Tuesday, March 3, 2026

3 LOẠI PHONG THỦY TỐT CỦA NGƯỜI CÓ PHÚC

Có một câu nói cổ rằng: “Phúc nhân cư phúc địa, phúc địa phúc nhân cư”, ý nói rằng, một nơi vốn dĩ có phong thủy không được tốt, người phúc đức đến sinh sống một khoảng thời gian, nơi đó phong thủy tự nhiên sẽ thay đổi và trở thành mảnh đất may mắn.


Người có phúc thường có 3 loại phong thủy tốt sau.

Phong thủy thứ nhất: trái tim

1. Có một trái tim nhân hậu

Người xưa nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Lòng tốt là món quà mà Thượng Đế ban cho con người. Hết lòng yêu thương mọi người, thì mọi người cũng sẽ thương yêu lại mình; vì mọi người tạo phúc, mọi người cũng sẽ vì mình mà tạo phúc.

Làm việc tốt mà không cần cầu xin báo đáp, vì bản thân lòng tốt chính là một phúc báo và những người tử tế sẽ có cuộc sống ấm áp, hạnh phúc. Còn người làm ác cũng không cần trừng phạt họ, bởi lòng kẻ ác luôn lạnh lùng, không có chút hơi ấm thì tự thân đã buồn.

Lòng tốt là món quà mà Thượng Đế ban cho con người (ảnh: Pinterest)

Một người có thể không giàu có, nổi tiếng, nhưng không được đánh mất lòng tốt của mình, bởi vì mất lòng tốt tương đương với việc mất đi cội nguồn. Hãy gieo trồng lòng tốt để mọi người cảm nhận được vẻ đẹp và hạnh phúc trong cuộc sống của họ.

2. Nuôi dưỡng một trái tim bao dung

Mọi sự bao dung đều là đặt mình vào vị trí của người khác, suy nghĩ về điều người khác đang trải qua, từ đó hiểu được khó khăn của họ. Bởi vì hiểu, nên có lòng từ bi, trái tim cũng trở nên mềm mại hơn, và bắt đầu tha thứ cho lỗi lầm của người khác.

Người không hiểu được lòng khoan dung sẽ đánh mất sự tôn trọng của người khác, nhưng người bao dung một cách mù quáng sẽ đánh mất phẩm giá của chính mình.

3. Tu xuất một trái tim khiêm tốn

Khiêm tốn là một loại tầm nhìn. Một người có thể khiêm tốn là vì họ hiểu rõ núi cao, biển sâu và sẽ không tự phụ vì những thành tựu nhỏ bé của mình.

Khiêm tốn là một loại tầm nhìn (ảnh: Pinterest)

Khiêm tốn là một loại sức mạnh và một trái tim khiêm tốn giống như cỏ dại, không chế giễu thế giới bên ngoài và cũng không quan tâm đến sự chế giễu của thế giới bên ngoài, mà âm thầm tích lũy sức mạnh của chính nó.

Phong thủy thứ hai: miệng

1. Phơi bày khuyết điểm của người khác sẽ gây thù chuốc oán

Không ai là không quan tâm đến thể diện, nếu làm tổn thương thể diện của một người thì cũng sẽ làm tổn thương trái tim của họ.

Người có mặt, cây có vỏ. Đánh người không đánh vào mặt, chỉ ra lỗi lầm chứ không vạch trần khuyết điểm. Nếu bạn làm người khác mất mặt, họ chắc chắn sẽ khiến bạn mất mặt.

Trước mặt người lùn thì không nên nói về chiều cao, trước mặt người béo thì không nên nói về cân nặng, và đừng nên nói về nhan sắc trước mặt “Đông Thi”.

Đánh người không đánh vào mặt, chỉ ra lỗi lầm chứ không vạch trần khuyết điểm (ảnh: Pinterest)

Càng nhiều bạn bè, càng nhiều con đường. Vì vậy, hãy kiềm chế cái miệng của mình và tạo dựng mối quan hệ tốt với mọi người thì con đường cuộc đời sẽ trở nên rộng lớn hơn mỗi ngày.

2. Khoe khoang, khoác lác sẽ gây rắc rối

Có một phương sĩ (người cầu tiên học đạo) ở nước Triệu thích khoe khoang, khoác lác. Ông tuyên bố đã nhìn thấy Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông, Xi Vưu, Thương Hiệt, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Mục Thiên Tử, Giao Trì Thánh Mẫu, v.v… và ông ấy đã sống hàng ngàn năm.

Một ngày nọ, vua Triệu bị ngã ngựa và bị thương nặng. Thầy thuốc cho biết cần phải có máu từ người sống hơn một ngàn năm để chữa trị. Vì vậy, vua Triệu ra lệnh lấy máu của phương sĩ đó.

Hoảng sợ, phương sĩ ngay lập tức giải thích rằng mình chỉ là nói nhảm. Tuy nhiên, vua Triệu cho rằng ông không trung thành và không đáng tin cậy, nên đã thực sự đã giết ông.

Khoe khoang, khoác lác sẽ gây rắc rối (ảnh: Pinterest)

Nhiều người thích khoe khoang, khoác lác khi không có việc gì làm, họ cảm thấy như không khoe khoang, khoác lác thì không thể thể hiện được tài năng của bản thân. Nhưng khi người khác tin vào những câu chuyện đó, hậu quả có thể rất nghiêm trọng. Vì vậy, không nên thiếu suy nghĩ và khoe khoang, khoác lác mà hãy hết sức cẩn trọng.

3. Nói những điều không đâu vào đâu làm cho người khác chán ngán

Con ếch trong đáy giếng ngày nào cũng kêu, cho dù miệng khô khốc nhưng chẳng ai thèm để ý đến. Nhưng gà trống chỉ gáy hai ba lần vào lúc bình minh; khi mọi người nghe tiếng gà gáy thì biết rằng bình minh sắp đến và mọi người đều chú ý.

Trong cuộc sống, những quan điểm sâu sắc mới được người khác hoan nghênh, còn những lời nói phổ biến và sáo rỗng sẽ làm người ta cảm thấy chán ghét.

