Monday, June 29, 2026

THẬP NHẤT NGUYỆT TỨ NHẬT PHONG VŨ ĐẠI TÁC - LỤC DU


Thập nhất nguyệt tứ nhật
phong vũ đại tác

Cương ngoạ cô thôn bất tự ai,
Thượng tư vị quốc thú Luân Đài.
Dạ lan ngoạ thính phong xuy vũ,
Thiết mã băng hà nhập mộng lai.

Bài này còn có tên là Cảm hoài thi 懷感詩 (Thơ hoài cảm), được viết vào tháng 11 năm Thiệu Hy thứ 3 (1192) tại Sơn Âm, quê hương của ông. Bấy giờ ông đã 68 tuổi, về làng ẩn cư, cuộc sống khó khăn lại hay ốm, nhưng tấm lòng lo nước thương dân không thay đổi. Ông nằm nơi thôn trang cô tịch, không hề than oán cảnh ngộ buồn thảm của chính mình, chỉ hận không được vì nước đến trấn thủ Luân Đài. Những đêm mưa to gió lớn, ông thường mơ thấy mình chỉ huy đoàn thiết kỵ vượt dòng sông đóng băng, triển khai chiến đấu với địch quốc phương bắc.


十一月四日
風雨大作

僵臥孤村不自哀
尚思為國戍輪臺
夜闌臥聽風吹雨
鐵馬冰河入夢來


Làm ngày mưa gió
mùng bốn tháng mười một
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Thương mình xóm vắng nằm queo.
Biên cương lính thú gieo neo mặc lòng.
Đêm nghe mưa gió bên song.
Tưởng như ngựa sắt về trong mộng lành.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện



ĐỪNG VÌ MỘT NGƯỜI VÔ ƠN MÀ TỪ BỎ SỰ TỬ TẾ

Người xưa có một câu nói đầy suy ngẫm: “Đưa người qua sông, chân ta lấm bùn đất. Người lên tới bờ, ngoảnh lại chê vạt áo ta hôi.” Trong đời người, có lẽ nhiều người đã từng trải qua cảm giác ấy.

Đừng vì một người vô ơn mà từ bỏ sự tử tế

Khi người khác gặp khó khăn, ta sẵn lòng giúp đỡ. Khi họ rơi vào cảnh khốn cùng, ta dang tay nâng đỡ. Có lúc phải bỏ công sức, thời gian, tiền bạc, thậm chí chấp nhận phần thiệt về mình. Thế nhưng khi họ đã vượt qua sóng gió, đứng vững trên đôi chân của mình, điều nhận lại không phải lúc nào cũng là sự biết ơn.

Có người dần quên đi những ân tình năm cũ. Có người xem sự giúp đỡ ấy là điều hiển nhiên. Thậm chí có người còn quay lại phán xét chính người đã từng giúp mình trong lúc khó khăn nhất.

Bởi vậy, nhiều người cảm thán rằng lòng người dễ đổi thay.

Nhưng cổ nhân lại nhìn sự việc từ một góc độ khác.

Người xưa có câu: “Thi ân vật niệm, thụ ân vật vong.” Nghĩa là làm ơn chớ nhớ, chịu ơn chớ quên.

Người biết tu dưỡng thường hiểu rằng, nếu việc thiện nào cũng mong được ghi nhận, thì khi không nhận được sự hồi đáp như ý, trong lòng rất dễ sinh ra thất vọng. Mà khi thất vọng biến thành oán trách, việc thiện ban đầu cũng mất đi phần nào sự thuần hậu.

Người quân tử hành thiện trước hết là để giữ gìn lương tâm của mình, chứ không phải để đổi lấy lời cảm kích của người khác.

Người xưa có câu: “Thi ân vật niệm, thụ ân vật vong.” Nghĩa là làm ơn chớ nhớ, chịu ơn chớ quên. Ảnh internet.

Trong cuộc đời này, không phải ai cũng hiểu được sự hy sinh của người khác. Cũng không phải ai đủ tỉnh táo để nhớ mãi những ân tình mình từng nhận. Nếu đem lòng tốt của mình gửi gắm hoàn toàn vào sự biết ơn của người khác, chúng ta rất dễ tự làm mình tổn thương.

Nhân quả mà cổ nhân nói đến lại không vận hành theo cách đơn giản như vậy.

Người giúp người, phúc báo chưa chắc đến từ chính người được giúp. Có khi nó đến từ một cơ duyên khác. Có khi đến sau nhiều năm. Có khi âm thầm tích lại thành phúc phận cho con cháu đời sau.

Người xưa nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh.” Nhà tích lũy điều thiện, ắt sẽ lưu lại phúc lành.

Vì thế, điều quan trọng không phải là người kia có nhớ ơn hay không, mà là khi đứng trước một việc nên làm, ta có giữ được tấm lòng thiện lương của mình hay không.

Đưa người qua sông, chân mình có thể dính đầy bùn đất.

Nhưng chính những vết bùn ấy lại là minh chứng rằng ta đã từng bước xuống dòng nước lạnh để giúp một người khác tiếp tục hành trình của họ.

Nếu một ngày nào đó họ lên bờ rồi quay lại chê vạt áo ta hôi, điều ấy chỉ phản ánh phẩm hạnh của họ, chứ không thể làm giảm đi giá trị của việc thiện mà ta đã làm.

Hoa sen sinh từ bùn mà chẳng vì bùn đất làm mất đi hương thơm. Ảnh internet.

Hoa sen sinh từ bùn mà chẳng vì bùn đất làm mất đi hương thơm. Người hành thiện cũng vậy. Đừng vì vài lần bị phụ lòng mà khép lại sự tử tế của mình.

Bởi trên đời có những điều tốt đẹp không nhất thiết phải được người khác ghi nhớ. Chỉ cần lương tâm thanh thản, việc làm không thẹn với lòng, vậy đã là một phần phúc báo.

Còn những gì thuộc về nhân quả, thời gian rồi sẽ tự có câu trả lời.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

Sunday, June 28, 2026

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ CUỐI: MÂM CUA LỘT, TÔM CÀNG ĐỔI ĐỜI MIỆT THỨ

Năm xưa, nhạc sĩ Hà Phương viết bài Em về Miệt Thứ lời buồn da diết "Gió lao xao thổi vào mái lá/Như ru tình cô gái Tiền Giang/Yêu quê hương thương miền cố cựu/ Vấn vương tình đất tổ quê cha...".

Cửa biển ở An Biên, Miệt Thứ có đủ tài nguyên rừng và biển - Ảnh: QUỐC VIỆT

Chẳng biết cô gái Tiền Giang theo chồng về Miệt Thứ thủa nào. Nếu trăm năm trước thì cô phải ngồi ghe chèo tay mất hơn mười ngày ròng rã vượt các con sông lớn nhiều sóng gió Tiền Giang, Hậu Giang, Cái Lớn, nên mới thương nhớ ngày về thăm cha mẹ xa lắc xa lơ.

Nhưng nếu cô lên xe bông thời nay thì khác hẳn, chỉ 30 phút máy bay hoặc 4-5 giờ ngồi xe một mạch tới nhà...

Những cây cầu phá thế cách trở đò giang

Nhiều lần xuôi về Miệt Thứ, tôi hay hỏi thăm chuyện đời sống đổi thay của dải đất U Minh Thượng có cả tài nguyên rừng biển này.

Cán bộ địa phương lẫn người dân đều gật gù đồng tình "chính những con đường được sửa sang mở rộng và các cây cầu nối đôi bờ sông lớn đã giúp Miệt Thứ đổi thay rõ rệt".

Giai đoạn phát triển đầu tiên của Miệt Thứ suốt hai thập niên 1990 và 2000 với các cánh đồng được khẩn hoang để mần lúa hai vụ, rồi sau đó mô hình nuôi "con tôm ôm cây lúa" giúp người địa phương dần qua đời thắt ngặt suốt từ khi tổ tiên họ là lưu dân về đây lập xóm ấp.

Tuy nhiên chỉ đến khi hai cây cầu Cái Lớn, Cái Bé được nối nhịp năm 2014, dài hơn 1.200m với vốn đầu tư hơn 1.000 tỉ đồng, phá hẳn thế cách trở đò giang thì Miệt Thứ mới thật sự có điều kiện phát triển rõ rệt.

Rồi năm năm sau cầu Vàm Cống cũng nối liền đôi bờ sông Hậu, xe tải chở thủy hải sản Miệt Thứ đã phóng được một mạch 4-5 tiếng về đến TP.HCM...

Cầu Cái Lớn xóa thế qua sông lụy phà ở Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

"Tới nay tụi tui vẫn nhớ sự kiện khánh thành cầu Cái Lớn, Cái Bé ngày 7-2-2014, tức sau Tết Nguyên đán hơn một tháng mà bà con Miệt Thứ vẫn vui như được ăn Tết thêm lần nữa.

Lễ khánh thành vài tiếng mà bà con bận quần áo đẹp, sửa sang xe cộ đi chơi cầu suốt mấy ngày không ngớt. Cô bác lớn tuổi không tự đi được cũng gọi con cháu mần ăn xa về chở qua cầu chơi.

Nhiều đám cưới trai gái miệt này cũng dời ngày để xe bông rước dâu được chạy qua cầu" - anh Trang Minh Tú, nguyên trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang cũ (nay là các xã thuộc tỉnh An Giang) vui vẻ nhắc nhớ chuyện xưa.

Quê nhà anh Tú ở ngay An Biên, coi hai cây cầu Cái Lớn, Cái Bé sát bên như cánh cửa lớn ra vô nhà mình. Ngày xưa anh phải qua phà này mất cả tiếng, rồi lại thêm hai phà Mỹ Thuận, Vàm Cống có nhanh lắm cũng mất thêm hai tiếng nữa.

Sản vật Miệt Thứ bị cách sông lụy đò, làm sao mần ăn cạnh tranh nổi với người ta. Tía má, ông bà nội ngoại đều nhiều đời sanh ở vùng đất thấp này, anh Tú còn nhìn xa hơn khi thấy cầu Cái Lớn, Cái Bé thông tuyến hành lang ven biển kết nối với đường Xuyên Á làm đòn bẩy phát triển cả vùng Kiên Giang - Bạc Liêu - Cà Mau mà trong đó có phần Miệt Thứ quê hương anh...

Con tôm nuôi giúp người dân Miệt Thứ dần đổi đời - Ảnh: QUỐC VIỆT

Miệt Thứ đổi thay

Lịch sử lưu dân đi khẩn hoang lập xóm ấp từ xa xưa đến sau này, Miệt Thứ, tức vùng U Minh Thượng, là xứ "rất ngộ" như chính nhận xét của bà con địa phương. Chỉ cách Sài Gòn tầm 250km mà như xa xôi hắt hiu ở đẩu đâu.

Nghe chuyện bên trà chiếu rượu mà khó tin: đến năm 2000 mở ra thế kỷ 21 mà chính nhiều người miền Tây vẫn tròn mắt "hổng biết Miệt Thứ ở xứ nào".

Sau bước ngoặt có cầu lớn năm 2014, người dân vùng này kết thúc lịch sử mấy trăm năm chịu cảnh đời heo hút vì qua sông lụy đò. Miệt Thứ rộng gần 2.000km2 (gồm bốn huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang cũ, nay thuộc An Giang) đã đủ điều kiện phát triển trên vùng đất thấp có cả tài nguyên rừng, biển.

Anh Phạm Duy Tân, phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện U Minh Thượng cũ, kể trước đây người Miệt Thứ chỉ có ba sinh kế chính. Dân mạn biển An Biên, An Minh thì ra lượm con sò, con cua tự nhiên ở bãi.

Người có tàu cũng quanh quẩn gần bờ vì hiếm tàu bự. Dân rừng thì loi ngoi lóp ngóp với mớ cá rô, cá lóc dưới tán tràm dù một thời nhiều nhóc vẫn không thể giúp dân thoát đời thắt ngặt.

Còn dân có chút ruộng quanh năm quay quắt đổ mồ hôi mà lo mất mùa, thiếu ăn vì vùng đất thấp này không phèn nặng thì cũng nhiễm mặn do gần biển.

Công lúa dân Miệt Thứ làm được 10-20 giạ đã mừng, trong khi đồng trên như Tân Hiệp cách chỉ vài chục cây số người ta thu hoạch được 70-80 giạ.

Từ khi đường sá, cầu cống thuận lợi, người Miệt Thứ có thêm kế mần ăn để được đồng ra đồng vô quanh năm. Nổi bật nhất là mô hình kinh tế "con tôm ôm cây lúa", cánh đồng sau vụ lúa là vụ tôm.

Mặc dù năng suất vẫn thua xa miệt trên, hạt gạo nông dân Miệt Thứ làm ra đã bán có giá hơn với thương hiệu gạo ngon lúa - tôm.

