Tuesday, May 5, 2026

NGƯỜI CÓ CUỘC ĐỜI VIÊN MÃN NHẤT TRONG "TỨ ĐẠI MỸ NHÂN" HÀ THÀNH XƯA LÀ AI?

Dù trải qua mối tình đầu dang dở, trong số “tứ đại mỹ nhân” Hà thành, bà vẫn được xem là người có cuộc đời êm đềm và trọn vẹn hơn cả.

Nhan sắc nức tiếng một thời của giai nhân Đỗ Thị Bính. Ảnh: Internet

Người có cuộc đời viên mãn nhất trong "tứ đại mỹ nhân" Hà thành xưa là ai?

Tên tuổi 4 tuyệt sắc giai nhân phố cổ Hà Nội thập niên 1920 - 1930 trở thành huyền thoại, được người đời tôn vinh là "Hà thành tứ mỹ", gồm cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Họ xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có bậc nhất khu phố cổ nên có vẻ đẹp đài các và phong thái khiến bao người ngưỡng mộ.

Trải qua thời gian, các giai thoại về 4 mỹ nhân vẫn được lưu truyền, trong đó cuộc đời của cô Bính Hàng Đẫy được xem là bình yên và viên mãn hơn cả.

Giai nhân áo đen của đất Hà thành

Cô Bính Hàng Đẫy tên thật là Đỗ Thị Bính, sinh năm 1915 tại ngôi nhà số 37 Hàng Đẫy (nay là 67 Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Đây là một trong những căn nhà mang kiến trúc Pháp dành cho tầng lớp thượng lưu, đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích xưa, trong đó có giàn hoa hồng trước cửa - chi tiết gắn với nhiều câu chuyện về người đẹp.

Đỗ Thị Bính là 1 trong 19 người con của nhà tư sản Đỗ Lợi - nhà thầu khoán thuộc hàng lớn nhất Hà Nội trước những năm 1930 và là một trong những thành viên của dòng họ Đỗ Bá Già (thôn Tiên Lữ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ - nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

Hà Thành tứ mỹ nhân, giai nhân Đỗ Thị Bính (người mặc áo dài màu đen, hàng ngồi). Ảnh: Internet

Cụ Đỗ Lợi (1893-1961) trước năm 1945 là nhà tư sản kinh doanh vật liệu xây dựng. Thân sinh ra cụ Đỗ Lợi là cụ Đỗ Văn Kỳ, tự Phúc Thiện. Cụ Đỗ Văn Kỳ là Chánh tổng thời cũ, là người mẫn thế, nhìn xa trông rộng và rất gần gũi với mọi người, nên người dân quý mến gọi là cụ Bá Già. Các con của cụ trong đó có cụ Đỗ Lợi đều ra Hà Nội lập nghiệp và thành đạt.

Trong môi trường gia phong nề nếp, Đỗ Thị Bính được giáo dục bài bản, tiếp cận cả văn hóa truyền thống lẫn phương Tây. Bà thông thạo tiếng Pháp, biết chơi nhạc cụ, đồng thời giữ lối sống nền nã, chuẩn mực.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”, nổi bật với vẻ đẹp thanh tú: Làn da trắng, gương mặt trái xoan, đôi mắt bồ câu và vóc dáng mảnh mai. Sinh thời, bà có thói quen mặc đồ đen. Có lẽ, đó cũng là lý do để người đời gọi bà là "người đàn bà áo đen". Dù xinh đẹp tuyệt trần, thói quen mặc áo dài màu đen và màu trầm khiến bà luôn toát lên sự thanh lịch, bí ẩn và quý phái đặc trưng của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ. Nhiều người đánh giá bà là người có phong thái Tràng An chuẩn mực nhất.

Cụ Đỗ Lợi vô cùng yêu con gái, thấy Đỗ Thị Bính khảnh ăn nên cụ đã cho mời một đầu bếp nấu cho vua Bảo Đại về nhà trông coi việc bếp núc. Vì từ bé đến lớn bà vẫn giữ thói quen không chịu ăn thịt gà, trong một bữa cơm gia đình, cụ Đỗ Lợi bảo nếu con chịu ăn một miếng thịt gà, ông sẽ thưởng 1 nhẫn kim cương, ăn 2 miếng thưởng 2 nhẫn kim cương.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu đầy đủ những phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh, sự trầm tĩnh, khôn khéo, dịu hiền mà trí tuệ. Cũng vì điều này mà dù là người đẹp nức tiếng Hà thành và con nhà giàu có nhưng bà không kiêu kỳ mà nhất mực hoà đồng, giản dị và gần gũi với mọi người.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”. Ảnh: Internet

Nàng thơ bí ẩn, người yêu trong mộng tưởng của thi sĩ nổi tiếng

Những năm 1930, gần phố Hàng Đẫy là khu Văn Miếu. Đây là nơi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp - con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ở. Nguyễn Nhược Pháp lớn hơn cô Bính Hàng Đẫy 1 tuổi, làm việc ở báo Annam Nouveau. Khi ấy, Đỗ Thị Bính thường có thói quen ra vườn tưới cây. Bà tưới gốc tầm xuân sum suê cành lá và thường ngồi đọc sách ở chiếc ghế mây trong vườn. Vì mê Đỗ Thị Bính nên Nguyễn Nhược Pháp luôn mượn cớ đi qua ngôi nhà 37 Hàng Đẫy để ngắm nhìn người đẹp.

Đỗ Thị Bính là giai nhân nổi tiếng, được nhiều người theo đuổi, vì vậy gia đình bà không coi sự xuất hiện của một nhà thơ trẻ là điều đặc biệt. Trong khi đó nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lại mặc cảm vì gia cảnh nghèo của mình nên chẳng dám ngỏ lời. Nhiều tư liệu cho rằng Nguyễn Nhược Pháp có vóc người nhỏ bé thư sinh, tính tình dù rất năng động nhưng đứng trước phái nữ lại hay rụt rè, bẽn lẽn…

Chuyện kéo dài gần 1 năm trời đến nỗi cả 2 gia đình đều biết, nhưng Nguyễn Nhược Pháp và Đỗ Thị Bính chưa một lần gặp gỡ chính thức.

Năm 1935, tập thơ “Ngày xưa” ra đời, đưa Nguyễn Nhược Pháp trở thành một trong những gương mặt đáng chú ý của phong trào Thơ mới. Khi đọc thơ ông, ai cũng hiểu hình bóng người con gái tuyệt vời trong những bài thơ như “Mỵ Nương”, “Tay ngà”, “Cô gái bên bờ ao”, đều được lấy cảm hứng từ người đẹp Đỗ Thị Bính.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp. Ảnh: Internet

"Cúi đầu nàng tha thướt/ Yêu kiều như mây qua/ Mắt xanh nhìn man mác/ Mỉm cười vê cành hoa” đều là những mỹ từ mà Nguyễn Nhược Pháp dành cho người tình trong mộng Đỗ Thị Bính. Người đẹp Đỗ Thị Bính cũng hiểu được tình cảm đó nhưng nhà thơ đa tài, bạc mệnh đã sớm ra đi ở tuổi 24 vì căn bệnh lao.

Cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, hạnh phúc, bền vững

Dù trải qua mối tình đầu dang dở, trong số “tứ đại mỹ nhân” Hà thành, cô Bính Hàng Đẫy vẫn được xem là người có cuộc đời êm đềm và trọn vẹn hơn cả.

