tiên.

Vào cuối thời nhà Tần, Sở Nghĩa Đế phái Hạng Vũ và Lưu Bang chỉ huy hai lực lượng riêng biệt để tấn công vùng đất trung tâm của nhà Tần ở Quan Trung và Hàm Dương, và hứa rằng bất cứ ai tiến vào khu vực này đầu tiên sẽ được phong làm “Quan Trung vương”.

Quân của Lưu Bang tuy không mạnh bằng quân Hạng Vũ, nhưng Lưu Bang đã công phá được Hàm Dương trước. Tả quân của Lưu Bang là Tào Vô Thường vì muốn theo quân Sở, bèn bí mật gửi thư cho Hạng Vũ nói rằng Lưu Bang muốn làm “Quan Trung vương”. Hạng Vũ nghe được điều này đã rất tức giận, sáng hôm sau ra lệnh cho binh lính ăn uống no nê để đánh bại quân của Lưu Bang. Một trận chiến khốc liệt sắp xảy ra.

Lưu Bang biết được điều này từ chú của Hạng Vũ là Hạng Bá. Hạng Bá vốn là bạn thân của Trương Lương vị quân sư của Lưu Bang, vì lo cho tính mạng của bạn nên Hạng Bá lẻn đến doanh trại khuyên Trương Lương tìm cách thoát thân. Trương Lương sau đó đã khuyên Lưu Bang nên tranh thủ sự giúp đỡ của Hạng Bá để làm giảm đi sự nghi ngờ của Hạng Vũ.

Tiệc Hồng Môn yên chính là cuộc gặp gỡ giữa Lưu Bang và Hạng Vũ.

Lưu Bang sau đó đã mời Hạng Bá đến gặp, Lưu Bang đã cung kính mời Hạng Bá một ly rượu bằng cả hai tay, đồng thời mong muốn kết thông gia với Hạng Bá, Lưu Bang muốn sắp xếp cho con trai mình lấy con gái Hạng Bá, tất nhiên đây là cách tốt nhất để nhờ vả Hạng Bá khẩn cầu với Hạng Vũ. Trước lời đề nghị của Lưu Bang, Hạng Bá đã đồng ý, đồng thời sắp xếp cho Lưu Bang gặp Hạng Vũ.

Ngày hôm sau, Lưu Bang mang theo rất nhiều thuộc hạ đến gặp Hạng Vũ tại Hồng Môn, Hạng Vũ đã chuẩn bị sẵn một bữa tiệc. Lưu Bang bày tỏ rằng ông tiến được vào Quan Trung trước tiên là do may mắn và xin lỗi đã giành lấy mất vinh quang của Hạng Vũ, đồng thời ca ngợi lòng dũng cảm của Hạng Vũ trên chiến trường.

Trong yến tiệc Hồng Môn, mặc dù không thiếu rượu ngon, nhưng lại ẩn chứa rất nhiều sát ý. Mưu sĩ của Hạng Vũ là Phạm Tăng luôn chủ trương giết Lưu Bang, trong bữa tiệc, ông nhiều lần ra hiệu cho Hạng Vũ ra lệnh, nhưng Hạng Vũ do dự. Phạm Tăng triệu Hạng Trang múa kiếm để thêm vui cho bữa tiệc, và muốn nhân cơ hội này để giết Lưu Bang.

Vào thời điểm quan trọng này, thuộc hạ của Lưu Bang là Phàn Khoái từ bên ngoài xông vào, trên tay cầm một thanh kiếm và một chiếc khiên, và trừng mắt nhìn Hạng Vũ. Hạng Vũ thấy người này có vẻ ngoài oai hùng nên hỏi xem là ai, mới biết người đó là thị vệ của Lưu Bang, bèn sai người hầu rượu, Lưu Bang nhân cơ hội này nói rằng cần phải sử dụng nhà vệ sinh và rời đi cùng với Phàn Khoái.

Trước khi rời đi , Lưu Bang sai Trương Lương tặng cho Hạng Vũ và Phạm Tăng ngọc bạch bích và đôi chén ngọc. Trương Lương trở về chỗ ngồi và dâng những món quà trên để tặng cho Hạng Vũ và Phạm Tăng, trong khi thay mặt Lưu Bang nói lời xin lỗi về việc bỏ đi mà không từ biệt. Hạng Vũ nhận lấy ngọc bạch bích nhưng Phạm Tăng cầm chén ngọc đặt xuống đất, tức giận đến mức rút kiếm và đập vỡ chiếc xô ngọc.

