Saturday, November 7, 2026

HỌA MI ĐIỂU - ÂU DƯƠNG TU


Hoạ mi điểu

Bách chuyển thiên thanh tuỳ ý di,
Sơn hoa hồng tử, thụ cao đê.
Thuỷ tri toả hướng kim lung thính,
Bất cập lâm gian tự tại đề.


畫眉鳥

百囀千聲隨意移
山花紅紫樹高低
始知鎖向金籠聽
不及林間自在啼


Chim hoạ mi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Bách thanh trầm bổng chẳng ngừng.
Muôn hồng nghìn tía trên từng cành cao.
Lồng son khóa kín tìm vào.
Trong rừng tự tại, khác nào khi xưa !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây, ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân tài tình phong phú. Ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển.

Nguồn: Thi Viện



CON ĐƯỜNG NGẮN NHẤT ĐỂ THAY ĐỔI VẬN MỆNH

Con người sinh ra ai ai cũng có vận mệnh của riêng mình. Người ta vẫn thường hay nhắc tới vận mệnh như một quy luật, trên thực tế, quy luật ấy chính là nhân quả tuần hoàn.


Vậy, nếu vận mệnh đã là một quy luật, là sự tuần hoàn của nhân quả, thì làm thế nào để thay đổi được đây?

Ở đây cần phải xét đến hai yếu tố: Nếu như mệnh là cố định bất biến, là điều thuộc về “Thiên định”, thì vận lại là các yếu tố do “Nhân định” và hoàn toàn có thể thay đổi được. Nguyễn Du cũng từng viết: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, con người chỉ cần cải biến vận thì đã có thể thay đổi được vận mệnh của mỗi người.

Vậy làm cách nào thể thay đổi vận, giúp con người tiêu tai, trừ hoạ, giải nạn đây?

Thuật pháp có thể giúp tránh né, chứ không thể tiêu trừ kiếp nạn

Ví như một người luôn làm điều xấu, tạo nhiều ác nghiệp, thì đến một lúc nào đó họ sẽ phải gặp quả báo. Trước khi quả báo ập tới, một số người có khả năng dự đoán trước đã dùng thuật pháp để tránh tai kiếp này. Tuy nhiên, thuật pháp chỉ có thể chuyển biến đại nạn hoặc tiên đoán trước khi kiếp nạn xảy ra, nhưng vẫn không thể thực sự giúp họ thoát ra khỏi kiếp nạn. Dùng thuật pháp chỉ có thể trốn tránh tạm thời trên bề mặt, dẫu có thể tránh được vài ngày, vài tháng, vài năm, thì cũng không thể tránh được cả đời. Cũng giống như một người nghiện rượu đến mức xơ gan, họ có thể uống thuốc để làm dịu cơn đau nhưng cũng chẳng thể giúp gan hoàn toàn phục hồi.

Sống giữa cõi thế tục xô bồ, ai ai cũng cho rằng làm người là phải có danh vọng, tiền tài. Nhưng tiền tài từ đâu mà có? Kỳ thực tiền tài đến từ phúc đức tích luỹ của mỗi người, cũng là do phúc đức sinh ra. Có người cả đời sống vất vả bôn ba, không ngừng bày mưu tính kế để cầu tiền đoạt lợi mà không biết tích đức. Thứ tiền tài nhờ vào truy cầu đấu đá, cho dù có được cũng chẳng thể nắm giữ, tất cả đều sẽ thông qua bệnh tật hoặc đại nạn mà mất đi.


Còn có một số ít người cho rằng vận mệnh phụ thuộc vào bát tự. Bát tự là do tám can chi (8 chữ – bát tự) tạo thành, là can năm và chi năm, can tháng và chi tháng, can ngày và chi ngày, can giờ và chi giờ. Trong đó, Can được gọi là “Thiên can”, gồm có 10 can: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ; Chi được gọi là “Địa chi”, có 12 chi, bao gồm: Tý, Sửu, Dẫn, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Căn cứ vào ngày giờ tháng năm sinh mà tính ra “thiên can địa chi”, tổng là 8 chữ, thì có thể đoán ra hành trình cuộc đời, vinh nhục họa phúc, giàu nghèo thọ yểu của mỗi người.

Nhưng bát tự chỉ có thể quyết định được phúc phận tại thời điểm chào đời. Cho dù một người mang trên mình bát tự không tốt, đặt định cuộc đời sẽ phải chịu nhiều đau khổ, hoặc giả có một người trước đây làm nhiều điều ác, tương lai sẽ gặp quả báo; nhưng nếu như họ có thể cải tà quy chính, bỏ ác làm lành, không ngừng tích đức hành thiện thì sau 5 năm tới 10 năm vận mệnh sẽ được thay đổi, bát tự đã không còn ứng nghiệm nữa. Còn một người có bát tự cát tường, đặt định người đó sẽ được sống trong giàu sang phú quý, nhưng nếu có phúc mà lại không biết hưởng, luôn làm điều xấu thì sớm muộn phúc phận cũng bị tiêu tan.