Sau khi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời khoảng 1 năm, gia đình đã thu xếp để bà kết hôn với kỹ sư Bùi Tường Viên - một trong những kỹ sư đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là em trai của luật sư nổi tiếng Bùi Tường Chiểu. Từ năm 16 tuổi, ông Viên sang Pháp theo học ngành silicat, thuộc lớp trí thức kỹ thuật hiếm hoi của Việt Nam thời bấy giờ. Về nước, ông đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Mỹ nghệ Đông Dương - tiền thân của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ngày nay.

Cuộc hôn nhân ban đầu được sắp đặt theo khuôn mẫu “môn đăng hộ đối” của tầng lớp tư sản, song thực tế lại phát triển theo một hướng khác. Trong ngày cưới, cô Bính Hàng Đẫy khoác lên mình bộ áo dài màu vàng được dệt bằng chỉ kim tuyến, trở thành tâm điểm của một lễ thành hôn xa hoa kéo dài nhiều ngày, quan khách tấp nập như trẩy hội.

Ngày lên xe hoa, bà Đỗ Thị Bính không hề có chút tình cảm nào với chồng bởi trước họ chưa từng gặp mặt nhau. Phải đến khi sống cùng nhau bà mới bắt đầu yêu chồng. Không giống với các cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” của tầng lớp tư sản ngày xưa, lấy nhau về người vợ chỉ biết phục tùng và chăm sóc chồng theo khía cạnh trách nhiệm và mệnh lệnh, cuộc hôn nhân của bà Đỗ Thị Bính và ông Bùi Tường Viên tồn tại bởi tình yêu, sự ngưỡng mộ và cảm thông. Ông Bùi Tường Viên chưa bao giờ to tiếng với vợ, lúc nào cũng thể hiện sự tôn trọng nhường nhịn.

Bước ngoặt lớn đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống từ năm 1946, gia đình hai bên đều tham gia cách mạng. Từ một tiểu thư Hà thành sống trong nhung lụa, bà Bính theo chồng tản cư lên Tuyên Quang, bắt đầu cuộc sống hoàn toàn khác biệt nơi vùng núi.

Trong điều kiện thiếu thốn, bà nhanh chóng thích nghi. Từ việc làm bánh, kẹo, bún thang đến buôn bán nhỏ tại các phiên chợ quê, bà chủ động xoay xở để cải thiện sinh kế gia đình. Bên cạnh đó, bà còn tự tay trồng rau, nuôi gà, chế biến thực phẩm, duy trì nếp sống gọn gàng, ngăn nắp vốn có của người Hà Nội.

Đáng chú ý, trong thời gian ở Sơn Dương, bà được bác sĩ Bùi Xuân Tám - em trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, hướng dẫn kỹ thuật tiêm thuốc kilofooc để điều trị sốt rét. Dù không qua đào tạo y khoa, bà đã trực tiếp cứu giúp nhiều người dân thoát khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Sự tận tâm, không nhận tiền công của bà khiến người dân địa phương quý mến, gọi bà bằng những cái tên trìu mến như “bà tiên kháng chiến”.

Đỗ Thị Bính không bao giờ ỷ lại vào nhan sắc trời cho, ngược lại luôn chăm lo, tu dưỡng cho bản thân và gia đình. Ảnh: Internet

Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, gia đình bà trở về Hà Nội, sinh sống tại căn nhà số 67 Nguyễn Thái Học. Từ đây, bà tham gia công tác giáo dục, gắn bó với Phòng Giáo dục khu Hai Bà Trưng cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc sống của bà trở lại nhịp điệu bình dị, lặng lẽ, nhưng vẫn đậm dấu ấn của một người phụ nữ từng đi qua những năm tháng lịch sử nhiều biến động.

Năm 1985, bà Bính mua đất ở khu Trung Tự rồi xây một căn nhà cấp bốn ở cho đến cuối đời. Năm 1986, chồng bà qua đời sau 10 năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Bà Bính thêm một lần run rẩy đau xót mất đi người bạn đời tri âm, tri kỷ.

Trước Tết năm 1992, bệnh cao huyết áp của bà như dòng điện cao thế phập phù không ổn định, lên xuống thất thường. Gia đình đưa bà vào bệnh viện chạy chữa. Sát Tết, bà được về nhà ăn Tết. Hơn 1 tháng trời, ngày nào bà cũng chỉ thèm ăn mỗi món bún thang, con cháu lại xách cặp lồng đạp xe tới chợ Hôm mua về cho bà ăn.

Sau cái Tết năm ấy, ngày mồng 9 tháng Giêng Âm lịch, bà thấy trong người không được khỏe rồi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ ngàn thu, hưởng thọ 77 tuổi. Theo nguyện vọng, bà được mặc chiếc áo dài màu đen - gam màu đã gắn bó với bà gần như suốt cuộc đời, trong giây phút tiễn biệt.

K. Hoàng / Theo: Thời Trang Vàng

Monday, May 4, 2026

CHINH PHỤC ĐƯỜNG HẦM THIÊN SƠN (TIANSHAN SHENGLI TUNNEL 天山勝利隧道) TẠI TÂN CƯƠNG

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel 天山勝利隧道) xác lập vị thế là một trong những công trình hạ tầng vĩ đại nhất, đánh dấu bước tiến khổng lồ của ngành xây dựng Trung Quốc. Với tổng chiều dài lên tới 22,13 km, tuyến đường xuyên núi này mở ra hành trình khám phá Tân Cương đầy mê hoặc, kết nối những vùng đất xa xôi một cách nhanh chóng. Kim Lien Travel mời quý khách cùng tìm hiểu về kỳ quan kỹ thuật này để chuẩn bị cho chuyến hành trình du lịch Trung Quốc đầy ấn tượng trong tương lai gần.

Đường hầm Thiên Sơn là một trong những công trình hạ tầng vĩ đại nhất

Kiệt Tác Giao Thông Giữa Lòng Dãy Núi Thiên Sơn Hùng Vĩ

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) tọa lạc tại vị trí trọng yếu của dãy núi Thiên Sơn, đóng vai trò là "mắt xích" vàng trong tuyến đường cao tốc nối liền Urumqi và Yuli. Công trình khởi công vào mùa xuân năm 2020 và vừa chính thức hoàn thiện vào tháng 12 năm 2025, tạo nên một cột mốc lịch sử cho ngành giao thông vận tải khu vực phía Tây Bắc Trung Quốc. Đây là dự án trọng điểm cấp quốc gia, được kỳ vọng sẽ thay đổi hoàn toàn diện mạo kinh tế và du lịch của vùng đất Tân Cương rộng lớn.

Việc khánh thành đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) minh chứng cho khát vọng chinh phục thiên nhiên và năng lực kỹ thuật thượng thừa của con người. Tuyến đường này giúp rút ngắn khoảng cách địa lý giữa các thành phố lớn, đồng thời tạo ra một hành lang giao thương hiện đại và an toàn. Sự xuất hiện của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) xóa bỏ rào cản chia cắt giữa phía Bắc và phía Nam Tân Cương, vốn trước đây bị ngăn cách bởi những dãy núi tuyết vĩnh cửu.

Những Thông Số Kỹ Thuật Đầy Kinh Ngạc Của Công Trình

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) sở hữu chiều dài 22,13 km, chính thức ghi danh vào danh sách những đường hầm cao tốc dài nhất thế giới hiện nay. Điểm sâu nhất của công trình nằm ở mức 1.112,6 mét dưới bề mặt núi, tạo ra áp lực địa chất vô cùng lớn đòi hỏi các biện pháp thi công cực kỳ khắt khe. Môi trường làm việc tại đây vô cùng khắc nghiệt với nhiệt độ có lúc giảm sâu xuống mức -41,5 độ C, thách thức mọi giới hạn chịu đựng của máy móc và con người.