Hạng Vũ đã bỏ lỡ một cơ hội tốt để trừ khử Lưu Bang. Cuối cùng lại bị chính Lưu Bang đánh bại tại tại Cai Hạ, Hạng Vũ buộc phải rút kiếm tự vẫn bên dòng sông Ô Giang, trong khi Lưu Bang lập nên triều đại nhà Hán.

2. Tào Tháo, Lưu Bị uống rượu luận anh hùng

Sau khi giúp đỡ Tào Tháo đánh bại Lữ Bố, Lưu Bị theo chân Tào Tháo về Hứa Xương. Tại đây, Tào Tháo đã bày ra tiệc rượu, mời Lưu Bị tới uống cùng bàn chuyện anh hùng. Đây được xem mà một trong những câu chuyện kinh điển thời Tam Quốc.

Khi tiệc rượu đang diễn ra, Tào Tháo và Lưu Bị nhìn ra phía xa bầu trời thấy những cuộn mây uốn lượn, kỳ vĩ lúc ẩn, lúc hiện tựa như rồng trong thần thoại. Tào Tháo thở dài nói: “Những đám mây kia thật tựa như những bậc anh hùng trong thiên hạ vậy, Huyền Đức ngao du bốn phương đã nhiều năm, hãy nói xem, thiên hạ này ai có thể được xem là anh hùng?.

Lưu Bị hỏi: Viên Thuật làm chủ vùng Hoài Nam, binh lương đầy đủ, liệu có thể được coi là anh hùng?, Tào Tháo lắc đầu.

Tào Tháo uống rượu luận anh hùng cùng Lưu Bị trong Tam Quốc. Ảnh secretchina.

Lưu Bị lại hỏi: Kinh Châu có Lưu Biểu, Nghĩa Châu Lưu Chương, Giang Đông Tôn Sách, Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại… liệu có được xem là anh hùng?, Tào Tháo không ngừng lắc đầu.

Lưu Bị lại hỏi: “Anh họ của Viên Thuật là Viên Thiệu ở Hà Bắc, con ông cháu cha, gia thế hiển hách, độc chiếm Ký Châu, dưới trướng có rất nhiều nhân tài, nên được coi là anh hùng chăng?.

Tào Tháo lại cười nói, Viên Thiệu bề ngoài trông có vẻ mạnh mẽ nhưng thực ra bên trong nhút nhát, dù có nhiều người tài bên cạnh nhưng bản thân lại nhu nhược thiếu quyết đoán, muốn làm việc lớn nhưng lại tham lợi trước mắt, nên không thể nào được xem là anh hùng.

Vậy ai có thể được xem là anh hùng trong thiên hạ đây?, Cuối cùng Tào Tháo dùng tay chỉ vào Lưu Bị, rồi chỉ vào mình cười nói: Anh hùng duy nhất trong thiên hạ chỉ có Huyền Đức và Tào Tháo, chỉ có hai chúng ta có thể xưng anh hùng. Lưu Bị nghe xong, giật mình đánh rơi cả đũa, vừa hay lúc này trời nổi sấm ầm ầm, Lưu Bị ngay lập tức lấp liếm, nói tiếng sấm to quá làm Bị giật cả mình.

Tào Tháo đương nhiên là anh hùng, tài ba, đa tài biết mình biết người. Còn Lưu Bị, một hậu duệ suy tàn của nhà Hán, lưu lạc nửa đời người, đến chỗ Tào Tháo thì đã gần bốn mươi, thiên hạ nhìn không ai ngờ Lưu Bị là anh Hùng. Tuy nhiên Tào Tháo lại không nghĩ như vậy nên đã mở tiệc rượu đãi Lưu Bị bàn chuyện anh hùng.

Tài năng nhìn người của Tào Tháo phi thường đến mức rất nhiều người xung quanh Tào Tháo không thể ngờ tới. Tuy nhiên sau tiệc rượu luận anh hùng, quả đúng như dự đoán của Tào Tháo, Lưu Bị quả đúng là một anh hùng trong thiên hạ, khi liên quân với Đông Ngô đánh bại Tào Tháo, cuối cùng lập nên Thục Hán, tạo thành thế chân vạc, cùng tào Tháo và Tôn Quyền tranh đoạt thiên hạ.

