Sunday, February 22, 2026

QUỐC GIA THƯỜNG BỊ BỎ SÓT TRÊN BẢN ĐỒ THẾ GIỚI

Nằm biệt lập giữa Nam Thái Bình Dương, quốc gia này thường bị 'bỏ sót' trên bản đồ thế giới, nhưng lại sở hữu lịch sử, văn hóa bản địa độc đáo và thiên nhiên ấn tượng.

Cách Australia hơn 3.200 km về phía đông là một quần đảo với hình dáng độc đáo. Hòn đảo phía bắc được người dân địa phương ví như một miếng sườn cừu, trong khi đảo phía nam giống một vệt khoai tây nghiền được phết ngẫu hứng, kéo dài về phía tây nam ra biển Tasman. Bên cạnh hai đảo chính, nơi này còn có khoảng 600 đảo nhỏ khác, từ những mỏm đá tí hon đến các khối đất liền rộng lớn.

Quần đảo này là New Zealand, một quốc gia nằm biệt lập ở Nam Thái Bình Dương. Đáng chú ý, dù diện tích không nhỏ, khoảng 260.000 km2, quần đảo này lại thường xuyên bị "bỏ sót" trên bản đồ thế giới. Điều này khiến nhiều người New Zealand "hờn dỗi".

Theo National Geographic, các đảo của New Zealand hình thành từ khoảng 23 triệu năm trước, khi hoạt động núi lửa đẩy đất liền trồi lên khỏi đại dương. Người Maori là những người đầu tiên đặt chân đến New Zealand từ khoảng năm 1000 bằng thuyền độc mộc. Người Maori đặt tên cho vùng đất này là Aotearoa, nghĩa là “vùng đất của mây trắng dài”. Đến thế kỷ XVII, nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman từng tới đây nhưng rời đi sau xung đột với thổ dân; tên gọi New Zealand cũng bắt nguồn từ vùng Zeeland của Hà Lan.

New Zealand sở hữu hơn 50 ngọn núi lửa, trong đó một số vẫn đang hoạt động. Cảnh quan quốc gia này nổi tiếng với các đỉnh núi phủ tuyết sắc nhọn, bờ biển đá gồ ghề và những đồng cỏ rộng lớn. Đảo Nam là nơi tọa lạc Mount Cook - đỉnh núi cao nhất New Zealand, cao 3.754 m, được người Maori gọi là “Kẻ xuyên mây”.

Nhờ vị trí xa xôi, New Zealand sở hữu hệ động vật đặc hữu phong phú. Phần lớn động vật trên cạn là chim, nhiều loài trong số đó đã mất khả năng bay. Việc người Maori và người châu Âu đưa các loài thú ngoại lai vào đảo khiến những loài chim không bay được gần như không có khả năng tự vệ. Trong vòng 1.000 năm qua, khoảng một nửa số loài động vật bản địa đã tuyệt chủng.

Hiện nay, 86% dân số New Zealand sinh sống tại các đô thị, trong đó dân số thành phố Auckland (đảo Bắc) còn đông hơn toàn bộ dân số đảo Nam. Quốc gia này hiện có 3 ngôn ngữ chính thức gồm tiếng Anh, tiếng Māori và ngôn ngữ ký hiệu New Zealand. Tiếng Anh tại đây có những biến thể riêng, đôi khi bị nhầm với giọng Australia nhưng khác biệt rõ với người bản địa. Tiếng Māori hiện được hơn 150.000 người sử dụng, có kênh truyền hình riêng và tuần lễ ngôn ngữ Māori. Ngôn ngữ ký hiệu New Zealand tương đồng với ngôn ngữ ký hiệu Anh, song có bổ sung từ vựng Māori và chịu ảnh hưởng của Mỹ.

Văn hóa Maori là một phần không thể tách rời trong lịch sử và bản sắc New Zealand. Người Maori là những nhà hàng hải tài ba, xây dựng cộng đồng gắn chặt với tín ngưỡng và truyền thống, trong đó, khái niệm Mana - quyền lực tinh thần từ tổ tiên - giữ vai trò trung tâm.

Giáo dục New Zealand được đầu tư ở mức cao, mức chi tiêu chiếm khoảng 6% GDP (ước tính năm 2020), xếp thứ 42 thế giới theo CIA World Factbook 2023. Hệ thống giáo dục của nước này chịu ảnh hưởng từ mô hình giáo dục Anh, một năm học kéo dài từ tháng 2 đến tháng 12, chia thành bốn học kỳ. Ở bậc đại học, New Zealand có 7 trường đại học và 25 học viện bách khoa. Sinh viên chỉ cần chi trả khoảng 1/4 chi phí học tập, phần còn lại do Chính phủ hỗ trợ. Gần 25% dân số nước này hoàn thành giáo dục sau trung học và khoảng 40% học sinh phổ thông tiếp tục học lên bậc cao hơn.