Thực tế đã chứng minh rằng, chỉ khi nói những điều có ý nghĩa và biết cách điều chỉnh đúng mực trong việc nói chuyện, chúng ta mới có thể tăng thêm sức hút cho bản thân.

Phong thủy thứ ba: hành vi

1. Đi đường tắt là tự chuốc lấy thất bại

Lối tắt là tìm cách dễ dàng, trong khi từng bước leo lên là cách rèn luyện. Tất nhiên, trong cuộc sống luôn có những con đường tắt và không cần phải nỗ lực nhiều cũng có thể đến bờ bên kia của hạnh phúc mọt cách nhanh chóng. Nhưng nếu đi đường tắt quá nhiều, người ta sẽ mất khả năng leo lên những ngọn núi cao.

Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm (ảnh: Pinterest)

Trên thế giới này, đường gập ghềnh thì nhiều mà đường bằng phẳng thật sự rất ít. Nếu chúng ta đã quen đi trên con đường gập ghềnh thì thỉnh thoảng đi đường tắt sẽ có tác dụng. Nhưng nếu đã quen với đường tắt, thì khi quay lại với con đường gập ghềnh, đó thực sự là một hành trình đầy khó khăn.

Những tòa nhà cao tầng đường xây lên từ mặt đất, những con sóng lớn nổi lên từ dưới đáy biển; cuộc sống cần phải tích luỹ từng chút một.

2. Vì lợi ích của bản thân mà làm hại người khác là làm mất nhân cách của mình

Đừng thấy việc thiện nhỏ mà không làm, đừng thấy việc ác nhỏ mà làm. Người xưa nói: “Thuận theo cái thiện khó như leo núi, luồn cúi trước cái ác dễ như núi lở. Làm người tốt thì khó, làm người xấu thì dễ”.

Không ai là người ngốc, bạn đối xử với người khác như thế nào, người khác cũng sẽ đối xử với bạn như vậy. Bạn có thể nghĩ rằng bạn đang có lợi, nhưng thực ra bạn đang mất đi nhân cách của bản thân.

3. Lợi dụng chiếm lợi sẽ làm mất lòng tin của mọi người

Trên đời này, không có cái gọi là bữa trưa miễn phí. Khi chiếc bánh từ trên trời rơi xuống, nhất định sẽ có một cái bẫy đang chờ sẵn bạn trên mặt đất.

Đằng sau tất cả những lợi ích nhỏ phải ẩn chứa một cái giá lớn hơn. Hãy nhớ không phải mọi điều tốt đẹp đều sẽ đến với bạn. Không lợi dụng để chiếm tiện nghi là một loại giáo dục.

Chịu thiệt là phúc, không lợi dụng cũng là một loại trí tuệ (ảnh: Pinterest)

Lợi dụng để chiếm lợi ích, sẽ làm mất lòng tin của mọi người, làm tổn thất lợi ích lớn hơn. Đôi khi, hãy để cho người khác một cơ hội, trong lòng ai cũng có một chiếc cân và theo thời gian mọi người sẽ tôn trọng phẩm chất của bạn. Chịu thiệt là phúc, không lợi dụng cũng là một loại trí tuệ.

Trong cuộc đời, người ta phải có khả năng tu dưỡng tâm mình, kiềm chế miệng mình và đi trên con đường của riêng mình, thì sự giàu có, thịnh vượng sẽ đến mà không cần phải mời chào.

Bảo Châu biên dịch
Theo: vandieuhay

KHÁM PHÁ NHỮNG LỄ HỘI LỒNG ĐÈN NỔI TIẾNG NHẤT TẠI CHÂU Á

Các lễ hội lồng đèn lớn nhất châu Á không chỉ là những sự kiện trình diễn ánh sáng quy mô hoành tráng mà còn là nơi hội tụ của lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian.


Trong dòng chảy văn hóa phương Đông, lồng đèn không chỉ là vật trang trí mang tính thẩm mỹ mà còn là biểu tượng của ánh sáng, hy vọng, sự đoàn viên và thịnh vượng.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nhiều quốc gia châu Á đã hình thành những lễ hội lồng đèn quy mô lớn, trở thành sự kiện văn hóa-du lịch đặc sắc, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.

Những lễ hội ấy không chỉ làm bừng sáng không gian đô thị hay làng quê mà còn thắp lên ký ức truyền thống, phản ánh chiều sâu văn hóa của mỗi dân tộc.

Lễ hội lồng đèn Nguyên tiêu (Trung Quốc)

Một trong những lễ hội lồng đèn lớn và nổi tiếng nhất châu Á là Lễ hội lồng đèn Nguyên tiêu ở Trung Quốc. Được tổ chức vào rằm tháng Giêng âm lịch, lễ hội này đánh dấu thời khắc khép lại chuỗi ngày Tết Nguyên đán.

Vào dịp này, các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Tây An hay Côn Minh ngập tràn ánh sáng từ hàng vạn chiếc lồng đèn đủ hình dáng, màu sắc. Lồng đèn Trung Hoa thường mang hình rồng, phượng, hoa sen, các nhân vật trong truyền thuyết hoặc con giáp của năm, gửi gắm ước nguyện về bình an, may mắn và thịnh vượng.

Ngoài chiêm ngưỡng lồng đèn, người dân và du khách còn tham gia các hoạt động truyền thống như giải câu đố trên đèn, múa lân-múa rồng, biểu diễn nghệ thuật dân gian, tạo nên không khí lễ hội sôi động nhưng vẫn đậm chất cổ truyền.


Lễ hội đèn trời Pingxi của Đài Loan (Trung Quốc)

Lễ hội được xem là một trong những sự kiện ánh sáng hoành tráng nhất châu Á. Lễ hội thường được tổ chức luân phiên tại các thành phố lớn, mỗi năm lại mang một chủ đề riêng gắn với công nghệ, bảo vệ môi trường hoặc bản sắc văn hóa địa phương. Hàng trăm tác phẩm lồng đèn khổng lồ, ứng dụng kỹ thuật trình chiếu ánh sáng hiện đại, được trưng bày trong không gian mở, thu hút hàng triệu lượt khách tham quan. Điểm đặc biệt của lễ hội này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, khi những chiếc lồng đèn thủ công truyền thống đứng cạnh các mô hình ánh sáng công nghệ cao, phản ánh tinh thần sáng tạo và năng động của xã hội đương đại.