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) sở hữu chiều dài 22,13 km

Cấu trúc của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) bao gồm hai đường hầm chính dành cho xe chạy và một đường hầm dịch vụ nằm ở giữa để phục vụ công tác cứu hộ, thông gió. Tốc độ di chuyển thiết kế đạt ngưỡng 100 km/h, cho phép các phương tiện băng qua dãy núi Thiên Sơn hiểm trở chỉ trong thời gian ngắn. Hệ thống điều khiển thông minh, đèn LED cảm biến và trạm lọc không khí công suất cao được tích hợp bên trong, tạo ra không gian di chuyển hiện đại, giảm thiểu cảm giác mệt mỏi cho tài xế và hành khách.

Công Nghệ TBM Đột Phá Trong Thi Công Xuyên Núi

Quá trình kiến tạo đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) ghi dấu ấn đậm nét với việc sử dụng máy khoan hầm TBM (Tunnel Boring Machine) thế hệ mới nhất. Đây là loại siêu máy móc có khả năng cắt gọt đá cứng và gia cố thành hầm một cách tự động, giúp đẩy nhanh tiến độ thi công lên gấp nhiều lần so với phương pháp nổ mìn truyền thống. Việc áp dụng công nghệ này bảo vệ tối đa cấu trúc địa chất tự nhiên, giảm thiểu rung chấn ảnh hưởng đến hệ sinh thái nhạy cảm của dãy núi Thiên Sơn.

Bên cạnh đó, các kỹ sư đã thiết lập hệ thống giám sát dữ liệu thời gian thực để kiểm soát áp suất đất, nồng độ khí thải và độ ẩm bên trong lòng núi. Sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật xây dựng tiên tiến đảm bảo tính chính xác tuyệt đối trong từng mét khoan của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel). Mỗi phân đoạn của công trình đều được kiểm định nghiêm ngặt, đảm bảo tuổi thọ lên đến hàng trăm năm bất chấp các biến động địa chất phức tạp tại khu vực Tân Cương.

Bước Ngoặt Thay Đổi Thời Gian Di Chuyển Giữa Các Vùng Miền

Sự hiện diện của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) mang lại lợi ích trực tiếp và mạnh mẽ nhất chính là việc rút ngắn thời gian đi lại. Trước đây, du khách và người dân phải mất hơn 7 giờ đồng hồ để di chuyển qua những con đèo quanh co nguy hiểm nối Urumqi và Yuli. Hiện tại, nhờ có đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel), hành trình này chỉ còn tốn khoảng 3 giờ, giúp tiết kiệm thời gian đáng kể cho các hoạt động trải nghiệm và tham quan.

Kiến tạo đường hầm Thiên Sơn sử dụng máy khoan hầm TBM thế hệ mới nhất

Việc thu hẹp khoảng cách thời gian tạo điều kiện thuận lợi cho sự luân chuyển hàng hóa và hành khách giữa các địa phương. Các doanh nghiệp vận tải có thể tối ưu hóa quy trình logistics, giảm thiểu rủi ro tai nạn đường đèo trong mùa tuyết rơi. Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) đóng vai trò là sợi dây liên kết bền chặt, thúc đẩy sự hòa nhập văn hóa và kinh tế giữa các sắc tộc và vùng miền tại Tân Cương, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng chung.

Tiềm Năng Du Lịch Bứt Phá Nhờ Đường Hầm Xuyên Núi

Tân Cương luôn là điểm đến mơ ước của những tín đồ du lịch với cảnh sắc hoang sơ, và đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) chính là chìa khóa mở ra cánh cửa đó. Tuyến đường này dẫn lối du khách đến với những thảo nguyên xanh bao la, những hồ nước trong vắt và các di tích lịch sử trên Con đường tơ lụa huyền thoại. Sự thuận tiện trong giao thông khuyến khích du khách dành nhiều thời gian hơn để khám phá các địa danh nổi tiếng thay vì phải tiêu tốn cả ngày dài trên xe.

Các đơn vị lữ hành hiện nay đã bắt đầu thiết kế những tour du lịch đặc sắc đi qua đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) để du khách tận mắt chiêm ngưỡng kỳ quan kiến trúc này. Cảm giác lái xe xuyên qua lòng núi sâu hơn một cây số, sau đó rạng rỡ đón ánh nắng mặt trời tại một vùng thảo nguyên mới là trải nghiệm vô cùng khó quên. Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) trở thành một "điểm check-in" không thể bỏ lỡ, minh chứng cho sự kết hợp hoàn hảo giữa bàn tay con người và thiên nhiên hùng vĩ.

Tác Động Tích Cực Đến Kinh Tế Và Đời Sống Xã Hội

Mở rộng hạ tầng giao thông thông qua đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) đem đến luồng sinh khí mới cho nền kinh tế địa phương. Chi phí vận chuyển hàng nông sản và nhu yếu phẩm từ Nam Tân Cương lên phía Bắc giảm đi đáng kể, ước tính giúp các doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục triệu nhân dân tệ mỗi năm. Điều này gián tiếp làm giảm giá thành sản phẩm, mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân vùng sâu vùng xa.

Chi phí vận chuyển từ Nam Tân Cương lên phía Bắc giảm đi đáng kể

Thêm vào đó, đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực dịch vụ và nghỉ dưỡng dọc theo tuyến đường cao tốc. Những trạm dừng chân hiện đại, khu trưng bày sản phẩm văn hóa địa phương và các khách sạn cao cấp đang dần hình thành, tạo ra hàng ngàn cơ hội việc làm cho lao động bản địa. Sự phát triển này khẳng định tầm nhìn dài hạn của chính phủ Trung Quốc trong việc biến hạ tầng thành đòn bẩy kinh tế bền vững.

Theo: Kim Liên Travel
Link tham khảo:




VÌ SAO GIANG HỒ CÓ MÔN - PHÁI - BANG - GIÁO? HÉ LỘ CẤU TRÚC THẾ GIỚI VÕ HIỆP

Khi đọc truyện võ hiệp hay xem phim cổ trang Trung Quốc, người ta thường bắt gặp những cái tên quen thuộc như Đường Môn, Võ Đang Phái, Cái Bang hay Minh Giáo. Thoạt nhìn, tất cả đều là những tổ chức giang hồ, tụ hội cao thủ bốn phương. Nhưng nếu quan sát kỹ, ta sẽ nhận ra rằng cách gọi “môn, phái, bang, giáo” không hề ngẫu nhiên, mà phản ánh rõ bản chất và cấu trúc của từng tổ chức.


Thực chất, thế giới giang hồ xưa kia có thể được ví như một xã hội thu nhỏ, nơi mỗi tổ chức vận hành giống như trường học, doanh nghiệp hay hiệp hội ngày nay.

Trước hết là “môn”. Trong tiếng Trung, chữ “môn” thường gắn với khái niệm “một môn tay nghề” hay “độc môn tuyệt kỹ”. Vì vậy, các tổ chức mang chữ “môn” thường nổi tiếng nhờ một loại kỹ năng riêng biệt. Họ tập trung nghiên cứu sâu vào một lĩnh vực duy nhất, tạo ra những bí kỹ không ai bắt chước được.

Đường Môn Tứ Xuyên chuyên về ám khí và độc dược, Huyết Đao Môn chuyên về đao pháp, đều là những ví dụ điển hình. Các môn phái này giống như trường dạy nghề cao cấp: ít người, đào tạo tinh sâu, truyền thừa chủ yếu trong nội bộ gia tộc. Vì coi trọng huyết thống, họ hiếm khi thu nhận người ngoài, nên lực lượng không đông nhưng chất lượng rất cao.