Người New Zealand có lối sống thoải mái, coi trọng cân bằng công việc - cuộc sống, đề cao sự khiêm tốn và tinh thần hợp tác. Nhờ sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, người dân nước này yêu thích các hoạt động ngoài trời và nổi tiếng về tính tự lực, sáng tạo. Ý thức bảo vệ môi trường và tinh thần đa văn hóa, bao dung cũng được đề cao tại quốc gia đặc biệt này.

Theo: ZNEWS

BIỆT VÕNG XUYÊN BIỆT NGHIỆP - VƯƠNG TẤN


Biệt Võng Xuyên biệt nghiệp

Sơn nguyệt hiểu nhưng tại,
Lâm phong lương bất tuyệt.
Ân cần như hữu tình,
Trù trướng lệnh nhân biệt.


別輞川別業

山月曉仍在
林風涼不絕
殷勤如有情
惆悵令人別


Giã từ nhà riêng ở Võng Xuyên
(Dịch thơ: Trương Việt Linh)

Sáng rồi núi vẫn còn trăng
Bâng khuâng cơn gió bên rừng hiu hiu
Gió trăng tình quyến luyến nhiều
Gợi người li biệt bao nhiêu nỗi niềm


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Tấn 王縉 (700-781) tự Hạ Khanh 夏卿, người Nguyên Kỳ (nay thuộc huyện Kỳ, Sơn Tây, Trung Quốc). Ông cùng anh là Duy 維 sớm nổi danh về văn chương. Ông từng làm Thị ngự sử, Võ bộ viên ngoại. Trong loạn An Lộc Sơn, ông làm Thiếu doãn Thái Nguyên, cùng Lý Quang Bật 李光弼 giữ Thái Nguyên. Ông có mưu lược, được thăng Hiến bộ thị lang. Năm Quảng Đức thứ hai, ông giữ chức Hoàng môn thị lang đồng Bình chương sự. Trong năm Đại Lịch, làm Môn hạ thị lang, phò Tể tướng Nguyên Tái 元載, rồi lại bị biếm làm Thứ sử. Về sau ông làm tân khách của thái tử.

Nguồn: Thi Viện

JINRIKISHA, MỘT DI SẢN SỐNG GIỮA LÒNG ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI

Jinrikisha, hay xe kéo tay truyền thống của Nhật Bản, là một phương tiện du lịch độc đáo, đưa du khách khám phá những con phố cổ một cách chậm rãi và thư thái. Ban đầu là phương tiện di chuyển phổ biến, ngày nay jinrikisha tồn tại như một di sản sống, được bảo tồn tại các thành phố như Kyoto và Asakusa.


Giữa nhịp sống hối hả của Nhật Bản hiện đại, nơi tàu shinkansen lao vun vút và các phương tiện cơ giới nối dài trên xa lộ, vẫn có một hình ảnh nhẹ nhàng, chậm rãi lăn bánh trên những con phố cổ: jinrikisha - xe kéo tay truyền thống.

Ra đời vào cuối thế kỷ 19, jinrikisha từng là phương tiện di chuyển phổ biến, gắn bó sâu sắc với đời sống thường nhật của người dân. Dù đã nhường chỗ cho các phương tiện hiện đại, jinrikisha vẫn tồn tại, không chỉ là một phương tiện du lịch mà còn là một "cỗ xe ký ức" đưa con người ngược về một thời Nhật Bản thanh lịch, khoan thai, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa trong từng vòng bánh xe.

Jinrikisha - Bánh xe thời gian trên phố Nhật

Khởi nguồn tại Nhật Bản vào khoảng năm 1869, cái tên "jinrikisha" đã nói lên tất cả: "jin" (người), "riki" (sức lực) và "sha" (xe), tức là "xe do sức người kéo". Sau khi lệnh cấm xe có bánh thời Mạc phủ Tokugawa được dỡ bỏ, phương tiện này nhanh chóng trở thành một cuộc cách mạng trong giao thông đô thị, thay thế những chiếc kiệu và xe ngựa nặng nề. Sự tiện lợi và giá thành phù hợp đã giúp jinrikisha trở thành lựa chọn yêu thích của người dân, với hàng chục nghìn chiếc hoạt động trên khắp các thành phố lớn nhỏ, từ Tokyo đến Kyoto, trở thành biểu tượng của sự chuyển mình mạnh mẽ trong thời kỳ Minh Trị.

Jinrikisha xuất hiện lần đầu tại Nhật Bản vào khoảng năm 1869, nhanh chóng trở thành lựa chọn di chuyển yêu thích nhờ sự tiện lợi và giá thành phù hợp

Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ giao thông trong thế kỷ 20 với sự ra đời của ô tô đã khiến jinrikisha dần vắng bóng trên đường phố. Nhưng thay vì biến mất hoàn toàn, nó đã tái sinh trong một vai trò mới, trở thành một phương tiện du lịch độc đáo, chuyên chở du khách khám phá văn hóa và lịch sử Nhật Bản. Sự tồn tại bền bỉ của nó là minh chứng rõ nét cho việc Nhật Bản, dù hiện đại và tiên tiến, vẫn luôn trân trọng những giá trị truyền thống và bảo tồn những nét đẹp văn hóa xưa cũ.