Ngày nay, lễ hội Pingxi diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, mang đến những trải nghiệm tuyệt vời cho người dân lẫn du khách.

(Ảnh: CNN)

Lễ hội đèn lồng Nagasaki (Nhật Bản)

Nếu bạn có chuyến du lịch Nhật Bản vào tháng Giêng âm lịch, đừng bỏ qua lễ hội đèn lồng Nagasaki được tổ chức vào 15 ngày đầu tiên của Tết Nguyên Đán. Đây là một trong những lễ hội lồng đèn lớn nhất châu Á. Suốt thời gian này diễn ra rất nhiều hoạt động với đèn lồng, bao gồm thả đèn, diễu hành và đa dạng các hoạt động biểu diễn khác.

Đến Nhật Bản vào đúng mùa lễ hội đèn lồng, du khách sẽ bắt gặp toàn thành phố, các trung tâm giải trí, thương mại được bao trùm trong ánh sáng của những chiếc đèn lồng tuyệt đẹp. Rất nhiều sân khấu được dựng lên, vô số các hoạt động giải trí do các nghệ sỹ thực hiện, khuấy động bầu không khí của mùa lễ hội.

Một trong những hoạt động ấn tượng nhất đối với du khách khi tham gia lễ hội lồng đèn nổi tiếng châu Á này chính là múa rồng Jaodori và biểu diễn mặt nạ. Những nghệ nhân tham gia biểu diễn múa mặt nạ có thể làm du khách bất ngờ trước khả năng đổi từ mặt nạ này sang mặt nạ khác chỉ bằng một cái vẫy tay.

(Ảnh: Getty images)

Lễ hội lồng đèn hoa sen (Hàn Quốc)

Tại Hàn Quốc, Lễ hội lồng đèn hoa sen (Yeon Deung Hoe) có lịch sử hơn 1.200 năm và gắn liền với Phật giáo. Lễ hội thường được tổ chức vào dịp Phật Đản, với tâm điểm là cuộc diễu hành lồng đèn hoa sen khổng lồ trên các tuyến phố lớn ở Seoul. Hàng chục nghìn chiếc đèn hoa sen rực rỡ sắc màu được thắp sáng, tượng trưng cho trí tuệ, lòng từ bi và sự giác ngộ.

Không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, lễ hội còn là dịp để người dân và du khách quốc tế cùng hòa mình vào không gian văn hóa truyền thống, tham gia các hoạt động thủ công, biểu diễn nghệ thuật và nghi lễ Phật giáo đặc sắc.

Lễ hội này đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của Hàn Quốc vào năm 2012 và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2020.

(Ảnh: visitkorea)

Lễ hội Yi Peng và Loy Krathong (Thái Lan)

Đông Nam Á cũng góp mặt với những lễ hội lồng đèn mang màu sắc riêng biệt. Nổi bật trong số đó là Lễ hội Yi Peng ở Thái Lan. Yi Peng diễn ra chủ yếu ở Chiang Mai, nơi hàng nghìn chiếc lồng đèn trời được thả lên bầu trời đêm, tạo nên khung cảnh ngoạn mục như một dải ngân hà ánh sáng.

Trong khi đó, Lễ hội hoa đăng Loy Krathong có truyền thống từ ngàn xưa tại Vương quốc Chùa Vàng và là dịp lễ lớn thứ hai trong năm sau Tết cổ truyền Songkran của người Thái Lan.

Được tổ chức hàng năm vào Rằm tháng 12 theo lịch Thái ở khắp các tỉnh, thành của Thái Lan, nhưng tỉnh Chiang Mai ở miền Bắc đất nước được xem là điểm đến mê hoặc nhất để chiêm ngưỡng sắc màu lung linh của ánh sáng.

Người Thái tin rằng việc thả đèn trời giúp gột rửa những điều không may mắn và gửi gắm ước nguyện cho tương lai.

Những chiếc đèn trời mang lại hình ảnh lung linh, huyền ảo về đêm. (Ảnh: TTXVN phát)

Lễ hội đèn lồng Hội An (Việt Nam)

Tại Việt Nam, Lễ hội đèn lồng Hội An tuy có quy mô nhỏ hơn so với một số lễ hội lớn ở châu Á nhưng lại mang nét đẹp trầm lắng, tinh tế và giàu bản sắc. Vào đêm rằm hàng tháng, phố cổ Hội An tắt bớt ánh đèn điện, nhường chỗ cho hàng nghìn chiếc lồng đèn lung linh sắc màu. Không gian cổ kính bên dòng sông Hoài, hòa cùng ánh đèn phản chiếu, tạo nên một lễ hội ánh sáng mang đậm dấu ấn văn hóa Việt, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Nhìn tổng thể, các lễ hội lồng đèn lớn nhất châu Á không chỉ là những sự kiện trình diễn ánh sáng quy mô hoành tráng mà còn là nơi hội tụ của lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật dân gian. Mỗi lễ hội, mỗi chiếc lồng đèn đều kể một câu chuyện riêng về con người, về khát vọng hướng tới ánh sáng, hòa bình và hạnh phúc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, những lễ hội này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa, đồng thời trở thành cầu nối giao lưu giữa các quốc gia và nền văn hóa khác nhau.

Ánh sáng từ những chiếc lồng đèn, dù được thắp lên từ hàng nghìn năm trước hay được tái hiện bằng công nghệ hiện đại, vẫn tiếp tục lan tỏa giá trị nhân văn sâu sắc. Đó là lý do vì sao các lễ hội lồng đèn châu Á không chỉ hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp thị giác, mà còn chạm đến cảm xúc và ký ức văn hóa của con người ở khắp mọi nơi trên thế giới.

(Ảnh: Trịnh Bang Nhiệm/TTXVN)

Theo: Vietnam+

MỘT NGƯỜI CÓ TIỀN ĐỒ HAY KHÔNG, NHÌN VÀO ĐIỂM NÀY LÀ BIẾT RÕ

Điều mấu chốt để xem tiền đồ của một người chính là xem xét người đó có hay không đại khí, đại khí mới chính là điểm trọng yếu quyết định tiền đồ của một người.