3. Quần anh hội

Trong khi “uống rượu luận anh hùng” là cuộc đấu trí giữa Tào Tháo và Lưu Bị thì “quần anh hội” lại là cuộc đọ sức về mưu kế gay cấn giữa Chu Du và Tưởng Cán.

Khi Chu Du đang bàn việc quân với các tướng trong doanh trại, thì nghe tin có bạn học cũ là Tưởng Cán đến thăm. Lập tức nói với các tướng “thuyết khách của Tào Tháo đến rồi”, nói rồi ra lệnh cho các tướng hành động theo kế hoạch của mình.

Ngay khi vừa gặp mặt, Tưởng Cán liền hỏi thăm Chu Du: “Công Cẩn vẫn khoẻ chứ, huynh ở đây có ổn không?. Câu hỏi thăm này cố ý nhắc lại tình bạn cũ giữa Tưởng Cán và Chu Du.

Nghe xong, Chu Du nói: “Tử Dực đệ khổ cực tới đây có phải làm thuyết khách cho Tào Tháo không?. Tử Cán nghe vậy, làm bộ tức giận bỏ đi thì liền được Chu Du kéo lại.

Sau đó, Chu Du tổ chức yến tiệc thiết đãi bạn cũ Tưởng Cán, khi tiệc rượu vừa bày ra, Chu Du đặt vấn đề là hôm nay chỉ là uống rượu vui vẻ, cấm nhắc đến chuyện Tào Tháo và Đông Ngô. Trong bữa tiệc Chu Du còn dẫn Tưởng Cán đi thăm những binh lính tinh nhuệ và những tướng lĩnh trong doanh trại Đông Ngô.

Chu Du dùng 3 vạn quân đánh bại Tào Tháo trận Xích Bích. Ảnh secretchina.

Sớm nhận ra Tưởng Cán đến Đông Ngô lần này là có mục đích nên Chu Du đã cố tình giăng bẫy để Tưởng Cán mắc mưu. Sau khi uống rượu đến tận khuya, Chu Du giả vờ say, liều kéo tay Tưởng Cán về phòng mình hàn huyên.

Trong lúc giả say, Chu Du cố nói ra những lời lẽ sẽ tận sức vì Đông Ngô. Tưởng Cán nghe được những lời này thì không còn tâm tưởng để dụ Chu Du hàng Tào Tháo nữa, cuối cùng tìm kế đánh trộm kế sách của Chu Du.

Nửa đêm đang ngủ, tưởng rằng Chu Du đã say nên Tưởng Cán lén dậy đi khắp phòng một lượt, thấy trên bàn có một xấp giấy thư, Tưởng Cán bèn rón rén đến đọc trộm thì thấy một phong thư đề tên Thái Mạo, Trương Doãn (hai tướng dưới trướng Tào Tháo). Thư có nội dung: “Việc hàng Tào Tháo chỉ là tình thế bắt buộc, chờ có thời sẽ lấy đầu Tào Tháo dâng chủ chủ công Đông Ngô”. Đọc đến đây, Tưởng Cán không ngờ Thái Mạo và Trương Doãn có âm mưu phản Tào Tháo, bèn dấu thư vào tay áo.

Tưởng Cán trong lòng thầm nghĩ, chuyến đi Đông Ngô lần này dù không dụ được Chu Du đầu hàng, nhưng lại lấy trộm được mật thư quan trọng. Khi trời vừa sáng, Tưởng Cán vội vã cáo từ bạn cũ Chu Du về báo tin cho Tào Tháo. Cuối cùng nghe lời của Tưởng Cán, Tào Tháo quả nhiên trúng kế của Chu Du, liền thẳng tay xử trảm nhầm hai tướng thuỷ quân của mình là Trương Doãn và Sái Mạo.

Trong trận chiến Xích Bích sau đó, Chu Du thống lĩnh 30.000 thuỷ quân tinh nhuệ đánh bại hơn 140.000 quân của Tào Tháo. Chiến thắng này đã góp phần củng cố vị trí cho hai chư hầu Tôn Quyền, Lưu Bị ở hai bờ Trường Giang đồng thời ngăn cản việc Tào Tháo mở rộng phạm vi quyền lực xuống phía Nam Trung Hoa, tạo cơ sở cho sự hình thành hai nước Thục Hán và Đông Ngô.