Trong khi đó con tôm càng xanh, tôm sú nuôi quảng canh cũng ít bệnh mà giảm hẳn phí đầu tư nhờ nguồn hữu cơ dồi dào sẵn ở chân rạ đồng lúa sau hoạch.

Con cua cùng với tôm, cá là sản vật nổi tiếng của Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

Mở sổ tay, anh Tân nói những con số chi tiết: diện tích nuôi trồng tôm - lúa kết hợp năm 2024 U Minh Thượng đạt gần 9.500ha, trong khi diện tích nuôi cua ghép tôm lúa cũng gần 1.200ha...

Ở huyện An Biên gần bên, diện tích nuôi trồng thủy sản cũng đạt khoảng 31.500ha, trong đó diện tích nuôi quảng cảnh "con tôm ôm cây lúa" được khoảng 22.000ha...

Cây lúa vẫn chưa cho người nông dân lời lãi nhiều nhưng phần nuôi tôm sau đó sẽ bù thêm lợi nhuận. Thực tế cũng còn những nhà khó khăn nhưng nhìn chung nhờ con tôm, đời sống người dân Miệt Thứ đỡ hơn hẳn.

Vợ chồng anh Hồ Minh Giang ở chợ Miệt Thứ Chín Rưỡi (ấp Thạnh An, xã Đông Thạnh, huyện An Minh cũ, nay là xã thuộc tỉnh An Giang) là một ví dụ chuyện mần ăn này.

Vợ chồng trẻ dắt díu nhau lên Thủ Đức, TP.HCM làm thuê mãi vẫn đời thắt ngặt. Họ quyết định quay về quê hương, buổi sáng mở tiệm cơm gà ở chợ, buổi chiều ra đồng làm ruộng lúa - tôm kết hợp.

Năm 2024, giá lúa cao, giá tôm cũng cao, họ kiếm được hơn trăm triệu đồng từ một mẫu ruộng nhà. Khoản lợi nhuận này cộng thêm tiền bán cơm gà, vợ chồng sống đỡ hẳn. "Tụi tui quyết định không ly hương nữa, chỉ lo mần ăn ở quê để ổn định nuôi con cái ăn học" - anh Giang tâm sự.

Khi người dân có đồng ra đồng vô quanh năm, nhiều người dân Miệt Thứ rời việc sình lầy, chuyển nghề buôn bán, phố chợ từ đó cũng sầm uất hơn.

Cảnh trên bến dưới thuyền ở Miệt Thứ 11 - Ảnh: QUỐC VIỆT

Khi tôi hỏi tiệm vàng ở chợ quê, vợ chồng anh Giang cười trả lời: "Anh đừng hỏi chợ có tiệm vàng hay không, mà nên hỏi chợ có bao nhiêu tiệm vàng.

Ở Miệt Thứ bây giờ chợ huyện hay chợ xã nào cũng có nhiều tiệm vàng. Bởi các bà các cô thích trang sức này dữ thần lắm, nhiều người đeo vòng vàng rực cả cùm tay".

Đặc biệt, những năm gần đây Miệt Thứ còn nổi lên như một nơi thành công với nhà yến. Nhiều người có tiền bỏ ra đầu tư rồi chờ hưởng lợi từ chim trời.

Từ chợ Chín Rưỡi, tôi vào Xẻo Nhàu mà đếm không hết các nhà yến dọc đường. Thậm chí thấy tôi ngó nghiêng, nhiều người còn tưởng tìm mua đất kiếm lợi từ chim trời.

Hổng bù cho mùa mưa năm 1997, tôi lần đầu về đây mà vắng lặng bóng người. Chiếu rượu đế buổi tối ngày cũ đó thắp đèn dầu buồn hiu hắt mà còn phải giăng mùng vì sợ muỗi nhiều như trấu.

Mùa mưa năm 2024, tôi lại được mời lai rai nhưng ông chủ nhà yến ở Xẻo Nhàu đãi bia ướp lạnh, mồi nhậu là cả mâm tôm càng, cua lột nhà nuôi.

Chập choạng tối muỗi tìm máu người, chủ nhà mời khách vô phòng máy lạnh êm ru để tiếp tục khề khà chuyện đời xưa đời nay ở Miệt Thứ giờ không còn xa lắc xa lơ...

Đường xá đã thông thoáng nhưng người U Minh - Miệt Thứ vẫn chuộng ghe hàng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Miệt Thứ đã thay đổi nhưng hiện vẫn còn nỗi lo thiếu việc làm. Nhiều thanh niên Miệt Thứ không đủ việc quanh năm, đã đi TP.HCM, Bình Dương (nay là TP.HCM), Đồng Nai làm công nhân.

Tôi ghé nhà vợ chồng ông Huỳnh Thanh Tâm (70 tuổi, ở xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng cũ) thì sáu người con của họ đều đi làm ăn xa, vợ chồng già buồn hiu.

Hiện nay chính quyền lẫn người dân đều mong các doanh nghiệp mở mang cơ sở chế biến thủy hải sản tại địa phương để tạo thêm việc làm cho thanh niên.

Miệt Thứ sẽ có thêm điều kiện phát triển khi đường cao tốc kết nối tới vùng này và vòng quay hàng hóa sản vật sẽ nhanh hơn.

Quốc Việt / Theo: tuoitre



TOP 10 MÓN ĂN NỔI TIẾNG CỦA ẨM THỰC CAM TÚC

Ẩm thực Cam Túc là sự giao thoa giữa gia vị mạnh của vùng hoang mạc Tây Bắc và cách chế biến của các dân tộc thiểu số như người Hồi, người Đông Hương. Với Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc - mỗi món đều mang đặc trưng riêng đại diện cho nền ẩm thực nơi đây.


Do đặc thù địa lý khô cằn và mùa đông khắc nghiệt, các món ăn ở Cam Túc nổi tiếng với hương vị đậm đà, chua cay kích thích vị giác. Nguyên liệu chủ yếu bao gồm thịt cừu, thịt bò Tây Bắc, khoai tây. Mời bạn cùng studyinchina.io tìm hiểu về Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc trong bài viết dưới đây nhé.

Mì bò Lan Châu

Món ăn đứng đầu Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc là Mì bò Lan Châu (兰州牛肉面). Đây là món ăn được gọi là "quốc hồn" của Lan Châu. Mì bò Lan Châu có lịch sử hơn 200 năm, khởi nguồn từ thời nhà Thanh. Ở Lan Châu, người dân ăn món này vào bữa sáng, giá một tô chỉ dao động từ 8-15 tệ.

