Tuesday, April 28, 2026

BỒ TÁT MAN KỲ 3 - VI TRANG


Bồ tát man kỳ 3

Nhân nhân tận thuyết Giang Nam hảo,
Du nhân chỉ hợp Giang Nam lão,
Xuân thuỷ bích ư thiên,
Hoạ thuyền thính vũ miên.
Lư biên nhân tự nguyệt,
Hạo oản ngưng sương tuyết.
Vị lão mạc hoàn hương,
Hoàn hương tu đoạn trường.


菩薩蠻其三

人人盡說江南好,
遊人只合江南老,
春水碧於天,
畫船聽雨眠。
壚邊人似月,
皓腕凝霜雪。
未老莫還鄉,
還鄉須斷腸。


Bồ tát man kỳ 3
(Dịch thơ: Đoan Trang)

Người người đều nói Giang Nam đẹp
Du khách chỉ mong ở đến già
Nước xuân xanh biếc thiên hà
Ở trong thuyền vẽ ngủ mà nghe mưa
Bên lò người tựa trăng xưa
Cổ tay tròn trắng cũng vừa tuyết sương
Chưa già đừng vội hồi hương
Hồi hương mới biết trăm đường xót xa!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vi Trang 韋莊 (khoảng 860-910) tự Đoan Kỷ 端已, nguyên đậu tiến sĩ đời Đường, đi sứ sang Thục rồi lưu lại Thục không về. Ông sinh hoạt rất giản dị khâm hoài khoát đạt. Tác phẩm của ông có Hoán hoa tập, Hoán hoa từ. Trong tập Luận từ tạp trước, Chu Tế có nói: “Từ của Đoan Kỷ thanh diễm tuyệt vời”.

Nguồn: Thi Viện



CÓ LÀM CÓ CHỊU


Tối nay, không đúng. Phải nói là khuya thật khuya vì bây giờ đã gần 3:00 sáng ở Úc. Hôm nay ở nhà không đi làm, coi video về Phật giáo hơi nhiều nên còn vương vương vấn vấn dù không có ăn chay. Hai ngày nay không ăn cơm mà chỉ ăn bún măng vịt, steak bò và pizza Ý.

Tôi tin Phật và học Phật nhưng chưa ăn chay được, chưa thường xuyên đến chùa và chưa đọc kinh. Tôi tin vào sự tu luyện của bản thân, tức là tự sửa đỗi, hoàn thiện, không nổi nóng, không đam mê, không tham lam vì lợi ích bản thân. Hy vọng cái gì của mình thì nó sẽ đến. Tôi chưa từng ganh ghét với người giàu và không bao giờ khi dễ những người nghèo. Có cái tôi khinh thường và không dung tha là bọn "ngụy quân tử".

Tôi giận ai, vài tiếng sau hay nhiều lắm 1 ngày là hết. Ai làm cho đến tôi phải thù oán thì không bao giờ hết, nó đã là cái nghiệp. Kiếp này không trả được thì kiếp sau cũng phải đòi. Người TQ thường nói "Quân tử báo thù, thập niên vị vãn" (君子报仇,十年未晚). Nhà Phật cũng phải chấp nhận cho nên người nuôi chí báo thù không có gì là xấu hay tội ác. Còn lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan. Vậy lấy gì báo đức? Đây không phải là oán mà là thù, thù thì phải trả.

Mời quí vị đọc bài này. (LKH)


CÓ LÀM CÓ CHỊU

Lúc Đức Thích Ca Mâu Ni trụ tại thành Vương Xá, một hôm có một người lái buôn tên gọi là Phất Ca Sa muốn đi mua hàng hóa, nên sáng sớm đi đến thành La Việt, nhưng vừa tới cổng thành thì đã bị một con trâu húc chết.

Chủ con trâu thấy thế, sợ nếu giữ con trâu hung ác này lại thì về sau thế nào cũng sẽ xẩy ra chuyện không lành, nên bèn đem con trâu đi bán với một giá rẻ mạt.