4. Dùng rượu tước binh quyền

Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận là vị Hoàng đế khai quốc của triều đại Nhà Tống trong lịch sử Trung Quốc. Khi Đại Tống mới được thành lập, Triệu Khuông Dận cũng gặp vấn vấn đề như bao hoàng đến khác khi mới lên ngôi, đó chính là việc các đại công thần cậy uy làm lung lay uy quyền hoàng đế.

Triệu Phổ, vị quân sư nhiều lần kiến nghị với Tống Thái Tổ rằng: “Ngày nay đại nghiệp đã dựng xong, nhưng Thạch Bảo Tín và những người khác còn cai quản đội cấm binh của Hoàng đế. Vì vậy Hoàng đế nên lấy lời giáo huấn của Hàn Tín và Bành Việt làm những điều nghiêm cấm”.

Triệu Khuông Dận cuối cùng hiểu rõ lời của Triệu Phổ vì cảm thấy rất có lý. Qua mấy ngày sau, Triệu Khuông Dận nhân dịp tan triều liền mời Thạch Bảo Tín và một số người khác lưu lại uống rượu.

Trong Yến tiệc, Triệu Khuông Dận không ngừng thở dài, mọi người hỏi xong mới biết, hoàng đế lo lắng bọn họ sau này sẽ làm phản. Nghe vậy Thạch Bảo Tín giật thót mình, vội vàng cúi đầu nói: “Bệ hạ sao lại nói thế? Ngày nay thiên mệnh đã định, còn ai dám có ý khác với Hoàng đế?

Triệu Khuông Dận nói: “Các vị ngồi đây đương nhiên là không có. Nhưng bộ hạ của các ngươi luôn muốn được giàu sang phú quý. Một khi có người khoác hoàng bào lên các ngươi thì tuy rằng các ngươi không chủ ý, nhưng lúc đó việc không do các người định đoạt được.

Triệu Khuông Dận dùng rượu tước binh quyền. Ảnh secretchina.

Sau đó Triệu Khuông Dận yêu cầu Thạch Bảo Tín cùng những người khác giao lại binh quyền cho hoàng đế, đổi lại bọn họ sẽ được cấp ruộng đất tốt, xây trang viên, phủ đệ để tận hưởng tuổi già, đồng thời giữ lại cho con cháu đời sau để cuộc sống đỡ vất vả.

Ngày hôm sau, những người này không còn cách nào khác, đành thối thác có bệnh và thỉnh cầu bãi miễn binh quyền của họ. Đồng thời nhậm chức làm Tiết độ sứ ở các đạo và rời kinh đi nhậm chức, cuối cùng binh quyền cũng từ đó hoàn toàn bị bãi bỏ. Đây chính là kế, dùng rượu tước binh quyền của Triệu Khuông Dận

Cách làm này của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận chủ yếu là để đề phòng binh biến trong triều, nhưng như vậy lại khiến cho binh không biết tướng, tướng không biết binh, người có năng lực quân sự thì không thể trực tiếp cầm quân, khiến cho năng lực chiến đấu của quân yếu đi rất nhiều, do đó tiềm lực quân sự của nhà Tống kém xa so với nhà Hán và nhà Đường. Nếu không có trung thần Nhạc Phi và Dương Diên Chiêu xuất hiện, nước Tống rất có thể sớm bị diệt vong.

Khải Minh biên tập
Theo: vandieuhay

DU LỊCH MIỀN NAM TÂN CƯƠNG: KHÁM PHÁ "TRÁI TIM" CON ĐƯỜNG TƠ LỤA HUYỀN THOẠI

Du lịch miền Nam Tân Cương là hành trình ngược dòng thời gian trở về với những huyền thoại của 36 quốc gia Tây Vực cổ đại. Nơi đây, tiếng chuông lạc đà vẫn vang vọng giữa sa mạc Taklamakan mênh mông, và văn hóa Con đường Tơ lụa rực rỡ vẫn hiện hữu sống động trong từng hơi thở của phố cổ Kashgar. Hãy cùng Kim Lien Travel bước vào hành trình vạn dặm đầy cảm xúc này.

Du lịch miền Nam Tân Cương là hành trình ngược dòng thời gian

Tại sao Du lịch miền Nam Tân Cương là hành trình "để đời"?

