Thursday, April 30, 2026

LÀM GIÀU


Cổ học tinh hoa:
LÀM GIÀU
 
Đời nhà Chu, có người họ Doãn chỉ chăm làm giàu. Tôi tớ trong nhà khó nhọc, vất vả, thức khuya dậy sớm. Có một tên đầy tớ tuổi già, sức yếu, nhưng phải làm nhiều, ban ngày tối mắt không kịp thở, ban đêm mệt lử ngủ say, tinh thần tán loạn. Nhưng đêm nào, cũng mơ màng được làm vua một nước, đứng đầu cả muôn dân, cầm quyền chủ mọi việc, ở gác tía, lầu son, ăn của ngon vật lạ, muốn gì được nấy, vui vẻ sung sướng thực không ai bằng. Sáng bừng mắt dậy, thì vẫn hoàn là tên đầy tớ già, làm không kịp thở...

Có người thấy lão ta vất vả khó nhọc, lấy lời an ủi.
 
Lão ta nói rằng: “Đời người trăm năm, có ngày, có đêm. Ban ngày, ta chỉ là một tên đầy tớ kể ra khổ thực, nhưng ban đêm, ta đã làm vua cả một nước, vui sướng không ai bằng, thì còn oán hận gì nữa?”.
 
Họ Doãn gây dựng cơ nghiệp, lo lắng làm giàu, nát gan tan ruột, cứ đêm mệt ngủ đi, thì nằm mơ lại thấy đi làm đầy tớ người ta, việc gì cũng phải làm, lại gặp nhà chủ cay nghiệt quở mắng đánh đập khổ cực muôn phần, nên lúc ngủ trằn trọc thổn thức, sáng dậy mới thôi.


Họ Doãn lấy làm lo, nói chuyện với bạn.

Bạn bảo: “Được cái địa vị như bác giàu có hơn người, ban ngày sung sướng vẻ vang biết là bao, đêm đến có nằm mơ đi làm đầy tớ người ta, thì cũng là sướng khổ đắp đổi. Nếu lúc thức, lúc ngủ cũng muốn vui sướng cả, thì làm thế nào được?”

Doãn thị nghe bạn nói, từ hôm đó nới tay cho người ăn kẻ ở và mình cũng bớt lo nghĩ, nên mỗi ngày bệnh một bớt dần.
Liệt Tử


Lời bàn:

Bài này bày ra hai cảnh ngày, đêm của hai người nghèo khác nhau. Tác giả có ý nói người ta được cái này, thường hỏng cái kia. Hễ ai được thế nào, hay thế, mà trí túc thì tự có cái sướng ở đó rồi. Ở đời, giàu nghèo chẳng qua chỉ có lúc thức là phân biệt nhau, chớ đến lúc ngủ, đợi cái giấc ngủ trăm năm – hai con mắt đã nhắm lại, hồn vía đã đi đâu, thì ai cũng như ai. Tuy vậy, cũng không nên viện lẽ ấy mà cam chịu nghèo khổ. Cần kiệm làm ăn để gây dựng cơ nghiệp, để làm giàu, thật là chính đáng. Nhưng, nếu bòn công bòn của người để làm giàu thế là bóc lột, làm giàu vô nhân đạo. Vô nhân đạo thì không những không được hưởng giàu, mà còn khổ hại về giàu nữa.
(Sưu tầm trên mạng)

LỄ HỘI BAISAKHI Ở ẤN ĐỘ CÓ GÌ ĐẶC BIỆT?

Ấn Độ là đất nước có nền văn hóa đa dạng. Người ta nói rằng có hơn một nghìn lễ hội ở Ấn Độ trong suốt cả năm, mỗi lễ hội lại mang một ý nghĩa riêng biệt. Lễ hội Baisakhi chính là một trong số nhất tại đây.

Lễ hội Baisakhi được tổ chức vào tháng 4 hàng năm (Ảnh: sưu tầm)

1. Giới thiệu về lễ hội Baisakhi

Baisakhi là một lễ hội đánh dấu năm mới của người Sikh và ngày bắt đầu mùa thu hoạch ở Ấn Độ. Lễ hội Baisakhi rơi vào ngày đầu tiên của tháng Vaisakhi (tháng 4-tháng 5), theo Lịch Sikh. Vì lý do này, Baisakhi còn được gọi là Vaisakhi. Theo lịch tiếng Anh, ngày Baisakhi tương ứng với ngày 13 tháng 4 hàng năm và ngày 14 tháng 4 cứ sau 36 năm một lần. Sự thay đổi này là do lễ hội được tổ chức theo lịch mặt trời của Ấn Độ. Lễ hội Baisakhi năm 2026 vào ngày 14 tháng 4.

2. Lễ hội Baisakhi được tổ chức ở đâu?

Lễ hội này được tổ chức ở các bang khác nhau ở Ấn Độ như: Punjab, Jammu, Himachal Pradesh, Uttar Pradesh, Haryana, … Bên ngoài , Baisakhi cũng được tổ chức bởi những người theo đạo Hindu ở Pakistan, Nepal và những người theo đạo Sikh ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Malaysia.

Người dân Punjab hưởng ứng lễ hội (Ảnh: sưu tầm)

3. Ý nghĩa của lễ hội Baisakhi

Tất cả người dân theo đạo Sikh và người theo đạo Hindu đều coi Baisakhi là một lễ hội quan trọng.

Người theo đạo Hindu tin rằng vào ngày Baisakhi, Nữ thần sông Gâng từ trên trời giáng trần. Nếu ngâm mình trong dòng sông linh thiêng vào ngày này sẽ được coi là rất tốt lành.

Đối với người theo đạo Sikn, vào ngày này (năm 1699), Guru thứ mười - Gobind Singh Ji, đã đặt nền móng cho Khalsa Panth, đó là lý do tại sao Baisakhi hay Vaisakhi được người Sikh tôn kính vô cùng. Nó còn được gọi là lễ mừng năm mới của người Sikh.

Lễ hội Baisakhi diễn ra với lòng tôn kính của người dân theo đạo Sikh (Ảnh: sưu tầm)

Năm 1699, Guru Gobind Singh Ji, Guru thứ mười của đạo Sikh lúc bấy giờ, đã tổ chức lễ kỷ niệm Baisakhi dẫn đến sự hình thành của Khalsa (tinh khiết, trong sáng, không bị ràng buộc). Guru Gobind Singh Ji, được biết đến rộng rãi với tên gọi “Sư phụ sống cuối cùng của đạo Sikh”. Cùng với việc thành lập Khalsa, một đội quân đã được tổ chức để chiến đấu chống lại những sai lầm của xã hội cũng như các Hoàng đế Mughal và quân đội của họ.

Ngày nay, Baisakhi được tổ chức bởi mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội, không chỉ người Sikh và người Punjabi. Nó được gọi là “Khalsa Sirjana Diwas,” hay “sự ra đời của khalsa.” Người Punjab và người Sikh ăn mừng Baisakhi theo những cách khác nhau, và nhiều người trong số họ làm như vậy theo cách riêng của họ. Đây không giống như các lễ hội thu hoạch ở các làng. Baisakhi không chỉ là một lễ kỷ niệm cho người dân ở các vùng nông thôn nữa. Đó cũng là một lễ kỷ niệm cho người dân ở các thành phố và thị trấn.

Đông đảo người dân ở các thành phố và thị trấn tham gia lễ hội (Ảnh: sưu tầm)

4. Các hoạt động nổi bật trong lễ hội Baisakhi

4.1. Lễ kỷ niệm Baisakhi ở Punjab

Người Sikh ăn mừng Baisakhi bằng cách tắm trong dòng sông thánh và viếng thăm các Gurudwaras – các ngôi đền nơi họ tham gia các buổi cầu nguyện được tổ chức trong ngày. Baisakhi khiến mọi người hòa vào không khí lễ hội và mọi người thích nhảy hết mình.

Người dân viếng thăm các Gurudwaras (Ảnh: sưu tầm)

Các lễ kỷ niệm đặc biệt diễn ra tại Talwandi Sabo - nơi Guru Gobind Singh đã biên soạn lại Granth Sahib thiêng liêng, Gurudwara tại Anandpur Sahib - nơi Khalsa được sinh ra và Đền Vàng ở Amritsar. Những người nông dân cảm ơn Chúa vì một vụ mùa bội thu và cầu nguyện cho sự thịnh vượng trong năm tới. Cụm từ “Jatta Aayi Baisakhi” được những người nông dân hân hoan tuyên bố trên khắp các cánh đồng khi họ say sưa nhảy múa ăn mừng, một cách thú vị để chào đón lễ hội.

4.2. Đám rước Baisakhi

Sau những lời cầu nguyện sẽ là bữa trưa guru-ka-langur hoặc bữa trưa cộng đồng đặc biệt tại Gurudwaras, sau đó lễ rước Nagar Kirtan được thực hiện qua các đường phố, nơi mọi người hát các bài hát sùng kính để tôn vinh lễ kỷ niệm thiêng liêng này

Lễ rước Baisakhi, còn được gọi là Nagar Kirtan, là một phần quan trọng của lễ kỷ niệm ở Punjab. Cuốn kinh thánh thiêng liêng nhất Granth Sahib được các Panj Piaras mặc trang phục truyền thống, còn được gọi là năm người theo đạo Sikh cấp cao, và là một phần quan trọng trong truyền thống của người Khal. Các đám rước Baisakhi di chuyển qua các đường phố và ngõ hẻm của thành phố, kèm theo âm nhạc, ca hát và tụng kinh và thánh ca. Một số lượng lớn tín đồ tham gia vào đám rước Baisakhi.

Lễ rước Baisakhi với sự tham gia đông đảo của người dân (Ảnh: sưu tầm)

Trong lễ rước Baisakhi, trẻ em và thanh niên thể hiện kỹ năng võ thuật của mình cùng với những người đánh trống và ban nhạc xung quanh, và những người đàn ông vung kiếm làm cho sự kiện thêm nhiều màu sắc. Nhìn chung, có thể nói rằng mỗi năm, lễ hội Baisakhi đánh dấu một chương mới trong cuộc đời của người dân.

4.3. Biểu diễn các điệu nhảy

Các điệu nhảy truyền thống của Bhangra và Gidda được biểu diễn trong Baisakhi theo nhịp trống trên những cánh đồng rộng mở tạo nên một bầu không khí say mê và vui vẻ. Ở một số nơi, hội chợ được tổ chức để mọi người mang lại niềm vui và biểu diễn nhào lộn. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em tô điểm cho mình trong những bộ quần áo sặc sỡ và đồ trang sức trong khi họ hào hứng tham gia các lễ hội.

Những điệu nhảy truyền thống được thể hiện (Ảnh: sưu tầm)

5. Trang phục truyền thống trong lễ hội Baisakhi

Như một lễ kỷ niệm mùa xuân mới, Vaisakhi là dịp mà đàn ông, phụ nữ và trẻ em kỷ niệm dịp vui này bằng cách mua trang phục mới, chọn bộ trang phục sống động và năng động nhất để phản ánh bầu không khí hạnh phúc lan tỏa khắp đám đông. Nếu có cơ hội vào đúng mùa lễ hội, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng những bộ trang phục đẹp mắt này.

Những bộ trang phục rực rỡ sắc màu (Ảnh: sưu tầm)

Trang phục truyền thống cho nam giới bao gồm khăn xếp có trang trí giống như chiếc quạt được mặc cùng với kurta, áo ghi lê, rumaal hoặc khăn quàng cổ và lungi buộc quanh eo, trong khi phụ nữ mặc trang phục truyền thống của Salwar Kameez với phong cách lễ hội và trang trọng nhất. trang sức phô trương. Sự rực rỡ nhiều màu của trang phục này phản ánh bản chất vui tươi và sôi nổi của lối sống của người Punjabi.
 
6. Ẩm thực tại lễ hội Baisakhi

Nhiều gian hàng thực phẩm được dựng nên tại các hội chợ Baisakhi để giữ cho đám đông sảng khoái và tràn đầy năng lượng khi họ tiệc tùng thâu đêm. Các món ăn tinh túy của Punjabi như Chhole Bature, thịt cừu Achari, Gà saagwala, Sarson ka saag, kadhi chawal, trái cây khô kheer và lassi nổi tiếng, . Những thú vui ẩm thực này là đại diện cho tình yêu lớn dành cho ẩm thực và hương vị của người dân Punjab.

Món Kadhi Chawal quen thuộc (Ảnh: sưu tầm)

Trái cây khô kheer (Ảnh: sưu tầm)

Sarson ka saag (Ảnh: sưu tầm)

Trên đây là thông tin chi tiết về lễ hội Baisakhi tại Ấn Độ mà PYS Travel muốn chia sẻ đến bạn, mong rằng sẽ là nhữn thông tin hữu ích giúp chuyến đi của bạn trở nên trọn vẹn hơn. Đừng quên rằng PYS Travel luôn sẵn có những tour Ấn Độ với giá cả ưu đãi dành cho bạn:

Theo: PYS Travel



OÁN - PHÙNG TIỂU THANH


Oán - Phùng Tiểu Thanh

Tân trang cánh dữ hoạ đồ tranh,
Tri thị Chiêu Dương đệ kỷ danh?
Sấu ảnh tự lâm xuân thuỷ chiếu,
Khanh tu liên ngã, ngã liên khanh.


怨 - 馮小青

新妝竟與畫圖爭
知是昭陽第幾名
瘦影自臨春水照
卿須憐我我憐卿


Oán
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Điểm trang cho đẹp tựa tranh. 
Chiêu Dương cung điện, xứng danh gọi mời. 
Thân gầy bóng nước lả lơi. 
Thân ta tự luyến, ai thời thương ta !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Phùng Tiểu Thanh 馮小青 (1594-1612) tên hồi nhỏ là Huyền Huyền 玄玄, quê ở Quảng Lăng, Giang Tô. Nàng bẩm sinh thông minh khác thường, lại nhan sắc hơn người. Năm 16 tuổi, nàng về làm thiếp một thư sinh họ Phùng ở Hổ Lâm, vì cùng họ với chồng nên tránh nhắc tới họ, chỉ gọi tên chữ là Tiểu Thanh. Phùng sinh là một công tử hào phóng, ba hoa, ngây ngô, xốc nổi, kém phong độ, vợ cả lại là người hay ghen hiếm thấy, khiến nàng có số phận bi thảm và qua đời năm 18 tuổi. Những bài thơ còn sót lại của nàng sau khi bà mất được người sưu tầm lại đóng thành sách, đặt tên là Phần dư. Câu chuyện về nàng khiến Nguyễn Du cảm xúc trong bài Độc Tiểu Thanh ký.

Nguồn: Thi Viện



THẰNG CHÓ ĐẺ CỦA MÁ

Má ơi! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo. Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.


Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói: “Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên!” Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn: “Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực…” Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt…Cuộc đời của má – theo lời tía kể – cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba… Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới “trụ hình” – vẫn theo lời tía kể – với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài… Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn – má nói: “Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa”! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về…

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói: “Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn”.

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường: “Thưa bà cố, có khách”. Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm: “Đứa nào đó vậy?” Con nghẹn ngào: “Dạ, con…” Chỉ có hai tiếng “Dạ, con” mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm! Má nói: “Mồ tổ cha mầy! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa? Mà dìa sao không cho tao hay?” Con ngồi xuống cạnh má: “Sợ cho hay rồi má trông.” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại: “Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ!” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con… Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai…


Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó… vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên: “Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai!”

Đêm đó, má “đuổi” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi: “Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả?” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói: “Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết!” Con nói chen vô: “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai”? Má lại cười khịt: “Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma?” Ngừng lại một chút rồi má mới nói: “Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng!”

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi: “Thằng chó đẻ… ngủ chưa?” Con trả lời: “Dạ chưa.” Má tằng hắng: “Tao tụng kinh một chút nghen”. Con “Dạ” mà nghe tiếng “Dạ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “Thằng chó đẻ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi: “Thằng chó đẻ, lại hun cái coi!” Hồi đó, mỗi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “thằng chó đẻ”! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “thằng chó đẻ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “thằng chó đẻ”, gọi tự nhiên như hồi con còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “thằng nhỏ”, “thằng chó đẻ cưng”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya…

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói: “Ông ơi! Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suôn sẻ trong công việc làm ăn… ” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc!

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc: một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê Thị Ráng. Con hỏi: “Cái gì vậy, má?” Má nói: “Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây,” Con cười: “Vậy là họ hạ cấp má rồi.” Má hỏi: “Sao mầy nói vậy?” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền”. Con đùa: “Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi!” Má khoát tay: “Ối… từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ!” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng” con thắc mắc: “Ụa! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà!” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói: “Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “Ráng”!


Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói: “Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói: “Ồ phải! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu? Mầy lạy tao coi!” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má.” Rồi con lạy hai lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

* * *

Má ơi! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. “Thằng chó đẻ” của má vẫn còn “trôi sông lạc chợ”, để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt!

Má thương con, xin má tha thứ cho con… tha thứ cho con…

Tiểu Tử

CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM: QUỐC GIA 15 THÁNG

Cách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.


13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng “quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.

Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NLF trong các văn bản quốc tế.

Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).

Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.

Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.

Những chiếc xe tăng tiến vào Sài Gòn và chiếm dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mang cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt trận. Ảnh: Francoise De Mulder—Roger Viollet/Getty Images.

Cánh tay nối dài của miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.

Mặt trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.

Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.

Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.

Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày 6-8/6/1969 tại Tây Ninh. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.

Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế

Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.

Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.

Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”

Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.

Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.

Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng

Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.

Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.

Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.

Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.

Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.

Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com



Wednesday, April 29, 2026

NGHÈO KHÓ THÌ TU THÂN, GIÀU CÓ THÌ GIÚP ĐỜI

Câu nói “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tế thiên hạ” (窮則獨善其身, 達則兼濟天下) xuất phát từ thiên Tận Tâm Thượng trong sách Mạnh Tử. Trải qua hàng nghìn năm, nó vẫn được xem là một chuẩn mực xử thế của người trí thức, đồng thời là điểm tựa tinh thần của biết bao bậc chí sĩ.

Nghèo khó thì tu thân, giàu có thì giúp đời

Chỉ vỏn vẹn mười chữ, nhưng đã hàm chứa toàn bộ trí huệ về sự tiến thoái trong đời người. Nó không chỉ chỉ ra ranh giới giữa cái “tôi” và thế giới, mà còn dạy ta trong từng hoàn cảnh khác nhau nên an định tâm mình ra sao, đối đãi với bản thân và với người khác như thế nào.

Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Chữ “cùng” ở đây không đơn thuần là thiếu thốn vật chất, mà chủ yếu chỉ trạng thái khốn đốn, không được toại chí – khi lý tưởng chưa thành, khi cuộc đời rơi vào điểm thấp nhất.

Khi cánh cửa cơ hội khép lại, khi năng lực chưa đủ nâng đỡ khát vọng, khi hoàn cảnh trở nên khắc nghiệt đến mức bất lực, Mạnh Tử không khuyên oán trách hay buông xuôi. Ông chỉ ra một lựa chọn đầy phẩm giá: độc thiện kỳ thân – tự tu dưỡng chính mình.

Giữ vững nguyên tắc, là cách chống lại sự phi lý

Ở trong nghịch cảnh, con người rất dễ nảy sinh oán hận, thậm chí vì thoát khốn mà đánh mất nguyên tắc. Nhưng chính lúc không ai nhìn thấy, lại càng cần giữ gìn đạo đức. Như hoa sen mọc giữa bùn, không thể đổi môi trường thì ít nhất cũng phải giữ mình không bị vấy bẩn.

Hướng nội tu dưỡng, là sự tích lũy cho tương lai

“Độc thiện kỳ thân” không phải là trốn tránh cuộc đời, mà là một dạng “lui để tiến”.

Khuất Nguyên trong cảnh lưu đày đã viết nên Ly Tao; Tư Mã Thiên sau biến cố vẫn hoàn thành Sử Ký.

Hình ảnh minh hoạ: Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Trong thời khắc khó khăn nhất, họ không sa ngã mà quay vào bên trong, mài giũa tâm trí và tài năng. Chính sự tu dưỡng âm thầm ấy giúp họ đủ sức nắm lấy cơ hội khi thời vận đổi thay.

Hai, “Đạt”: Không chỉ là giàu sang, mà là khi đã được toại chí

“Đạt” là khi con người ở vào giai đoạn thuận lợi có địa vị, có ảnh hưởng, có tiếng nói.

Không ít người khi còn khó khăn thì khiêm nhường, nhưng khi thành công lại dễ trở nên kiêu ngạo, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân. Mạnh Tử nhắc nhở: đạt tắc kiêm tế thiên hạ khi thành đạt, phải biết giúp đời.

Năng lực càng lớn, trách nhiệm càng lớn

Khi đã đứng ở vị trí cao, có trong tay tài nguyên và ảnh hưởng, tầm nhìn không nên chỉ bó hẹp trong lợi ích cá nhân. Tư tưởng Nho gia đề cao “nhân giả ái nhân” lòng nhân phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, đặc biệt là khi ta có điều kiện giúp người khác.

Tầm vóc quyết định độ dài của con đường

Phạm Trọng Yêm từng nói: “Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”; Lâm Tắc Từ lại khẳng định: “Nếu lợi cho quốc gia, dù chết cũng cam lòng”.

Họ là những hình mẫu của tinh thần “kiêm tế thiên hạ”. Một đời người nếu chỉ dừng lại ở vinh hoa cá nhân thì vẫn còn hạn hẹp. Chỉ khi gắn vận mệnh của mình với lợi ích chung, cuộc đời mới thực sự rộng lớn.

Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Trong một thời đại nhiều áp lực và bất an, lời dạy của Mạnh Tử càng trở nên giá trị như một phương thuốc tinh thần. Nó chữa lành cảm giác bất lực.

Khi đối diện bất công hay áp lực mà chưa thể thay đổi, ta không cần ép mình phải “cứu đời” ngay lập tức. Hãy bắt đầu từ việc tu thân: đọc một cuốn sách, rèn luyện sức khỏe, chăm sóc người thân. Giữ được trật tự nội tâm giữa hỗn loạn bên ngoài, đó đã là một thắng lợi.

Hình ảnh minh hoạ: Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Nó cũng hóa giải nỗi lo khi thành công. Khi mọi thứ thuận lợi, lời dạy ấy giúp ta giữ tỉnh táo: đừng trở thành người chỉ biết hưởng thụ. Biết cho đi, biết hồi đáp xã hội đó không chỉ là đạo đức, mà còn là cách để phúc khí bền lâu.

Cuộc đời vốn là một đường cong lên xuống. Khi ở đáy vực, hãy rèn cho mình một nội tâm vững vàng, không xu nịnh, không thỏa hiệp đó là khí cốt của “cùng tắc độc thiện kỳ thân”.

Khi đứng trên đỉnh cao, hãy dang tay giúp đỡ và nâng đỡ người khác đó là tấm lòng của “đạt tắc kiêm tế thiên hạ”.

Mong rằng mỗi chúng ta đều có thể giữ được sự ung dung ấy: Gặp nghịch cảnh không hèn mọn cũng không oán trách, Gặp thuận cảnh không kiêu ngạo cũng không cuồng vọng.

Dù là “cùng” hay “đạt”, vẫn sống trọn vẹn với khí độ của chính mình.

Tiểu Hoa biên dịch
Theo: aboluowang

LỚP TANG THƯƠNG - J. LEIBA


LỚP TANG THƯƠNG
thơ: J. Leiba

Ngày ấy cùng say trong quán rượu
Sầu tư đã cạn rượu hồ vơi,
Hai chàng trai trẻ ca rồi hát,
Bắt chước người xưa đề vách chơi:

"Nhớ Hạnh Hoa thôn quán rượu này.
Nhớ ngày nhớ tháng hẹn rồi đây,
Mười năm sau sẽ cùng chung lại
Xem cuộc đời qua mấy đổi thay."

"Ngày ấy hẳn đầu chưa điểm bạc
Biết bao dòng nước chảy qua cầu!
Lối xưa tửu quán còn không nhỉ?
Bể rộng mong đừng hoá ruộng dâu!"

Chưa tới mười năm quán Hạnh Hoa,
Xuyên ngang tửu quán ánh dương tà,
Một người xuống ngựa mười năm trước
Một chén men tràn suối lệ sa.

J. LEIBA


Sơ lược tiểu sừ tác giả:

J. Leiba (1912-1941) tên tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái nói lái. Ông tên thật là Lê Văn Bái, khởi đầu ký bút hiệu Thanh Tùng Tử, sau mới đổi J. Leiba, sinh tại Yên Bái, nhưng chính quán là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ ông theo học Trường Bưởi (tức trường Trung học Bảo hộ), đến năm thứ ba, ông bỏ dở việc học đi theo một nhóm giang hồ ngót một năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi lại lên Hà Nội viết báo và làm thơ.
 
Bước chân vào làng thơ từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, viết cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, báo Tiểu thuyết thứ Bảy ra đời, ông cộng tác với Vũ Đình Long (chủ báo), rồi được cử giữ chức chủ bút tờ Ích hữu. Ngoài ra, ông còn viết các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt báo, Nam Cường, L'Annam nouveau... Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều, chính là nhờ những bài thơ đăng trên tuần báo Loa.
 
Năm 1935, ông thi đỗ bằng thành chung, được bổ vào ngạch thư ký toà sứ Bắc Kỳ, nhận việc ở toà sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông đã sống khá trác táng. Đến khi đổi lên toà sứ Hà Giang thì J.Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh nên xin về nghỉ ở quê nhà. Tại đây, thỉnh thoảng ông mới gửi một vài bài thơ cho báo Tiểu thuyết thứ bảy và Tri tân.
 
Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần giữa tuổi 29 (1941).
 
J. Leiba có viết một số truyện ngắn, nhưng không thành công bằng thơ. Thơ ông, tuy chỉ có hơn chục bài đăng báo, chưa in thành tập, nhưng đã được giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, và trong bộ sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan.

Nguồn: Thi Viện