ĐẠI KHÍ LÀ GÌ?

Đại khí chính là một dạng khí độ, hơn nữa còn được xem như một loại khí phách. Chỉ người có khí phách mới có thể làm nên nghiệp lớn. Một người bất kể là có địa vị cao hay thấp, sự nghiệp lớn hay nhỏ, thân phận hiển hách hay bình thường, có sự thu hút hay không đều phải xem người đó có phần đại khí này hay không.

Đại khí chính là phong thái, thái độ, khí chất, khí phách của một người được biểu hiện qua hành động, xử sự trong cuộc sống hàng ngày, là tổng hợp các tố chất vốn có của một người toát ra bên ngoài như một sức mạnh vô hình bao bọc xung quanh người đó.

Đại khí cũng như biển kia rộng lớn, có thể chứa đựng được trăm sông đổ về, chứa đựng được khí thế của nhật nguyệt, đó cũng là biểu hiện của sự ung dung mà hào phóng, lòng dạ rộng lượng, tự nhiên như trời đất, cũng chính là một cốt cách, phong thái thành thục mà mộc mạc, trầm tĩnh nhưng hài hòa.


Người đại khí:
TÂM THÁI
PHÓNG KHOÁNG


Người đại khí đối với mọi sự cần có tâm phóng khoáng, không chìm đắm mơ hồ trong các loại tình cảm, cũng không quá rối rắm tính toán được mất. Con người sống trong đời, gặp rất nhiều sự tình, cơ hồ nhắm mắt, mở mắt cũng đều sẽ gặp sự tình, phúc họa khó lường, mọi việc đều có thể tùy thời mà phát sinh. Nhưng bất luận sự việc phát sinh lớn hay nhỏ đến đâu, mặc kệ là tốt hay xấu, cũng không cần quá để ý, chuyện lớn cũng xem như chuyện nhỏ mà thôi.

Cũng chớ vừa thấy đến việc tốt liền vui mừng hớn hở, nhảy nhót hưng phấn vô cùng, gặp việc xấu lại mặt ủ mày chau, rối loạn hoang mang, vò đầu bứt tai. Gặp chuyện không dám gánh vác thì làm sao có thể có được đại khí?

Là người có đại khí, đối mình đối người đều cần rộng lượng, không cần thiết phải bụng dạ hẹp hòi: làm người sống trong xã hội, sẽ có lúc gặp chịu thiệt, chịu uất ức, cũng có nhiều lúc nghĩ không thông, tất cả cũng là chuyện thường gặp.

Ví như có lúc đồng nghiệp nói năng lỗ mãng, khinh thường, chịu bất công trong công ty, trước mặt người khác bị cấp trên mắng chửi, tất cả những việc này đều cần phải lấy tâm thái an nhiên chẳng màng để ý, rộng lượng mà đối đãi, đường hoàng mà xử sự. Nếu cả ngày tâm tư cứ quan tâm việc này để ý việc nọ, lúc nào cũng tính toán được mất, so đo hơn thua cho bản thân mình, lòng dạ hẹp hòi như thế thì làm sao có thể có được đại khí?


Người đại khí:
LUÔN QUANG MINH
CHÍNH ĐẠI


Làm người đại khí, trước tiên là phải ngay thẳng đứng đắn, làm việc phải minh bạch rõ ràng. Người xưa có câu: “Ngẩng đầu không thẹn với trời, cúi đầu không ngượng với người”. Sống ở đời, làm người, làm việc nhất định phải ngay thẳng rõ ràng, không ngấm ngầm ‘chơi xấu’ người khác sau lưng.

Mà quang minh chính đại còn là có can đảm đối mặt với sai lầm của mình. Việc che giấu sai phạm của mình là một sai lầm của đại đa số mọi người. Sai lầm là không cần che giấu, mà nên tích cực sửa chữa. Bởi vì Thánh nhân từng có dạy rằng: “Quân tử phạm sai lầm cũng tựa như nhật thực, nguyệt thực vậy, mọi người đều nhìn thấy được, nếu dám sửa sai, mọi người đều thêm kính trọng họ”.

Quân tử làm việc ngay thẳng rõ ràng, xử sự chính trực, có phạm sai lầm cũng là không cố ý, việc làm rõ như ban ngày ai ai cũng đều nhìn thấy được, chứ không như một số người cứ ngấm ngầm vụng trộm làm việc xấu, khiến mọi người khó có thể phát hiện.


Người đại khí:
SÁNG MÀ
KHÔNG CHÓI


Uy nghiêm mà không quá mãnh liệt, sáng mà không chói, đây mới thực sự là người chín chắn, là một nhân cách tốt đẹp. Người đại khí, là vừa trang nghiêm vừa nhã nhặn, cho nên mới nói uy nghiêm mà không hung dữ mạnh mẽ. Là tự bản thân họ có sự khác biệt và tự động tỏa sáng, nhưng tuyệt đối không vì mình hơn người mà lấn át người khác, khiến cho người ta cảm thấy được sáng mà lại không chói, không thấy lòng khó chịu. Để làm được như vậy, thì nhất định phải tống khứ cái tính kiêu căng, tự mãn ra khỏi bản thân.

Họ luôn tôn trọng người khác, kể cả những quyền lợi nhỏ nhặt không đáng kể của những con người bình thường; còn có lòng khiêm nhường, có đức khiêm tốn của người quân tử, khiêm nhường để tu dưỡng phẩm hạnh. Người càng thành công thì càng khiêm tốn.


Người đại khí:
UNG DUNG
NHƯNG QUYẾT ĐOÁN


Bình thản cũng như một loại dũng khí, hành động thoải mái, thản nhiên, rảnh ngắm hoa rơi trước thềm, nhàn tựa cửa phe phẩy quạt lông. Cũng như một loại nguyên tắc, biểu hiện không vội không rối khi gặp người gặp việc, không lạnh không nóng, thân thiết mà có mức độ, thuận theo mà có chừng mực.

Người xưa có câu: “Một khi cất bước ra đi, kiên định không quay đầu”. Người đại khí không hề do dự, dựa dẫm, bất kể là việc gì cũng tự mình suy xét cẩn thận rồi sau đó liền quyết đoán mà thực hiện.