Một di sản sống giữa lòng đô thị hiện đại

Ngày nay, du khách có thể dễ dàng tìm thấy và trải nghiệm jinrikisha tại nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên khắp Nhật Bản, nơi mà vẻ đẹp truyền thống được bảo tồn một cách nguyên vẹn.


Điểm nổi bật của jinrikisha nằm ở thiết kế đơn giản mà tinh tế: khung gỗ chắc chắn, bánh lớn bọc cao su, mái che cong mềm mại chống nắng mưa


Tại cố đô Kyoto, jinrikisha đưa du khách lướt qua những con hẻm lát đá cổ kính của khu phố Gion, qua hàng cây anh đào rợp bóng và những quán trà truyền thống, mang đến cảm giác như đang lạc vào một thế giới khác, tách biệt hoàn toàn với nhịp sống hiện đại.

Khu phố cổ nổi tiếng với chùa Senso-ji và cổng Kaminarimon đỏ rực. Ngồi trên xe kéo, du khách có thể thong thả ngắm toàn cảnh mà không phải chen chân trong dòng người đông đúc. Hình ảnh những người shafu trong bộ trang phục truyền thống đứng chờ khách bên ngoài cổng chùa đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của nơi đây.

Chỗ ngồi bọc đệm êm ái, đủ cho một hoặc hai người. Nhưng điều làm jinrikisha khác biệt chính là trải nghiệm cá nhân hóa mà người lái xe – gọi là “shafu” – mang lại

Họ không chỉ dùng sức kéo xe, mà còn là “người dẫn chuyện” nhiệt huyết. Với giọng nói rành rọt, ánh mắt tươi vui và nụ cười thân thiện, họ kể cho du khách nghe về lịch sử từng con phố

Thành phố ven biển Kamakura mang hơi thở cổ kính, nổi bật với Đại Phật Kamakura. Hành trình bằng jinrikisha tại đây đưa du khách qua những con đường rợp bóng cây, tạo ra một trải nghiệm vừa thư thái, vừa đầy hoài niệm.


Nghề kéo xe jinrikisha không chỉ mang lại thu nhập cho người lao động, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Đối với người Nhật, hình ảnh những người shafu cần cù, bền bỉ không chỉ là một nét đẹp lao động mà còn là biểu tượng của tinh thần hiếu khách omotenashi. Chính quyền nhiều địa phương và các công ty du lịch đang tích cực hỗ trợ để truyền lại nghề này cho thế hệ sau. Dù một cuốc xe có giá khá cao, nhưng đó là mức chi trả xứng đáng cho một trải nghiệm văn hóa vô giá, một cách để du khách trực tiếp góp phần vào việc bảo tồn một di sản sống.

Trong thế giới công nghệ phát triển chóng mặt, jinrikisha vẫn lăn bánh, không phải để cạnh tranh tốc độ, mà để giữ lại nhịp chậm cần thiết cho những ai muốn cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của Nhật Bản. Mỗi vòng quay của bánh xe không chỉ là sự di chuyển từ điểm này đến điểm khác, mà còn là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa con người và văn hóa, tạo nên một hành trình du lịch đầy cảm xúc và ý nghĩa.

Khánh Linh (t/h) / Theo: travellive+



"SÁT THỦ THẦM LẶNG" FENTANYL: KỲ 1: THUỐC GIẢM ĐAU THÀNH THUỐC ĐỘC HỦY HOẠI NGƯỜI TRẺ

Fentanyl là loại thuốc giảm đau tổng hợp nhóm opioid mạnh hơn morphine 100 lần, đồng thời cũng là loại ma túy mạnh hơn heroin tới 50 lần.

TS PAUL JANSSEN - Ảnh: pauljanssenaward.com

Sản xuất fentanyl bất hợp pháp rất dễ dàng, chỉ cần có đủ tiền chất. Đường dây sản xuất fentanyl bất hợp pháp và kinh doanh tiền chất đã hoạt động như thế nào?

Fentanyl là gì? Tại sao Tổng thống Donald Trump nhiều lần nhắc đến chất này đang gây hại nước Mỹ và thực thi nhiều biện pháp quyết liệt cấp độ quốc tế để ngăn chặn?

Ngược dòng thời gian, năm 1959 Công ty Janssen Pharmaceutica NV ở Bỉ đã được cấp bằng sáng chế cho fentanyl, một loại thuốc giảm đau mới thuộc nhóm opioid. Người tổng hợp chất fentanyl đầu tiên là TS Paul Janssen.