Con đường duy nhất để thay đổi vận mệnh là hành thiện, tích đức, cải biến nhân tâm

Có câu nói: “Tướng do tâm sinh”. Khi tâm tính con người thay đổi thì diện mạo cũng sẽ thay đổi, phúc khí cũng theo đó mà đổi thay. Do đó dựa vào bát tự để đoán mệnh sẽ không còn linh nghiệm nữa. Có người cho rằng bát tự của mình đẹp thế này, mình tài giỏi thế này, mà vì sao làm ăn cứ đổ bể, tiền tài quanh năm thiếu hụt, còn người khác thì tâm địa bất lương lại giàu có sung sướng? Nguyên nhân chính là bởi phúc khí mà hai người mang theo là khác nhau.

Tích phúc tích đức là một quá trình lâu dài, không thể chỉ là việc của vài tháng vài năm. Có thể bạn thấy những người toàn làm điều ác, điều xấu, nhưng rất có thể trước đây họ cũng là người sống nhân nghĩa phúc hậu, nhờ tích được nhiều đức nên họ mới có thể gặt hái thành quả ngày hôm nay. Nhưng sau này khi hưởng hết phúc báo, họ sẽ phải hoàn trả cho những việc ác mình gây ra.

Còn vì sao có người sống lương thiện nhưng cứ phải khổ sở quanh năm, đây chính là do ác nghiệp trước đây họ gây ra nên bây giờ hoàn trả. Việc bạn hành thiện hôm nay thì đợi sau khi hoàn trả hết ác nghiệp, bạn mới có thể hưởng phúc báo của những việc mình làm. Đã có rất nhiều căn cứ chứng minh, con người hoàn toàn có thể thông qua hành thiện tích đức để cải biến vận mệnh, tuy nhiên vẫn cần phải có một khoảng thời gian để biến đổi. Bởi vậy, làm người sợ gì một đời nghèo khó, chỉ cần tích đức hành thiện, sống đời thanh bạch nhất định ngày sau sẽ được phúc báo vẹn tròn.

Dục tốc bất đạt, muốn nhanh chóng thay đổi vận mệnh là điều phi thực tế, nhưng cũng vì điều này mà làm cho người ta đã sai lại càng sai hơn. Con người dễ tạo cho mình thói quen xấu khi buông thả bản thân, nhưng không đồng nghĩa có thói quen rồi thì không thể thay đổi, chúng ta có thể thông qua hành thiện tích đức để thay đổi, để cải biến bản thân.

Vậy nên, trên đời này chỉ có duy nhất một con đường cải biến vận mệnh, đó là hành thiện tích đức, cải biến nhân tâm.

Yên Ba

Friday, November 6, 2026

AI SỞ HỮU NÚI PHÚ SĨ?

Câu trả lời có lẽ sẽ làm bạn ngạc nhiên (và bối rối).


Nhật Bản nổi tiếng khắp thế giới chủ yếu nhờ nền văn hóa đa dạng và lôi cuốn — từ văn học, âm nhạc cho đến những hình ảnh minh họa đầy thú vị, có rất nhiều điều để yêu mến ở quốc gia này. Nhưng khi nói đến các biểu tượng hữu hình, có một thứ thực sự vượt lên trên tất cả: núi Phú Sĩ.

Dù ngọn núi này chỉ mới được thêm vào Danh sách Di sản Thế giới gần đây, nó đã là biểu tượng của Nhật Bản trong nhiều thế kỷ, một cột mốc mang giá trị xã hội và văn hóa to lớn. Vì vậy, nếu được hỏi ai là chủ sở hữu của ngọn núi này, bạn có thể sẽ cho rằng đó là một công viên quốc gia hoặc một khu đất thuộc sở hữu nhà nước.


Nhưng bạn đã nhầm.

Để làm rõ điều này ngay từ đầu: núi Phú Sĩ — hay ít nhất là đỉnh của nó — là đất thuộc sở hữu tư nhân.

Đó là câu trả lời ngắn gọn — tuy nhiên, câu trả lời ngắn gọn đó còn xa mới phản ánh hết toàn bộ sự thật, vì vậy hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này.

Đầu tiên, chủ sở hữu tự hào của đỉnh núi Phú Sĩ không phải là một cá nhân — mà thực chất là Đền Fujisan Hongū Sengen Taisha (gọi tắt là Đền Sengen Grand), phần lớn nằm ở thành phố Fujinomiya, tỉnh Shizuoka. Khu vực thuộc sở hữu của ngôi đền bao gồm toàn bộ phần từ trạm thứ 8 của ngọn núi (độ cao 3.250 mét) lên đến đỉnh (3.776 mét), trong khi toàn bộ khu vực từ trạm thứ 8 trở xuống về mặt kỹ thuật là đất công. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng như vậy.

Đền Sengen Grand

Nếu quay ngược thời gian vài thế kỷ, chúng ta sẽ thấy toàn bộ ngọn núi từng thuộc sở hữu của Tokugawa Ieyasu. Vào năm 1606, ông đã hiến tặng đỉnh núi cho ngôi đền, và đền Sengen đã nắm giữ quyền sở hữu cho đến Thời kỳ Minh Trị (Meiji), khi Thiên hoàng khôi phục lại vị thế là người cai trị tối cao của Nhật Bản.

Trong thời kỳ này, chính quyền Minh Trị đã thu hồi quyền kiểm soát ngôi đền trên núi Phú Sĩ cùng hầu hết các ngôi đền khác, biến tất cả thành đất công. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 1949, khi Hiến pháp mới của Nhật Bản được ban hành, thiết lập sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước, đồng thời toàn bộ đất đai bị chính quyền Minh Trị thu hồi đã được trả lại cho các ngôi đền. Ngoại trừ núi Phú Sĩ.

Điều này đã thúc đẩy Đền Sengen Grand đệ đơn kiện, khẳng định rằng vùng đất này là một nơi linh thiêng quan trọng đối với ngôi đền. Dù họ đã thắng kiện vào năm 1974, đỉnh núi vẫn không được chính thức trả lại cho đến tận năm 2004.


Nhưng mọi rắc rối vẫn chưa dừng lại ở đó.

Mặc dù Đền Sengen Grand hiện về mặt kỹ thuật là chủ sở hữu đỉnh núi Phú Sĩ, vẫn có một trở ngại nhỏ: Vùng đất này chưa bao giờ được đăng ký quyền sở hữu.

Nguyên nhân cho việc này cũng khá phức tạp: núi Phú Sĩ nằm trên ranh giới giữa tỉnh Shizuoka và tỉnh Yamanashi. Tuy nhiên, đường ranh giới đó hoàn toàn biến mất trên ngọn núi — không hề có một đường phân định chính thức nào cho biết phần nào thuộc Yamanashi và phần nào thuộc Shizuoka. Điều này đồng nghĩa với việc ngôi đền không thể đăng ký chính thức vùng đất này là của riêng mình.

Dù các chi tiết kỹ thuật có ra sao đi nữa, thì khi bạn leo lên đỉnh núi Phú Sĩ, bạn không chỉ đang đứng trên một trong những biểu tượng vĩ đại nhất của Nhật Bản — mà bạn còn đang đứng trên tài sản tư nhân.

Nguồn: Japan Today
Chi Chi / Theo: cafef
Link tham khảo:

https://japantoday.com/category/features/who-owns-mt-fuji-the-answer-will-probably-surprise-and-confuse-you


VỊ VUA VIỆT DUY NHẤT 2 LẦN LÊN NGÔI VÀ BI KỊCH "MUỐN TRUYỀN NGAI VÀNG MÀ KHÔNG ĐƯỢC"

Trong lịch sử phong kiến thường có những lần tranh đoạt ngai vàng khốc liệt nhưng vị vua này 2 lần lên ngôi không phải do tranh đoạt mà vì bi kịch muốn truyền ngai vàng mà không được.

Vua Lê Thần Tông, 2 lần lên ngôi

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, hiếm có vị vua nào từng hai lần đăng quang, nhưng Lê Thần Tông – vị vua thứ 18 của nhà Hậu Lê – lại chính là người như vậy. Cuộc đời ông không chỉ gắn với hai lần nắm giữ quyền lực tối cao, mà còn in đậm dấu ấn bởi những nỗi mất mát trong gia đình và chuyện hôn nhân đặc biệt chưa từng có trong sử Việt.

Hai lần lên ngôi, vì sao?

Vua Lê Thần Tông, tên thật là Lê Duy Kỳ, sinh ngày 19/11/1607. Lần đầu ông lên ngôi vào năm 1619 khi mới 12 tuổi, lấy niên hiệu là Thần Tông. Ông trị vì trong suốt 24 năm cho đến năm 1643 thì chủ động nhường ngôi cho con trai là Lê Duy Hựu (sau này là vua Lê Chân Tông), lui về làm Thái thượng hoàng.

Tuy nhiên, cuộc đời không cho ông yên bình lâu. Năm 1649, vua Chân Tông băng hà khi còn rất trẻ và chưa kịp có người kế vị đủ lớn. Trước tình thế đó, Lê Duy Kỳ buộc phải quay lại ngai vàng ở tuổi 42, tiếp tục trị vì đất nước thêm 13 năm nữa. Như vậy, ông là vị vua duy nhất trong lịch sử nhà Lê từng hai lần lên ngôi, với tổng cộng 37 năm làm vua – một con số ấn tượng nhưng cũng đầy trăn trở.

Đằng sau ngai vàng là chuỗi mất mát triền miên của người làm cha

Sau khi Lê Thần Tông băng hà năm 1662, ngôi báu được truyền lại cho con trai là Lê Duy Vũ, tức vua Lê Huyền Tông. Nhưng số phận lại không mỉm cười với dòng dõi gia đình này. Lê Huyền Tông mất sớm sau 9 năm trị vì, khi mới 18 tuổi. Tiếp theo là Lê Duy Hợi (vua Gia Tông), cũng là con trai của Lê Thần Tông, lên ngôi và chỉ tại vị được 4 năm trước khi qua đời vì bệnh nặng.

Người con trai út – Lê Duy Hợp, tức vua Lê Hy Tông – sau cùng mới là người có thời gian trị vì dài nhất trong các con của ông, với 30 năm trên ngai vàng. Như vậy, trong số 4 người con trai đều lần lượt kế vị của vua Lê Thần Tông, có đến 3 người mất sớm và chỉ một người tại vị lâu dài. Đây không chỉ là sự nối tiếp ngai vàng, mà còn là chuỗi ngày đau thương khi người cha phải chứng kiến con trai mình lần lượt rời bỏ cõi đời.

Hôn nhân kỳ lạ và người vợ Tây duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt

Không chỉ nổi bật bởi sự nghiệp chính trị, vua Lê Thần Tông còn gây chú ý bởi chuyện hôn nhân đặc biệt hiếm thấy. Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, ông cưới Trịnh Thị Ngọc Trúc – con gái của chúa Trịnh Tráng – làm hoàng hậu. Điều đáng nói là bà Ngọc Trúc trước đó đã từng kết hôn với bác họ của vua là Lê Trụ và đã sinh được 4 người con. Khi Lê Trụ bị giam cầm, bà được cha gả cho vua để củng cố mối quan hệ chính trị giữa hai bên.


Thời điểm đó, vua mới 23 tuổi còn bà đã 36. Trước cuộc hôn nhân "bất đắc dĩ" này, nhiều đại thần can gián nhưng vua chỉ nói: "Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy". Ngay sau đó, trời đổ mưa dầm nhiều ngày không dứt – một điềm gở được nhiều người đồn đại. Dù vậy, bà Ngọc Trúc vẫn là một trong những người vợ được vua trọng vọng, và là người duy nhất được phong làm Hoàng hậu.

Ngoài hoàng hậu, vua còn có thêm 5 người vợ khác, trong đó có 4 người là người nước ngoài: một người Mường, một người Xiêm (nay là Thái Lan), một người Hán (Trung Quốc), một người Ai Lao (Lào) và đặc biệt là một người vợ gốc châu Âu – bà Orona người Hà Lan. Bà Orona là người phụ nữ phương Tây duy nhất được ghi nhận chính thức là phi tần của một vị vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Bà theo thương đoàn Hà Lan đến Thăng Long vào năm 1630 và sau đó ở lại làm phi theo ý nguyện của cha mình.


Sáu người vợ – một tấm lòng đồng thuận hiếm có

Điều đặc biệt là cả 6 người vợ của vua Lê Thần Tông đều sống hòa thuận với nhau – điều hiếm thấy trong hậu cung thời phong kiến. Giai thoại kể rằng, sau khi vua băng hà, các bà đã cùng nhau góp tiền của lập nên 6 pho tượng chân dung đặt tại chùa Mật Sơn (Thanh Hóa). Trong đó, tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được đặt ngồi trên tòa sen, các bà còn lại đều đội vương miện và trong tư thế thiền định. Mỗi bức tượng mang một nét mặt, trang phục và dáng vẻ riêng – thể hiện sự đa dạng văn hóa và nguồn gốc của các bà.

Cuộc đời vua Lê Thần Tông là một chương đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Ông không chỉ là vị vua duy nhất của triều Lê từng hai lần lên ngôi, mà còn là người cha phải chịu đựng nỗi đau mất con nối tiếp nhau. Chuyện hôn nhân kỳ lạ, cùng người vợ Tây độc nhất vô nhị trong lịch sử phong kiến Việt Nam, càng khiến cuộc đời ông thêm phần độc đáo. Ẩn sau vẻ ngoài của quyền lực và vinh quang là những nỗi đau thầm lặng và mất mát không thể đong đếm.

Dạ Ngân / Theo: giaitri.thoibaovhnt

NHỮNG CÂU CHUYỆN TRÀ, LỄ NGHĨA VÀ TÀI HOA CỦA PHỤ NỮ XƯA

Một chén trà thơm nhấp từng ngụm là thú vui thanh nhã của người xưa. Qua đôi tay người con gái hái, nấu và thưởng trà, cảnh ấy càng thêm duyên. Trà vừa là một trong bảy thứ thiết yếu khi mở cửa mỗi ngày, vừa là nghệ thuật dưỡng tính; quanh trà và phụ nữ xưa có rất nhiều câu chuyện.


Trong trà có lễ

Văn hóa trà truyền thống gồm trà đạo, trà nghệ và trà lễ. Khi uống trà thịnh hành, người ta dùng trà thể hiện kính trọng và hoàn thành đại lễ. “Thất tu loại cảo” thời Minh ghi quan niệm rằng cây trà trồng bằng hạt không thể chuyển chỗ, chuyển thì không sống. Người xưa coi đặc tính không dời, nhiều hạt ấy tương thông với đức thủy chung của người vợ, nên trà thành lễ vật không thể thiếu trong cưới hỏi, kèm nhiều nghi thức tặng, dâng trà. Đây là cách giải thích biểu tượng trong cổ thư.

Bài nguồn kể công chúa Văn Thành thời Đường khi tới Tây Tạng kết thân đã đem nhiều trà làm của hồi môn, đưa văn hóa trà tới vùng đất ấy. Về sau, phụ nữ xuất giá dù giàu nghèo đều có trà trong hồi môn. Từ thời Tống, trà còn là sính lễ; tiền bên trai đưa tới được gọi trà kim, trà lễ hoặc đại trà, bên gái nhận gọi là thụ trà.

“Mộng lương lục” ghi khi hạ sính, bên trai đem vàng bạc, vải, trang sức cùng trà quả, rượu nước tới nhà gái. Ba ngày sau cưới, nhà gái lại gửi bánh trà và hoa quả tới nhà rể, hoàn thành lễ tam triều. Còn có tam trà lễ: đính hôn gọi hạ trà, kết hôn định trà, hợp phòng hợp trà. Cùng sáu lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghênh, được gọi tam trà lục lễ. Theo quan niệm xưa, hoàn tất các nghi thức thì đôi vợ chồng được thần linh, tổ tiên chứng nhận, bắt đầu sống cùng nhau trọn đời.

Một ít lá trà, một chén nước trong đi suốt đính hôn, hôn lễ tới sau cưới, chứng kiến bao đại lễ. “Ăn trà” dần trở thành cách nói người con gái nhận lời đính ước. Trong “Hồng lâu mộng”, Vương Hy Phượng trêu Đại Ngọc đã uống trà nhà mình, sao còn chưa về làm dâu. Khi nấu, uống trà, liệu những cô gái xưa cũng hướng tới cuộc đời mai sau?

Bí mật bức tranh trong chén trà

Trước thời Nguyên, trà thường ở dạng bánh, khi dùng nghiền vụn rồi nấu thành nước đậm. Hai cách chủ yếu là tiễn trà thịnh thời Đường và điểm trà thịnh thời Tống. Tiễn trà cho bột vào nước sôi; điểm trà rót nước sôi nhiều lần lên bột rồi dùng chổi trà khuấy đánh, gọi là kích phất.

Trong quá trình điểm trà, mặt nước nổi bọt trắng, tạo chữ hoặc hình, từ đó phát triển trò nghệ thuật “phân trà”, còn gọi “trà bách hí”.


“Suẩn mính lục” thời Tống ghi người khéo rót nước, vận muỗng, dùng bí quyết khiến đường nước trên mặt trà tạo hình chim thú, côn trùng, cá, hoa cỏ, tinh xảo như tranh nhưng chốc lát lại tan; người đương thời gọi trà bách hí. Người giỏi phân trà như họa sĩ, lấy dụng cụ trà làm giấy bút, nước trà làm mực, vẽ sinh động muông thú, biến chén trà thành tác phẩm để ngắm.

Văn nhân Tống say mê nghệ thuật ấy. Lục Du có câu tả bên cửa sổ nắng, vui phân lớp bọt mịn. Gặp phụ nữ thông thạo trà nghệ, họ càng làm thơ ngợi khen: đôi ngón tay như hành non dùng đũa vàng đánh trà, bọt như sữa tuyết trong chén sứ hoa; ánh mắt mùa thu lưu luyến rượu, ngón tay như măng xuân quen phân trà. “Hành xuân”, “măng xuân” chỉ ngón tay thon trắng của người con gái.

“Dịch nhân truyện” thời Thanh chép chuyện Triệu Tổng Liên thời Tống, người giỏi phân trà. Hướng Tử Nhân làm từ tặng, trong lời tựa khen nàng giỏi cầm, kỳ, thư và phân trà, đặt trà ngang những tài nghệ của văn nhân. Lời từ tả nàng hơi say, khéo phân mây trong chén, mái tóc nghiêng bên bàn cờ.

Bài “Phong lưu tử” của Triệu Ngạn Đoan cũng dùng lời đẹp tả cô gái phân trà giữa tiệc đêm nhà giàu: vừa dừng múa đã mỉm cười tới bên lửa, làm ấm chén, mở trà, ngón tay nhẹ đưa, mây nổi, rồng bay hiện trong chén. Tài nghệ khiến người ngắm phải xiêu lòng.

Đố sách và hương trà đổ

Người xưa yêu trà, tự hào khi có trà tốt, nên từ thời Đường đã có thi màu nước, bọt mặt và vị, gọi đấu trà, đạt đỉnh thời Tống. “Trà lục” của Thái Tương ghi nước trắng là quý, sau đó mới tới trắng xanh, trắng xám, trắng vàng; mặt bọt trắng tươi, không có vết nước bám chén được coi là tốt; vị cần ngọt, trơn dịu.

Đó là thi phẩm chất trà. Văn nhân tài nữ còn có hình thức thi văn: trà lệnh như tửu lệnh. Bài nguồn coi Lý Thanh Chiếu là người sớm khởi xướng. Bà cùng chồng Triệu Minh Thành chung chí hướng, từng giúp ông viết “Kim thạch lục” tại Thanh Châu. Trong lúc học và viết, hai người nghĩ ra trò kiểm tra hiểu biết điển cố.

Sau ăn, họ ngồi nấu trà, lần lượt hỏi một sự việc nằm ở sách nào, quyển, trang, dòng nào; ai đoán đúng được uống trước. Lý Thanh Chiếu nhớ giỏi nên thường thắng. Đắc ý nâng chén cười, bà hay làm trà đổ lên áo, cuối cùng lại không được uống.

Bà ghi trong “Kim thạch lục hậu tự” rằng sau mỗi bữa, hai người nấu trà ở Quy Lai đường, nhìn chồng sách sử, nêu câu hỏi để phân thắng thua; vừa trúng đã nâng chén cười tới nỗi trà đổ vào lòng, phải đứng dậy mà chưa uống.


Khoảng năm trăm năm sau, Nạp Lan Tính Đức thời Thanh thương nhớ vợ mất, cảm chuyện vợ chồng Lý Thanh Chiếu, viết câu nổi tiếng về đố sách, hương trà đổ, những điều khi ấy tưởng bình thường. Từ đó, “đố sách đổ trà” thành điển cố về thú thanh nhã và tình vợ chồng.

Trà lệnh tiếp tục lưu hành trong giới văn nhân. “Mai Khê văn tập” của Vương Thập Bằng kể mỗi lần cùng bạn uống trà, họ chọn một vật làm đề, mỗi người nêu điển cố, không nói được thì chịu phạt; các chuyện đều gắn với trà. Người không đáp được chỉ ngửi hương, nhìn người khác uống.

Sau một chén trà là bao con người, sự việc thanh nhã. Phụ nữ xưa tìm thấy trong ấy hứng thú của cuộc đời và nghệ thuật, đồng thời để lại cho trà một hương thơm riêng.

Ghi chú biên tập: Vương Thập Bằng là tác gia Nam Tống; bài nguồn đặt đoạn nói về “Mai Khê văn tập” sau mốc nhà Thanh, dễ gây hiểu nhầm về thời đại của ông.

Tác giả: Lan Âm (蘭音).
Nguồn: The Epoch Times
Tuệ Minh / Theo: ĐKN

Thursday, November 5, 2026

VÌ SAO NÊN ĐẬP DẬP MỘT CỦ GỪNG VÀO NỒI LUỘC TRỨNG VỊT LỘN?

Bạn có biết lý do vì sao nên đập gừng vào nồi luộc trứng vịt lộn hay không, hãy cùng tìm hiểu lý do nhé!


Khi luộc trứng vịt lộn, bạn không nên bỏ qua bước thêm gừng vào nồi nước luộc.

Trứng vịt lộn là món ăn quen thuộc, có giá thành bình dân, hương vị đặc trưng và cách chế biến tại nhà cũng không quá cầu kỳ. Chỉ với vài quả trứng, một nồi nước và chút thời gian trên bếp, mọi người đã có thể chuẩn bị món ăn nóng hổi để thưởng thức. Cách luộc trứng vịt lộn nhìn qua cũng chẳng khác nhiều món luộc khác, tưởng như chỉ cần cho trứng vào nồi, đổ nước ngập rồi đun đến khi chín là xong. Thế nhưng, nhiều người nội trợ lại có thêm một bước nhỏ khi chế biến: cho vài lát gừng đập dập vào nồi ngay từ lúc luộc. Chỉ là một nguyên liệu quen thuộc, nhưng gừng lại có thể mang đến nhiều lợi ích, giúp món trứng thơm hơn, dễ thưởng thức hơn và hài hòa hơn về hương vị.

Gừng giúp giảm cảm giác tanh của trứng

Trứng vịt lộn có mùi đặc trưng khá rõ, đặc biệt khi vừa luộc chín. Với những người nhạy cảm với mùi trứng, đây có thể là một điểm khiến món ăn kém hấp dẫn. Cho thêm vài lát gừng đập dập vào nồi nước luộc là cách đơn giản để tạo thêm hương thơm cho món ăn. Mùi thơm cay nhẹ, đặc trưng của gừng giúp át bớt cảm giác tanh, khiến trứng sau khi luộc có mùi dễ chịu hơn. Gừng không thể loại bỏ hoàn toàn mùi đặc trưng của trứng, nhưng có thể giúp cân bằng hương vị. Đây cũng là lý do gừng thường được thái sợi để ăn cùng trứng vịt lộn sau khi luộc.


Gừng tạo mùi thơm ấm áp cho món ăn

Nếu chỉ luộc trứng với nước lọc, món ăn gần như giữ nguyên mùi đặc trưng của trứng. Thêm một chút gừng sẽ tạo thêm lớp hương thơm nhẹ, cay ấm, giúp món ăn hấp dẫn hơn ngay từ khi mở nắp nồi. Khi nước nóng lên, tinh dầu và các hợp chất tạo mùi trong gừng được giải phóng vào nước, tạo nên mùi thơm đặc trưng. Vì vậy, chỉ cần một lượng gừng vừa phải cũng đủ để nước luộc có hương thơm nhẹ nhàng mà không làm ảnh hưởng quá nhiều đến vị tự nhiên của trứng. Đây là một mẹo rất đơn giản, không cần thêm nhiều gia vị nhưng vẫn giúp món ăn có sự khác biệt.

Gừng là nguyên liệu quen thuộc khi ăn trứng vịt lộn

Gừng vốn đã là một phần quen thuộc trong cách thưởng thức trứng vịt lộn. Khi ăn, những sợi gừng thái mỏng thường được dùng cùng rau răm và muối tiêu, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa vị cay thơm, chút nồng ấm và vị đậm đà của gia vị. Vì thế, nhiều người có thói quen thả thêm vài lát gừng vào nồi ngay từ lúc luộc để món trứng có thêm hương thơm nhẹ nhàng. Khi trứng chín, bóc vỏ và thưởng thức cùng rau răm, muối tiêu và gừng tươi, các hương vị quen thuộc càng trở nên trọn vẹn. Nếu thích vị gừng rõ và cay thơm hơn, có thể chuẩn bị thêm một ít gừng thái sợi để ăn kèm sau khi luộc.


Luộc trứng vịt lộn với gừng như thế nào?

Cách làm rất đơn giản. Trước tiên, rửa nhẹ phần vỏ trứng để loại bỏ bụi bẩn, sau đó xếp trứng vào nồi và đổ nước ngập trứng. Tiếp theo, cho thêm vài lát gừng tươi đã rửa sạch vào nồi. Gừng có thể thái lát hoặc nên đập dập nhẹ rồi cho vào, tùy sở thích. Việc đập dập giúp gừng dễ tỏa hương trong nước nóng hơn. Không cần cho quá nhiều, bởi mùi gừng quá mạnh có thể lấn át hương vị của trứng. Đun đến khi nước sôi rồi tiếp tục luộc cho trứng chín hoàn toàn. Khi trứng chín, vớt ra và thưởng thức lúc còn nóng cùng gừng thái sợi, rau răm và muối tiêu.

Phác Thái Anh / Theo: soha

TRƯỞNG THÀNH THẬT SỰ

Trưởng thành thực sự, không nằm ở tuổi tác, mà là ở nội tâm

Tóc bạc, da nhăn, lưng còng, răng rụng, đây là biểu hiện của thân thể đã đến hồi lão hóa, nhưng lại không đại biểu cho sự trưởng thành. Trưởng thành thực sự, là sự thành thục của trí tuệ, trải qua thế sự vẫn sừng sững bất động.


Trưởng thành là gì? Là tóc bạc da mồi, là vết nhăn trên khóe mắt? Không, tất cả đều không phải…

Dung mạo biến hóa chỉ là dấu vết của năm tháng, trưởng thành thực sự sẽ không bao giờ để cho người trông thấy. Có lẽ trưởng thành giống như mận đào chín mọng, mềm mại, hương vị ngọt ngào.

Chúng ta thường cho rằng, tuổi tác càng lớn thì tâm hồn cũng sẽ chín chắn thành thục, kỳ thực không phải vậy.

Trưởng thành giống như một quá trình lặp lại chuyện đời theo năm tháng, là sự thản nhiên sau khi mong cầu mà không được, là mỉm cười sau khi trải qua thống khổ rơi lệ, là nội tâm khao khát vươn lên sau những thất bại ê chề.

Trưởng thành chân chính, từ xưa đến nay chưa từng có quan hệ với tuổi tác, càng không có quan hệ với thời gian, mà ở chỗ nội tâm tĩnh lặng và bình hòa.

Trưởng thành không ở chỗ tuổi tác, mà là phong độ

Trưởng thành giống như trăng sáng sau áng mây, như rồng bay trong mưa gió, là làm bạn cùng với đất đỏ bùn đen, càng giống loài cá “côn bằng” thuận gió bay thẳng lên trời cao.

Thời Bắc Tống có một đại thi hào lỗi lạc tên là Tô Thức, ông dù phải trải qua vô vàn sóng gió của cuộc đời, nhưng vẫn giữ được phong thái bình thản, thong dong tự tại, lấy khổ làm vui.

Đối mặt với sự cùng quẫn của cuộc sống, Tô Thức vẫn không hề để mất đi khí chất của mình. (Ảnh: Sohu)

Tô Thức vốn là người cương trực, tính tình thẳng thắn, vì viết một bài thơ chỉ trích chính sách thuế muối của Vương An Thạch mà ông bị cách chức, phải chuyển tới Hoàng Châu. Ở Hoàng Châu, Tô Thức sống trong một căn phòng nhỏ đơn sơ bên bờ sông, không có tiền cũng chẳng có cơm ăn, Tô Thức đành phải tự mình cày ruộng.

Thế nhưng đối mặt với sự cùng quẫn của cuộc sống, Tô Thức vẫn không hề để mất đi khí chất của mình. Ông chưa từng để đồng tiền làm mình nguy khốn. Tô Thức vẫn sống rất vui vẻ trong căn nhà nhỏ bên bờ sông.

Ở Hoàng Châu, Tô Thức sống đời rất thanh đạm, đọc sách, ngâm thơ, vẽ tranh, viết thư pháp… Ông cất nhà, trồng rau, đào giếng, cày ruộng, vui cảnh điền viên. Dù ngày càng trở nên bất đắc chí với chuyến lưu đày dài đằng đẵng, ông lại nảy sinh tình yêu với miền đất hẻo lánh này và dùng gần trọn thời gian để sáng tác thi ca, thư họa. Khí chất đó của ông, khiến người đời sau không khỏi ngả mũ thán phục.

Trưởng thành không ở tuổi tác, mà là cảnh giới


Nếu như nói quá trình lớn lên giống như cây cối nở hoa, thì sự trưởng thành giống như quá trình kết quả. Từ khi là những mầm non tới lúc nụ hoa hé nở, mỗi cây đều trải qua một quá trình sinh trưởng và phát triển, nhưng không phải mỗi một đóa hoa đều có thể kết quả, cũng như không phải cứ lớn lên là đã thành thục, chín chắn.

Trưởng thành là một loại cảnh giới, giống như khi bầu trời tối tăm, bản thân vẫn có thể trở thành nguồn ánh sáng soi đường cho chính mình. Bị sương mù bao phủ không thấy lối đi, người trưởng thành sẽ hiểu được cần phải đi chậm lại, tĩnh tâm, rèn giũa trong ma nạn, giữa sóng biển cuộn trào tĩnh lặng đợi thời cơ.

Tuổi tác dựa vào bề ngoài, còn trưởng thành là ở chỗ nội tâm. Người trưởng thành đều có một tâm hồn vô cùng bình thản. (Ảnh: Pinterest)
Người trưởng thành hiểu rằng, ông trời sinh ra ai thì người đó tất sẽ có hữu dụng. Họ luôn hiểu được rằng mỗi một người đều không hề đơn giản như những gì thể hiện ra ở bề mặt, hơn nữa ai cũng có ưu khuyết điểm riêng.

Một người khi càng thành thục họ sẽ càng hiểu hơn rằng, sống trên đời cần khoan dung bản thân, khoan dung người khác, thậm chí khoan dung với cả kẻ thù của mình. “Biển có thể thu nạp trăm sông, dung chứa được nên mới thành ra to lớn”, khoan dung với lỗi lầm của người khác thực ra cũng là giải thoát cho chính mình.

Đời người như cơn gió thoảng, tóc xanh thoáng chốc thành tóc trắng, tâm trưởng thành thì không so đo với những được mất nhất thời, gió càng lớn, tâm càng tịnh, mưa càng lớn, ý chí càng vững vàng.

Trưởng thành không phải ở tuổi tác, mà ở nội tâm


Tuổi tác dựa vào bề ngoài, còn trưởng thành là ở chỗ nội tâm. Người trưởng thành đều có một tâm hồn vô cùng bình thản.

Trưởng thành tựa như sông lớn dâng nước vào ban đêm, bên ngoài không nổi phong ba, nhưng bên trong tích cóp lực lượng lớn vô cùng, có khả năng gột rửa hết thảy mọi thứ.

Nếu nói mỗi người đều có một vầng hào quang, thì người trưởng thành nhất định là màu trắng, sáng ngời mà không chói mắt, rực rỡ mà không khoa trương, tích cực lại không xốc nổi.


Tâm thành thục tựa như nước, ôn nhu mà lại cứng cỏi, hết thảy buồn vui được đất cũng không thể lưu lại dấu vết. Thành thục không ở chỗ tuổi tác, mà là chỗ nội tâm an hòa và tĩnh tại, mặc cho thế sự lưu chuyển, mặc cho mưa rơi gió thổi, bản thân vẫn vững vàng như núi.

Trưởng thành, chín chắn là một loại yêu cầu và hoàn thiện đối với tự bản thân mỗi người. Nó cũng là một loại thể nghiệm và suy ngẫm lại đối với bản thân mỗi người. Đồng thời nó cũng là một loại trạng thái của sinh mệnh.

Trong quá trình đi đến trưởng thành, mỗi người đều sẽ phải trải qua rất nhiều điều, nhưng cũng sẽ học được rất nhiều điều. Cho dù con đường ấy xa bao nhiêu, nhiều chông gai thế nào chỉ cần mỗi bước đi chúng ta đều trưởng thành hơn thì đã là thành công rồi.

Tuệ Tâm