Nếu Bắc Tân Cương quyến rũ du khách bằng thiên nhiên tươi đẹp tựa chốn thần tiên, thì Du lịch miền Nam Tân Cương lại chinh phục lòng người bởi bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa nhân văn độc bản. Đây là vùng đất mà những truyền thuyết về Tây Vực được gió và cát bảo tồn nguyên vẹn qua hàng ngàn năm.

Không chỉ là nơi giao thoa của các nền văn minh Đông – Tây, miền Nam Tân Cương còn là nơi Huyền Trang từng đi qua để thỉnh kinh, để lại những dấu ấn Phật giáo sâu đậm. Từ những ngôi chợ bazaar sầm uất với hương thơm ngào ngạt của thịt nướng và bánh naan, cho đến sự hùng vĩ tráng lệ của cao nguyên Pamir, mỗi bước chân tại đây đều là một trải nghiệm thị giác và cảm xúc mãnh liệt. Đối với những tâm hồn đam mê nhiếp ảnh và khám phá văn hóa, vùng đất này chính là "thiên đường hạ giới".

Dấu ấn Phật giáo rực rỡ tại Kuqa và Hang ngàn Phật Kizil

Hành trình Du lịch miền Nam Tân Cương thường bắt đầu tại Kuqa (Quy Từ) – một trạm dừng chân quan trọng bậc nhất trên Con đường Tơ lụa cổ đại. Tại đây, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng Quần thể hang động nghìn Phật Kizil (Kizil Thousand Buddha Caves).

Được mệnh danh là "Đôn Hoàng thứ hai", Kizil là di sản văn hóa thế giới minh chứng sống động cho nghệ thuật Phật giáo thời kỳ đầu tại Trung Quốc. Khác với sự lộng lẫy của hang Mạc Cao, nghệ thuật bích họa tại Kizil mang đậm phong cách Gandhara, phản ánh sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa Ấn Độ, Ba Tư và Trung Hoa. Bước vào bên trong những hang động này, du khách như lạc vào một thế giới tâm linh huyền bí, nơi những câu chuyện về tiền kiếp của Đức Phật được kể lại sống động trên vách đá sa thạch.

Kizil là di sản văn hóa thế giới minh chứng cho nghệ thuật Phật giáo thời kỳ đầu

Bên cạnh đó, Cung điện Hoàng gia Kuqa (Kuqa Royal Palace) là một điểm đến không thể bỏ qua để thấu hiểu lịch sử thăng trầm của vùng đất này. Với kiến trúc pha trộn hài hòa giữa phong cách Hồi giáo và Trung Nguyên, cung điện là nơi sinh sống của 12 thế hệ "Vua Kuqa". Dạo bước trong khuôn viên cung điện, lắng nghe những câu chuyện về vị vương gia cuối cùng, du khách sẽ cảm nhận rõ nét sự biến chuyển của thời đại qua hai thế kỷ.

Hẻm núi lớn Wensu: Bảo tàng địa chất sống của Tân Cương

Rời xa những di tích lịch sử, thiên nhiên miền Nam Tân Cương đón chào du khách bằng sự kỳ vĩ đến choáng ngợp tại Hẻm núi lớn Wensu (Wensu Grand Canyon). Được mệnh danh là "bảo tàng địa chất sống", Wensu sở hữu những vách đá đỏ rực rỡ dựng đứng giữa trời xanh, được điêu khắc bởi gió và mưa qua hàng triệu năm.

Thiên nhiên miền Nam Tân Cương đón chào du khách bằng sự kỳ vĩ đến choáng ngợp

Khi đặt chân đến đây trong chuyến Du lịch miền Nam Tân Cương, du khách sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé trước mẹ thiên nhiên. Những khối đá với hình thù kỳ dị, những thung lũng sâu thẳm tạo nên một khung cảnh siêu thực, tựa như đang lạc bước vào miền Tây nước Mỹ hay bề mặt sao Hỏa. Trải nghiệm đi bộ trekking xuyên qua hành lang đá tại Wensu không chỉ là hoạt động thể chất mà còn là cuộc đối thoại thầm lặng với thời gian, nơi mỗi vân đá đều ẩn chứa một câu chuyện địa chất hàng triệu năm tuổi.