Một người đại khí, nhất định là người chu đáo, ung dung, quả quyết, có tinh thần thực sự kiên định, mạnh mẽ. Người có phẩm chất như vậy mới là người làm nên nghiệp lớn.

eMagazine / ĐKN News

Monday, March 2, 2026

GREENLAND - ĐẢO QUỐC BĂNG GIÁ KHÔNG LỒ - KÝ 2: TIỀN ĐỒN HIỂM YẾU

Mặc dù quá xa xôi, cách trở và điều kiện sống cực kỳ khắc nghiệt, Greenland vẫn được nhiều cường quốc nhắm đến.

Lính Đức cải trang dân sự và thành viên Trạm khí tượng Edelweiss II của Đức bị lính Mỹ bắt ngày 4-10-1944 ở Greenland - Ảnh tư liệu

Thế chiến thứ 2, quân đội Đức quốc xã nỗ lực thiết lập các trạm quan trắc khí tượng và tình báo để phục vụ chiến tranh xâm lược, quân đội Mỹ cũng không chịu đứng ngoài cuộc.

Trở thành thuộc địa của Đan Mạch

Suốt nhiều thế kỷ, đảo quốc tự trị Greenland chưa bao giờ được độc lập hoàn toàn dù họ có khát vọng và diện tích lãnh thổ lớn hàng đầu thế giới. Nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này mà lý do lớn nhất có lẽ chính vì dân số quá ít ỏi (hiện chỉ có khoảng 56.000 dân) và vị trí địa lý quá khắc nghiệt ở vùng Bắc cực, phải phụ thuộc nhiều thứ từ bên ngoài.

Ngược dòng lịch sử, sau mấy trăm năm nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2, Greenland chịu ảnh hưởng bởi Na Uy. Tuy nhiên, "thuộc địa" này dần mất liên kết "mẫu quốc" cùng với sự sụt giảm người Na Uy ở đảo. Khởi từ thế kỷ thứ 10 khi một người Na Uy tên là Erik Thorvaldsson (biệt danh Erik Đỏ - Erik the Red) dong thuyền cùng nhóm người Viking đến Greenland thì tới thế kỷ thứ 15 các khu định cư của người Na Uy dần tàn lụi.

Đây cũng là giai đoạn những ngư thuyền của người Anh, Hà Lan qua lại Greenland để săn cá voi vùng Bắc cực. Nhiều tư liệu cho thấy họ có giao hảo với người bản địa trên đảo nhưng không có sự xác lập quyền ảnh hưởng nào như thời Erik Thorvaldsson...

Dấu mốc lịch sử mới ở Greenland mở ra thời kỳ phát triển kéo dài đến nay là vào năm 1721, nhà truyền giáo Hans Egede được quốc vương Frederik IV Đan Mạch biệt phái tới đảo băng để truyền giáo và thiết lập buôn bán. Hans Egede đã truyền giáo cho dân bản địa người Inuit ở vùng hải cảng Nuuk và đặt nền móng phát triển thành thủ đô Greenland hiện nay.

Từ thời điểm đó, đảo băng giá khổng lồ vùng Bắc cực bắt đầu đi dần vào quỹ đạo trở thành thuộc địa Đan Mạch. Kể từ năm 1776, hoàng gia Đan Mạch gần như độc quyền giao thương với Greenland. Các chính sách của vương quốc Bắc Âu được cho là mềm mỏng và phù hợp để đảo phát triển.

Sang thế kỷ 19 và đầu 20, nhiều nhà thám hiểm và khoa học như Karl Ludwig Giesecke, Wilhelm A. Graah, Douglas Clavering, Edward Sabine, LA Mourier, Gustav Holm... cũng dong thuyền đến Greenland và Bắc cực. Đảo băng giá này đã được tìm hiểu rõ ràng hơn và được ghi chép vào nhiều tài liệu lịch sử thám hiểm cũng như khoa học địa lý.

Những năm đầu thập niên 1930, Na Uy và Đan Mạch xảy ra tranh chấp vùng đông Greenland, nơi Erik Đỏ từng đến và phát triển được các khu định cư người Na Uy. Tuy nhiên năm 1993, Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ, được thành lập năm 1922 bởi Hội Quốc liên sau Thế chiến thứ 1) đã xử Đan Mạch thắng và có quyền kiểm soát toàn bộ Greenland.

Đảo băng giá khổng lồ xem như đã được luật pháp quốc tế thừa nhận thuộc Đan Mạch, không còn tranh chấp gì nữa cho đến Thế chiến thứ 2 khi Đức quốc xã và phe đồng minh đều xác định vị thế hiểm yếu cần được kiểm soát để phục vụ chiến tranh.

Đức xâm nhập đảo, Mỹ đánh đuổi

Tháng 4-1940, sau khi nhanh chóng đánh chiếm thành công Đan Mạch, Hitler đã nhắm đến Greenland để hải quân Đức quốc xã kiểm soát vùng Bắc Đại Tây Dương. Tuy nhiên thực lực Đức lúc đó chưa đủ sức phát triển tiền đồn trên hòn đảo băng giá quá khắc nghiệt vùng Bắc cực, nhất là việc tiếp vận khó khăn, dễ bị hải quân Anh, Mỹ, Canada đánh phá. Sau đó Hitler đã cử các toán lính trá hình và nhân viên ngành khí tượng lên thiết lập các trạm khí tượng trên các đảo băng như trạm Holzauge, Bassgeige, Edelweiss...

Ngụy trang trạm dân sự nhưng thực chất chúng hoàn toàn phục vụ cho mục đích quân sự của phát xít Đức, đặc biệt là giúp hải quân Đức kiểm soát vùng Bắc Mỹ và Bắc Đại Tây Dương. Các tàu ngầm U-boat có nhiệm vụ đánh phá tàu viện trợ của Mỹ cũng rất cần thông tin từ các trạm này...

Thế chiến thứ 2 dần ngả theo chiều hướng thắng lợi của phe Đồng minh. Cũng như nhiều khu vực quân sự khác, các trạm khí tượng của Đức ở Greenland bị không quân, hải quân Mỹ và các đội tuần tra bằng xe trượt tuyết chó kéo của lực lượng Đan Mạch trên đảo đánh dẹp. Một chiếc tàu tiếp vận của Đức bị bắt giữ.