Người chủ mới mua trâu xong bèn dắt trâu về nhà. Đi được nửa đường gặp một con sông, ông muốn cho trâu uống nước. Không ngờ không những trâu không uống nước, mà bản tính hung bạo dữ dằn của nó thình lình nổi dậy, nó dùng sừng húc người này chết tươi.

Người nhà của nạn nhân thấy thế mới nổi giận đem con trâu ra giết, rồi đem thịt ra chợ bán. Có một người nông phu tham giá rẻ, mua đầu trâu về, lấy dây cột sừng trâu lại rồi xách về nhà.

Ấn Độ là một nước nhiệt đới, vô cùng nóng bức. Người nông phu đi được một đoạn đường thì vừa nóng vừa khát, bèn treo đầu con trâu lên một cành cây rồi ngồi dưới gốc cây này nghỉ ngơi.

Quái lạ thay, sợi dây cột đầu con trâu mắc lên cành cây bỗng dưng vô cớ đứt đoạn, khiến đầu con trâu rơi xuống, trúng ngay đầu người nông phu khiến ông này bị trọng thương mà chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong vòng một ngày mà con trâu này đã giết chết hết ba người.

Vua Tần Bà Sa La nghe tin này rất lấy làm lạ, biết rằng bên trong phải có nguyên do gì đây. Ông bèn dẫn một số đại thần, đem hoa quả hương đèn tới núi Linh Thứu lễ Phật rồi thỉnh Ngài thuyết giải cho nghe.

Đức Phật kể cho vua Tần Bà Sa La nghe rằng:

- Hồi xưa có ba người lái buôn đi qua nước láng giềng làm ăn mua bán. Họ muốn để dành tiền nên chiều hôm ấy, thay vì đi tìm khách sạn, thì lại ghé đến nhà một bà lão xin mướn một căn phòng. Hai bên thỏa thuận giá cả xong, họ Ở lại nhà bà lão ngủ qua đêm ấy. Sáng hôm sau, bà lão có việc phải đi ra ngoài, ba người thừa cơ hội bà vắng mặt lẻn trốn đi mất.

Về tới nhà thấy thế, bà lão tức giận vô cùng, đuổi theo họ đòi tiền. Ba người phải gánh vác hành lý nặng nề nên đi chưa được xa đã bị bà lão bắt kịp. Họ thấy bà lão già cả, dễ ức hiếp, nên nặng lời nhục mạ chưởi mắng bà. Bà lão không làm gì được họ, phẫn uất mà nói:

- Mấy người chỉ là một phường vô lại, thấy tôi già cả nên mới ức hiếp nhục mạ tôi. Nhưng hành động này của mấy người thế nào cũng có ngày trả báo. Kiếp này tôi không làm gì mấy người được, nhưng kiếp sau, dầu tôi có sinh ra làm người hay dầu có mất thân người đi nữa, tôi cũng quyết sẽ báo thù. Tôi sẽ giết hết cả ba người, có thế mới hả được niềm căm hận này.


Đức Phật thuyết câu chuyện nhân duyên ấy quả báo xong, Ngài nói tiếp:

- Con trâu hung ác chỉ nội trong một ngày mà giết hại hết ba mạng người chính là bà lão tái sinh. Ba người lái buôn đã khinh miệt bà lão trong kiếp xưa, kiếp này đã lần lượt bị trâu húc chết trong vòng một ngày.

Tội phúc như chiếc bóng đi theo mỗi người, nếu mình khinh miệt người khác mà làm việc trái với lương tâm, thì cũng chỉ có mình tự chịu lấy quả báo đau khổ về sau mà thôi!

Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

BÀI HỌC QUÝ GIÁ

Bài học quý giá từ một vị thầy tu già trồng hoa lan


Một vị lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan, ông rất chăm sóc và bảo vệ chậu hoa thanh nhã này, thường xuyên tưới nước, nhổ cỏ và bắt sâu cho nó. Hoa lan dưới sự chăm chút hết lòng của lão hòa thượng mà lớn lên khỏe mạnh và trổ hoa rất thanh tú.