Món ăn quốc hồn của Lan Châu

Một bát Mì bò Lan Châu truyền thống chuẩn vị thường phải đảm bảo "Nhất thanh, nhị bạch, tam hồng, tứ lục, ngũ hoàng". Đó là màu của nước dùng trong được ninh từ xương ống, củ cải trắng, dầu ớt đỏ rực, hành ngò xanh và sợi mì vàng được nghệ nhân kéo thủ công bằng tay với nhiều kích cỡ khác nhau.

Điều làm nên sự khác biệt của Mì bò Lan Châu chính là cách sợi mì được làm thủ công kéo tay. Bột mì nhào với nước có pha một chút muối, sau đó được nhào đi nhào lại hàng trăm lần, ủ bột để gluten phát triển. Sau đó, người thợ sẽ kéo sợi mì thành 9 - 12 - 16 sợi, tạo ra các loại sợi với nhiều kích cỡ khác nhau.

Người dân địa phương khi ăn Mì bò Lan Châu sẽ thường gọi thêm một đĩa thịt bò nguội thái lát để chấm cùng tương ớt. Mì bò Lan Châu xuất hiện ở nhiều phố Trung Hoa trên thế giới, nhưng chỉ ở Cam Túc bạn mới có thể thưởng thức được hương vị chuẩn nhất.

Thịt xông khói Lũng Tây

Huyện Lũng Tây thuộc thành phố Định Tây, Cam Túc từ lâu đã được mệnh danh là "Quê hương của thịt xông khói Trung Quốc". Món Thịt xông khói Lũng Tây (陇西火腿) có lịch sử bắt nguồn từ thời nhà Đường. Thịt heo được dùng phải là giống heo nuôi tự nhiên vùng cao nguyên, thịt săn chắc và ít mỡ dư thừa.

Quy trình chế biến món ăn vô cùng công phu

Quy trình chế biến Thịt xông khói Lũng Tây vô cùng công phu: Đầu tiên, thịt được lọc tảng, tẩm ướp với muối, rượu gạo và hơn 10 loại thảo mộc. Sau khi ướp, thịt được treo lên gác bếp hoặc lò xông chuyên dụng, dùng củi của cây bách, cây sồi, cây táo để xông. Quá trình xông kéo dài từ 15-20 ngày, cho đến khi bề mặt thịt khô lại.

Thịt xông khói Lũng Tây không ăn sống mà phải chế biến lại. Thông thường, người ta rửa sạch bề mặt, đem hấp cách thủy khoảng 20 phút hoặc luộc. Món này ăn kèm với bánh bao hấp nóng, cơm trắng, hoặc xào cùng với tỏi tây, ớt xanh. Đây là món không thể thiếu trong các bữa tiệc Tết hay cưới hỏi của người dân Lũng Tây.

Thịt cừu cầm tay Đông Hương

Nếu bạn là tín đồ của thịt cừu, nhất định phải thử Thịt cừu cầm tay Đông Hương (东乡手抓羊肉). Nằm trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc, món ăn này gần như không có mùi hôi đặc trưng của thịt cừu, thay vào đó là vị ngọt tự nhiên. Đây là món ăn có lịch sử hơn 1.000 năm và là niềm tự hào của người dân tộc Hồi vùng Đông Hương, Cam Túc.

Món ăn có lịch sử hơn 1000 năm

Thịt cừu cầm tay Đông Hương được chế biến đơn giản để giữ được vị ngọt của thịt. Thịt cừu được đun sôi trong nước cùng với một vài lát gừng, một ít muối, và đôi khi là hạt tiêu Tứ Xuyên (để khử mùi). Không dùng hành, không dùng nhiều gia vị. Đun lửa nhỏ trong khoảng 1.5 - 2 giờ cho thịt mềm.

Món ăn này thường được bày trong đĩa lớn. Thực khách sẽ dùng dao nhỏ cắt hoặc dùng tay xé trực tiếp từng miếng thịt, chấm vào đĩa muối tiêu rắc bột ớt, ăn kèm một tép tỏi sống. Vị cay nhẹ của tỏi và độ ngọt mềm của thịt cừu tạo nên sự cân bằng hoàn hảo cho món ăn.
 
Mì thịt lừa Đôn Hoàng

Đôn Hoàng là điểm cuối phía tây của hành lang Hà Tây. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với hang Mạc Cao, sa mạc Minh Sa Sơn, mà còn với món Mì thịt lừa Đôn Hoàng (敦煌驴肉黄面). Món mì này đã tồn tại hơn 1.000 năm từ thời nhà Đường, khi Đôn Hoàng là trạm dừng chân quan trọng trên Con đường tơ lụa.

Sợi mì của Mì thịt lừa Đôn Hoàng có màu vàng óng

Sợi mì của Mì thịt lừa Đôn Hoàng có độ co giãn và dai giòn rất đặc trưng nhờ kỹ thuật sử dụng nước tro - 蓬灰 (một loại thực vật sa mạc) khi nhào bột. Nước sốt trộn mì thường được nấu sệt từ nấm hương, đậu phụ và các loại gia vị bản địa. Thịt lừa được ninh trong nhiều giờ với nước dùng gia vị. Sau khi ninh, thịt được thái lát hoặc xé sợi.

Món ăn ấm nóng này là lựa chọn hoàn hảo cho những ngày thu đông se lạnh. Tại Đôn Hoàng, bạn nên ghé quán "Thuận Trương Hoàng Diện" trên phố Sa Châu để thưởng thức một bát mì chuẩn vị với giá từ 20 - 30 tệ. Sự độc đáo trong hương vị đã giúp Mì thịt lừa Đôn Hoàng luôn nằm trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc.

Lẩu hồ Cửu Tuyền

Cửu Tuyền (nay là Túc Châu) nằm ở phía tây bắc Cam Túc, nổi tiếng với món ăn rất đặc biệt là Lẩu hồ Cửu Tuyền (酒泉锅子). Món lẩu này sử dụng loại nồi đồng truyền thống có ống than củi đốt ở giữa để giữ nhiệt. Món này thường được bán vào buổi tối ở các chợ đêm Cửu Tuyền, ăn kèm bánh bao hoặc bánh mì nướng.

Lẩu hồ Cửu Tuyền khác biệt so với các loại lẩu khác

Điểm đặc biệt của Lẩu hồ Cửu Tuyền là toàn bộ nguyên liệu đều được người đầu bếp sắp xếp, bài trí sẵn vào trong nồi theo từng tầng cố định trước khi mang ra cho khách. Tầng dưới cùng là các loại rau củ, nấm và đậu phụ. Tầng giữa là miến khoai tây và măng tây. Tầng trên cùng là các lát thịt cừu non, thịt bò viên thủ công. Khi than củi bắt đầu rực hồng, nước dùng hầm từ xương cừu béo sẽ được chan vào ngập nồi lẩu.

Lẩu hồ Cửu Tuyền có vị mặn, hơi cay nhẹ của tiêu, thơm nấm và thịt. Điều đặc biệt là trong lẩu còn có thêm những miếng bánh quẩy chiên giòn rắc lên trên, tạo độ giòn bùi. Nằm trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc, Lẩu hồ Cửu Tuyền đặc biệt hơn so các loại lẩu khác. Nếu lẩu Tứ Xuyên nổi tiếng với vị cay xé lưỡi, thì Lẩu hồ Cửu Tuyền lại chinh phục thực khách bằng sự ấm áp, đậm đà.

Mì xào phiến Lan Châu

Nằm trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc, Mì xào phiến Lan Châu (兰州炒面片) được nhiều sinh viên, học sinh yêu thích vì sự tiện lợi, nhanh no. Nếu Mì bò Lan Châu có nước dùng là vua, thì Mì xào phiến Lan Châu là hoàng tử trong thế giới mì Tây Bắc. Món này không có nước, nhưng hương vị lại đậm đà hơn nhờ kỹ thuật xào trên lửa lớn.

Mì xào phiến được học sinh yêu thích

Món Mì xào phiến Lan Châu có sợi mì khác với Mì bò Lan Châu. Thay vì kéo bột thành những sợi dài mảnh, người thợ sẽ ngắt khối bột thành từng miếng bột mì nhỏ, mỏng và có hình dáng tựa như chiếc lá. Sau đó, sợi mì sẽ được xào trên lửa lớn cùng thịt cừu băm, ớt chuông, hành tây, bắp cải và một chút giấm. Thành phẩm là món ăn có vị cay tê, chua nhẹ vô cùng kích thích vị giác.

Gà quay Tĩnh Ninh

Gà quay Tĩnh Ninh (静宁烧鸡) là món ăn đặc sản có lịch sử lâu đời, từng là sản vật tiến vua trong các thời kỳ phong kiến Trung Hoa. Tĩnh Ninh là một huyện nghèo thuộc thành phố Bình Lương, nhưng lại nổi tiếng nhất tỉnh về món gà quay này.

Gà quay Tĩnh Ninh từng là sản vật tiến vua

Điểm đặc biệt tạo nên thương hiệu món Gà quay Tĩnh Ninh nằm ở khâu chọn giống gà có thớ thịt chắc, ít mỡ. Gà được ướp trong hỗn hợp gia vị trong ít nhất 4-6 giờ. Sau đó, gà được xiên vào que tre, quay trong lò than đá ở nhiệt độ ổn định 200-250°C, liên tục phết hỗn hợp dầu mè và mật ong lên bề mặt da để da vàng óng, giòn tan.

Thành phẩm là món Gà quay Tĩnh Ninh có lớp da màu vàng, thịt gà mềm đến mức thực khách có thể dễ dàng dùng tay bóp nhẹ là xương và thịt tự động tách rời. Món này thường được bán theo con, giá khoảng 40-60 tệ/con, rất thích hợp để mua làm quà. Vì vậy, Gà quay Tĩnh Ninh luôn nằm trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc.

Khoai tây nghiền Lũng Nam

Vùng Lũng Nam với thổ nhưỡng đất đỏ tơi xốp là nơi sản sinh ra những củ khoai tây có hàm lượng tinh bột cao và chất lượng bậc nhất Trung Quốc. Món Khoai tây nghiền Lũng Nam (陇南洋芋搅团) thường được bán ở các chợ quê hoặc quán vỉa hè, giá chỉ 5-10 tệ/bát, rất rẻ nhưng ăn no.

Món ăn dân dã ở Lan Châu

Khoai tây nghiền Lũng Nam khá nhạt, nên nước chấm đóng vai trò rất quan trọng trong món ăn này. Người Lũng Nam thường pha nước chấm từ dấm đen, nước tương, tỏi băm, ớt bột, rau thơm. Khi ăn, người ta thường rắc thêm lạc rang giã dập, hành lá và rau thơm. Sự kết hợp giữa kết cấu dẻo mịn của khoai và vị chua cay tạo nên món ăn vô cùng lạ miệng.

Rượu sữa trứng

Trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc, Rượu sữa trứng (牛奶鸡蛋醪糟) là lựa chọn hoàn hảo cho món tráng miệng cuối bữa. Món này đặc biệt phổ biến ở các chợ đêm Lan Châu như phố Chính Ninh Lộ hay chợ đêm Đăng Bác, nơi những quầy hàng bày nồi đồng sáng loáng và đun sữa trên bếp than nghi ngút khói.

Lựa chọn hoàn hảo cho món tráng miệng

Thành phần chính của Rượu sữa trứng gồm: sữa tươi nguyên kem, trứng gà tươi, rượu ngọt làm từ gạo lên men, đường phèn, kỷ tử, hạt sen. Người đầu bếp đổ sữa tươi vào nồi nhỏ, đun lửa vừa. Khi sữa bắt đầu nóng lăn tăn, cho rượu ngọt vào khuấy đều. Sau đó nhanh tay đổ trứng gà đã đánh tan vào nồi. Cuối cùng cho đường phèn, kỷ tử, hạt sen đã nấu chín, đun thêm 1-2 phút rồi tắt bếp.

Rượu sữa trứng có vị ngọt dịu, béo của sữa, thơm nồng nàn của rượu nếp lên men, béo bùi của trứng và các loại hạt. Giá một bát chỉ từ 10-15 tệ. Đây là món ăn vặt, món tráng miệng đêm vô cùng nổi tiếng được sáng tạo bởi người dân tộc Hồi.

Bánh đậu Thiên Thủy

Món ăn cuối cùng trong Top 10 món ăn nổi tiếng của ẩm thực Cam Túc là Bánh đậu Thiên Thủy (Thiên Thuỷ oa oa - 天水呱呱). Thiên Thủy là một thành phố cổ kính với di sản hang đá Mạch Tích Sơn. Tương truyền món này từng là thức ăn cung đình thời Tây Hán. Tên gọi “Oa Oa” xuất phát từ cách phát âm địa phương mô phỏng kết cấu đặc dẻo của bánh.