Nếu “môn” giống trường nghề, thì “phái” lại giống như đại học tổng hợp. Các phái có hệ thống võ học hoàn chỉnh, đa dạng và phát triển toàn diện. Một phái thường không chỉ giỏi một môn võ, mà bao gồm nội công, khinh công, quyền pháp và binh khí.

Võ Đang phái là ví dụ tiêu biểu. Từ Thái Cực Quyền, Thái Cực Kiếm đến các loại nội công cao cấp, tất cả đều được hệ thống hóa chặt chẽ. Trong mỗi phái còn có sự phân chia thành các “tông”, tương tự như các khoa trong trường đại học. Điều này giúp võ học không ngừng phát triển và mở rộng.

Khác với môn, các phái có tiêu chuẩn thu nhận đệ tử linh hoạt hơn. Bất kể xuất thân, chỉ cần có tư chất và ý chí, đều có thể gia nhập. Vì thế, cốt lõi của phái là truyền bá và phát triển võ học.

Tiếp theo là “bang”. Bang không lấy võ học làm trung tâm, mà dựa trên nghề nghiệp và thân phận xã hội. Cái Bang gồm người ăn mày, Diêm Bang gồm thương nhân buôn muối, Thanh Bang gồm thủy thủ vận tải. Họ chủ yếu là tầng lớp bình dân, sống nhờ sự đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau.

Bang giống như hiệp hội ngành nghề ngày nay, giúp các thành viên bảo vệ quyền lợi và sinh tồn trong xã hội đầy biến động. Gần với bang là “hội”, thường có mục tiêu chính trị hoặc lý tưởng rõ ràng, như Thiên Địa Hội hay Hồng Hoa Hội từng chống lại triều đình nhà Thanh.

Thế giới giang hồ xưa kia có thể được ví như một xã hội thu nhỏ, nơi mỗi tổ chức vận hành giống như trường học, doanh nghiệp hay hiệp hội ngày nay. (Ảnh minh họa: Pinterest)

Cuối cùng là “giáo”, loại tổ chức đặc biệt nhất trong giang hồ. Giáo được xây dựng trên nền tảng niềm tin và tín ngưỡng. Chỉ cần cùng chung đức tin, bất kể thân phận cao thấp đều có thể gia nhập.

Minh Giáo thờ phụng Thánh hỏa, Nhật Nguyệt Thần Giáo hay Thần Long Giáo tôn sùng Giáo chủ, đều là những ví dụ tiêu biểu. Nhờ sức mạnh tinh thần, các giáo phái này có sự gắn kết rất cao. Tuy nhiên, chính vì quá coi trọng niềm tin, họ cũng dễ bị thao túng và cực đoan, nên thường bị triều đình cảnh giác và đàn áp.

Ngoài bốn loại hình chính, giang hồ còn tồn tại các thế gia và sơn trang, nằm giữa môn và phái. Những tổ chức này vừa có hệ thống võ học riêng, vừa coi trọng truyền thừa huyết thống, như Đào Hoa Đảo hay Bạch Đà Sơn Trang.

Tổng kết lại, mỗi loại tổ chức đều mang một vai trò riêng trong thế giới võ hiệp:

  • Môn chú trọng truyền thừa tinh túy.

  • Phái chú trọng phát triển và lan tỏa.

  • Bang dựa vào nghề nghiệp và sinh tồn.

  • Giáo dựa trên niềm tin và tinh thần.

Nhờ sự tồn tại song song của “môn – phái – bang – giáo”, giang hồ không chỉ là nơi tranh đấu võ lực, mà còn là một xã hội phức tạp, đa dạng và giàu chiều sâu, phản ánh sinh động đời sống và tư tưởng của con người trong văn hóa phương Đông.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

DƯƠNG LIỂU CHI KỲ 3 - ÔN ĐÌNH QUÂN


Dương liễu chi kỳ 3

Tô Tiểu môn tiền liễu vạn điều,
Tam tam kim tuyến phất Bình Kiều.
Hoàng oanh bất ngữ đông phong khởi,
Thâm bế chu môn bạn tế yêu.


楊柳枝其三

蘇小門前柳萬條
毿毿金線拂平橋
黃鶯不語東風起
深閉朱門伴細腰


Dương liễu chi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Trước nhà thiếu nữ họ Tô. 
Muôn nhành liễu rủ, sóng xô tơ vàng. 
Cái oanh hót khúc dở dang. 
Gió xuân dịu nhẹ, ghé ngang khuê phòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

Nguồn: Thi Viện



VẬN MỆNH ĂN XIN ?

Vào triều đại nhà Thanh, có một người mù họ Trần rất tinh thông thuật nắn gân cốt để đoán mệnh – một thuật loại trong thế gian tiểu đạo. Mọi người từ xa đến gần đều biết đến ông ta. Thời đó có một vị Tổng Trấn Quan (Chú thích: Tổng Trấn Quan là một chức quan thời nhà Thanh chuyên phụ trách việc quân sự tại địa phương) rất ngưỡng mộ nên đã mời ông này đến phủ của mình.


Đầu tiên Tổng Trấn bảo người mù họ Trần nắn gân cốt bói mệnh cho một vài người khác, những lời ông ta nói ra đều vô cùng chuẩn xác. Sau đó Tổng Trấn mới để người mù họ Trần nắn gân cốt của mình, nhưng Tổng Trấn đã giấu không cho người mù biết trước là đang nắn gân cốt của ông. Người mù họ Trần sau khi nắn gân cốt của Tổng Trấn xong bèn nói: “Đây là một người ăn mày, căn bản là không đáng để tôi bói mệnh cho!” Lúc này những người tùy tùng của Tổng Trấn bắt đầu lớn tiếng chỉ trích người mù kia vì đã không tôn trọng Tổng Trấn, lẽ nào Tổng Trấn lại mời ăn mày đến phủ chứ !

Nhưng Tổng Trấn tuyệt nhiên không hề giận dữ, ngài liền bảo người mù hãy nắn cốt bói lại lần nữa xem sao. Và rồi người mù họ Trần kia bắt đầu thử lại một lần nữa, ông ta vừa nắn vừa khẳng định: xương cốt của người này đích thị là xương cốt của một người ăn xin. Nhưng đến khi người mù kia sờ lên đến đầu của Tổng Trấn, ông ta vô cùng kinh ngạc mà thốt lên rằng: Đây là xương của Tổng Trấn mà … số mệnh là đại phú đại quý !

Lúc này Tổng Trấn vô cùng kinh ngạc, nói rằng người mù này thật là có bản sự, bói mệnh rất chuẩn xác ! Tổng Trấn cũng đồng thời kể cho đám tùy tùng về những sự việc xảy ra từ thời niên thiếu của ông. Tổng Trần khi còn là thanh niên đích thực đã từng đi ăn xin. Một ngày nọ khi đang đi xin ăn, ông đã nhặt được một túi bạc của người khác đánh rơi trên đường. Lúc đó ông bèn cẩn thận cất đi và đứng đó chờ chủ nhân của túi bạc quay lại lấy.


Không lâu sau quả thật có một người tới tìm, ông liền hỏi và biết được đó đúng là người bị mất túi bạc. Ông đã lấy túi bạc ra hoàn trả lại cho người bị mất, chủ nhân của túi bạc vô cùng cảm kích muốn chia một phần tiền để trả ơn. Ông kiên quyết không nhận, người bị mất đã hỏi danh tính của ông để sau này nếu có dịp sẽ báo đáp nhưng ông cũng cự tuyệt chẳng nói. Bởi vì trong thâm tâm, khi làm điều tốt ông không hề có ý nghĩ rằng sẽ nhận sự báo đáp của người khác.