Đại chiến Thế giới thứ 2 kết thúc, hai cường quốc quân sự nổi lên hùng mạnh nhất là Liên Xô và Mỹ đều nhận thấy rõ vị thế hiểm yếu của Greenland và Bắc cực. Thực tế là suốt mấy năm đại chiến, Greenland đã như một "hàng không mẫu hạm khổng lồ" cho hàng ngàn lượt máy bay phe đồng minh mà chủ yếu là Mỹ đáp xuống các sân bay dã chiến để tiếp vận nhiên liệu trước khi tiếp tục bay oanh tạc các vùng Đức chiếm đóng.

Chính tướng Henry H. Arnold, tư lệnh không quân Mỹ thời điểm này, đã tuyên bố nếu đệ tam thế chiến bùng nổ thì trung tâm chiến lược sẽ là Bắc cực bao gồm Greenland.

Năm 1946, ngay thời điểm chiến tranh vừa kết thúc, Mỹ đã thương lượng với Đan Mạch để mua Greenland giá 100 triệu đô la. Tại Copenhagen, đề xuất này được đặc sứ Bộ Ngoại giao Mỹ William Trimble trực tiếp trình lên Chính phủ Đan Mạch. Và Bộ trưởng Ngoại giao Đan Mạch, ông Gustav Rasmussen đã đáp lời lịch sự rằng mặc dù Đan Mạch nợ Mỹ rất nhiều và rất biết ơn nhưng không thể trả nợ bằng toàn bộ đảo Greenland.

Tuy nhiên sau đó Đan Mạch vẫn "trả ơn" bằng cách cho Mỹ xây dựng căn cứ quân sự ở Greenland mà thật ra là Mỹ phát triển thêm vì họ đã có căn cứ ở đây trong Thế chiến thứ 2. Năm 1947 Chiến tranh lạnh bắt đầu bùng nổ, Greenland không chỉ là tiền đồn quân sự công khai mà còn là căn cứ tuyệt mật để Mỹ sẵn sàng đáp trả hạt nhân trước Liên Xô.

Rất nhiều chuyến bay quân sự Mỹ đã hạ cánh xuống hòn đảo này. Các trạm bảo vệ được thiết lập quanh khu căn cứ tuyệt mật. Những người Inuit bản địa Greenland chuyên lang thang săn bắt được yêu cầu phải tránh xa. Quân đội Mỹ đã làm gì ở đây?

Máy bay Mỹ hoạt động ở căn cứ tại Greenland thời đầu Chiến tranh lạnh - Ảnh: GETTY

Trong lịch sử thế kỷ 19 và 20, Mỹ từng nhiều lần can dự vào Greenland. Năm 1868, Mỹ sau khi thành công việc mua vùng Alaska từ Nga với giá chỉ 7,2 triệu đô la, đã nhắm đến hòn đảo băng giá thuộc quyền kiểm soát của Đan Mạch.

Thậm chí ông William Seward là ngoại trưởng Mỹ khi đó tổ chức cả một cuộc khảo sát thực địa để thuyết phục Quốc hội rằng Greenland tiềm năng giàu có với nhiều cá voi, hải mã, hải cẩu, cá mập, cá tuyết, tuần lộc, gấu, chim chóc.. cùng các mỏ than đá chất lượng gần bến cảng tiện lợi vận chuyển về Mỹ.

Tuy nhiên nỗ lực thuyết phục của vị ngoại trưởng Mỹ này trước Quốc hội không thành vì đó cũng là thời điểm báo chí đang chỉ trích việc mua Alaska cằn cỗi, hoang lạnh là sai lầm.

Gần đây ông Ron Doel, sử gia tại Đại học Florida, còn nhắc việc Mỹ từng muốn thực hiện một giao dịch đổi đất phức tạp để lấy Greenland vào năm 1910. Vào ngày 20-9-1910, Đại sứ Maurice Egan tại Đan Mạch đã trình Chính phủ Mỹ kế hoạch đổi đất kỳ lạ này. Đầu tiên Đan Mạch sẽ nhượng Greenland cho Mỹ, sau đó Mỹ sẽ tặng Đan Mạch nhóm đảo ở Philippines.

Rồi Đan Mạch lại giao nhóm đảo này cho Đức và Đức đáp lại sẽ trả vùng Schleswig-Holstein cho Đan Mạch mà nước này khẳng định thuộc về mình. Kế hoạch đổi đất được cho là có cơ sở khi Mỹ muốn Greenland, Đức thì đang hướng Đông, còn Đan Mạch muốn lấy lại vùng đất của mình bị Đức kiểm soát. Tuy nhiên kế hoạch vẫn bất thành.
______________________________________________

Gần đây các nhà khoa học NASA khi nghiên cứu Greenland đã phát hiện thêm nhiều bí mật tại trại Century, một căn cứ hạt nhân của Mỹ với mạng lưới đường hầm, lò phản ứng hạt nhân. Để làm gì?

Kỳ tới: Căn cứ tuyệt mật và vũ khí hạt nhân

Thùy Chi / Theo: TTO

VŨ THỦY CHÍNH NGUYỆT TRUNG - NGUYÊN CHUẨN


Vũ thủy chính nguyệt trung

Vũ thủy tẩy xuân dung,
Bình điền dĩ kiến long.
Tế ngư doanh phố tự,
Quy nhạn quá sơn phong.
Vân sắc khinh hoàn trọng,
Phong quang đạm hựu nùng.
Hướng xuân nhập nhị nguyệt,
Hoa sắc ảnh trùng trùng.