Lần đầu tiên fentanyl có thể hỗ trợ thực hiện các ca phẫu thuật kéo dài và cùng với các loại thuốc kế nhiệm đã đánh dấu một cuộc cách mạng trong phòng phẫu thuật. Nếu không có hợp chất này và chất tương tự của nó là sufentanil sẽ không thể thực hiện phẫu thuật tim hở được.
TS JANSSEN

Làm thí nghiệm trên ruột thỏ mới giết mổ

Paul Janssen chào đời ngày 12-9-1926 tại thị trấn nhỏ Turnhout thuộc vùng Kempen (đông bắc nước Bỉ), con đầu lòng trong gia đình có bốn người con. Cha ông là bác sĩ gia đình xuất thân từ tầng lớp nông dân, người thành lập Công ty phân phối dược phẩm Produkten Richter.

Lúc ông còn trẻ, người em gái mới 4 tuổi đã qua đời vì bệnh viêm màng não do lao. Mất mát ấy đã truyền cảm hứng cho ông theo đuổi sự nghiệp y khoa.

TS Fernand Vicari - người sáng lập tạp chí y học tích hợp Hegel (Pháp) - ghi nhận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Janssen theo học vật lý, sinh học và hóa học tại Đại học Namur (Bỉ). Cuối năm 1945, ông học y khoa tại Đại học Công giáo Louvain.

Năm 1948, ông đến Mỹ học nhiều ngành khoa học với tư cách sinh viên tự do. Sau đó ông trở về Louvain để thi và lấy bằng tiến sĩ y khoa tại Đại học Ghent năm 1951.

Đối với ông, thách thức lớn nhất là kết hợp các ngành dược lý với hóa học. Năm 1953 lúc mới 27 tuổi, ông thành lập Công ty Janssen Pharmaceutica NV tại Beerse (Bỉ) và lấy tầng 3 ngôi nhà của cha ông làm phòng thí nghiệm.

Năm 2000, ông đã viết: "Thậm chí chúng tôi còn không có máy tính để tính toán đơn giản nhất chứ đừng nói gì đến máy vi tính. Để giảm chi phí, chúng tôi tiết kiệm bằng cách làm các thí nghiệm đơn giản trên ruột thỏ mới giết mổ lấy lúc sáng sớm từ người bán thịt".

Buổi đầu khó khăn như thế nhưng công ty đã thành công rực rỡ nhờ khám phá hợp chất ambucetamide dùng để giảm đau bụng kinh. Thời bấy giờ morphine là loại thuốc giảm đau hàng đầu. TS Janssen đã quan tâm tìm kiếm loại thuốc giảm đau nào có công dụng mạnh hơn để điều trị các hội chứng đau khó điều trị như bác sĩ y khoa Theodore H. Stanley nhận xét trên tạp chí Quản Lý Đau Và Triệu Chứng (Mỹ).

Năm 1959, trong quá trình thử nghiệm cấu trúc hóa học của chất pethidine có công dụng giảm đau (nổi tiếng với tên thuốc Demerol), nhóm nghiên cứu của ông đã tổng hợp thành công chất fentanyl. Ông đưa fentanyl cho bác sĩ gây mê George De Castro ở Brussels nghiên cứu lâm sàng. De Castro đã sử dụng fentanyl như một thành phần trong thuốc gây mê và nhận thấy fentanyl gây ấn tượng về hiệu lực.

Công ty Janssen Pharmaceutica NV bắt đầu thử nghiệm fentanyl khắp châu Âu. Trong nửa đầu thập niên 1960, hầu hết các nước Tây Âu đã phê duyệt sử dụng fentanyl như một loại thuốc gây mê nhóm opioid. Vào thời điểm đó fentanyl thường được sử dụng với liều lượng nhỏ kết hợp với một trong các loại thuốc gây mê tĩnh mạch.

Năm 1961, Janssen Pharmaceutica NV được Tập đoàn Johnson & Johnson của Mỹ mua lại. TS Janssen tiếp tục làm việc cho công ty với vai trò nghiên cứu phát triển. Chẳng bao lâu fentanyl đã trở thành một trong những loại thuốc giảm đau nhóm opioid phổ biến nhất trong gây mê, được sử dụng để điều trị đau dữ dội sau phẫu thuật hoặc đau mãn tính không thể điều trị bằng các loại thuốc giảm đau khác như trường hợp người mắc bệnh ung thư.

Các bác sĩ đánh giá fentanyl mạnh hơn morphine gấp 100 lần. Giống như morphine, fentanyl liên kết với thụ thể Mu trong não để làm giảm đau, tuy nhiên fentanyl có tác dụng nhanh hơn, mạnh hơn và ít gây buồn nôn.

Thuốc tiêm fentanyl được sử dụng như thuốc giảm đau trong và sau mổ - Ảnh: Pexels

Cuộc cách mạng trong phòng phẫu thuật

Gần như ngay từ đầu nguy cơ gây nghiện tiềm ẩn của thuốc giảm đau fentanyl đã được phát hiện, vì vậy Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) đã cấm bán fentanyl ở Mỹ. Một trong những người phản đối fentanyl mạnh mẽ nhất là GS Robert Dripps, trưởng khoa gây mê Đại học Pennsylvania.

Ông khẳng định fentanyl có thể gây rắc rối nhiều hơn có lợi và lo ngại fentanyl sẽ bị lạm dụng như chất gây nghiện.

TS Janssen đã thuyết phục GS Dripps giúp ông đưa fentanyl tiếp xúc với các bác sĩ gây mê tại Mỹ đồng thời hỗ trợ để FDA phê duyệt. Sau nhiều năm vận động, cuối cùng GS Dripps đồng ý có thể sử dụng fentanyl với điều kiện phải pha loãng với droperidol (thuốc an thần được cấp bằng sáng chế cho Janssen) để giảm tác hại.

Tỉ lệ pha là 50 phần droperidol cho một phần fentanyl. Năm 1968, FDA đã phê duyệt tỉ lệ sử dụng này trong gây mê lâm sàng.

Vì nhiều lý do phức tạp, fentanyl kết hợp với droperidol ít được chấp nhận rộng rãi và vào thời gian đó fentanyl vẫn chưa bị lạm dụng như chất gây nghiện. Có lẽ vì lý do đó mà năm 1972, fentanyl được FDA chấp thuận sử dụng như một tác nhân duy nhất.

Ứng dụng phổ biến nhất của fentanyl là một thành phần của thuốc gây mê với liều lượng dưới 50 μg (0,05mg) cho một ca phẫu thuật kéo dài 2-3 tiếng. Fentanyl chỉ có sẵn trong ống rất nhỏ 50 μg (1ml), được sử dụng với liều lượng từ 10-35 μg nên hầu như bên ngoài phòng phẫu thuật tại Mỹ ít biết.

Giữa những năm 1980, miếng dán fentanyl đã được nghiên cứu sử dụng cho bệnh nhân để hỗ trợ điều trị cơn đau sau mổ. Ngoài miếng dán fentanyl như Duragesic, nhiều cách dùng kết hợp fentanyl đã được phát triển tại Mỹ và Tây Âu như que fentanyl được phê duyệt vào những năm 1990 cho bệnh nhân dung nạp được thuốc giảm đau nhóm opioid. (ví dụ que Actiq hay que Oralet).

Nhiều công ty đã nghiên cứu kết hợp fentanyl vào viên ngậm, bình xịt mũi, miếng dán miệng, viên uống hòa tan, hệ thống cấp thuốc qua niêm mạc, fentanyl dạng khí dung.

TS Paul Janssen được đánh giá là một trong các nhà khoa học sáng tạo và truyền cảm hứng nhất của thế kỷ 20. Kết quả nghiên cứu của ông đã dẫn tới đột phá trong nhiều lĩnh vực y tế như quản lý cơn đau, tâm thần học, bệnh truyền nhiễm, nấm học và tiêu hóa.

Tại Công ty Janssen Pharmaceutica NV, ông đã đặt nền móng cho hơn 80 loại thuốc cứu sống nhiều triệu người như loperamide (Imodium) điều trị tiêu chảy, thuốc điều trị loạn thần đầu tiên cho phép bệnh nhân được điều trị tại nhà và nghiên cứu nhiều hợp chất điều trị HIV/AIDS.

Ông đã được cấp hơn 100 bằng sáng chế và được trao nhiều danh hiệu, bao gồm năm danh hiệu giáo sư danh dự và 22 danh hiệu tiến sĩ danh dự. Ông là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 850 ấn phẩm khoa học, thành viên danh dự của hơn 30 viện nghiên cứu và tổ chức khoa học.

Điều mà ông không nhận ra là tác dụng gây nghiện của fentanyl đã giết hại bao nhiêu người như nhà báo điều tra Ben Westhoff (Mỹ) nhận xét trong cuốn sách Fentanyl, Inc. Ông qua đời năm 2003 (hưởng thọ 77 tuổi) nhiều năm trước khi ma túy fentanyl bất hợp pháp hoành hành ở Mỹ.

Fentanyl đã được đặt dưới sự kiểm soát quốc tế theo Công ước Thống nhất về các chất ma túy năm 1961 (có hiệu lực năm 1964) của Liên hợp quốc. Từ đó nhiều quốc gia như Mỹ và Anh vào năm 1971 đã cấm sử dụng fentanyl vì mục đích giải trí.

"Sát thủ thầm lặng" fentanyl

Trong trường hợp sử dụng như ma túy quá liều, fentanyl sẽ làm chậm nhịp thở khiến người sử dụng bị ngạt oxy và cái chết sẽ đến rất nhanh.