Chinh phục "Biển Chết" Taklamakan và đêm trại dưới ngàn sao

Một trong những điểm nhấn cảm xúc nhất của hành trình là tiến sâu vào lòng sa mạc Taklamakan – sa mạc cát chảy lớn thứ hai thế giới. Cái tên Taklamakan mang ý nghĩa "vào được nhưng không ra được", gợi lên sự bí ẩn và khắc nghiệt. Tuy nhiên, với sự tổ chức chuyên nghiệp của Kim Lien Travel, đây sẽ là một trải nghiệm lãng mạn và an toàn tuyệt đối.

Thay vì chỉ đứng nhìn từ xa, du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác phấn khích tột độ trên những chiếc xe địa hình chuyên dụng, băng qua những cồn cát vàng óng ả trập trùng như sóng biển. Giữa sự khô cằn ấy, sức sống mãnh liệt của những cây dương hồ dương (Populus euphratica) với hình dáng kỳ lạ vươn lên kiêu hãnh, cùng sự xuất hiện bất ngờ của những chú cáo hay thỏ sa mạc, sẽ khiến bạn phải trầm trồ.

Tiến sâu vào lòng sa mạc Taklamakan – sa mạc cát chảy lớn thứ hai thế giới

Đặc biệt hơn, trải nghiệm cắm trại qua đêm giữa lòng sa mạc sẽ là kỷ niệm khó quên. Khi màn đêm buông xuống, không gian tĩnh lặng tuyệt đối bao trùm, và bầu trời đêm Taklamakan hiện ra như một dải ngân hà lấp lánh ngay trên đỉnh đầu. Đây là khoảnh khắc con người và thiên nhiên hòa làm một, tận hưởng sự bình yên hiếm có.

Lắng nghe giai điệu Dolan Muqam tại ngôi làng Uyghur cổ kính

Văn hóa là linh hồn của Du lịch miền Nam Tân Cương, và không gì thể hiện điều đó rõ nét hơn âm nhạc và đời sống của người Uyghur (Duy Ngô Nhĩ). Hành trình sẽ đưa du khách ghé thăm một ngôi làng Uyghur truyền thống, nơi nhịp sống dường như tách biệt với thế giới hiện đại.

Tại đây, bạn sẽ được chào đón nồng hậu, bước vào những ngôi nhà dân dã và thưởng thức các món ăn địa phương đậm đà bản sắc. Điểm nhấn của chuyến ghé thăm là cơ hội thưởng thức Dolan Muqam – di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Giai điệu trầm bổng, hào sảng kết hợp với những điệu múa uyển chuyển của người dân địa phương sẽ khiến du khách không thể ngồi yên. Đây không phải là một buổi biểu diễn sân khấu, mà là hơi thở cuộc sống, là tiếng lòng của người dân miền biên viễn gửi gắm qua âm nhạc.

Phố cổ Kashgar: Linh hồn của con đường tơ lụa

Người ta thường nói: "Chưa đến Kashgar coi như chưa đến Tân Cương". Thành phố cổ Kashgar chính là trái tim, là nơi lưu giữ trọn vẹn nhất bản sắc văn hóa vùng Tây Vực. Khu phố cổ với kiến trúc nhà đất nung màu vàng nghệ đặc trưng, những con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo như mê cung, những cánh cửa gỗ chạm khắc tinh xảo và ô cửa sổ kính màu rực rỡ tạo nên một bức tranh sống động đầy mê hoặc.

Người ta thường nói: "Chưa đến Kashgar coi như chưa đến Tân Cương"

Nhịp sống chậm rãi và những góc phố đầy chất thơ

Tự do khám phá Kashgar là cách tốt nhất để cảm nhận nhịp sống nơi đây. Bạn có thể dành hàng giờ lang thang trong khu phố cổ, ghé vào một quán trà trăm năm tuổi, nhâm nhi tách trà thảo mộc và ngắm nhìn những cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi trò chuyện dưới hiên nhà. Ánh sáng và bóng tối đan xen trong các con ngõ nhỏ tạo nên những góc chụp ảnh "thần sầu" cho các nhiếp ảnh gia.

Tiếng búa gõ leng keng từ các xưởng thủ công mỹ nghệ, tiếng trẻ con nô đùa, và nụ cười thân thiện của người dân bản địa sẽ khiến bạn cảm thấy như đang lạc vào một câu chuyện cổ tích Nghìn Lẻ Một Đêm. Đặc biệt, ghé thăm Thánh đường Id Kah – thánh đường Hồi giáo lớn nhất Trung Quốc – sẽ mang lại những phút giây tĩnh lặng và trang nghiêm trong tâm hồn.