雨水正月中

雨水洗春容
平田已見龍
祭魚盈浦嶼
歸雁過山峰
云色輕還重
風光淡又濃
向春入二月
花色影重重


Vũ thủy tháng giêng
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mưa xuân tắm gội đất trời. 
Đất bằng đồng ruộng, rồng thời ghé qua. 
Bắt cá cúng mó nước sa. 
Đầu non cánh én, la đà đón xuân. 
Sắc mây đậm nhạt chuyển dần. 
Đượm nồng ánh nắng cũng phần đổi thay. 
Tháng hai xuân đã về đây. 
Muôn trùng hoa nở chốn này đón xuân.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Chuẩn 元稹 (779-831) tự Vi Chi 微之, người Lạc Dương, Hà Nam, gia đình quan lại, làm Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị, chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là Nguyên-Bạch. Tác phẩm có Nguyên thị Trường Khánh tập. Ông còn là tác giả của truyện Hội chân ký về sau được Vương Thực Phủ đời Nguyên dựa vào để viết vở kịch Tây sương ký.

Nguồn: Thi Viện



KHI CÁI CHẾT LÀ MỘT PHẦN CỦA SỰ SỐNG

Nếu con người là bất tử, thì sự sống có còn ý nghĩa? Một câu chuyện khiến người ta hiểu ra được cái chết chính là một phần của sự sống.

Cái chết là một phần của sự sống (ảnh minh hoạ: wallpaperaccess.com).

Trường sinh bất lão là mơ ước của con người. Trong âm thầm, tư tưởng của mỗi người dường như đều ẩn chứa ước mong đó. Nhưng theo quy luật của vũ trụ thì không ai có thể bước ra khỏi luật sinh, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên một câu chuyện của nữ nhà văn người Mỹ Natalie Babbitt đã khắc hoạ nên một tình huống đặc biệt. Bà đã đưa các nhân vật bước ra khỏi quy luật sinh, lão, bệnh, tử giống như một câu chuyện cổ tích.

Mặc dù cuốn sách dành cho thiếu nhi, nhưng nó lại mang một ý nghĩa sâu sắc đối với người lớn. Người ta có lẽ giật mình nhìn lại sự sống và cái chết của con người; của chính bản thân mỗi người. Họ đã thấy được rằng sự sống không thể không có cái chết. Đó là cuốn sách “Nhà Tuck bất tử”

Câu chuyện “Nhà Tuck bất tử”

“Nhà Tuck bất tử” của Natalie Babbitt giống như một câu chuyện cổ tích. Câu chuyện nói về gia đình nhà Tuck, bao gồm có bố, mẹ và hai cậu con trai. Cuộc sống gia đình của họ đang yên ổn và mọi sự đều diễn ra bình thường như bao gia đình khác ở nơi họ sinh sống. Cho đến một ngày, khi tất cả các thành viên trong gia đình họ cùng nhau uống nước ở một con suối nhỏ trong khu rừng. Sau khi uống thứ nước kỳ diệu ấy thì cả gia đình họ đã trở nên bất tử. Kể từ đó không một ai trong gia đình nhà Tuck bị già đi. Không có bất kỳ một thứ gì trên đời có thể làm hại đến họ.

“Nhà Tuck bất tử” của Natalie Babbitt

Nhưng cũng chính vì điều đó mà khiến những người xung quanh trở nên xa lánh họ. Người ta còn cho rằng gia đình nhà Tuck là phù thủy. Từ đó, ông bà Tuck và hai cậu con trai phải lang bạt với một cuộc sống nay đây mai đó. Họ không thể ở một nơi nào đó nhiều hơn 20 năm; cũng không có bạn bè và họ hàng thân thích. Họ cứ đến rồi đi và không một ai nhớ đến họ. Thứ họ có duy nhất trên đời, đó là thời gian.

Ông Tuck đã thấy được cái chết là một phần của sự sống

Cuộc sống trường sinh bất lão là ao ước của bao người, bây giờ lại trở thành nỗi bất hạnh không dứt của họ. Thậm chí ông Tuck đã từng tuyệt vọng đến mức tự tay cầm súng bắn vào đầu mình. Nhưng ông vẫn không thể chết. Ông đã không còn cơ hội “được” chết.

Một rắc rối lớn nữa lại xảy đến với gia đình họ. Đó là vào một ngày, cô bé Winnie Foster đã tình cờ phát hiện ra bí mật của gia đình họ. Vì một lý do khiến họ buộc phải tạm thời bắt cóc cô bé với mục đích kể cho cô bé biết mọi chuyện. Bởi hơn ai hết, họ hiểu sự nghiêm trọng của điều mà họ đang phải chịu đựng. Do vậy họ muốn cô bé không thể tiết lộ bí mật này. Nếu con người biết và lại theo bước chân họ thì có thể tất cả loài người sẽ phát điên; có thể thế giới này sẽ bị đảo lộn và nhân loại sẽ tự đẩy mình vào một bất hạnh triền miên.

Lúc này cô bé Winnie Foster đang đặt mình trước lựa chọn rằng có nên giữ bí mật về dòng suối đó? Có nên cũng uống nước ở đó, để lớn lên cô sẽ cưới Jesse Tuck bất tử làm chồng và sẽ cùng nhau tham gia chuyến du hành bất tận xuyên thời gian?

Câu chuyện “Nhà Tuck bất tử” cũng đã được dựng thành phim và mang lại giá trị sống rất cao cho những ai xem phim này (ảnh: digit.in).

Lời khuyên tốt của người “đang sống trong cái chết”

Ông Tuck nói với cô bé: “Con hãy nghe ta, chết đi chính là một vòng xoay theo quy luật tự nhiên; nó là sự tái sinh để rồi sẽ tạo cho con người sự lựa chọn trong hạnh phúc theo ước nguyện tốt đẹp của họ. Được sống trong vòng xoay đó là hạnh phúc của con người. Con thấy đó, cuộc sống của gia đình bác đây đang là một điều nặng nhọc; là nỗi bất hạnh khôn nguôi. Cuộc sống của gia đình bác đã trở thành vô ích, không hề có ý nghĩa. Con không thể sống mà không chết; đó không thể gọi là sống. Gia đình bác chỉ là tồn tại, như những hòn đá bên vệ đường”.

Cuối cùng cô bé Winnie đã lựa chọn ở lại trong vòng xoay của tạo hóa. Cô đã quyết định không uống thứ nước trường sinh đó. Cô cũng đã từ chối lời thỉnh cầu lãng mạn của chàng trai Jesses Tuck, là sẽ sống mãi với tuổi 17, sẽ cùng nắm thay nhau đi khắp thế gian, để tận hưởng cuộc đời dài rộng này.

Nhờ có cái chết mà con người biết trân quý sự sống hơn

Bằng một câu chuyện ý nghĩa và mang màu sắc cổ tích, Natalie Babbitt đã mang tới người đọc một thông điệp đầy giá trị về tâm linh cũng như giá trị làm người của con người. Nội dung câu chuyện khiến người ta không còn sợ cái chết. Bởi nếu sự sống không có cái chết sẽ trở nên vô nghĩa với chính bản thân nó. Cái chết chính là một phần của sự sống; là một phần tất yếu của vòng tuần hoàn bất tận của con người. Sự thực là nhờ có cái chết, mà con người ta mới học được cách sống có ý nghĩa hơn và biết trân quý cuộc sống này hơn.

(ảnh minh hoạ: wallpapercave.com).

Khi cái chết là một phần của sự sống thì sẽ khiến cho cuộc sống của con người có ý nghĩa hơn, khiến người ta xích lại gần nhau hơn.

Theo: Afamily

Sunday, March 1, 2026

GIỮA SỐNG VÀ CHẾT

Ngày xửa ngày xưa, ở Ấn Độ cổ có một người đàn ông vì chán ghét cõi đời hiểm ác nên đã tìm đến cửa Phật, quy y Phật giáo.


Tuy rằng thân đã xuất gia, nhập không môn, nhưng trong tâm ông vẫn quyến luyến ngoại giới, bị ái dục ràng buộc, thường dùng dầu thơm sát lên thân thể, dùng nước nóng để tắm. Ông thích có làn da thơm tho, lựa chọn đồ ăn, tâm bị chôn vùi bởi vật chất, như bị dây mơ trói thân thể vậy, không lúc nào tự tại. Mặc dù trên hình thức đã xuất gia, thụ giới, nhưng về hành vi và cảnh giới thì vẫn là phàm phu tục tử, cách thánh đạo Niết Bàn còn xa lắm.

Khi ấy, tại nước Ma La có một tôn giả tên là Upagupta, là một nhà sư đạo hạnh có tiếng. Vị tỳ kheo mới xuất gia này rất hâm mộ danh tiếng của Upagupta nên đã tới diện kiến.

Khi đó tôn giả Upagupta hỏi ông: “Ông không quản đường xá xa xôi tới đây làm chi?”

Tỳ keo nói: “Tôi mộ danh ngài mà tới. Mong được nghe tôn giả từ bi khải thị yếu chỉ Phật Pháp”.


Tôn giả Upagupta quan sát căn cơ của ông này, biết vẫn còn bị ái dục trói buộc, không thể giải thoát, bèn hỏi vị tỳ keo này: “Ông có thể hoàn toàn nghe theo lời giảng của ta, chấp nhận giáo huấn của ta, chiếu theo ý chỉ của ta mà làm hay không?”

Tỳ keo trả lời: “Tôi nhất định có thể, hết thảy đều chiểu theo lời dặn dò mà làm”.
Vị tôn giả nói: “Nếu ông có thể sinh tín tâm, trước tiên ta sẽ dạy ông thần thông, sau đó thuyết Pháp cho ông”.

Tỳ keo sung sướng reo lên: “Học thần thông trước, tuyệt quá!”

Vậy là tôn sư dẫn ông lên núi, dạy ông học tập thiền định, lại dặn dò ông phải tuyệt đối phục tùng. Tôn giả vận dụng lực thần thông, hóa ra một cây đại thụ, nói: “Ông cần phải trèo lên cái cây này”.

Vị tỳ kheo kia liền nghe lời tôn giả trèo lên cây đại thụ, nhưng nhìn xuống dưới thấy một cái hố lớn, sâu không lường được, lúc này tôn giả bèn nói: “Giờ thả hai chân của ông ra”. Vị tỳ kheo chỉ còn cách nghe lời buông hai chân ra, lúc này tôn giả lại lệnh ông bỏ hai tay ra. Vị tỳ kheo chỉ dám bỏ một tay ra, nhưng tôn giả bảo phải bỏ nốt tay kia ra, tỳ kheo cực kỳ sợ hãi, nói: “Nếu lại bỏ tay ra, sẽ rơi xuống hố mà chết”.


“Ông đã có lời ước hẹn với ta, hết thảy tuân theo dạy bảo của ta, giờ lại hối hận rồi sao?” Vị tỳ kheo không còn cách nào, đành buông tâm không nghĩ gì nữa, bỏ nốt tay kia ra, liền rơi vào cái hố sâu, vừa sâu hoắm vừa đen ngòm. Lúc này ông hồn xiêu phách lạc, toàn thân lạnh ngắt, mở mắt ra nhìn thì thấy cái cây và chiếc hố đã biến đâu mất. Sau đó, tôn giả bắt đầu thuyết Pháp cho ông.

“Giờ ta hỏi ông, khi ông buông nốt tay ra để rơi xuống, ông còn thấy thế gian có gì đáng để thích nữa không?”

“Tôn giả, đã tới bước ngoặt sinh tử, hết thảy đều không còn gì đáng thích nữa”.

“Là như thế. Hết thảy mọi thứ thế gian, đều là hư ảo hết. Khi sắc thân ảo diệt, ái dục cũng theo đó mà ảo diệt. Nếu ông có thể nhìn thấu sắc thân vô thường, thoát khỏi ái chấp trói buộc, thì sẽ giải thoát khỏi nó. Ưa thích là căn nguyên của phiền não sinh tử, hãy cẩn thận với nó, tinh tấn tu hành, chớ mất bản tâm, sẽ thành chính Đạo”.


Vị tỳ kheo lúc này đột nhiên tỉnh ngộ, từ đó tĩnh tâm suy ngẫm, chuyên cần tinh tấn, chứng đắc quả vị La Hán.

Thế gian con người thật thật giả giả, hư hư thực thực, do con mắt thịt chúng ta nhìn không chính xác, mới lấy ảo làm thật, tham hưởng khoái lạc nhất thời, chỉ vì sai biệt một niệm, kết quả rớt vào vực thẳm không đáy.

Theo: Chánh Kiến