Các triệu chứng xảy ra bao gồm suy hô hấp (thở yếu hoặc ngừng thở), môi thâm tím, thân nhiệt hạ đột ngột, co giật, hôn mê sâu. Tạp chí y học The Lancet đánh giá fentanyl là "sát thủ thầm lặng", gây tử vong nhanh hơn bất kỳ thuốc nhóm opioid nào khác.

----------------------

Melanie Ramos (15 tuổi) được phát hiện chết trong nhà vệ sinh trường học. Em mua một viên thuốc giảm đau trong trường để uống, nào ngờ thuốc có pha trộn fentanyl.

Kỳ tới: Thần chết fentanyl hoành hành ở Mỹ

Hoàng Duy Long / Theo: TTO

Saturday, February 21, 2026

"PHI HOÀNG" TRONG THÀNH NGỮ "PHI HOÀNG ĐẰNG ĐẠT" LÀ GÌ?

“Phi hoàng đằng đạt” (飛黃騰達) là một thành ngữ thường dùng để miêu tả con đường công danh hanh thông, quan vận thịnh đạt, nhanh chóng làm nên sự nghiệp. Tuy được sử dụng hằng ngày khá phổ biến, nhưng rất nhiều người lại không rõ nguồn gốc cũng như ý nghĩa thực sự của hai chữ “phi hoàng”.


“Phi hoàng” sớm nhất có thể truy nguyên về Sơn Hải Kinh: “Có loài gọi là Thừa Hoàng, hình dạng giống cáo, trên lưng có sừng, cưỡi nó thì thọ được hai nghìn năm.”

“Phi hoàng” (飛黃) chính là “Thừa Hoàng” (乘黄), một loài dị thú thời thượng cổ, hình dáng rất giống hồ ly, chỉ khác là trên lưng có thêm một đôi sừng. Tương truyền, con người chỉ cần cưỡi lên nó thì có thể tăng thêm tuổi thọ hai nghìn năm. Ngoài Sơn Hải Kinh, trong một số thư tịch cổ khác của Trung Quốc cũng có ghi chép liên quan.

Quản Tử – Tiểu Khuông viết: “Sông Hoàng Hà xuất hiện Hà Đồ, sông Lạc xuất hiện Lạc Thư, đất sinh ra Thừa Hoàng.” Hoài Nam Tử · Lãm Minh Huấn chép: “Thanh long tiến giá, phi hoàng phục táo.”

“Phi hoàng” sớm nhất có thể truy nguyên về Sơn Hải Kinh. Ảnh internet.

Những ghi chép này nói rằng vào thời Hoàng Đế, thiên hạ được trị vì tốt đẹp, bốn phương thái bình, điềm lành liên tiếp xuất hiện; các thần thú như thanh long, kỳ lân, phượng hoàng, phi hoàng lần lượt hiện thế. Qua đó có thể thấy, phi hoàng khi ấy là một linh thú cát tường sánh ngang với thanh long và phượng hoàng, được con người vô cùng yêu mến.

Vậy vì sao “phi hoàng” thời cổ đại được tôn sùng đến mức sánh vai long phượng, mà ngày nay lại hầu như không còn mấy người biết đến? Vấn đề này phải lần theo một bài thơ của thi nhân đời Đường là Trương Thuyết, mang tên Tạp khúc ca từ: Vũ mã thiên thu vạn tuế nhạc phủ từ (舞馬千秋萬歲樂府詞).

Đường Huyền Tông Lý Long Cơ về cuối đời say mê ca múa, ngoài việc nuôi ca kỹ trong cung, còn đặc biệt cho nuôi một số “vũ mã” để phối hợp với vũ khúc biểu diễn. Lý Long Cơ vô cùng yêu thích những con vũ mã này: chăm sóc rất công phu, từ thức ăn, chuồng trại đều hết sức cầu kỳ, mỗi con ngựa đều có một cái tên rất kêu. Vì thế, tể tướng Trương Thuyết đã làm một bài thơ ca ngợi:

“Xa nghe minh quân chuộng kẻ tài,
Roi ngọc cánh vàng dẫn ngựa rồng.
Chẳng phải cõi trần sinh được giống,
Ắt là phi hoàng xuống tự không.”

Trong thơ, Trương Thuyết ví những con vũ mã với thần thú “phi hoàng”, đủ để thấy mức độ yêu thích của Đường Huyền Tông đối với chúng. Sau loạn An Sử, vũ mã lưu lạc ra dân gian, người thường cũng bắt đầu dùng chữ “phi hoàng” để gọi những con tuấn mã của mình. Từ đó, “phi hoàng” dần dần từ một thần thú thượng cổ biến thành “thiên mã”, “ngựa quý”, không còn được đặt ngang hàng với long phượng nữa.