Thức ăn cung đình thời Tây Hán

Món Bánh đậu Thiên Thủy được làm từ tinh bột của hạt đậu Hà Lan thượng hạng. Người ta hòa bột với nước, khuấy đều trên bếp lửa cho đến khi bột chín và đông đặc lại thành một khối lớn dẻo mịn. Món này thường được ăn nóng kèm tương ớt hoặc tương đen, nhiều người ăn cùng cháo trắng hay súp đậu nóng.

Theo: studyinchina

SINH TRA TỬ - LỤC DU


Sinh tra tử - Lục Du

Hoàn sơn hà chủ ân,
Liêu thí phù lê thủ.
Tân kết tiểu mao tỳ,
Kháp chiếm thanh giang khẩu.

Phong trần bất hoá y,
Lân khúc thường trì tửu.
Na tự hoạn du thì,
Chiết tận trường đình liễu.


生查子 - 陸遊

還山荷主恩
聊試扶犁手
新結小茅茨
恰占清江口

風塵不化衣
鄰曲常持酒
那似宦遊時
折盡長亭柳


Sinh tra tử
(Dịch thơ: Nguyễn Đương Tịnh)

Từ quan về xóm cũ
Thử tính chuyện điền canh
Dựng lều rơm mái nhỏ
Ven bờ cửa sông xanh

Áo không vương gió bụi
Rượu lối xóm thâm tình
Nhơ xưa đi nhậm chức
Bẻ trụi liễu trường đình


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện



"TÀ HỈ" LÀ GÌ, NÓ NGUY HẠI NHƯ THẾ NÀO?

Có một thứ cảm xúc chẳng ai dạy mà ta lại rất dễ sinh ra: đó là niềm vui ngấm ngầm khi thấy người khác thất bại. Khi một ai đó từng được tung hô nay trượt ngã, ta thấy nhẹ lòng hơn. Khi người ta từng ganh tị bị sụp đổ, ta thấy hả dạ. Cảm xúc đó, trong nhà Phật gọi là “tà hỉ”, một niềm vui sai lệch, không khởi sinh từ lòng Thiện mà là ác.


Tà hỉ không ồn ào, không náo động, nhưng nó âm thầm làm hoen ố nhân cách và khiến tâm linh một người ngày càng trượt dốc.

I. Tà hỉ là mặt tối trong nhân tâm

Ở một góc sâu thẳm trong tâm hồn, nhiều người từng trải qua cảm giác thỏa mãn khi chứng kiến kẻ mà mình ganh tị hoặc không ưa gặp thất bại. Có thể ta không nói ra, không bộc lộ rõ ràng, nhưng bên trong lại như trút được gánh nặng, như có thứ gì đó “được trả lại”.

Tà hỉ bắt nguồn từ tâm phân biệt, tâm so sánh và tâm ganh tị, ba thứ thường núp bóng dưới những vỏ bọc rất khéo: “tôi chỉ đang nói sự thật”, “họ tự chuốc lấy mà thôi”, hay “ai cũng thấy vậy mà”.

Người xưa nói rất thấm:

“Thấy người hiền mà ganh ghét, thấy người dở mà vui mừng, ấy là tâm tiểu nhân.”

Tà hỉ không phải là niềm vui trong sáng. Đó là sự sung sướng khi người khác tổn thất, là biểu hiện rõ ràng của một tâm hẹp hòi, kém phúc, dù bề ngoài có thể vẫn giữ được sự lễ độ, tử tế. Nó là cái gai ngầm trong lòng, là biểu hiện của tâm lấy đau khổ của người khác để xoa dịu sự bất an trong chính mình.

II. Cái giá của tà hỉ

Trong Tam quốc diễn nghĩa, có một chi tiết có thể ít người để ý. Khi Gia Cát Lượng nghe tin Tư Mã Ý bị vua Ngụy nghi kỵ, đáng lẽ phải vui vì thế sẽ có lợi cho Thục, nhưng ngược lại, Gia Cát Lượng thở dài:

“Quân tử không lấy cái sai lầm của người khác làm niềm vui cho mình. Thiên hạ rối loạn, dân chúng khổ đau, đâu thể xem là phúc?”

Khổng Tử cũng từng dạy:

“Thấy người khác bị tai họa mà vui, ắt tai họa sẽ đến với mình.”
(Luận Ngữ)


Ở phương Tây, văn hào Arthur Schopenhauer từng thẳng thắn mô tả cảm xúc đó là “Schadenfreude”, niềm vui trước nỗi bất hạnh của người khác. Ông gọi đây là biểu hiện thấp kém nhất trong cảm xúc con người, và là dấu hiệu của một nhân cách chưa trưởng thành..

Tâm lý học hiện đại cũng xác nhận rằng người thường xuyên vui mừng vì thất bại của người khác thường mang tâm lý tự ti, kém an định, và dễ bị tổn thương bởi những so sánh xã hội. Đó không phải là sức mạnh, mà là sự yếu đuối ngụy trang.

III. Tà hỉ: Tự đầu độc chính mình

Niềm vui đích thực luôn đi kèm với thiện lương và bao dung. Còn niềm vui vì thấy người khác lâm nguy, dẫu có thỏa mãn nhất thời, cuối cùng chỉ đầu độc chính mình. Cũng giống như kẻ uống nước đục mà tưởng là rượu, người vui trên nỗi đau người khác rồi cũng sẽ quay ngược lại chính họ.

Có một câu ngạn ngữ Ấn Độ cổ rằng:

“Khi ta cười vì người khác vấp ngã, cuộc đời sẽ khiến ta té đau hơn để hiểu.”

Trong nhà Phật, tà hỉ chính là chướng ngại lớn nhất khiến một người không dễ tiến xa trên hành trình tu dưỡng. Bởi vì, khi tà hỉ xuất hiện, đó là lúc lòng từ bi vắng bóng, là lúc tâm một người lệch khỏi Chính Đạo.

IV. Thay tà hỉ bằng thiện tâm

Thử hỏi: người khác thất bại thì mình được gì? Câu trả lời chân thành thường là: chẳng được gì cả, chỉ khiến mình thêm tối tăm. Nhưng nếu thay vì vui mừng, ta có thể sinh khởi một niềm thương xót, một cái nhìn bao dung hay chí ít là giữ tâm bình thản, thì chính ta đang vượt lên chính mình.

Trong tác phẩm “Người hành hương” của Dostoyevsky, nhân vật chính từng nói:

“Tôi không thể cầu nguyện đúng nghĩa nếu trong lòng còn có ý nghĩ mong ai đó gục ngã.”

Đó là cái tâm sáng. Không cần làm gì lớn lao, chỉ cần không vui khi thấy người khác đau, ta đã đi một bước dài trên con đường Thiện.

Ảnh làn sóng biển

V. Giữ tâm đoan chính giữa thời loạn

Giữa một xã hội cạnh tranh, nơi thành, bại được đo đếm từng giờ, người ta dễ sinh ra tà hỉ mà không nhận ra. Nhưng nếu mỗi người giữ được tâm ngay thẳng, không bị cuốn vào sự ganh đua, không lấy đau khổ của kẻ khác làm trò tiêu khiển, thì thế gian này sẽ bớt đi biết bao nhiêu đố kỵ, hiềm khích.

Niềm vui chân chính là khi thấy người khác trưởng thành, khi mình vượt qua chính mình, khi lòng nhẹ nhõm vì không mang thù hận nơi tâm.

Tà hỉ, dẫu nhỏ, nhưng là một dấu hiệu cảnh tỉnh cho những ai muốn sống thiện lương.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 3: CUỘC ĐỔI THAY CHẦM CHẬM TRÊN QUÊ HƯƠNG SƠN NAM

Ông già Sơn Nam, nhà văn và nhà Nam Bộ học đáng kính, nếu giờ còn sống mà trở về Miệt Thứ - U Minh chắc ngạc nhiên dữ thần.

Cảnh đẹp trù phú ở Miệt Thứ Mười Một ngày nay - Ảnh: QUỐC VIỆT

Chuyện ông ghi rẻo đất cuối nước dù hào sảng, dễ sống vẫn bàng bạc cảnh nghèo khắp cùng. Người quê thời ông nếu các cô không chèo xuồng ba lá ra chợ đầu kinh bán mua rổ khoai, chén xôi chè nước cốt dừa thì cũng ngoi ngóp kiếm con cá con cua dưới rừng tràm, hái đọt rau choại, cỏ trai để bén lửa nồi cơm.

Hiếm hoi ai đó chăn nuôi thì mần siêng dữ cũng chỉ đào cái ao đìa nhỏ cho cá rút xuống mùa nắng, thả lan con heo sau nhà, bầy vịt bờ kinh... Nhưng cảnh này giờ đã khác rồi.

Đời sống dân Miệt Thứ tụi tui đổi thay nhưng hành trình này chậm hơn các nơi khác. Bởi làng quê heo hút, đường sá xa xôi, phải giang đò lụy xe, chỉ đến khi các bến phà Mỹ Thuận, Tắc Cậu, Vàm Cống có cầu bắc qua thì sự đổi thay mới nhanh chóng.
Anh PHẠM DUY TÂN

Bước ngoặt sau năm 1975

Còn nhớ hồi mùa mưa năm 2024, tôi có mấy ngày dừng chân ở huyện U Minh Thượng (nay là xã thuộc tỉnh An Giang), vùng giáp ranh Miệt Thứ của Kiên Giang với Cà Mau. Anh Phạm Duy Tân, phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, vui vẻ tiếp tôi và nói anh cũng là người hâm mộ "ông già Nam Bộ" Sơn Nam. Tân sinh năm 1980 ở xã Thạnh Yên ngay trung tâm U Minh Thượng.

Đời ông, đời cha phát tràm, cấy lúa, bắt cá kiếm miếng ăn, tuổi thơ anh Tân cũng theo bước mưu sinh dưới tán rừng tràm. Học xong, Tân vào luôn ngành nông nghiệp, không rời nông dân và hột lúa, củ khoai, ao cá, vuông tôm vùng ranh Miệt Thứ, nên có thể nói anh chính là chứng nhân xứ sở này.

"Dân bưng biền nghèo khổ mà được trời cho sản vật nên không đến nỗi thắt ngặt miếng ăn thì đến đời tôi vẫn còn trải. Những gì ông già Sơn Nam kể đều trúng y chang" - anh Tân kể chuyện quê mình có bước ngoặt sau chiến tranh. Ngày hòa bình, dân ly hương từng phải đi lánh bom đạn chạy về, rồi dân kinh tế mới được đưa xuống và đây cũng là một trong những vùng dân vượt biên tứ xứ về nằm chờ lên tàu hướng Rạch Sỏi - Tắc Cậu.

Cũng như tình hình cả nước hồi đó, cảnh nghèo khắp cùng Miệt Thứ vì ruộng đồng chưa được khai hoang nhiều, đa phần đất đai phèn lợ, nhiễm mặn, năng suất lúa rất thấp.

"Ông trời thương cho Miệt Thứ con cá đen nhiều nhóc dưới rừng tràm, con cua con ba khía lềnh khênh dưới bãi biển nhưng không cho đất tốt nên cá cua thì dư mà cơm thì thiếu.

Ngặt nữa là hồi đó cá mú có thừa mứa đổ đầy lu nuôi rộng trong nhà cũng đâu bán được cho ai. Bởi đường sá quá cách trở, phải giang đò lụy xe, làm sao đem về các thành phố lớn được nên người dân không kiếm đâu ra tiền" - anh Tân nhớ lại những năm suốt thập niên 1980 bước sang thập niên 1990...

Ngày tháng đó dân quê xứ này thừa miếng ăn chim trời cá nước nhưng lại hụt gạo, thiếu tiền. Con nít nhiều đứa thất học, đứa nào học lên nổi lớp 9 đã rỡ ràng tía má, thậm chí mới vô lớp 5 cũng được khoe ở bàn trà, cuộc nhậu. Học trò ngồi vỏ lãi lên trường huyện, học cấp III là "chuyện đại sự" với cả dòng họ.

Ông Huỳnh Thanh Tâm, 70 tuổi, người dân nhiều đời ở xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, kể cảnh nghèo ở Miệt Thứ - U Minh bận đó "ngộ dữ thần thiên địa", vừa đổ miếng ăn mà vừa thiếu miếng ăn, con cá lóc bự cùm tay chỉ ăn phần đầu với bộ lòng, còn khúc thân liệng bỏ nhưng mà thèm chảy nước miếng thịt heo.

Trong ký ức như còn đọng mùi sình lầy của ông già Tâm, dân xứ này hồi đó toàn ở nhà lá, vách đất, loe hoe vài nhà ai đó có cây gỗ lắp ghép tạm bợ đã là "nhà cây bảnh gồi", chỉ bên các chợ Miệt Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Mười Một mới lưa thưa nhà xây cấp 4. Xứ U Minh Thượng một thời toàn rừng tràm tối đen cả kinh rạch bên dưới, con cá thì nhiều nhưng con người chỉ loe hoe ở vài chòm.

Lai rai kể chuyện xưa bên chiếu rượu, ông Bảy Tâm rót cho tôi ly rượu đế rồi nói bận đó dân xứ này nghèo tiền đến nỗi rượu gạo cũng phải mua ký nợ cả năm, vậy mà vẫn không có tiền để trả, các ông phải vác giạ lúa vốn đã khan hiếm đến nhà bà bán rượu để không bị rầy rà lùm xùm.

Người trẻ bây giờ nghe "cái nốp" thì tròn xoe mắt không biết là cái gì, nhưng đến những năm 1980 ở Miệt Thứ vẫn còn nhiều người phải lấy tấm nốp đan bằng cỏ bàng, cỏ cói này làm mềm đắp ngủ.

"Tụi tui còn phải đi mượn của nhau cả cái cục đá lửa nhỏ xíu để gắn vô hộp quẹt. Cha mẹ già bị bệnh, con cái chèo xuồng rã tay ra chợ đầu kinh mà chỉ dám nợ mua một, hai viên thuốc hạ sốt rẻ mạt"- ông già Bảy Tâm kể chuyện xưa...

Chợ Thạnh Yên ở U Minh Thượng, nơi một thời thưa thớt bóng dân giờ đã nhiều tiệm vàng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cuộc đổi thay bắt đầu chầm chậm

Thời cuộc dần đổi thay, khoảng đến giữa thập niên 1990 dân Miệt Thứ - U Minh bắt đầu đơ đỡ hơn dù nhiều gia cảnh vẫn chưa thể hết thắt ngặt. Chính con tôm được khởi nuôi đã giúp người dân dần có đồng ra đồng vô dù vẫn còn rất eo hẹp. Cuộc chuyển đổi sinh kế và đời sống diễn ra chầm chậm mất cỡ mười năm mới bắt đầu nhanh hơn từ khoảng giữa thập niên 2000.

"Cỡ bận đó dân Miệt Thứ đã rộ nuôi con tôm, con cua rồi. Xe hàng vẫn còn phải qua phà Tắc Cậu, Vàm Cống nhưng đã đi nhanh hơn nhờ đường sá được sửa sang, mở mang. Hồi xưa tụi tui mần được mớ cá, thau tôm chỉ biết đem ra chợ đầu kinh bán rẻ mạt để mong mua lại được miếng thịt heo ăn cho đỡ thèm hay mua khúc vải cho bà xã may bộ đồ Tết cho sắp nhỏ ngó ưng mắt.

Nhưng đến giai đoạn sau năm 2000, sản vật của tụi tui đã được xe đông lạnh chở lên thành phố. Thương lái không qua phà Tắc Cậu, đi đường Rạch Sỏi - Sài Gòn thì cũng chạy được hướng Cà Mau lên Cần Thơ...

Tiền bạc bán được của tụi tui không phải để mua miếng thịt nữa mà dành dụm mua cái xe máy hay lợp mái tôn cái nhà cho khỏi dột, lát cái nền gạch cho đỡ sình lầy" - ông già Bảy Tâm rề rà chuyện xóm ấp quê mình cách đây ngót nghét 30 năm với cuộc đổi thay chầm chậm.

Sinh sau ông Tâm xa lắc, anh cán bộ nông nghiệp Phạm Duy Tân cũng đã ba đời lội kinh bắt cá, vào rừng hái đọt choại nên rành rẽ cuộc đổi thay ở quê mình. Thiệt ra, ông nội anh Tân là dân gốc Nam Định nhưng đã di cư vào Miệt Thứ từ trước năm 1954 rồi mới sinh ra ba anh Tân nên giờ họ đã trở thành "người Miệt Thứ chánh hiệu"...

Câu chuyện đổi thay ở quê hương nhà văn Sơn Nam được anh Tân kể bằng chính sự lập nghiệp khó khăn và lần hồi đỡ dần của nhà mình: "Tui nghe kể lại ông nội tui vào đây mới lên xuồng bông đám cưới với cô gái Miệt Thứ. Xứ này ngày xưa vắng vẻ dữ lắm. Ông bà nội tui ở xóm Thạnh Yên, U Minh Thượng, mới chỉ có vài mái nhà gần nhau cho nghe được tiếng người đỡ buồn. Hồi ông nội tui khẩn hoang, cấy mớ lúa chỉ mong có đủ gạo cơm cháo qua ngày, còn hụt thì bắt cá, săn rắn, lượm rùa nhiều binh thiên để ăn trừ bữa".

Ông bà nội anh Tân sinh được bốn người con, bận nhỏ họ phải cực công chăm sóc nhưng lớn lên có thêm sức người khẩn hoang, mở rộng dần diện tích ruộng lúa. Từ cày một vụ, sang những năm 1990 họ bắt đầu làm hai vụ. Năng suất lúa Miệt Thứ vẫn thấp nhưng những nông dân nhiều đời như họ nhanh chóng theo được mô hình "con tôm ôm cây lúa". Ruộng lúa sau thu hoạch chính là đồng nuôi tôm.

Cuộc sống gia đình anh Tân bắt đầu dễ thở dần cũng như nhiều nhà Miệt Thứ khác. Đó cũng là khi điện được kéo về xóm ấp, lộ bê tông được nối nhau. Đêm đêm cảnh quê Miệt Thứ đã sáng ánh đèn điện thay ngọn đèn mù u leo lét và tiếng trai gái trẻ trung hát karaoke đã át giọng mấy ông già ngồi nhậu khề khà bài Dạ cổ hoài lang, Tình anh bán chiếu buồn hiu hắt một thủa...

Mặc dù sản vật tự nhiên ngày nay đã giảm hẳn, Miệt Thứ vẫn rất nhiều thủy hải sản đánh bắt lẫn nuôi trồng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Nông dân nuôi tôm ở Miệt Thứ U Minh Thượng chở tôm từ trong đồng ra bán cho thương lái đậu xe sẵn ngoài quốc lộ 63 - Ảnh: QUỐC VIỆT

Trung tâm U MInh Thượng đang được đô thị hóa, ngày xưa nơi này chỉ là xóm nhỏ giữa tràm - Ảnh: QUỐC VIỆT

Quốc lộ 63 thông suốt cả vùng Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

************

Về Miệt Thứ ngày nay người ta có nhiều món ngon để lưu luyến. Và sản vật xứ quê hương từng một thời heo hút này đã ra được tận chợ nước ngoài.

>> Kỳ cuối: Mâm cua lột, tôm càng đổi đời Miệt Thứ

Quốc Việt / Theo: tuoitre