Một lần, lão hòa thượng phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền đem chậu hoa lan giao lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.

Chú tiểu rất có trách nhiệm, cũng một lòng để tâm chăm sóc, nâng niu hoa lan như lão hòa thượng vẫn làm khiến hoa lan phát triển rất khỏe mạnh.

Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi đã tưới nước cho chậu hoa lan liền đặt nó ở trên bệ cửa sổ rồi đi ra ngoài làm việc.


Không ngờ, trời đổ mưa to, gió lớn làm chậu hoa lan rơi xuống đất vỡ tan. Chú tiểu sau khi trở về nhà nhìn thấy trên mặt đất cành lá gãy nát, héo úa nên vừa đau lòng vừa lo sợ lão hòa thượng sẽ quở trách.

Mấy ngày sau, lão hòa thượng trở về nhà, chú tiểu kể lại sự tình đã xảy ra và cũng sẵn sàng đón nhận sự trách mắng của lão hòa thượng.

Nhưng lão hòa thượng chẳng nói một lời nào quở trách nào cả khiến chú tiểu vô cùng bất ngờ, vì đó là chậu hoa lan mà ông yêu quý nhất mà!

Lão hòa thượng chỉ mỉm cười rồi nói với tiểu hòa thượng rằng: “Ta trồng hoa lan, đâu phải để tức giận?”

(Ảnh: Pixabay)

Chỉ một câu nói đơn giản nhưng lão hòa thượng đã thể hiện ra một thái độ sống đầy độ lượng, một người có tấm lòng bao dung rộng lớn.

Chúng ta làm việc không phải để tức giận…

Chúng ta yêu thương nhau không phải để tức giận…

Thứ gì đó một khi bị mất đi không thể vãn hồi được nữa có nhất thiết phải oán trách hay thù hận không?

(Sưu tầm trên mạng)

Monday, April 27, 2026

THĂM BÀ QUẢ PHỤ "NGƯỜI ANH HÙNG MŨ ĐỎ TÊN ĐƯƠNG"

Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971, và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn dưới đây.

Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?

Bà Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết khái niệm “khăn mới” là gì hết.

Một tuần sau, tôi nhận được giấy báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn sống.

Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3 ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là “lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn. Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.

Sau đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày 29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.

Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?

TTM: Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ đi chiến dịch quan trọng, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.

Lần lượt các đơn vị Dù đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn 719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ 9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”

Sau này khi tôi nghe các anh lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn vào đầu mình.

Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ 31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây… (khóc)

NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?

TTM: Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu” nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ cửa lúc nửa đêm.”

Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.

Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ðứa con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi, lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm. Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.

Bản thân tôi năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng (tức bố mẹ anh Ðương).

NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?

TTM: Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ, tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.

NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?

TTM: Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).

Còn điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim tôi!

Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).

NV: Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.

TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Việt Hùng / Theo: Người Việt



HẢO SỰ CẬN - DƯƠNG VẠN LÝ


Hảo sự cận

Nguyệt vị đáo thành trai,
Tiên đáo vạn hoa xuyên cốc.
Bất thị thành trai vô nguyệt,
Cách nhất lâm tu trúc.

Như kim tài thị thập tam dạ,
Nguyệt sắc dĩ như ngọc.
Vị thị thu quang kỳ tuyệt,
Khán thập ngũ thập lục.


好事近

月未到誠齋,
先到萬花川穀。
不是誠齋無月,
隔一林修竹。

如今才是十三夜,
月色已如玉。
未是秋光奇絕,
看十五十六。


Hảo sự cận
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Ánh trăng ghé lại trai phòng. 
Thăm Hoa Xuyên cốc, lặng lòng liêu trai. 
Ánh trăng còn đó nào phai ?. 
Ẩn sau bụi trúc, mé ngoài song lan. 
Ánh trăng tựa ngọc quan san. 
Mười ba mười bốn, căng tràn mười năm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.

Nguồn: Thi Viện



QUYỀN PHÁP TRỨ DANH THIÊN HẠ CỦA ANH HÙNG NHẠC PHI

Với bản tính thông minh, ham học hỏi, Nhạc Phi đã sáng tạo ra một quyền pháp nổi tiếng "Nhạc gia quyền" không gì so sánh nổi.


Trong lịch sử hàng ngàn năm của võ thuật Trung Quốc, có rất nhiều đại cao thủ đã luyện tập thành công nhiều bí kíp, tuyệt kỹ. Hầu hết các đại cao thủ đã góp phần sáng tạo, tổng quát để xây dựng lên những trường phái võ thuật danh tiếng. Nhưng phần lớn những đóng góp của họ thường gắn liền với truyền thuyết khai môn ly kỳ, ít được sử sách chép lại mà chủ yếu lưu truyền giai thoại trong dân gian. Tuy nhiên vẫn có những đại võ sư, võ tướng mà uy danh võ nghệ lừng lẫy, để lại cho hậu thế những di sản võ thuật vô cùng quý báu.
Nhạc Phi - Chưởng môn Nhạc gia quyền
Đầu thế kỷ XII, lịch sử Trung Quốc ghi nhận sự bùng nổ của phong trào kháng chiến chống quân Kim mà chủ soái là Nhạc Phi đã lưu danh sử sách. Quân Kim từng than: "Lay đổ núi dễ, giáp chiến quân Nhạc Phi khó". Bởi quân Nhạc Phi (gọi là Nhạc gia quân) có tính kỷ luật nghiêm, chủ soái chỉ huy oai dũng, còn một điểm nữa là họ nắm vững môn "Nhạc gia quyền" danh tiếng do chính chủ soái Nhạc Phi sáng tạo ra.
Nhạc Phi (1103-1142) là danh tướng chống quân Kim nhà Nam Tống, tên chữ là Bằng Cử, người Thang Âm (nay thuộc tình Hà Nam). Từ thiếu niên đã có khí tiết, là người trầm tĩnh dứt khoát, nhà nghèo nhưng chăm chỉ, thích độc binh pháp Tôn, Ngô (tức Tôn Tử và Ngô Khởi, hai danh tướng đời Chiến Quốc). Sinh ra vốn đã có sức khỏe, chưa đến 20 tuổi đã kéo được cây cung nặng 300 cân (đơn vị trọng lượng cổ Trung Hoa), giương nỏ nặng 8 thạch (thạch là đơn vị trọng lượng xưa, nặng bằng 10 đấu). Sau học bắn với Chu Thống- một cung thủ bách phát bách trúng- học xong Nhạc Phi đã có thể bắn được cả hai bên trái phải.


Trong thời niên thiếu, ngoài học bắn cung với Chu Thống, Nhạc Phi còn lặn lội tìm học võ nghệ với các cao thủ trong vùng. Với bản tính chăm chỉ, thông minh, ham học hỏi, ông đã sáng tạo ra một quyền pháp nổi tiếng mà dân gian gọi là "Nhạc gia quyền" không gì so sánh nổi lúc bấy giờ. Quyền họ Nhạc có chỗ khác là: "Chân là hai cái rễ, toàn dựa tay trên thân" của Nam quyền, khác với quyền phía Bắc "tay là hai cánh cửa, dựa trên chân ra đòn". Yêu cầu của quyền là: tay đến chân đến, tay lên chân xuống như cung phóng tên, một phát là trúng". Đây là điển hình cho sự vận dụng các quyền pháp khác dùng tay, khuỷu, chân, thân xuất chiêu cùng lúc.
Năm Tuyên Hòa thứ tư (1122, đời Tống Huy Tôn Lý Cát, làm vua từ 1101-1126 nhà Bắc Tống), Nhạc Phi đầu quân, trải trăm trận trăm thắng, công lao rất lớn, uy danh lừng lẫy. Ngoài tài thao lược, ông còn là một dũng tướng siêu quần, rất giỏi một mình một ngựa đại phá quân địch, giỏi phép lấy ít chống nhiều. Trong chiến dịch chống lại quân Kim mạnh mẽ, ông một mình một ngựa xông lên chém chết kiêu tướng Giả Tiến Hòa, múa đao tả xung hữu đột khiến quân Kim tan tác. Một lần vượt sông tấn công quân Kim, ông đã bắt sống tướng Kim là Tháp Bạt Da Ô, lại một mình một ngựa xách cây thương sắt trượng tám đâm chết một tướng Kim khác giữa trận tiền. Năm Kiến Viêm thứ 3 (1129, đời tống Cao Tôn Triệu Cấu), Nhạc Phi dũng mãnh dẫn 800 quân giao chiến với 50 vạn quân Kim do tướng Khổng Ngoạn Châu thống lĩnh, một mình ông phi ngựa xông vào cướp trại, đám võ sĩ cưỡi ngựa chạy quây tròn bảo vệ chủ tướng. Từ trên lưng ngựa, ông tung mình bay qua cả ba tên võ sĩ, chém chết Khổng Ngoạn Châu ngay giữa trại.


Ngoài ra, Nhạc Phi còn rất giỏi huấn luyện binh sĩ. Khi quân nghỉ đánh trận, ông thường đốc thúc tướng sĩ mặc giáp trụ nặng nề, luyện tập leo đèo, vượt hào, đích thân ông dẫn đầu luyện tập. Nhạc Phi đặc biệt chú trọng truyền dạy Nhạc gia quyền cho con cái và binh lính, chính vì vậy người đời gọi quân đội của ông là "Nhạc gia quân", bởi tất thảy đều là những võ sĩ thuần thục Nhạc gia quyền. Ông còn huấn luyện binh sĩ sử dụng linh hoạt thủ thuật, kỹ pháp chiến đấu trên chiến trường.
Năm Kiến Viêm thứ 4 (1130), quân Kim cậy mạnh khỏe, người nào cũng mặc áo giáp nặng, cột 3 ngựa liền nhau gọi là "quải tử mã" khiến quân Tống không sao ngăn nổi. Nhạc Phi lệnh cho quân cầm mã tấu xung trận, độn thêm giáp lưng dày thêm, không cho nhìn lên mà chỉ lo cúi xuống chặt chân ngựa, một con què khiến hai con cũng không đi nổi. Trận này chỉ với gần 1.000 tinh binh, quân Tống khiến quân Kim mất một vạn năm ngàn ngựa và thảm bại. Kim Ngột Truật phải than rằng: "Từ khi khởi binh đến nay, toàn dựa vào "quải tử mã" để đánh, giờ thế là hết".
Võ nghệ siêu quần, anh dũng thiện chiến là vậy nên Nhạc Phi bị gian thần ghen ghét. Năm Thiệu Hưng thứ 12 (1142, đời Tống Cao Tôn Triệu Cấu nhà Nam Tống), gian thần Tần Cối vu cho ông làm phản. Trước văn võ bá quan, đại tướng Hàn Thế Trung chất vấn Tần Cối là có chứng cớ không, thì Tần Cối trả lời là "có thể có", với ý là "có thể có tội". Nhạc Phi bị xử tử năm ông mới 39 tuổi. Cái chết oan ức của ông đã trở thành đề tài cho nhiều vở kịch, phim châm biếm, mỉa mai thói xu nịnh, vu cáo người khác với thành ngữ nổi tiếng trong dân gian "có thể có tội".


Sau khi Nhạc Phi chết, hai con ông là Nhạc Đình, Nhạc Chấn đổi thành họ Ngạc nhằm tránh sự truy lùng "diệt cỏ tận gốc" của Tần Cối, được Nhiếp Phúc Tuấn- tộc trưởng của Nhiếp Gia loan, người có quen biết với Nhạc Phi- che giấu trong nhà thờ họ. Hai anh em họ Nhạc ở tịt trong nhà thờ, suốt ngày sao lục chỉnh lý quyền phổ Nhạc gia, đêm khuya vắng lại luyện tập từng chiêu thức. Để báo thù rửa oan cho cha, hai anh em họ Nhạc đã bí mật luyện quân, cho yếu là người họ Nhiếp.
Về sau án oan này được "chiêu tuyết" (rửa oan), Nhạc Phi được truy phong tước "Ngạc vương", hai con ông Nhạc Đình, Nhạc Chấn được vời ra làm quan nhưng họ đã từ chối, quyết ở ẩn luyện võ nhờ thế mà Nhạc gia quyền phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy. Tới thời vua Quang Tự đời Thanh (1876) đã có tới 300 người đỗ võ cử nhân, võ tiến sĩ là các đại cao thủ của Nhạc gia quyền. Cho đến nay, có tới vài trăm người là quyền sư trứ danh của môn này trên khắp Trung Hoa.
Chu Phúc (tổng hợp)
Theo: Kiến Thức


MỘT TÊN LÍNH CAI NGỤC KHÔNG CÓ TIẾNG TĂM, VÌ SAO CÓ THỂ "LƯU DANH THIÊN CỔ"?

Anh hùng dân tộc Nhạc Phi gần như là một cái tên quen thuộc của người dân Châu Á. Nhạc Phi là anh hùng dân tộc nổi tiếng thời Nam Tống, ông thống lĩnh Nhạc gia quân trải qua 126 trận đánh lớn nhỏ, không có cuộc tấn công nào là không giành chiến thắng. Uy danh của Nhạc Phi khiến quân Kim nghe danh liền hoảng sợ, than rằng: “rung chuyển núi dễ, rung chuyển Nhạc gia quân khó!”…


Năm đó những kẻ gian thần vì lòng ghen ghét đố kị mà làm hại bậc trung thần. Ngày Nhạc Phi bị lâm nạn, thi thể bị lũ gian tặc vứt đi. Viên cai ngục Ngỗi Thuận đã không quản hiểm nguy chu di cửu tộc, nhanh chóng đi tìm thi thể Nhạc Phi đến khu mộ sau núi, sau nhà ông chôn cất.

20 tuổi, Nhạc Phi tòng quân, trong 19 năm ông đã đạt đến vị trí Đại nguyên soái. Suốt cuộc đời, ông trải qua hơn 120 trận chiến mà chưa từng thất bại. Với tài năng quân sự trác tuyệt và kinh nghiệm chiến đấu thực tế phong phú, có thể nói trên chiến trường Nhạc Phi là vị thống soái vô cùng nổi danh.

Vào đêm trừ tịch ngày 29 tháng 12 năm Thiệu Hưng thứ 11 thời Nam Tống (ngày 27 tháng 01 năm 1142), tại đình Phong Ba ở chùa Đại Lý, Hàng Châu, đại anh hùng Nhạc Phi đã bị gian tặc Tần Cối lấy mất mạng bởi tội danh “Mạc tu hữu” (muốn ɡiết thì ɡiết, cần gì phải có tội). Con trai trưởng của Nhạc Phi là Nhạc Vân và ái tướng Trương Hiến cũng đồng thời bị hại.

Tượng Nhạc Phi. Nguồn ảnh: soundofhope

Sự ẩn thân của Ngỗi Thuận để lại một bí ẩn lớn và tích lũy rất nhiều công đức

Sau khi Nhạc Phi chết, thi thể của ông bị những kẻ phản bội ném đi. Đêm đó, trong ngục thất của Đại Lý Tự, viên cai ngục Ngỗi Thuận với tấm lòng vô cùng tôn kính Nhạc Phi, đã không quản hiểm nguy chu di cửu tộc, nhanh chóng đi tìm thi thể Nhạc Phi. Trong đêm tối, giữa cánh đồng vắng lặng, bằng dũng khí và trí tuệ phi thường, vượt muôn vàn gian khó, đã đưa được thi thể Nhạc Phi đến khu mộ sau núi, sau nhà ông, bên đền Cửu Khúc Tùng.

Vì tình thế cấp bách và không có người giúp đỡ, Ngỗi Thuận đã nhanh chóng đặt thi thể Nhạc Phi vào chiếc quan tài đã chuẩn bị sẵn, rồi lấy chiếc vòng ngọc sinh thời Nhạc Phi đeo buộc vào dưới lưng ông, quan tài được chôn dưới đất.

Ngỗi Thuận lại đặt lên trên quan tài Nhạc Phi một chiếc ống chì có khắc chữ “Đại Lý Tự” để đánh dấu. Để không thu hút sự chú ý của người khác, Ngỗi Thuận khi đó không đắp đất mà chỉ trồng hai cây quýt trước mộ Nhạc Phi, sau đó dựng một tấm bia đá trước mộ nhưng ghi tên giả, cũng là một dấu hiệu nhận biết.

Ngỗi Thuận. Nguồn ảnh: soundofhope

Ngỗi Thuận không đợi được ngày Nhạc Phi được minh oan, trước khi chết gọi con trai đến bên cạnh nói: “Ta đi đây! Nhà ta có một bí mật, bây giờ ta nói cho con biết, con nhất định phải nhớ kỹ. Đó là, con chết cũng không được để mất Nhạc đại nhân!” Rồi ông nói tiếp: “Bên cạnh đền Cửu Khúc Tùng sau núi nhà ta có hai cây quýt, sau cây quýt có chôn đại tướng Nhạc Phi. Dưới lưng ông có buộc một vòng ngọc, sau này Nhạc đại nhân được minh oan, sẽ không tìm được hài cốt ông, quan phủ sẽ treo thưởng đi tìm, đến lúc đó, con hãy đi báo quan phủ, gọi người đến nhận dạng. Nhớ kỹ, bí mật này không thể nói với bất kỳ người nào, kể cả vợ con, nếu không sẽ con sẽ bị giết, con nếu chết thì cũng phải truyền lại bí mật này cho các đời sau. Trời xanh có mắt, Nhạc tướng quân nhất định có ngày minh oan”. Nói xong, Ngỗi Thuận, trút hơi thở ra đi.

Vào tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 32 (năm 1162), Hải Lăng vương nước Kim phái quân xuống phía nam, ngọn lửa chiến tranh hủy diệt Nam Tống lại bùng lên, do bất lực, Triệu Cấu đành nhường ngôi Hoàng đế của mình cho con nuôi Triệu Thận, tức Tống Hiếu Tông. Tống Hiếu Tông là phe phản chiến, để hợp lòng dân và truyền cảm hứng cho binh lính và dân chúng chống lại quân Kim, ông đã hạ chiếu minh oan cho nhóm người Nhạc Phi, quan phủ treo thưởng 500 quan bạc trắng tìm di cốt Nhạc Phi, chuẩn bị an táng Nhạc Phi theo lễ.

Ngày 13 tháng 7 quan phủ dán cáo thị, tám ngày sau, con trai Ngỗi Thuận biết tin, sau đó đã báo vị trí thực sự nơi chôn cất của Nhạc Phi, từ đó chân tướng án oan Nhạc Phi mới được minh bạch trước thiên hạ.

Lăng mộ Nhạc Phi ở Hàng Châu (Ảnh: Siyuwj /wikipedia)

Chính là Ngỗi Thuận! Một người đàn ông nhỏ bé không rõ ngày sinh, ngày mất, không rõ chiều cao và ngoại hình, cũng như không biết hoàn cảnh gia đình, chỉ là một viên cai ngục trong nhà tù vào đầu thời Nam Tống. Với sự giúp đỡ của Thần Phật, hành động chính nghĩa của Ngỗi Thuận đã tiết lộ sự thật về vụ án oan của Nhạc Phi cho thế nhân.

Ông dám đánh đổi tính mạng của dòng tộc vì một người xa lạ, chỉ vì tôn kính ngưỡng mộ mà dám bất chấp thảy mọi rủi ro có thể mang đại họa. Có lẽ nghĩa khí của một con người lớn hơn thảy sự lo sợ.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)
Link tham khảo: