Saturday, April 11, 2026

ĐIỆP ĐỀ Ô GIANG ĐÌNH - VƯƠNG AN THẠCH


Điệp đề Ô Giang đình

Bách chiến bì lao tráng sĩ ai,
Trung Nguyên nhất bại thế nan hồi.
Giang Đông tử đệ kim tuy tại,
Khẳng vị quân vương quyển thổ lai.

Ô Giang đình: Ô Giang đình là nơi Hạng Vũ thua trận tự sát, nay thuộc trấn Ô Giang, huyện Hoà, An Huy. Theo Sử ký, Hạng Vũ bản kỷ, quân Hạng Vũ thua ở Cai Hạ, vượt vòng vây đến bến Ô Giang (bên sông Dương Tử), chỉ còn hai mươi quân kỵ đi theo. Đình trưởng Ô Giang cắm thuyền đợi, muốn chở Hạng Vũ qua sông và khuyên ông tập hợp con em Giang Đông cuốn đất lại sang. Hạng tự thấy thẹn với phụ lão Giang Đông, không qua sông, ra sức đánh rồi tự vẫn. Việc này được người sau khen, cho đây là biểu hiện khí khái của anh hùng. Nhưng theo tác giả lại khác và chỉ ra tuy Hạng thân trải trăm trận, song chỉ một trận thua ở Cai Hạ thì cục diện diệt vong đã không thể cứu vãn. Dẫu Hạng có qua Ô Giang, toan từ Giang Đông tái khởi, quyết là không thể được vì tình thế đã khác với thuở ban đầu nhất hô bá ứng để lật đổ bạo chính của nhà Tần. Tác giả rõ ràng tiến một bước sâu hơn người trước, có một nhận thức nhất định về mối quan hệ giữa thời thế với anh hùng.


疊題烏江亭

百戰疲勞壯士哀
中原一敗勢難回
江東子弟今雖在
肯為君王卷土來


Đề đình Ô Giang
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chinh chiến trăm trận chưa thôi. 
Trung Nguyên vào thế vãn hồi chẳng xong. 
Giang Đông con cháu đang mong. 
Đất đai dành lại, được lòng quân vương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.

Nguồn: Thi Viện



NGÀY CUỐI CÙNG ĐAU ĐỚN TRONG CUỘC ĐỜI HOÀNG ĐẾ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

Trung Quốc trong lịch sử từng ghi nhận nhiều giai đoạn chuyển giao triều đại đầy bi kịch, nhưng ít có hoàng đế mất nước nào khiến người đời sau thương xót như Sùng Trinh thời nhà Minh. Những giờ phút cuối cùng của vị hoàng đế này được sử sách sau này ghi chép lại một cách chi tiết.

Sùng Trinh là hoàng đế người Hán cuối cùng cai trị Trung Hoa thống nhất. Ảnh minh họa.

Theo trang mạng Sohu, trong lịch sử Trung Hoa, hiếm có vị quân vương bại vong nào lại khiến người Trung Quốc sau này thương cảm sâu sắc như hoàng đế Sùng Trinh (tên thật: Chu Do Kiểm). Người ta kể rằng, vào đêm cuối cùng của triều Minh, ông tự mình đến điện Thái Hòa, đánh chuông triệu tập bá quan văn võ nhưng không một ai có mặt. Tất cả bỏ đi từ trước.

Ngày 19/3 năm Sùng Trinh thứ 17 (tức 25/4/1644), được sử sách mô tả như một ngày “trời long đất lở”. Từ tỉnh Thiểm Tây, Lý Tự Thành – người mà triều đình gọi là “giặc cỏ, nghịch tặc” – dẫn đại quân với nòng cốt là nông dân tràn xuống, tiến vào kinh đô Bắc Kinh. Vận mệnh của một triều đại Trung Hoa từng huy hoàng suốt gần ba thế kỷ, đến đây chấm dứt.

Đêm định mệnh trong Tử Cấm Thành

Sùng Trinh biết cơ nghiệp đã mất từ đêm hôm trước, trong Tử Cấm Thành, đèn đuốc leo lắt. Sùng Trinh khi đó 33 tuổi, gương mặt hốc hác vì những năm dài gánh vác giang sơn đã rạn nứt. Ông gọi hoàng hậu Chu thị và phi tần họ Viên đến điện Càn Thanh. Sau vài chén rượu, ông ra quyết định cuối cùng: giao Thái tử Chu Từ Lãng cùng hai vương tử là Vĩnh Vương Chu Từ Kiện và Định Vương Chu Từ Huyên cho nhà bên ngoại.

Phác họa hình ảnh đội quân nông dân của Lý Tự Thành tràn vào Tử Cấm Thành.

Chu Từ Lãng, 16 tuổi, sau này được cho là chết trong biến loạn ở Bắc Kinh. Chu Từ Kiện, 10 -11 tuổi, rời khỏi kinh thành nhưng bị giết trên đường chạy trốn cùng đoàn người. Chu Từ Huyên, 8-9 tuổi, bị lạc giữa đám đông người chạy loạn, không rõ sống chết.

Trở lại đêm hôm đó, khi mọi việc đã an bài, Sùng Trinh thở dài, nói với hoàng hậu một câu: “Đại sự thế là hết!”. Câu nói này của Sùng Trinh được chép lại trong cuốn Minh Sử do sử gia Trương Đình Ngọc chủ biên thời Thanh, được xem là bộ sử chính thức chép về nhà Minh.

Câu nói như tiếng than cuối cùng của một trong những triều đại hùng mạnh nhất lịch sử Trung Quốc. Hoàng hậu và các cung nữ quỳ xuống nức nở. Giữa tiếng khóc, Chu hoàng hậu ngẩng lên, nhìn thẳng vào chồng, nói như lời trách móc cuối cùng: “Thiếp hầu hạ bệ hạ 18 năm, nhưng chưa từng thấy người nghe lời khuyên của thiếp. Hôm nay mới biết khuyên can là vô ích”.

Nói xong, bà ôm lấy thái tử và hai hoàng tử, khóc nghẹn rồi tiễn họ đi. Đó là lần cuối cùng mẹ con còn được nhìn thấy nhau. Khi cung điện đã vắng lặng, Chu hoàng hậu trở về Khôn Ninh cung, âm thầm treo cổ tự vẫn. Sùng Trinh thấy vậy, chỉ buông tiếng than: “Tốt rồi...”.

Phi tần họ Viên – người được vua yêu quý nhất – cũng bị ép tự sát. Khi dây thừng treo cổ đứt, bà ngã xuống, chưa chết hẳn. Sùng Trinh tiến tới rút kiếm, chém ba nhát kết liễu, rồi lạnh lùng quay đi, theo Sohu.

Sùng Trinh sau đó gọi công chúa Trường Bình, khi đó 15 tuổi, đến bên. Công chúa khóc lóc van xin cha tha cho, nhưng Sùng Trinh chỉ khẽ nói: “Con sinh vào nhà ta, thật bất hạnh”. Câu nói này là phiên bản rút gọn và phổ biến hóa trong dân gian Trung Quốc, từ câu gốc trong Minh Sử: "Con thật bất hạnh khi sinh trong nhà đế vương".

Khi vua cha vung kiếm, công chúa hoảng hốt giơ tay đỡ, bị chém đứt cánh tay, nằm bất tỉnh. Em gái của công chúa cũng bị cha giết chết.

Vào thời điểm Sùng Trinh treo cổ tự tử, bên cạnh chỉ có một thái giám thân cận.

Công chúa Trường Bình là người con sống lâu nhất của Sùng Trinh. Không rõ vì lý do gì nhưng công chúa không bị cha đâm nhát kiếm kết liễu. Đến ngày hôm sau, một thái giám thấy công chúa bất tỉnh thì đưa đi chăm sóc.

Lý Tự Thành thực tế không kiểm soát Bắc Kinh được lâu. Ở vùng biên cương phía bắc, tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế mở cửa biên giới, đón quân Thanh đánh xuống phía nam. Thủ lĩnh Hoàng Thái Cực sau khi chiếm được Bắc Kinh vào ngày 27/5/1644 thì tuyên bố thành lập triều đại mới, dần dần mở rộng sự cai trị khắp Trung Hoa.

Trong khi đó, Công chúa Trường Bình vẫn sống thêm 2 năm nữa vào thời nhà Thanh, đến năm 1646 thì qua đời khi mang thai do bệnh nặng.

Trở lại đêm ngày 24/4/1644, tiếng khóc vang vọng khắp hậu cung. Sùng Trinh trong cơn hoảng loạn, còn tự tay giết thêm vài cung nhân thân cận – như muốn chấm dứt tất cả những gì gắn với triều đại này.

Nỗ lực phản kháng bất thành

Rạng sáng ngày 25/4/1644, Sùng Trinh khoác chiến bào, xỏ nhanh ủng, tay cầm vũ khí và dẫn theo mấy chục hoạn quan mang đao rìu, cưỡi ngựa phi quanh Tử Cấm Thành. Không ai biết ông muốn làm gì: tìm đường ra khỏi kinh thành hay đánh trả quân Lý Tự Thành. Nhưng mọi lối ra đều đã bị chặn. Khi trời sáng, đoàn người thất thểu quay về cung.

Theo Sohu, những giờ phút cuối đời của Sùng Trinh được sử sách chép như sau: biết rằng mọi sự đã tận, Sùng Trinh quay sang thái giám Vương Thừa Ân, người vẫn không rời nửa bước, nói nhỏ: “Chúng ta đi thôi”.

Hai người rời cung, men theo lối sau tiến về Vạn Thọ Sơn, nay là Cảnh Sơn phía sau Tử Cấm Thành. Trên đỉnh núi có Lầu Thọ Hoàng, còn gọi là “Hồng Các” – nơi Sùng Trinh từng cho xây để huấn luyện đội quân nội vệ. Không ngờ, đó lại trở thành nơi ông chọn để kết thúc đời mình.

Trong gió lạnh mùa xuân, Sùng Trinh đứng lặng hồi lâu, rồi hỏi Vương Thừa Ân: “Trẫm đối đãi bề tôi chẳng bạc, cớ sao đến nước này, không một ai chịu chết cùng trẫm như Trình Tế thời trước?”. Trình Tế thật ra không được nhắc trong cuốn “Minh Sử” ở đoạn này, nhưng lại xuất hiện trong một số sử liệu và được người đời sau ở Trung Quốc thêm thắt vào để làm nổi bật thêm giây phút cuối cùng của Sùng Trinh.

Trình Tế là quan lại triều Minh, người chết cùng Minh Huệ Đế để tỏ lòng trung thành, khi Yên Vương Chu Đệ dấy binh tạo phản, cướp ngôi vào năm 1402.

Thừa Ân cúi đầu, không đáp. Một lúc sau, Sùng Trinh như tự biện hộ cho cả triều đình: “Chắc họ không biết, nên chưa kịp đến thôi”.

Nói dứt lời, ông bước đến gốc hải đường bên cạnh, buộc dây vào cành, siết chặt y phục rồi tự vẫn. Vương Thừa Ân quỳ xuống khóc, sau đó cũng treo cổ bên cạnh.

3 ngày sau, quân Lý Tự Thành mới phát hiện thi thể. Sùng Trinh chết trong bộ đồ rách nát, tóc xõa che mặt, chân trái không đi giày, áo dính máu, bên ngực là tờ di chiếu viết bằng máu: “Trẫm vì mất nước, không còn mặt mũi nhìn tổ tông, nên chết ở đây. Xin kẻ thù chớ hại dân, đừng giết bá quan”.

Lời cuối cùng của Sùng Trinh được các tài liệu đời sau ở Trung Quốc như “Sùng Trinh dã sử”, “Minh mạt dã thoại” hoặc “Tịch Mộ chí” phóng tác lại từ Minh Sử, làm cho mang giọng bi hùng hơn và được lan truyền rộng rãi đến ngày nay.

Người đời sau không chắc tờ di chiếu ấy có thật hay không. Nhưng hầu hết đều tin rằng, đó đúng là lời của Sùng Trinh, bởi cả đời ông luôn giữ trong lòng nỗi xót thương dân chúng, theo Sohu.

Người được hậu thế thương xót

Nơi Sùng Trinh treo cổ tự tử ở phía sau Tử Cấm Thành.

Thi hài Sùng Trinh, Chu Hoàng hậu và Điền Quý phi được Lý Tự Thành chôn tạm cùng nhau ở ngoại ô Bắc Kinh, cách khoảng 50 km, về sau gọi là Tư Lăng. Nơi an táng chỉ là một gò đất nhỏ, chôn vội trong đêm mưa bên trên dựng tạm bia gỗ ghi hai chữ “Tư Lăng”.

Năm 1659, hoàng đế Thuận Trị của triều Thanh ra lệnh tu sửa lại, chính thức phong nơi ấy là “Minh Tư Lăng”, nghĩa là lăng tưởng nhớ vua Minh.

Tư Lăng ngày nay được Trung Quốc xếp hạng di tích văn vật cấp quốc gia, nơi du khách có thể ghé thăm. Người Trung Quốc thường gọi Sùng Trinh “vị vua cô độc nhất trong lịch sử nhà Minh’ và có câu nói truyền miệng: “Mười ba vua nằm trong Thập Tam Lăng, chỉ có một người cô độc ở Tư Lăng”.

Thập Tam Lăng là quần thể an táng các vua nhà Minh, ngoại trừ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (an táng ở Nam Kinh) và Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc (bị phế, không được chôn trong Thập Tam Lăng). Thập Tam Lăng nay nằm cách Tư Lăng khoảng 8 km.

Tư lăng

Là hoàng đế người Hán cuối cùng cai trị toàn bộ Trung Quốc, Sùng Trinh vẫn được hậu thế thương cảm. Ông không sa vào tửu sắc, không phóng túng như nhiều bậc quân vương cuối triều khác. Ông cần kiệm, chăm việc triều chính, nhiều lần thân chinh dẹp loạn. Nhưng ông sinh nhầm thời. Khi ông lên ngôi, nhà Minh đã mục ruỗng: tài chính cạn kiệt, nạn đói và thiên tai khắp nơi, quan lại tham ô, quân đội tan rã.

Trong những năm trị vì, ông từng than: “Trẫm chẳng phải vua mất nước, sao lại gặp toàn chuyện của kẻ mất nước?”. Theo Sohu, câu hỏi ấy được ông mang theo xuống mồ mà chưa bao giờ có lời giải. Nhà Minh sụp đổ không chỉ vì một người, mà là kết quả của một triều đại suy tàn từ lâu.

Người dân Bắc Kinh kể rằng, sau khi Sùng Trinh chết, đêm nào cũng nghe tiếng chuông ngân vọng ra từ Tử Cấm Thành. Tiếng chuông ấy – có người nói là hồn vua chưa tan, có người nói là gió thổi vào chuông cổ. Dù thế nào, nó vẫn nhắc người đời nhớ đến bi kịch của một đế vương cố níu lấy giang sơn đã không thể cứu vãn, Sohu viết.

Đăng Nguyễn / Theo: nguoiduatin



Friday, April 10, 2026

3 THẤT BẠI ĐÁNG SỢ NHẤT SAU TUỔI 50 LÀ GÌ?

Gần đến tuổi trung niên, nhiều người thường hoang mang, lo lắng trước những thay đổi về kinh tế và cuộc sống. Tuy nhiên thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50 là gì? Có phải là không có tiền? hay sự nghiệp lụn bại? gia đình ly tan?


Thực sự ra tiền rất quan trọng, nhưng sau tuổi 50 thất bại đáng sợ nhất không phải là thiếu tiền, mà là 3 điều quan trọng hơn sau đây:

1. Nuôi dạy con cái không nên người là thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50

Thành công lớn nhất của một người trung niên chính là thành công của gia đình. Với người Á Đông thành công của một gia đình lại nằm phần lớn ở việc bồi dưỡng, giáo dục con cái. Tất nhiên thành công này không được xác định bằng việc con cái trong nhà phải được nhận vào các trường đại học danh tiếng hàng đầu, mà đó là sự khỏe mạnh về thể chất và cả tinh thần, có sự ngay thẳng và tự tin.

Đối với những người trên 50 tuổi, hầu hết con cái của họ đã bắt đầu bước vào xã hội. Quá trình tìm kiếm việc làm của các con chính là vấn đề khiến các bậc cha mẹ lo lắng. Lo cho con không có học vấn cao, không có bằng cấp từ các trường “xịn”, không có quan hệ để dựa dẫm, nhờ vả sẽ bị chèn ép hay thậm chí lo họ sẽ không chống chọi được với những cám dỗ của cuộc đời… Tất cả đều là những nỗi lo thường trực trong lòng mỗi bậc phụ huynh.

Có người lúc này mới hối hận vì trước kia chỉ mải lo công việc kiếm tiền mà bỏ bê gia đình, không dành nhiều tâm huyết cho việc nuôi dạy con cái. Bây giờ, khi các con đã khôn lớn và định hình tính cách, dù họ muốn can thiệp hay thay đổi cũng đã muộn.

Nếu bạn không dạy con mình, cuối cùng, xã hội sẽ dạy chúng theo cách nghiêm khắc hơn hơn. Chính vì lẽ đó, nuôi dạy con cái không nên người trở thành một trong những thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50.


2. Sự nghiệp như trống không cũng là điều đáng sợ

Tam thập nhi lập, tứ thập bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh. Đời người ai không muốn công thành danh toại. Nếu có thể, ai mà không muốn làm ra thành tựu, không để lại bất cứ tiếc nuối gì trong cuộc đời ngắn ngủi mấy chục năm của mình.

Từ thời thiếu niên vô tư, chuyển sang một thanh niên đầy nhiệt huyết, rồi dần dần trở về với cuộc sống trung niên bình lặng, đó là những giai đoạn bắt buộc của cuộc sống. Ở mỗi một giai đoạn, chúng ta đều không ngừng đưa ra những sự lựa chọn.

Mỗi sự lựa chọn lại dẫn tới một kết quả hoàn toàn khác nhau. Để đến cuối cùng, có người gặt hái thành tựu để đời , có người tích góp được một phần gia sản cho con cháu về sau, nhưng cũng có không ít người trở về với hai bàn tay trắng.

Có người từng nói: “Khi còn trẻ, chúng ta luôn mơ ước được thay đổi thế giới, đến cuối cùng, chúng ta chỉ muốn thay đổi bản thân mình”. Sau tuổi 50 thất bại đáng sợ nhất là trong quá trình theo đuổi ước mơ, chúng ta đã không nắm bắt được phương hướng và mức độ đúng đắn. Cuối cùng, kết quả nhận lại chỉ như “dã tràng xe cát biển Đông”. Nỗ lực và bận rộn cả đời nhưng vẫn phải trở lại vạch xuất phát.

Không nói đến sự nghèo nàn, túng thiếu về mặt kinh tế ở tuổi già khiến người ta bi ai, mà điều khiến người ta cảm thấy đáng sợ hơn cả là cảm xúc thất vọng về bản thân mình.

Nhiệt huyết tuổi trẻ khiến bạn có thể đứng lên hết lần này tới lần khác sau vô số thất bại. Nhưng khi đã bước vào giai đoạn trung niên, không phải ai cũng có dũng khí để tiếp tục mạo hiểm.


3. Không có chỗ dựa tinh thần cũng là một thất bại lớn

Càng lớn tuổi, người ta càng cần có người tri kỷ sẵn lòng ở bên làm bạn, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, họ mới không cảm thấy cô đơn trong những tháng ngày sắp qua buổi xế chiều.

Một người già hạnh phúc là người có con cháu chăm lo, có người bạn đời bên cạnh và may mắn có thêm người bạn thân tri kỷ cùng đồng hành những ngày tháng tuổi già. Sở hữu được 1 điều đã không dễ, chưa kể là cả 3 điều trên. Do đó, nếu đang có được niềm hạnh phúc này, chúng ta cần phải hết sức trân trọng.

Nhưng điều tưởng chừng đơn giản này không phải ai cũng có thể làm được. Rất nhiều người từng nóng giận mất khôn hoặc bị cảm xúc nhất thời lấn át, sau đó phạm sai lầm. Những quyết định không đúng không chỉ làm tổn thương mọi người xung quanh, mà còn bao gồm chính bản thân họ. Sự cô đơn và thiếu vắng chỗ dựa cảm xúc chính là một trong những điều thất bại đáng sợ nhất khi họ bước vào tuổi trung niên .

Điều quan trọng nhất là những người đang hiện hữu xung quanh, sẵn sàng dành sự quan tâm, yêu thương và ấm áp cho mình. Ở vào giai đoạn này, chẳng còn gì phải dè chừng hay nghi ngại, chẳng còn gì phải tranh cướp hay ganh ghét, mọi thứ chỉ còn là đồng cảm và sẻ chia.

Ở tuổi này, chúng ta đã đi được nửa chặng đường đời, nên học cách sống an yên và chấp nhận. Những người không thể buông tay, những điều không thể buông bỏ khi còn trẻ thì cũng nên qua đi.


Qua tuổi 50, nghĩa là sẽ sang một giai đoạn mới trong đời người

Quá khứ người ta có thể trải qua rất nhiều thất bại, có thất bại đã vượt qua, cũng có những thất bại vẫn là nỗi ám ảnh trong tâm lý. Nhưng đã tới giai đoạn 50 này, điều gì cần buông bỏ thì hãy mạnh dạn mà làm. Cho dù cuộc sống tầm thường và tẻ nhạt thì quan trọng hơn, sự tĩnh lặng và yên bình trong nội tâm mới là điều đáng quý.

Mỗi người đều có một số phận riêng. Sau những bôn ba tranh đấu, khi đến tuổi trung niên người ta mới nhận ra điều này. Tất nhiên người không có được sự đủ đầy về vật chất lẫn tinh thần sẽ rơi vào sự buồn phiền lo lắng, nhưng người sung túc tiền tài vật chất liệu có thể không lo âu.

Tuổi tác sẽ luôn đi kèm với bệnh tật, sinh tử. Xưa nay mấy ai thoát được khỏi vòng đời tử sinh. Lo cũng vậy mà không muốn lo cũng vậy. Ai mà không phải đối diện với những ngày tháng này. Tuy nhiên hòa mình với đất trời, thấu hiểu đạo đời lại là một giải pháp hay.

Phong Trương / Theo: Trithuctre

DARUMA - LINH HỒN CỦA NIỀM TIN VÀ SỰ KIÊN TRÌ TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN

Khám phá bí ẩn đằng sau búp bê Daruma, biểu tượng của may mắn và sức mạnh ý chí ở Nhật Bản. Điều gì khiến nó không chỉ là một món đồ chơi mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho mỗi quyết tâm và hành trình đặc biệt trong cuộc sống của người Nhật từ thế kỷ 17 đến tận ngày nay?


Trong cái lạnh se se của những ngày cuối năm, trên các con phố nhỏ hẹp và yên bình ở Nhật Bản, ánh đèn le lói tỏa ra từ những cửa hàng nhỏ làm ấm lòng người qua đường. Và nếu bạn đủ tinh ý, bạn sẽ nhận ra hình dáng tròn trịa, màu sắc rực rỡ của những búp bê Daruma - người bạn đồng hành với người Nhật trong suốt năm đã qua, và cả năm sắp tới.

Hành trình của Đạt Ma - Khoảnh khắc tĩnh lặng trong thế giới hối hả

Thế kỷ 17, khi Nhật Bản còn đang ngập tràn trong nền văn hóa samurai, một biểu tượng khác cũng bắt đầu lấn át với ý nghĩa phong phú và sâu sắc - đó chính là Daruma. Hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma - vị thiền sư Ấn Độ nổi tiếng, được người Nhật tôn vinh qua những búp bê này. Với lông mày hình cánh hạc và râu giống hình con rùa, Daruma không chỉ đơn thuần là một búp bê, mà còn là sự thể hiện của triết lý sống - một cuộc hành trình của sự kiên nhẫn và ý chí.

Hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma - vị thiền sư Ấn Độ nổi tiếng, được người Nhật tôn vinh qua những búp bê này. Ảnh: Egenolfgallery

Nghệ thuật làm búp bê Daruma - Từ bàn tay nghệ nhân đến trái tim người nhận

Nakata là một trong những nghệ nhân daruma uy tín ở Takasaki. Ông đã biến nó thành lẽ sống của mình để duy trì nghề thủ công này. Tại Daimonya, xưởng của ông, Nakata tạo ra những con búp bê có kích thước phức tạp nhất, được sơn màu đỏ son, vàng và đen tuyền tuyệt đẹp, khắc trên chúng những nét thư pháp tượng trưng cho “vận may”, “sự kiên trì” hoặc một tình cảm tích cực không kém khác. Ảnh: Tokyoandaroundtokyo

Để tạo nên một búp bê Daruma, người nghệ nhân phải trải qua 18 bước thủ công không những đòi hỏi sự tỉ mỉ mà còn cả sự kiên trì không kém. Từng lớp giấy bồi được gấp, dán, và sơn màu - mỗi bước đều phải được thực hiện với sự cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ. Đỏ là màu truyền thống, nhưng cũng như cuộc sống với nhiều lựa chọn và ước mơ, Daruma cũng vậy, nó mang trên mình nhiều màu sắc với những ý nghĩa khác nhau.

Búp bê không mắt và một thông điệp ý nghĩa

Đặc biệt nhất, có lẽ, là đôi mắt trống rỗng của Daruma. Không phải là thiếu sót, mà là một thông điệp: "Khi bạn có mục tiêu, hãy bắt đầu vẽ lên một bên mắt". Và khi bạn hoàn thành mục tiêu đó, "hãy vẽ nốt bên mắt còn lại". Đó là cách mà người Nhật "nhìn thấy" và nhắc nhở bản thân không ngừng tiến bước về phía trước.

Khi bạn có mục tiêu, hãy bắt đầu vẽ lên một bên mắt". Và khi bạn hoàn thành mục tiêu đó, "hãy vẽ nốt bên mắt còn lại"

Sự vững vàng của Daruma - Câu chuyện về sự kiên cường

Daruma có khả năng giữ thăng bằng tốt, biểu tượng của câu thành ngữ "nana korobi ya oki" (bảy lần ngã, tám lần đứng dậy) phản ánh triết lý của người Nhật. Dù cuộc sống có xô đẩy bạn ra sao, hãy luôn đứng dậy và tiếp tục đi.

Hōrin-ji là một ngôi chùa Phật giáo nhỏ của trường Rinzai Zen Myōshin-ji, nằm trong một khu phố yên tĩnh ở phía tây bắc Kyoto. Được biết đến nhiều hơn với cái tên Daruma-dera, điểm thu hút chính của ngôi chùa này là bộ sưu tập đáng kinh ngạc gồm khoảng 8.000 búp bê daruma được quyên góp. Ảnh: Discoverkyoto

Màu sắc và mong ước - Sự đa dạng của hy vọng

Mỗi màu sắc của Daruma đại diện cho một mong ước khác nhau: tím cho sức khỏe, vàng cho bình an, vàng kim cho tiền tài, trắng cho tình duyên. Như vậy, không chỉ là một lời chúc phúc, Daruma còn là người bạn đồng hành cùng những mong ước cá nhân sâu sắc nhất.


Phong tục Tết và Daruma - Một nghi lễ linh thiêng

Khi Tết đến, người Nhật lại tìm đến Daruma như một phần không thể thiếu của nghi lễ. Mua một búp bê mới, cầu nguyện cho một năm mới thành công rực rỡ, và đem những búp bê cũ đến chùa để đốt - một cách để bày tỏ lòng biết ơn và sẵn sàng cho khởi đầu mới.

Chợ Shirakawa Daruma được tổ chức hàng năm vào ngày 11 tháng 2. Vào ngày này, các con phố trải dài 1,5 km với các gian hàng bán Daruma đủ hình dạng và kích cỡ. Khu chợ sôi động, sôi động này tôn vinh văn hóa và lịch sử của Shirakawa Daruma. Ảnh: fukushima.travel

Lễ hội Daruma Kuyo - Nơi hồn của Daruma được giải thoát

Tại các ngôi chùa lớn, nghi lễ Daruma Kuyo được tổ chức, hàng nghìn búp bê Daruma cũ được đốt chung trong lửa lớn, tiễn biệt những điều ước cũ và những thất bại của năm cũ, để rồi từ tro tàn, hy vọng mới lại được nuôi dưỡng.

Hàng nghìn búp bê Daruma cũ được đốt chung trong lửa lớn, tiễn biệt những điều ước cũ và những thất bại của năm cũ.

Daruma không chỉ đơn giản là một búp bê. Nó là sự sống động của niềm tin, là ngọn lửa của quyết tâm, là đồng minh trong mỗi thử thách, và là nhân chứng cho sự kiên trì không ngừng của con người. Trong thế giới hiện đại ngày nay, Daruma vẫn không ngừng nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự bền bỉ và niềm tin vào tương lai tốt đẹp hơn.

Hãy để mỗi Daruma bạn gặp là một câu chuyện, một hành trình, một ước nguyện mà bạn dám vẽ nên - bằng ý chí, sự kiên trường và lòng tin không bao giờ tắt.

Minh Hieu / Theo: TravelSig+



ĐỀ THU GIANG ĐỘC ĐIẾU ĐỒ - VƯƠNG SĨ TRINH


Đề thu giang độc điếu đồ

Nhất thoa nhất lạp nhất biển chu,
Nhất trượng ty luân nhất thốn câu.
Nhất khúc cao ca nhất bôi tửu,
Nhất nhân độc điếu nhất giang thu.


題秋江獨釣圖

一蓑一笠一扁舟
一丈絲綸一寸鉤
一曲高歌一杯酒
一人獨釣一江秋


Đề tranh mùa thu câu cá một mình
(Dịch thơ: Nguyễn Quê)

Một tơi, một nón, một bè lau 
Một trượng dây tơ, một móc đầu 
Một khúc ca rền ly rượu một 
Một sông, một khách, một cần câu


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Sĩ Trinh 王士禎 (1634-1711) nguyên tên Sĩ Chân 士禛, tự Tử Chân 子真, Di Thượng 貽上, hiệu Nguyễn Đình 阮亭, Ngư tiên sơn nhân 漁洋山人, sinh năm Sùng Trinh thứ 7 (1634) nhà Minh, người Tân Thành, Sơn Đông. Ông đậu tiến sĩ năm Thuận Trị thứ 12 (1655) nhà Thanh, để lại những tập thơ như Ngư Dương tập, Thục đạo tập, Nam Hải tập,...

Nguồn: Thi Viện



LƯƠNG THIỆN - ÁNH SÁNG THUẦN KHIẾT NHẤT

Có một loại ánh sáng không đến từ mặt trời, cũng chẳng tỏa ra từ đèn đuốc, mà chỉ có thể rực rỡ trong lòng người, đó là ánh sáng của lòng lương thiện. Nó không phô trương, không ồn ào, mà lặng lẽ lan tỏa, chạm đến trái tim người khác theo cách tự nhiên nhất.


Lương thiện không phải là yếu đuối, mà là dũng khí của trái tim.

Có người từng hỏi: “Giữa một thế giới phức tạp, lòng tốt có bị xem là khờ dại không?”

Nhưng lương thiện không đồng nghĩa với dễ dãi, không phải là sự nhu nhược để người khác lợi dụng. Thực ra, để giữ được sự lương thiện giữa cuộc đời đầy thử thách, cần một trái tim mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Bởi vì dễ dàng oán hận hơn là bao dung. Dễ dàng thờ ơ hơn là đưa tay giúp đỡ. Dễ dàng phán xét hơn là thấu hiểu.

Nhưng người lương thiện luôn chọn con đường khó hơn, con đường của yêu thương và nhẫn nại.

Họ không ngây thơ đến mức không biết những mưu mô, nhưng vẫn chọn tin vào phần tốt đẹp trong con người. Không phải vì họ không sợ tổn thương, mà vì họ biết: Khi lòng mình không bị vấy bẩn bởi oán giận, thì dù thế gian có đổi thay thế nào, họ vẫn giữ được sự bình yên bên trong.


Lương thiện là một sự lựa chọn, không phải là một điều kiện

Có người chỉ lương thiện khi gặp người tốt. Có người chỉ tử tế khi được đối xử tử tế. Nhưng lòng lương thiện chân chính không phải là một món quà trao đổi, mà là một giá trị tự thân.

Giống như một bông hoa nở giữa vùng đất cằn cỗi, nó không chờ đợi ai tưới tắm mà vẫn vươn lên rực rỡ. Người lương thiện không làm điều tốt để nhận lại sự biết ơn, cũng không vì mong được đối xử tốt, mà chỉ đơn giản vì đó là con người họ.

Họ vốn biết rõ, lòng tốt có thể không được đáp lại, nhưng vẫn xứng đáng được trao đi. Có thể không ai nhớ đến, nhưng bản thân họ luôn biết rằng, mình đã sống một đời trọn vẹn và đẹp đẽ.

Lương thiện chính là ánh sáng âm thầm nhưng vĩnh cửu

Thế giới này có thể không hoàn hảo, nhưng mỗi lòng tốt nhỏ bé đều góp phần làm nó tốt đẹp hơn một chút. Giống như ngọn nến lặng lẽ thắp lên trong đêm tối, chúng ta có thể không xua tan được bóng đêm, nhưng có thể giúp nhau nhìn rõ hơn con đường phía trước.

Và rồi, khi ngoảnh lại, chúng ta sẽ thấy:

Không phải tiền bạc, danh vọng hay địa vị, mà chính sự lương thiện mới là thứ giúp ta thanh thản nhất khi đặt tay lên ngực mình và hỏi: “Ta đã sống một cuộc đời đáng giá hay chưa?”

Nguyên Tác An Hậu
An Nhiên / Theo: vandieuhay

Thursday, April 9, 2026

HÀN PHI VIẾT QUYỂN "BÍ KIẾP" CAI TRỊ NƯỚC: TẦN THỦY HOÀNG THÍCH THÚ ÁP DỤNG TRIỆT ĐỂ

Quyển "sách giáo khoa" của Hàn Phi đã giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất và cai trị tốt Trung Hoa.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, Hàn Phi đã để lại những tác phẩm, tiêu biểu là "Hàn Phi Tử" có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là một bậc thầy về Pháp trị, là con trai của vua An nước Hàn, sống ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng là giai đoạn Tần Thuỷ Hoàng đang thống nhất Trung Hoa.

TẦN THỦY HOÀNG KHAO KHÁT GẶP HÀN PHI

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc theo trường phái Pháp trị, tác giả sách Hàn Phi tử. Ảnh: JoongAng Ilbo

Tương truyền, có người muốn dâng sách của Hàn Phi lên cho Tần Thuỷ Hoàng. Dù cùng là học trò của Tuân Tử nhưng Lý Tư vô cùng cảnh giác với Hàn Phi, người được cho là vượt trội hơn nhiều về trí tuệ và hiểu biết.

Có lẽ vì vậy nên Lý Tư đã tìm cách ngăn cản Tần Thủy Hoàng tiếp cận được quyển sách đó. Tuy vòng vèo mãi nhưng cuối cùng sách Hàn Phi Tử cũng đến tay Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng sau khi đọc xong quyển Cô phẫn và Ngũ đố (Hàn Phi Tử), nói: "Ôi! Nếu ta có thể gặp gỡ người đã viết ra tác phẩm này thì có chết cũng không còn hối hận gì." Lý Tư đáp: "Cuốn sách này là sách do Hàn Phi viết đấy ạ."

Nghe vậy, Tần Thủy Hoàng rất thán phục và luôn ước ao được gặp Hàn Phi, đến nỗi Lý Tư không còn cách nào khác ngoài dùng thủ đoạn, xui Tần Thủy Hoàng điều động quân đến bao vây nước Hàn, cho rằng nếu làm như vậy, vua Hàn buộc phải cử người thông minh nhất nước, là Hàn Phi, đi làm sứ giả. Cuối cùng, kế dụng hàng trăm ngàn quân đã thành công, Tần Thủy Hoàng đã gặp mặt được Hàn Phi.

Sau này, Tần Thủy Hoàng đã chấp nhận triết lý cai trị của Hàn Phi và thống nhất Trung Hoa. Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê trong Sử Trung quốc, cái học của Hàn Phi vẫn được thi hành ở Tần và giúp Tần Thủy Hoàng hoàn thành được công việc thống nhất Trung Quốc, lập chế độ quân chủ chuyên chế thay chế độ phong kiến. Trong thời kỳ của Hàn Phi, các học thuyết của Khổng, mặc dù đã thất bại trong việc cứu vãn thời thế, Hàn Phi đã thành công nhờ dùng trọn các thuyết của Pháp trị, theo đó đề cao luật pháp nghiêm minh, các hình phạt hà khắc, và sử dụng gián điệp.

MƯU KẾ HÈN HẠ

Chân dung Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) và cuốn sách Hàn Phi tử. Ảnh: Weekly Chosun

Hàn Phi là người giỏi lý luận, tư duy có logic, văn hay chữ tốt và có khả năng dự đoán tương lai; nhưng theo "Sử ký" của Tư Mã Thiên, điểm yếu của ông là không giỏi ăn nói, mắc tật nói lắp. Đó là một bất lợi mang tính quyết định khi không thể diễn thuyết như nhiều nhà tư tưởng đương thời.

Tuy ganh ghét nhưng Lý Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy Vua Tần, sau nhiều mong chờ được gặp và trò chuyện, lại thấy thất vọng, giảm tín nhiệm đặt vào Hàn Phi. Lý do có thể là vì những điểm yếu trong việc ăn nói này.

Dù vậy, Hàn Phi đã dùng cách viết để truyền đạt những ý kiến sắc sảo ​​của mình với nhà vua. Lo sợ Vua Tần sẽ khám phá ra cái tài thật sự của Hàn Phi, sợ rằng Hàn Phi sẽ đe dọa vị trí của mình, Lý Tư và Diêu Giả đã âm mưu với Vua Tần vu cho Hàn Phi tội phản quốc.

Lý Tư đã âm mưu với Vua Tần rằng: "Không đời nào Hàn Phi không có thù oán với nhà Tần. Nếu nhà vua không có ý định sử dụng hắn, xin hãy gửi hắn về nước Hàn."

Tần Thủy Hoàng cho là phải, nói: "Nếu như gửi lại, chẳng phải giống như thả con hổ khó bắt về rừng sao? Chi bằng lấy cớ làm trái pháp luật mà giết đi."

Vua Tần giao cho quan lại trị tội Hàn Phi vì tội phản quốc. Lý Tư sai người đưa thuốc độc, khiến Hàn Phi phải tự sát.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, nhưng Hàn Phi đã để lại những tác phẩm có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

"SÁCH GIÁO KHOA DẠY LÀM VUA"

Tần Thủy Hoàng được coi là vị vua đầu tiên áp dụng Học thuyết Pháp trị do Hàn Phi viết về cách để trị nước.

Hàn Phi Tử được xem là cuốn sách chứa "Học thuyết của Đế Vương", hay là "cuốn sách giáo khoa dạy làm vua" độc đáo, mang đậm dấu ấn của chế độ phong kiến Phương Đông. Qua tác phẩm, tác giả đã chính thức khai sinh học thuyết Pháp trị, đề cao pháp luật với tư cách là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội.

Tư tưởng của Hàn Phi Tử khác với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã hội thì dùng Nhân trị và Đức trị), đề cập rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật: "Pháp luật không hùa theo người sang. [...] Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu".

Trong Hàn Phi Tử, Hàn Phi đưa ra lập luận rất chặt chẽ và sắc sảo, sử dụng rất nhiều dẫn chứng, trong đó các dẫn chứng là chuyện đương thời chứ không phải chuyện xa xôi, nên sức thuyết phục rất mạnh.

Theo cách nói ngày nay, Hàn Phi là một nhà tư tưởng có cả khuynh hướng cánh hữu và cánh tả. Hệ tư tưởng của ông hoàn toàn hướng tới việc củng cố quyền lực của quân vương. Hàn Phi đưa ra quan điểm trong "Hữu độ" về sự thăng trầm của đất nước: "Không có quốc gia nào luôn mạnh hay luôn yếu. Người dân càng tự giác tuân theo pháp luật, đất nước càng mạnh; còn ý thức tuân theo pháp luật của người dân càng kém, thì đất nước càng yếu."

Theo: Pháp Luật & Bạn Đọc