Tối hôm đó, vị thanh niên ăn xin này, chính là Tổng Trấn thời niên thiếu đã nằm mơ thấy một giấc mộng rất rõ ràng. Trong mộng có một vị thần linh đến đổi đầu cải mệnh cho ông. Không lâu sau, ông gia nhập quân đội, cuối cùng hôm nay được đề bạt lên làm Tổng Trấn.

Lúc này đám tùy tùng đột nhiên bừng ngộ: Thì ra Tổng Trấn trước đây là một người ăn xin, xương cốt thân thể đều là xương cốt của người ăn xin, sau đó vì hành động nhặt được tiền mà không tham, hành thiện mà không cầu báo đáp, thần linh thấy vậy nên đã đổi đầu cải mệnh cho ngài, cho nên xương đầu của ngài là xương của Tổng Trấn, mang theo phúc phận phi phàm.

Sau khi đọc xong câu chuyện này, cá nhân tôi đã hiểu thêm về: Hành thiện mà không cầu báo đáp. Nếu một người hành thiện mà trong tâm có truy cầu, như thế trong con mắt thần linh thì việc thiện đó là không thuần chính. Nếu có thể hành thiện mà tâm không truy cầu điều gì, chỉ mong điều tốt cho người khác, không hề nghĩ về lợi ích của bản thân, đó mới thật sự là hành vi lương thiện thuần chính.

Mạc Cầu
Nguồn: “Thu Đăng Tòng Thoại”


乞丐命?
作者 : 莫求

清朝时,有一位姓陈的盲人,非常精通摸骨算命的小道,远近驰名。当时漳州的一位总镇官员(注:总镇是清代负责地方军事的官员)慕名把他请到自己的府上。

总镇先让这位陈姓盲人摸其他人的骨相算命,都说得非常准。然后这位总镇又让其摸自己的骨相,但又不告诉他自己就是总镇。结果这陈姓盲人摸到总镇身体上的骨相时就说:这是一个要饭的,根本不值得一算。这时总镇的随从们都大声斥责陈姓盲人对总镇不尊敬。
可总镇并不生气,只是让他再摸一遍。于是这位陈姓盲人就又摸了一遍,一边摸一边肯定的说:这人身上的骨相的的确确是乞丐的骨相。但等陈姓盲人摸到总镇头部的时候,大为惊讶的说:这是总镇之骨,命中当贵。

这时总镇非常惊讶,说这陈姓盲人是个真正有本事的人,摸得真准!总镇同时告诉众人他少年时发生的一件事情。这位总镇青年时真是一个要饭的。一天他在讨饭的路上捡到一个别人遗失的银钱袋,于是将其收好,自己就在那里等待失主。

不久就有人沿路找来,他一问那人丢失的正是他捡到的钱袋。于是他便将钱袋取出交给失主,失主非常感谢,要分给他一部分银两。他坚决不接受,失主又问他姓名,希望日后能报答他,他也不告诉失主。因为他心里根本就没有想过要如何得到别人的回报。


当天晚上,这位年轻的乞丐,也就是少年时的总镇在睡觉时,做了一非常清晰的梦。梦中一位神灵给他换了一个头。不久后,他就加入了军队,最后当上了总镇。

这时众人才恍然大悟:原来总镇原本真是乞丐命,身上的骨相也真是乞丐的骨相,后来因为他青年时拾金不昧,行善而不求回报,神灵便为其换头改命,所以他头部的骨相就是总镇之骨,富贵非凡。

看了这个故事后,我个人想:行善而求回报,则是带着有求之心在行善,那么在神的眼里这种善行并不纯正;如果只是行善而心无所求,只是为别人好,没有想到自己如何,那么这种善行才是纯正的。

(资料来源:《秋灯丛话》)
(網上搜查)

CAO TỐC G315 - HÀNH TRÌNH XUYÊN TÂY BẮC TRUNG QUỐC QUA SA MẠC, HỒ MUỐI VÀ CAO NGUYÊN

Dài hơn 3.000 km, G315 đưa bạn băng qua Taklamakan, hồ muối trắng và cao nguyên Thanh Tạng, khám phá vẻ đẹp hùng vĩ của Tây Bắc Trung Quốc.


Quốc lộ 315, hay còn gọi là Cao tốc Thanh Hải – Tân Cương (G315), là một trong những cung đường nổi tiếng và đặc sắc nhất của Trung Quốc. Trải dài hơn 3.000 km, tuyến đường nối liền tỉnh Thanh Hải và khu tự trị Tân Cương, xuyên qua những vùng đất hoang sơ, khắc nghiệt nhưng tràn đầy sức hút: sa mạc mênh mông, hồ muối lấp lánh, dãy núi tuyết trắng và cao nguyên hùng vĩ.

Không chỉ là trục giao thông quan trọng, G315 còn được mệnh danh là “con đường của những giấc mơ” đối với các tín đồ ưa dịch chuyển, bởi nó đưa người lữ hành đi qua những cảnh quan vừa dữ dội vừa thơ mộng, gợi mở những câu chuyện về thiên nhiên và con người vùng viễn tây Trung Hoa.


Vẻ đẹp đối lập – Khi khắc nghiệt và thơ mộng cùng hiện diện

Điều khiến G315 trở thành huyền thoại chính là sự kết hợp hiếm có giữa vẻ đẹp khắc nghiệt và chất thơ của thiên nhiên.

Sa mạc Taklamakan – “biển cát chết” lớn thứ hai thế giới, nơi gió và nắng hun đúc những đụn cát khổng lồ đổi màu theo từng giờ trong ngày.


Hồ muối trắng – trải rộng như tấm gương khổng lồ, mặt hồ phản chiếu trời xanh, mây trắng, và khi mùa đông đến, chúng biến thành những “cánh đồng tuyết” lung linh.


Cao nguyên Thanh Tạng – mái nhà thế giới với những dãy núi trùng điệp, thảo nguyên bạt ngàn, đàn gia súc thong dong giữa khung cảnh bao la.


Mùa hè, hành trình càng trở nên đa sắc với sắc xanh tươi của hồ nước xen giữa vùng đất khô cằn, đối lập mạnh mẽ nhưng đầy cuốn hút.

Thách thức thiên nhiên – Bí quyết giữ đường thông suốt

Xây dựng và duy trì G315 không hề dễ dàng. Phần lớn tuyến đường chạy qua khu vực chịu gió cát mạnh, đặc biệt là quanh Taklamakan, nơi bão cát có thể vùi lấp mặt đường chỉ trong vài giờ.

Để bảo vệ tuyến đường, Trung Quốc đã triển khai:
  • Hệ thống hàng rào chắn cát dọc hai bên, giúp chặn và giảm tốc độ gió.

  • Vành đai cây xanh chống sa mạc hóa, trồng những loài cây chịu hạn như saxaul và tamarisk, vừa cố định đất cát vừa tạo màu xanh hiếm hoi giữa hoang mạc.

  • Bảo trì thường xuyên với các đội công nhân làm việc liên tục để dọn cát, sửa mặt đường, đảm bảo giao thông thông suốt quanh năm.

Nhờ đó, G315 không chỉ là con đường giao thông, mà còn là minh chứng cho sự kiên trì và sáng tạo của con người trong chinh phục thiên nhiên.

Vì sao cát không bám trên mặt đường và ảnh hưởng giao thông?