Vậy vì sao “phi hoàng” lại gắn liền với việc thăng quan tiến chức, tiền đồ xán lạn của con người? Thực ra, thành ngữ “phi hoàng đằng đạt” (飛黃騰達) được phát triển từ cụm “phi hoàng đằng đạp”(飛黃騰踏). “Đằng đạt” (騰達) chính là “đằng đạp” (腾踏), chỉ dáng vẻ con ngựa tung vó bay lên, phi nước đại. “Phi hoàng đằng đạp” xuất phát từ bài “giới tử thi” nổi tiếng của Hàn Dũ đời Đường, mang tên Phù đọc sách thành nam (符讀書城南).

Phù đọc sách thành nam (trích đoạn)
Đường – Hàn Dũ

Hai nhà cùng sinh con,
Bồng trẻ khéo như nhau.
Thuở nhỏ cùng vui đùa,
Chẳng khác cá chung ao.

Mười hai mười ba tuổi,
Đầu mày dần cách xa.
Hai mươi càng lệch lạc,
Mương trong đối rãnh bẩn.

Ba mươi xương cốt thành,
Một rồng một lợn ra.
Phi hoàng tung vó đi,
Chẳng ngoảnh nhìn cóc nhái.

Người ta thường nói “cha hổ không sinh con chó”, nhưng con trai của Hàn Dũ là Hàn Sưởng lại hoàn toàn không kế thừa được đức tính cần cù hiếu học của cha. Hàn Sưởng khi còn nhỏ rất nghịch ngợm, không thích học hành, cứ hễ đọc sách là giả vờ choáng đầu buồn ngủ. Hàn Dũ dĩ nhiên không thể mặc kệ con như vậy, nên đã viết riêng bài thơ khuyên học này để khích lệ con trai chuyên tâm đèn sách. Chữ “Phù” trong nhan đề chính là tên sữa của Hàn Sưởng.

Hàn Dũ. Ảnh internet.

Trong thơ, Hàn Dũ kể một câu chuyện nhỏ: ngày xưa có hai gia đình, mỗi nhà sinh được một bé trai, hai đứa trẻ đều thông minh lanh lợi như nhau. Một đứa ham học, đứa kia thì lười đọc sách, dần dần phân ra cao thấp. Khi còn nhỏ, cả hai cùng chơi đùa nên chưa thấy khác biệt, nhưng đến khoảng hai mươi tuổi thì sự chênh lệch đã rõ ràng như mương nước trong so với rãnh nước bẩn.

Đến tuổi ba mươi lập thân, một người như rồng, ở chốn quan trường phi hoàng tung vó, thăng tiến liên tiếp; người kia thì như lợn, chỉ có thể cúi đầu nhìn những con cóc nhái tầm thường bên cạnh mình. Hàn Sưởng sau khi đọc bài thơ này đã rất tỉnh ngộ, từ đó chuyên tâm học tập, lại nhờ sự giúp đỡ của cha mà bái nhà văn Phàn Tông làm thầy, khổ công trau dồi, cuối cùng trở thành một học giả nổi danh một thời.

Bài thơ của Hàn Dũ không chỉ thức tỉnh con trai ông, mà còn để lại cho hậu thế một thành ngữ kinh điển là “phi hoàng đằng đạp”. Theo dòng chảy thời gian, “phi hoàng đằng đạp” dần dần diễn biến thành cụm quen thuộc ngày nay là “phi hoàng đằng đạt”.

Trong xã hội hiện đại, “phi hoàng đằng đạt” vẫn là một lời chúc được dùng rất phổ biến, đặc biệt trong thiệp chúc mừng, thư pháp, đặt tên thương hiệu…, mang ý nghĩa sự nghiệp thành công, tiền đồ vô hạn. Ví dụ, hình tượng thương hiệu của tiệm vàng Lão Phượng Tường Thượng Hải đã kết hợp họa tiết cát tường của “phi hoàng đằng đạt”, qua đó nâng cao chiều sâu văn hóa và sức thân thiện của thương hiệu.

Khai Tâm biên dịch
Theo: vandieuhay

TẶNG BIỆT PHÓ SINH - TỀ CẨM VÂN


Tặng biệt Phó sinh

Nhất hạp xuân dao vạn lý tình,
Đoạn trường phương thảo đoạn trường oanh.
Nguyện tương song lệ đề vi vũ,
Minh nhật lưu quân bất xuất thành.


贈別傅生

一呷春醪萬里情
斷腸芳草斷腸鶯
願將雙淚啼為雨
明日留君不出城


Tặng chàng Phó khi chia tay
(Dịch thơ: Nguyễn Bính)

Một chén tiễn đưa tình vạn lý,
Oanh buồn rầu rĩ, cỏ buồn phai.
Mong đem lệ tưới thành mưa lớn,
Ngăn bước đường anh buổi sớm mai.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tề Cẩm Vân 齊錦雲 là một nhạc kỹ trong giáo phương ở Kim Lăng, đời Minh. Nàng xinh đẹp, giỏi thơ, đàn, thường cùng người luận đàm suốt ngày không mệt. Nàng quen biết chàng thư sinh tên Phó Xuân 傅春, hai người càng ngày càng yêu mến. Sau Phó Xuân bị vu oan và bắt giam, nàng lấy trâm cài đầu trao cho chàng làm tín vật mãi mãi không xa dời.