Thiên đường ẩm thực tại Chợ đêm Kashgar

Khi hoàng hôn buông xuống, Kashgar khoác lên mình một tấm áo mới sôi động và đầy màu sắc tại khu Chợ đêm. Đây thực sự là thiên đường cho những tín đồ ẩm thực. Hương thơm nức mũi của thịt cừu nướng xiên (shashlik), bánh naan nóng hổi vừa ra lò, gà nướng lu, và vị ngọt ngào của dưa lưới Tân Cương sẽ đánh thức mọi giác quan của bạn.

Kashgar thực sự là thiên đường cho những tín đồ ẩm thực

Không khí tại chợ đêm vô cùng náo nhiệt. Bạn có thể thử món trứng nướng độc đáo, nhâm nhi ly Kvass mát lạnh và hòa mình vào dòng người tấp nập. Rào cản ngôn ngữ dường như bị xóa bỏ, chỉ còn lại nụ cười và sự hiếu khách nồng hậu. Đây là nơi văn hóa ẩm thực giao thoa mạnh mẽ nhất, để lại dư vị khó quên cho du khách Du lịch miền Nam Tân Cương.

Cao nguyên Pamir: Bản giao hưởng của băng tuyết và hồ xanh

Rời Kashgar, hành trình tiếp tục chinh phục Cao nguyên Pamir dọc theo Đường cao tốc Karakoram – một trong những cung đường đẹp và hiểm trở nhất thế giới. Cảnh sắc thiên nhiên tại đây thay đổi ngoạn mục, từ sa mạc khô cằn sang những đỉnh núi phủ tuyết trắng xóa vĩnh cửu.

Hồ Cát Trắng và Hồ Karakol: Tuyệt tác của tạo hóa

Điểm dừng chân đầu tiên là Hồ Cát Trắng (Baisha Lake). Đúng như tên gọi, hồ được bao quanh bởi những đồi cát trắng mịn màng, tương phản tuyệt đối với màu nước xanh ngọc bích phẳng lặng như gương. Vào những ngày trời trong, mặt hồ phản chiếu bầu trời và những ngọn núi tuyết, tạo nên một khung cảnh hư ảo, siêu thực.

Tiếp tục hành trình, du khách sẽ đến với Hồ Karakol nằm dưới chân "Cha của các ngọn núi băng" – đỉnh Muztagh Ata (7.509m). Hồ Karakol nổi tiếng với khả năng đổi màu nước theo ánh sáng trong ngày, từ xanh thẫm sang tím ngắt. Được bao quanh bởi những ngọn núi tuyết hùng vĩ và sông băng, vẻ đẹp của hồ vừa tráng lệ vừa bình yên. Hình ảnh những đàn bò Yak thong dong gặm cỏ bên hồ, những chiếc lều Yurt của người Kyrgyz rải rác tạo nên một bức tranh thảo nguyên tuyệt mỹ.

Rời Kashgar, hành trình tiếp tục chinh phục Cao nguyên Pamir

Tashkurgan và Thành phố Đá: Nơi biên cương Tổ quốc

Điểm đến cuối cùng trên trục đường này là huyện tự trị Tashkurgan – nơi sinh sống của người Tajikistan, tộc người được mệnh danh là "Con của Đại bàng". Tại đây, du khách sẽ ghé thăm Thành phố Đá (Stone City), tàn tích kinh đô cũ của vương quốc Puli cổ đại. Đứng trên những bức tường thành đổ nát, phóng tầm mắt ra Thảo nguyên Vàng (Golden Grassland) bên dưới, bạn sẽ cảm nhận được sự hùng vĩ và bi tráng của lịch sử.

Đặc biệt, hành trình sẽ đưa bạn đến trạm tiền đồn gần đèo Khunjerab – cửa khẩu biên giới cao nhất thế giới giáp ranh với Pakistan. Đứng trước cổng biên giới uy nghiêm giữa bốn bề tuyết phủ, nhìn sang phía bên kia là đất nước bạn, cảm xúc tự hào và xúc động sẽ dâng trào trong lòng mỗi du khách.

Theo: Kim Liên Travel