Các tuyến quốc lộ xuyên qua sa mạc, như G315, thường đối mặt với hiện tượng “cát lấn” – khi gió mạnh cuốn cát phủ kín mặt đường, gây trơn trượt, giảm tầm nhìn và nguy cơ mất lái. Tuy nhiên, trên nhiều đoạn đường ở Trung Quốc, lớp cát hiếm khi phủ dày hoặc bám chặt lâu dài. Nguyên nhân là sự kết hợp giữa kết cấu mặt đường đặc biệt và các biện pháp kiểm soát cát. Mặt đường được trải lớp asphalt mịn, ít khe hở, hạn chế khả năng cát kẹt lại. Cùng với đó là hệ thống rào chắn gió và cát, bẫy cát sinh thái (trồng cỏ, cây bụi chịu hạn), và các dải lưới cố định cát hai bên đường, giúp giảm lượng cát bay trực tiếp lên bề mặt.


Ứng dụng công nghệ và kinh nghiệm chống cát lấn đường ở Trung Quốc

Trung Quốc đã áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến để bảo vệ các tuyến đường huyết mạch qua sa mạc. Hệ thống cảm biến thời tiết và camera AI giám sát mật độ cát, cho phép điều động xe quét, xe phun nước cố định cát khi cần thiết. Một số khu vực thử nghiệm phủ lớp màng polymer sinh học lên bề mặt đất cát gần đường, giúp cố định hạt cát nhưng vẫn thấm nước. Ngoài ra, kinh nghiệm từ hàng chục năm xây dựng ở hành lang sa mạc Taklamakan – nơi có “con đường trên biển cát” dài hơn 500 km – đã giúp Trung Quốc tối ưu thiết kế rào chắn, bố trí tuyến đường theo hướng gió chủ đạo, giảm thiểu tối đa nguy cơ cát tràn.

Trải nghiệm lái xe - Chuyến phiêu lưu của đời người

Lái xe trên G315 là một trải nghiệm đủ thử thách và đủ thưởng thức cho những ai yêu khám phá:
  • Cung đường dài và hẻo lánh: Nhiều đoạn gần như tách biệt khỏi nhịp sống hiện đại, đưa bạn vào thế giới của sự tĩnh lặng và hoang sơ.

  • Cảnh sắc thay đổi liên tục: Chỉ trong vài giờ lái, bạn có thể đi từ biển cát vàng đến hồ nước xanh, rồi sang cao nguyên lạnh giá.

  • Cảm giác tự do tuyệt đối: Trời rộng, đất dài, không gian mở bất tận khiến bạn như hòa làm một với thiên nhiên.


G315 và sức hút với du lịch khám phá

Những năm gần đây, G315 không chỉ thu hút phượt thủ Trung Quốc mà còn hấp dẫn khách quốc tế mê du lịch mạo hiểm. Nhiều tour tự lái hoặc caravan xuyên G315 đã ra đời, kết hợp tham quan các điểm nổi tiếng như:

  • Sa mạc Taklamakan


  • Hồ muối Chaka


  • Hồ Qinghai


  • Các thị trấn cổ trên Con đường Tơ lụa

Không chỉ là hành trình ngắm cảnh, đây còn là cơ hội để tìm hiểu đời sống, văn hóa các dân tộc thiểu số như Duy Ngô Nhĩ, Hán, Hồi… sống rải rác dọc tuyến đường.

Cao tốc Thanh Hải – Tân Cương (G315) không chỉ nối liền hai vùng đất, mà còn kết nối những mảnh ghép địa lý, văn hóa và lịch sử của Trung Quốc. Mỗi km đường là một bức tranh sống động, mỗi khúc cua là một câu chuyện mới.

Đối với người lữ hành, G315 là biểu tượng của khát vọng khám phá – nơi mà thiên nhiên vừa thử thách vừa ban tặng những khoảnh khắc kỳ diệu. Một lần băng qua G315, bạn sẽ hiểu vì sao những ai từng đi qua đều muốn quay lại, để một lần nữa chạm vào vẻ đẹp nguyên sơ của Tây Bắc Trung Quốc.

Minh Hung / Theo: TravelSig+



Sunday, May 3, 2026

NGUỒN GỐC ĐẠO CAO ĐÀI GIỮA ĐẤT NAM KỲ

Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới phát triển gần 100 năm nay. Tôn giáo này bắt nguồn từ một hoạt động đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn là cầu cơ và chấp bút.

Chỉ trong một thời gian ngắn, đạo Cao Đài đã thu hút hàng triệu dân miền Nam trở thành tín đồ. Trong ảnh này, tín đồ đạo Cao Đài làm lễ tang cho một trong những vị sáng lập cuối cùng của đạo Cao Đài là ông Cao Hoài Sang vào ngày 30/4/1971. Ảnh: Bettmann/CORBIS.

Đạo Cao Đài ra đời vào những năm 1920 từ các buổi cầu cơ của một số công chức người Việt ở Sài Gòn. Từ những đàn cơ này đã hình một tôn giáo mới với triết lý độc đáo.

Đạo Cao Đài không có một giáo chủ bằng xương thịt như nhiều tôn giáo khác.

Theo lịch sử của tôn giáo này, đạo Cao Đài lúc khai sinh có 13 tín đồ nhận thông điệp của một đấng tối cao là “Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát”. Theo đó, đấng tối cao này sẽ thông qua cơ bút [cầu cơ và chấp bút] để hướng dẫn tín đồ phát triển đạo Cao Đài trong những ngày đầu thành lập.

Cụm danh xưng “Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát” thể hiện sứ mệnh của đạo Cao Đài là dung hợp Tam Giáo (trở về nguồn gốc chỉ có một tôn giáo): Cao Đài là đại diện cho Nho giáo, Tiên ông là đại diện cho Lão giáo, Đại bồ tát Ma ha tát là đại diện cho Phật giáo. Đấng tối cao này của đạo Cao Đài còn được gọi là “Ngọc Hoàng Thượng Đế” hay “Đức Chí Tôn”.

Tín đồ của đạo Cao Đài tin rằng “Ngọc Hoàng Thượng Đế” là người tạo ra vũ trụ, loài người và các tôn giáo. Vì vậy, sứ mệnh của Cao Đài ngoài đưa ba tôn giáo trở về một gốc thì còn có hiệp nhất năm đạo lớn thành một: Phật Đạo (đại diện là Phật Thích Ca), Tiên đạo (đại diện là Lý Bạch), Thánh đạo (đại diện là Jesus Christ), Thần đạo (đại diện là Khương Tử Nha) và Nhơn đạo (bao gồm bảy cái ngai sơn son thếp vàng đặt trong nơi cử hành nghi lễ ở Tòa Thánh Tây Ninh – còn gọi là Cửu Trùng Đài – dành cho bảy chức sắc cao cấp của đài này).

Những nhân vật được đạo Cao Đài thờ phượng và 7 cái ngai ở Cửu Trùng Đài trong tranh thờ của đạo này thể hiện tính mở, hòa hợp nhiều tôn giáo với sứ mệnh “Đại đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Ảnh: Caodai.net.

Chính vì hai sứ mệnh trên mà đạo Cao Đài nhận mình là đạo cứu rỗi loài người lần thứ ba. Bạn dễ thấy dòng chữ “Đại đạo Tam Kỳ Phổ Độ” được đặt trang trọng trước cửa chính vào Tòa Thánh Tây Ninh, hay ở bất kỳ tòa thánh nào của đạo này.

Kỳ phổ độ thứ ba này xuất phát từ niềm tin “Ngọc Hoàng Thượng Đế” đã tạo ra ba kỳ cứu rỗi loài người. Hai kỳ trước “Đức Chí Tôn” đã cho sự xuất hiện của những nhân vật đại diện cho Nhơn Đạo là Văn Tuyên Đế Quân rồi đến Khổng Tử; Tiên Đạo là Hồng Quân Lão Tổ rồi đến Lão Tử; và Phật Đạo là Nhiên Đăng Cổ Phật rồi đến Thích Ca.

Nhưng đến thời kỳ thứ ba thì ba tôn giáo này sẽ trở lại nguồn gốc của nó là một đạo duy nhất là đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo có hệ thống giáo lý bài bản, quy định chặt chẽ, tổ chức phức tạp, bao gồm những nghi lễ cầu kỳ, thần bí, nhuốm màu Đạo giáo.

Gốc rễ sự ra đời của Cao Đài Giáo đã bắt nguồn phần lớn từ những biến cố của miền đất phóng khoán vừa được khẩn hoang Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Nam Kỳ – miền đất đa tín ngưỡng

Đất Nam Bộ ngày nay, ngày xưa gọi là Nam Kỳ, được tạo dựng nhờ những người khẩn hoang từ thế kỷ XVII. Từ đó đến đầu thế kỷ XX, Nam Kỳ đã dung nạp những người khẩn hoang can đảm đến từ nhiều địa phương, mang theo văn hóa, tín ngưỡng khác nhau đã tạo nên một vùng đất cởi mở, dễ chấp nhận sự khác biệt.

Khi người Pháp chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đó, Nam Kỳ đã là một vùng đất đa tín ngưỡng, người Khmer theo Phật giáo tiểu thừa; người Chàm theo ảnh hưởng của Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo; tín đồ Thiên Chúa giáo lánh nạn diệt đạo của triều đình; những người Hoa phản Thanh phục Minh đến chung sống với người Việt đã chịu ảnh hưởng của Tam giáo (Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo), trọng tình nghĩa huynh đệ, trung can nghĩa khí.[1]

Không chỉ duy trì sự hòa đồng về tôn giáo, người dân còn chấp nhận, khám phá những tín ngưỡng mới nhằm chung sống với cảnh loạn ly khi người Pháp cai trị đất Nam Kỳ: Thế Chiến thứ Nhất bùng nổ ở châu Âu, sự cai trị hà khắc của người Pháp, phong trào chống Pháp quyết liệt ở miền Nam, phong trào Duy Tân truyền cảm hứng cải cách xã hội, v.v.

Với tương lai bất ổn như vậy, dân chúng dễ tin vào những thế lực siêu nhiên để an toàn giữa cuộc ly loạn. Hồ Lê đã mô tả niềm tin những người dân Nam Kỳ tin vào thế lực siêu nhiên như sau: “Trong bối cảnh [chiến tranh, nghèo đói, áp bức] như vậy, người dân Nam Bộ [Nam Kỳ] tự nhiên phải tin tưởng nhiều vào sự hên, xui, may, rủi. Và để khỏi bị xui, bị rủi thì họ phải khấn vái, cầu xin sự phò hộ độ trì của Trời phật, thần linh, tổ tiên ông bà và cả những người ‘khuất mặt’”.[2]

Trong sự xáo trộn đó, phong trào Thông linh học hay “cầu cơ” bắt đầu được phổ biến ở Nam Kỳ nhằm liên lạc với các linh hồn. Việc tiếp xúc với các linh hồn cũng là một phần trong thực hành Đạo giáo. Những đàn cơ được lập dựa trên hướng dẫn trong các cuốn sách Thông linh học của Tây Phương đang thịnh hành lúc bấy giờ. Người Pháp cấm những hoạt động này nhưng dân chúng vẫn âm thầm đến các đàn cơ.[3]

Người cầu cơ thường có ba nhóm chính. Một nhóm hỏi về chuyện thời sự để biết tương lai của đất nước. Nhóm khác thì mượn đàn cơ để mua vui, nhận các bài thi phú. Nhóm còn lại đông đảo hơn cả là tầng lớp bình dân, họ cầu cơ để xin thuốc chữa bệnh, cầu thọ,… Cầu cơ có nhiều thuật khác nhau nhưng phổ biến là xây bàn và dùng ngọc cơ.[4]

Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng sưu tầm được những tài liệu ghi rằng từ năm 1913, trong vài đàn cơ ở một số tỉnh Nam Kỳ đã xuất hiện danh xưng Cao Đài nhưng không được chú ý. Mãi đến những năm 1920 thì đạo Cao Đài mới có được những môn đồ đầu tiên.

Hai tín đồ Cao Đài đang nâng một đại ngọc cơ dùng trong các đàn cơ của đạo Cao Đài vào tháng 7/1948. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Những môn đồ đầu tiên – họ là ai?

Khi phong trào Thông linh học phổ biến ở miền Nam, năm 1925, Sài Gòn có một nhóm công chức người Tây Ninh bị hấp dẫn bởi thuật xây bàn để nói chuyện với các linh hồn ở phố Hàng Dừa (nay đường Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1). Nhóm này được gọi là nhóm Cao-Phạm, gồm các ông Cao Quỳnh Cư, 37 tuổi; Cao Hoài Sang, 24 tuổi; Phạm Công Tắc, 35 tuổi, đều là viên chức của chính quyền thuộc địa.[5]

Sau giờ làm, họ rủ nhau thực hành thông linh học để trò chuyện với những vong hồn, chủ yếu là để giải trí và xin thơ văn. Qua các lần cầu cơ, nhóm này trở nên hứng thú và tin tưởng vào các đàn cơ.[6]

Nhóm Cao-Phạm cầu cơ được một thời gian thì đàn cơ ngày 15/12/1925 xuất hiện một đấng ẩn danh xưng là AĂÂ, sau đó nói danh là Cao Đài và chỉ định ba người này trở thành môn đệ của đạo Cao Đài. Sau đó, qua một đàn cơ khác thì đấng này nhận thêm ông Lê Văn Trung – một quan chức cấp cao từng làm nghị viên trong Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương – làm tín đồ. Tuy nhiên, trước khi bốn người này được đấng tối cao nhận làm tín đồ thì đã có một quan chức người Việt sống trầm lặng được chỉ định trở thành môn đồ đầu tiên của đạo Cao Đài.

Ông Lê Văn Trung (trái) và Phạm Công Tắc (phải) trong lễ phục của đạo Cao Đài và ảnh mặc thường phục. Ảnh của Phạm Công Tắc mặc lễ phục do Tạp chí LIFE chụp năm 1948. Những ảnh còn lại do Walter Bosshard chụp năm 1930.

Vị môn đồ đầu tiên đó chính là ông Ngô Văn Chiêu, sau này là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài. Ông Chiêu là người thực hành triết lý Phật giáo Thiền tông của Minh Sư Đạo đã truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, thu hút nhiều tín đồ người Hoa. Đây là phái thờ Phật, tu Tiên, sinh hoạt theo tư tưởng Nho giáo.

Năm 1921, Ngô Văn Chiêu ra Phú Quốc làm chủ quận, ở độ tuổi 43 tuổi. Tại đây, trong một lần cầu cơ, ông đã được đấng tối cao là Cao Đài nhận làm môn đồ đầu tiên. Ông Chiêu tiếp tục tu tập trong ba năm ở Phú Quốc rồi trở về Sài Gòn năm 1924. Trong thời gian ở Phú Quốc, ông Chiêu đã bước đầu xây dựng được cách tu tập, thờ cúng, giáo lý của đạo Cao Đài.

Tranh vẽ ông Ngô Minh Chiêu sinh năm 1878, mất năm 1932. Ông là người “anh cả” của tất cả tín đồ đạo Cao Đài.

Về Sài Gòn, ông Chiêu tiếp tục tục tập theo phương pháp nội giáo tâm truyền (esotericism) đến năm 1926 thì liên kết với Nhóm Cao-Phạm bắt đầu thu nhận tín đồ. Về sau, Ngô Minh Chiêu không cùng nhóm Cao-Phạm hoạt động phổ độ nữa mà tách ra để ẩn tu.

Ngày 7/10/1926, những tín đồ đầu tiên của đạo Cao Đài thông báo thành lập đạo với chính quyền Pháp. Trong bản thông báo bằng tiếng Pháp có 28 chức sắc cao cấp ký tên, đính kèm với danh sách 245 tín đồ. Ông Lê Văn Trung đã mang bản thông báo đến Phủ Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, trên đường Lý Tự Trọng), gửi cho Quyền thống đốc Nam Kỳ Le Fol.[7]

“Thông qua người đồng tử phò loan, Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ truyền cho những người ký tên dưới đây các thánh giáo nhằm mục đích kết tinh và giảng dạy các giáo huấn tốt đẹp của Tam giáo ngày xưa.

Nền giáo lý mới sẽ dạy cho dân chúng các điều sau đây:

1. Luân lý cao siêu của Đức Khổng Tử.

2. Những đức tính được dạy trong Phật và Lão giáo. Những đức tính này gồm có làm lành lánh dữ, yêu thương nhân loại, sống hòa hiệp, tránh hoàn toàn sự chia rẽ và chiến tranh”, trích bản thông báo gửi với chính quyền thuộc địa Nam Kỳ về thành lập đạo Cao Đài.”

Vì sao đạo Cao Đài phát triển ở Nam Kỳ?

Là một tôn giáo mới thành lập nhưng đạo Cao Đài đã nhanh chóng thu hút được một số lượng lớn tín đồ đến từ khắp các tỉnh Nam Kỳ.

Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng trích tài liệu do Jayne Susan Werner tham khảo từ một báo cáo gửi cho Toàn quyền Đông Dương ngày 14/12/1934 cho thấy đạo Cao Đài đã có từ năm trăm ngàn tới một triệu tín đồ vào năm 1930, lúc đó tổng dân số Nam Kỳ khoảng bốn đến bốn triệu rưỡi người.

Ngoài sự cởi mở, chấp nhận sự đa dạng tín ngưỡng của vùng đất mới khẩn hoang Nam Kỳ thì sự tham gia của các công chức trong đạo Cao Đài đã ít hưởng ít nhiều đến sự hưởng ứng của quần chúng.

Nhà nghiên cứu Sơn Nam cho rằng người Nam Bộ tính hay nhút nhát nên những việc vận động quần chúng lớn lao phải có sự tham gia của công chức vì người dân “tin rằng công chức luôn luôn đàng hoàng, không làm quốc sự [làm chính trị]”[8].

Sâu xa hơn, nhà nghiên cứu Jayne S. Werner cho rằng “Đạo Phật và Khổng đã suy thoái [khi Pháp chiếm Nam Kỳ], để lại một khoảng trống văn hóa thuận lợi cho việc sáng lập các giáo thuyết mới nhắm vào mục đích khôi phục nền văn hóa Việt Nam”.[9]

Werner ghi chép rằng sự ra đời của đạo Cao Đài đã trả lại sinh lực cho đạo Phật, Lão và các chi Minh [Minh Sư, Minh Đường…], quy tụ được một số người tu hành của những tôn giáo này cải đạo sang Cao Đài. Ông cũng ghi nhận trước khi các tòa thánh của Cao Đài được xây thì tín đồ đã làm lễ ở các chùa Phật khắp Nam Kỳ.[10]

Một buổi lễ của đạo Cao Đài vào tháng 7/1948 tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Về mặt luật pháp, theo nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng, đạo Cao Đài thuận lợi phát triển trong những ngày đầu cũng một phần do một số luật của nước Pháp được áp dụng ở Nam Kỳ. Là một thuộc địa của Pháp, “Nam Kỳ đã chịu sự chi phối của luật pháp nước Pháp”. Năm 1883, Pháp đã cho áp dụng bộ Hình luật và một số điều khoản của bộ Dân luật trên đất Nam Kỳ.

Sinh hoạt tôn giáo luôn đòi hỏi sự tụ tập của nhiều người có khi lên đến hàng vạn người, dẫn đến quyền tự do hiệp hội là một phần không thể thiếu trong các lễ nghi sinh hoạt của các tôn giáo. Trong khi đó, luật của nước Pháp áp dụng ở Nam Kỳ có nhiều thuận lợi về tự do hiệp hội.

Theo Luật Hiệp hội 1/7/1901, “các hiệp hội có thể tự do thành lập không cần cho phép hay khai báo trước”, nhưng chỉ có năng lực pháp lý sau khi thông báo với chính quyền chi tiết về hiệp hội và cập nhật sự thay đổi của hiệp hội (nếu có) trong mỗi ba tháng.

Thật vậy, bản thông báo thành lập đạo Cao Đài mà ông Lê Văn Trung gửi cho Quyền thống đốc Nam Kỳ đã phản ánh điều này. Văn phong trong bản thông báo không có hề có cảm giác xin cho mà giọng văn hết sức kiên quyết:

“Nhân danh đông đảo những người Việt Nam đã hoàn toàn tán thành những điều nghiên cứu này [nguyên nhân thành lập và sứ mệnh của đạo Cao Đài] và có danh sách kèm theo, những người ký tên dưới đây hân hạnh tuyên bố cho ông biết là chúng tôi sẽ truyền bá cho toàn thể nhân loại giáo lý thiêng liêng này.”

Tin tưởng rằng nền tôn giáo mới này sẽ mang đến cho tất cả chúng ta hòa bình và hòa hiệp, những người ký tên dưới đây yêu cầu ông hãy chính thức tiếp nhận tuyên ngôn của chúng tôi”, trích thông báo gửi chính quyền thuộc địa Nam Kỳ về việc thành lập đạo Cao Đài.

Sau thông báo đó, đạo Cao Đài tổ chức một buổi lễ kéo dài suốt ba tháng để giới thiệu các chức sắc đầu tiên của Hội thánh Cao Đài và thu nhận tín đồ từ khắp nơi.[11]

Tài liệu đã trích dẫn:

[1] Đất Nam Kỳ, Tiền đề văn hoá mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng (Huệ Khải).
[2] Văn hoá Dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, trang 29.
[3] Đất Nam Kỳ, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng (Huệ Khải).
[4] Tài liệu đã dẫn, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Dài.
[5] Ngô Văn Chiêu người môn đệ Cao Đài đầu tiên, Lê Anh Dũng, NXB Tam Giáo Đồng Nguyên, trang 27.
[6] Theo Khảo luận xây bàn & cơ bút trong đạo Cao Đài của Nguyễn Văn Hồng công bố qua Tòa Thánh Tây Ninh, ba ông Cư, Sang, Tắc đều đã kiểm chứng một số thông tin qua các lần mà các vong hồn nhập vào đàn cơ thì thấy đúng. Một lần được tả quân Lê Văn Duyệt nhập vào cơ cho các bài thơ về thời sự.
[7] Tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng, trang 32.
[8] Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân, Sơn Nam, trang 135.
[9] Lê Anh Dũng trích dẫn phân tích của Jayne S. Werner trong tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ – Tiền đề văn hoá mở đạo Cao Đài.
[10] Lê Anh Dũng trích ý kiến của Jayne Susan Werner trong Đất Nam Kỳ – Tiền đề văn hóa mở đạo Cao Đài.
[11] Tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ – Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài.

Trần Phương
Theo: luatkhoa.com