Phó Xuân không nhận tội, chàng bị giải ra làm lính thú biên phòng. Trước khi lên đường, Tề Cẩm Vân tặng chàng một bài thơ. Sau khi chàng đi, nàng đóng cửa không tiếp khách, ngày ngày đọc kinh Phật, ít lâu sau lâm bệnh chết.

Nguồn: Thi Viện

LẶNG LÀ KHÍ CHẤT, NHU LÀ BẢN LĨNH, THIỆN LÀ GỐC RỄ

Phàm đời mấy ai hiểu chữ “lặng”? Người ưa lời nhiều, việc gấp, tranh tranh đoạt đoạt, tưởng rằng thế là mạnh. Kỳ thực, càng ồn ào, càng hiển lộ hư tâm; càng náo động, càng che đậy bất an. Lặng là thanh khí của bậc tĩnh tâm. Như trăng treo giữa đêm, chẳng lên tiếng, mà vạn vật đều soi.


I. Lặng – Khí chất điềm nhiên

Người lặng, chẳng phải là người câm lặng vì khiếp nhược, mà là người biết lúc nên nói, nên làm, nên lui. Lặng là tịch nhiên giữa muôn lời dư thừa. Lặng là vững như đá tảng giữa sóng khơi.

Người lặng, không vì thị phi mà động. Gặp điều trái tai, không lập tức phản bác. Gặp cảnh bất công, không nóng vội tranh biện. Trong lòng sáng như gương, mà ngoài mặt vẫn điềm nhiên như không. Ấy là khí chất trầm tĩnh, tự tại.

II. Nhu. Bản lĩnh vượt lên khái niệm mạnh – yếu

Nhu, chẳng phải là mềm yếu. Nhu là thuận theo thời, uốn theo thế, như nước theo bình, như trúc theo gió. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử dạy:

Nhu thắng cương, tĩnh thắng động.

Nước tuy mềm, mà xuyên đá. Trúc tuy gầy, mà đứng vững trong cuồng phong.

Kẻ trí giả, khi gặp nghịch cảnh không chống, mà biến. Gặp hiểm họa không loạn, mà hòa. Biết khi nào nên dừng, khi nào nên nhẫn, khi nào nên buông. Ấy là bản lĩnh của kẻ đã vượt lên khái niệm mạnh – yếu. Mềm để sống, nhu để tồn, lặng để tiến xa.


III. Thiện – Gốc rễ của nhân cách

Chữ thiện, là căn cội của Đạo. Không Thiện, thì chẳng thể làm người. Người thiện, không vì lời ngợi khen mà làm lành, cũng không vì bị phụ bạc mà sinh ác. Họ lặng mà từ tốn, nhu mà quảng đại.

Thiện không ở lời, mà ở tâm. Không nằm trong việc lớn, mà tàng trong chi tiết.

Giữ một lời ôn hậu khi người khác thô lỗ.

Giữ một lòng mềm khi thiên hạ khắt khe.

Người sống thiện, thân an – tâm lặng – mệnh bền. Dẫu không quyền, không thế, nhưng có người tìm đến. Dẫu chẳng vàng, chẳng bạc, nhưng lưu hậu phúc đời sau
 
IV. Ba tầng của tu dưỡng chân thật

Lặng là bước đầu – để bớt tranh cãi, bớt vọng tưởng.

Nhu là bước giữa – để hòa tan ngạo khí, dung nạp người.

Thiện là bước sâu – để nuôi gốc nhân tâm, khai mở đạo hạnh.

Ba chữ ấy, chẳng học từ sách vở, mà phải luyện trong đời. Gặp một lời trái tai, biết nhịn là học Lặng. Gặp một lần thất thế, biết hòa là học Nhu. Gặp một phen phụ bạc, biết tha là học Thiện.

Người chưa lặng, thì dễ dao động.

Người chưa nhu, thì dễ gãy vỡ.

Người chưa thiện, thì dễ sinh oán độc.


V. Sống là trở về gốc

Người xưa nói:

Tĩnh như thủy, hành như vân, tâm như nhiên, ấy là đạo giả.

Lặng, dưỡng khí. 
Nhu, dưỡng trí. 
Thiện, dưỡng tâm.

Ba điều ấy, một khi kết tinh, thì người có thể không giàu, không cao quý ngoài đời, nhưng tự nhiên ung dung, tự nhiên vững chãi, như tùng già trên núi, như suối nhỏ dưới khe, chẳng tranh mà bền, chẳng khoe mà sáng.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay