Sunday, January 18, 2026

THƯỜNG NÓI 5 CÂU NÀY KHI ĐẾN NHÀ NGƯỜI KHÁC LÀ DẤU HIỆU CỦA EQ THẤP

EQ không nằm ở sự hoạt ngôn, mà ở khả năng nhận biết đâu là điều nên nói và đâu là điều nên giữ lại để thể hiện sự tôn trọng.


Khi đến thăm nhà người khác, lời nói không chỉ phản ánh phép lịch sự mà còn thể hiện mức độ trí tuệ cảm xúc (EQ) của mỗi người.

Người có EQ cao thường tinh tế, biết quan sát bối cảnh và lựa chọn ngôn từ phù hợp để tạo cảm giác thoải mái cho chủ nhà. Ngược lại, có những câu nói tưởng như vô hại nhưng lại dễ khiến không khí trở nên gượng gạo, thậm chí làm tổn thương người đối diện.

Dưới đây là 5 câu nói phổ biến mà người EQ thấp thường nói khi đến nhà người khác chơi:

1. “Nhà này mua bao nhiêu tiền thế?”

Tiền bạc và tài sản là chủ đề không phải lúc nào cũng dễ chia sẻ. Việc hỏi trực tiếp giá nhà dễ khiến chủ nhà rơi vào thế khó: trả lời thì ngại khoe khoang, không trả lời lại sợ bị đánh giá là né tránh.

Người có EQ cao thường hiểu rằng sự tò mò cá nhân không nên đặt lên trên cảm giác thoải mái của người khác, nhất là khi mối quan hệ chưa đủ thân thiết.

2. “Sao chưa lập gia đình/ chưa sinh con?”

Đây là câu hỏi quen thuộc nhưng cũng thuộc nhóm dễ gây tổn thương nhất. Hôn nhân và con cái là lựa chọn cá nhân, đồng thời có thể liên quan đến những câu chuyện riêng tư, áp lực xã hội hoặc trải nghiệm không vui mà người ngoài không thể nhìn thấy.

Việc hỏi thẳng cho thấy người hỏi chưa đủ tinh tế để nhận ra giới hạn cảm xúc của đối phương, dù hoàn toàn không có ý xấu.


3. “Nhà bạn nhỏ/quá chật nhỉ?”

So sánh không gian sống của người khác, dù vô tình hay cố ý, đều dễ chạm vào sự tự trọng của chủ nhà. Với nhiều người, ngôi nhà không chỉ là nơi ở mà còn gắn liền với nỗ lực cá nhân, điều kiện kinh tế và câu chuyện riêng của họ.

Người có EQ cao sẽ tránh đưa ra nhận xét mang tính đánh giá, đặc biệt là những so sánh có thể khiến đối phương cảm thấy bị xem thường.

4. “Sao bạn không mua đồ xịn hơn?”

Câu nói này thường xuất phát từ thói quen áp đặt tiêu chuẩn cá nhân lên người khác. Trong tâm lý học, đây được xem là biểu hiện của việc thiếu khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của đối phương.

Mỗi người có ưu tiên tài chính, gu thẩm mỹ và hoàn cảnh khác nhau. Nhận xét kiểu này không mang tính đóng góp, mà dễ khiến chủ nhà cảm thấy bị phán xét.

5. Nhà có mỗi thế này thôi à?”

Câu hỏi này tuy ngắn nhưng mang hàm ý đánh giá rất rõ. Nó dễ khiến chủ nhà cảm thấy bị xem nhẹ hoặc bị so sánh với một “chuẩn mực” nào đó không được nói ra.

Trong giao tiếp xã hội, tôn trọng không chỉ nằm ở lời khen, mà còn ở việc tránh khiến người khác cảm thấy mình bị đánh giá thấp.


EQ có thể rèn luyện

EQ là kỹ năng có thể học và rèn luyện, không phải phẩm chất cố định. Nhiều người đặt những câu hỏi trên đơn giản vì thói quen, môi trường sống hoặc chưa từng được hướng dẫn về ranh giới cảm xúc trong giao tiếp.

Việc nhận diện những câu hỏi dễ gây khó chịu không nhằm phán xét cá nhân, mà giúp mỗi người tinh tế hơn khi bước vào không gian riêng của người khác.

Chỉ cần thay đổi cách quan sát và lựa chọn lời nói, chẳng hạn như chuyển từ nhận xét sang khen ngợi, từ so sánh sang thấu hiểu, mỗi người đều có thể cải thiện kỹ năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ tích cực hơn.

Trong nhiều trường hợp, EQ cao không nằm ở việc nói điều gì hay ho, mà ở việc biết không nên nói gì để người khác cảm thấy được tôn trọng và thoải mái.

Người EQ cao thường làm gì khi đến nhà người khác?

Người có EQ cao hiểu rằng, khi bước vào nhà người khác, sự tinh tế quan trọng không kém sự thân thiện. Trước khi đặt câu hỏi, họ thường quan sát phản ứng và cảm xúc của chủ nhà để điều chỉnh cách trò chuyện, tránh những chủ đề có thể khiến đối phương khó xử hoặc không sẵn sàng chia sẻ.

Thay vì tò mò đời tư, người EQ cao ưu tiên những câu hỏi tích cực, trung tính và tập trung vào sự kết nối. Mục tiêu của cuộc trò chuyện không phải là thu thập thông tin cá nhân, mà là tạo cảm giác thoải mái, tôn trọng và dễ chịu cho tất cả mọi người.

Mini
Theo: Đời sống và Pháp luật

THỎA ƯỚC "THẾ KỶ" MỸ TỪNG KÝ VỚI ĐAN MẠCH VỀ QUYỀN KIỂM SOÁT GREENLAND

Tuyên bố Lansing, phụ lục trong thỏa ước mua bán lãnh thổ năm 1916, ràng buộc Mỹ tôn trọng quyền kiểm soát của Đan Mạch đối với đảo Greenland.


Tuyên bố Lansing, được đặt tên theo cựu ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing, được ký cách đây hơn một thế kỷ, đang thu hút nhiều sự quan tâm trở lại vì Tổng thống Donald Trump liên tục khẳng định Mỹ "cần Greenland", bất chấp phản đối gay gắt từ Đan Mạch và các đồng minh châu Âu.

Văn kiện ngoại giao này là một phần trong thỏa ước "thế kỷ" của Washington nhằm củng cố vị thế cường quốc hai đại dương vào đầu thế kỷ 20, sau khi Mỹ hoàn thành công trình kênh đào Panama năm 1914 và ngăn chặn hệ lụy lan tỏa từ Thế chiến I tại châu Âu.

Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson chấp thuận chi ngân sách 25 triệu USD, thanh toán bằng vàng, để mua lại ba hòn đảo trên vùng biển Caribe là Saint Thomas, Saint John và Saint Croix từ Đan Mạch. Copenhagen khi đó gọi khu vực này là "Quần đảo Tây Ấn", nay đã được đổi tên thành Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (USVI) và là một trong hai lãnh thổ hải ngoại của Mỹ trên vùng biển Caribe, bên cạnh Puerto Rico.

Bản gốc Tuyên bố Lansing, thuộc bộ văn kiện năm 1916, trong Văn khố Quốc gia Đan Mạch vào tháng 3/2025. Ảnh: Jyllands-Posten

Giao kèo mua Quần đảo Tây Ấn được ký ngày 4/8/1916 tại New York bởi ngoại trưởng đương nhiệm khi đó là Robert Lansing, kèm phụ lục với Tuyên bố như sau:

"Trong khi tiến hành ký kết Công ước về chuyển nhượng các đảo Tây Ấn thuộc Đan Mạch cho Mỹ trong ngày hôm nay, Ngoại trưởng Mỹ, người ký tên dưới đây và được chính phủ mình ủy quyền đầy đủ, trân trọng tuyên bố rằng chính phủ Mỹ sẽ không phản đối việc chính phủ Đan Mạch mở rộng các lợi ích chính trị và kinh tế của mình ra toàn bộ lãnh thổ Greenland".

Bản gốc của giao kèo này lẫn tuyên bố về Greenland đang được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Đan Mạch và trong hệ thống tư liệu lịch sử của Bộ Ngoại giao Mỹ. Đan Mạch hoàn tất chuyển giao quần đảo ở Caribe cho Mỹ khoảng 8 tháng sau đó, vào ngày 31/3/1917. Đến năm 1921, Đan Mạch chính thức tuyên bố toàn bộ đảo Greenland thuộc quyền cai trị của mình.

Tuyên bố Lansing về Greenland thời điểm đó cũng đặc biệt gây chú ý, một phần vì nó đi ngược lại tinh thần của Học thuyết Monroe, được cựu tổng thống James Monroe đưa ra vào năm 1823 về ngăn chặn sự mở rộng và can thiệp của các cường quốc châu Âu tại Tây Bán cầu, khu vực bao gồm cả Greenland.

Đan Mạch đã hiện diện tại Greenland từ năm 1721, chủ yếu ở bờ tây. Từ cuối thế kỷ 19, Copenhagen đẩy mạnh các cuộc thám hiểm về phía bắc và đông hòn đảo, những khu vực trước đó gần như không thể tiếp cận vì đường đi quá khắc nghiệt. Năm 1894, Ammassalik, nay là thị trấn Tasiilaq, trở thành điểm giao thương ở bờ đông Greenland. Đến năm 1909, một trạm buôn tư nhân được lập tại Thule, nay là thị trấn Qaanaaq, ở cực bắc hòn đảo.

Đan Mạch suốt những thập kỷ đó theo đuổi mục tiêu khẳng định chủ quyền trên toàn hòn đảo, song luôn vấp phải rào cản từ các quan điểm chiến lược của Mỹ. Ở chiều ngược lại, các quần đảo tại Caribe từ lâu không còn giá trị chiến lược với Đan Mạch, khi ngành mía đường tại đây đã lao dốc từ lúc chế độ nô lệ được bãi bỏ vào năm 1848, biến vùng lãnh thổ hải ngoại trở thành gánh nặng hành chính lẫn tài chính.

Cựu ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing trong phòng làm việc năm 1917. Ảnh: Thư viện Quốc hội Mỹ

Việc Washington ký Tuyên bố Lansing được xem là bước ngoặt với mục tiêu này của Copenhagen. "Chỉ với một chữ ký, Mỹ đã hợp pháp hóa việc công nhận chủ quyền của Đan Mạch đối với toàn bộ Greenland", chuyên trang Nordic Info thuộc Đại học Aarhus của Đan Mạch bình luận.

Sau tuyên bố của Mỹ, phần lớn cộng đồng quốc tế dần chấp nhận lập trường của Đan Mạch tại Greenland. Quốc gia duy nhất công khai phản đối thỏa ước vào thời điểm đó là Na Uy, vốn cũng có tham vọng mở rộng hoạt động tại Bắc Cực để phục vụ ngành đánh bắt cá. Nỗ lực phản đối này cuối cùng không đủ để đảo ngược xu thế công nhận chủ quyền Đan Mạch tại hòn đảo rộng 2,16 triệu km2.

Washington nhiều lần cân nhắc mua lại Greenland trong các giai đoạn sau này, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi giá trị chiến lược của hòn đảo thay đổi.

Theo những hồ sơ được chính phủ Mỹ giải mật vào năm 1991, chính quyền của tổng thống Harry Truman từng bí mật đề nghị mua Greenland với giá 100 triệu USD, cũng trả bằng vàng, đồng thời cấp quyền cho Đan Mạch khai thác một mỏ dầu tại Alaska. Ngoại trưởng James Byrnes đã trình bày đề nghị này với ngoại trưởng Đan Mạch Gustav Rasmussen vào ngày 14/12/1946. Ông Rasmussen đã sửng sốt trước đề xuất này và không chấp thuận.

Vị trí Mỹ, Greenland và Đan Mạch. Đồ họa: CNN

Đội cố vấn của ông Truman coi Greenland là vị trí phòng thủ chiến lược then chốt để đối phó với nguy cơ oanh tạc cơ Liên Xô bay qua Vòng Bắc Cực tiến vào Bắc Mỹ. Cuối cùng, Washington vẫn tiếp cận được Greenland thông qua việc Đan Mạch gia nhập NATO năm 1949 và một thỏa thuận quốc phòng song phương với điều khoản "tôn trọng đầy đủ chủ quyền của mỗi bên".

Năm 1955, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ tiếp tục đề xuất với tổng thống Dwight Eisenhower rằng nước này nên một lần nữa tìm cách mua Greenland, nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ khi đó tư vấn rằng đã quá muộn cho mọi nỗ lực hỏi mua lãnh thổ.

Hơn một thế kỷ sau Tuyên bố Lansing, thỏa ước đó đã được các chính trị gia Đan Mạch nhắc lại để đáp trả loạt tuyên bố "Mỹ cần Greenland" từ Tổng thống Trump.

Nghị sĩ Anders Vistisen, thành viên Nghị viện châu Âu, nói với CNN rằng Greenland là lãnh thổ của một quốc gia đồng minh NATO thân cận với Mỹ suốt hơn 70 năm và Washington từng ký hiệp ước thừa nhận quyền kiểm soát đầy đủ của Đan Mạch đối với hòn đảo.

"Nếu chính quyền Mỹ còn nghi ngờ, họ chỉ cần lục lại hồ sơ trong kho lưu trữ để thấy tuyên bố năm 1916 xác nhận Greenland thuộc về Vương quốc Đan Mạch", Vistisen nói.

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen cũng nhiều lần khẳng định Greenland "không phải để bán", đồng thời cảnh báo Washington không nên đặt câu hỏi về toàn vẹn lãnh thổ của một đồng minh NATO và cần chấm dứt những phát ngôn mang tính đe dọa.

Bối cảnh hiện nay đã thay đổi hoàn toàn so với năm 1916-1917. Đan Mạch không còn là quốc gia dễ bị tổn thương, còn Greenland có quyền tự trị sâu rộng và bản sắc chính trị ngày càng rõ nét. Các cuộc thăm dò dư luận gần đây cho thấy đa số người Greenland không ủng hộ việc trở thành một phần của Mỹ.

Thanh Danh (Theo Nordic Info, CNN, AEI)
Link tham khảo:




CHUYỆN TÌNH ĐẸP NHẤT TRONG ĐỜI: 30 NĂM SỰ NGHIỆP CỦA NATASHA ST-PIER

Sau Fabienne Thibeault và Céline Dion, Natasha St-Pier là làn sóng thứ ba đến từ vùng Québec chinh phục thị trường quốc tế. Riêng tại Pháp, Céline Dion lập kỷ lục số bán khi hợp tác với tác giả Jean-Jacques Goldman, trong khi Natasha thành danh vào đầu những năm 2000 nhờ làm việc chung với người em trai là nhạc sĩ Robert Goldman.

Ca sĩ Natasha St-Pier. © Toni Anne Barson Archive

Năm nay đánh dấu đúng 30 năm sự nghiệp ca hát của cô ca sĩ vùng Québec, vì Natasha phát hành album phòng thu đầu tiên vào năm 1996, lúc cô mới 15 tuổi. Nhân dịp này, Natasha thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh nước Pháp và phát hành album phòng thu thứ 15 mang tựa đề "Ma plus belle histoire d'amour" (Chuyện tình đẹp nhất đời tôi). Giới yêu nhạc Pháp hiểu ngay đây là bản nhạc nổi tiếng mà Barbara từng viết tặng cho người hâm mộ, vì câu chuyện tình đẹp nhất trong cuộc đời nghệ sĩ, trước sau vẫn là lòng thương yêu của công chúng.

Không phải ngẫu nhiên mà Natasha chọn bài hát của Barbara để đặt tựa cho album gần đây nhất của mình. Album này gồm những bản nhạc tiếng Pháp kinh điển, một hành trình âm nhạc xuyên qua nửa thế kỷ để ngỏ lời tri ân những tác giả và nghệ sĩ mà cô hằng yêu mến : ngoài Barbara, còn có Piaf và các nhà soạn nhạc Michel Berger, Alain Souchon, Nino Ferrer hay Christophe.

Những giai điệu quen thuộc ấy, Natasha từng được nghe trong gia đình từ thời còn nhỏ. Theo cô, tiếng Pháp có một nền âm nhạc vô cùng phong phú, đa dạng. Trong buổi trình diễn, Natasha hát lại những bài ca gắn liền với kỷ niệm của nhiều thế hệ người nghe.

Một sự lựa chọn theo Natasha không hề dễ dàng, vì có rất nhiều nhạc phẩm xứng đáng được đưa vào album này, khi chỉ giữ lại khoảng 10 bài hát, Natasha đã cố gắng đem lại sự đồng nhất, trong các bản hoà âm, phối khí.


Khác với những bản ghi âm trước, thường dùng nhiều nhạc cụ để tạo ra quy mô hoành tráng cho dự án, album của Natasha có một lối phối khí mộc mạc thuần khiết hơn, dùng tiếng đàn đệm piano và ghi ta để làm nổi bật vẻ đẹp của lời bài hát và sức truyền cảm trong lối diễn đạt.

Album của Natasha St Pier thực sự là một lời gọi mời cho một hành trình xuôi dòng ký ức, khám phá lại những giai điệu còn lưu lại bao dấu ấn sâu đậm qua các thế hệ. Nhiều nghệ sĩ thời trước đã tạo ra những giai điệu tuyệt vời, đẹp như mơ. Với tập nhạc của mình, Natasha hy vọng tiếp nối kéo dài những giấc mơ ấy.

Năm nay, Natasha St-Pier đã bắt đầu một giai đoạn mới trong cuộc sống. Trong quá trình thực hiện tuyển tập nhạc Pháp này, cô nhận ra rằng thời gian sống trên đất Pháp giờ dây, xấp xỉ với thời gian sinh trưởng ở Canada. Điều đó khiến Natasha quyết định nộp đơn xin nhập tịch Pháp, vào mùa thu năm 2025. Nhạc phẩm "J'ai deux amours" từng ăn khách qua giọng ca của Joséphine Baker, giờ đây trên album của Natasha tìm thấy một hơi thở mới : Dù nghìn trùng xa xôi ngăn cách diệu vợi, con tim vẫn ôm hai mối tình tuyệt vời, quê hương ngàn đời và Paris muôn lối.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt (03/01/2026)



VÌ SAO MỸ CẦN DẦU NẶNG CỦA VENEZUELA?

Mỹ hiện quốc gia sản xuất dầu hàng đầu thế giới hiện nay nhưng vẫn cần dầu nặng Venezuela để vận hành hệ thống lọc dầu ven Vịnh Mexico, giảm chi phí chuyển đổi và đảm bảo an ninh năng lượng.

Một nhà máy xử lý dầu thô nặng tại bang Anzoategui, Venezuela (Ảnh: Reuters).

Trong những ngày đầu năm 2026, thế giới chứng kiến một sự kiện chấn động: Lực lượng đặc nhiệm Mỹ tiến hành “chiến dịch chớp nhoáng” đột kích vào Venezuela, bắt giữ Tổng thống Nicolas Maduro tại Caracas.

Chỉ vài ngày sau, ngày 6/1, Tổng thống Donald Trump công bố một thỏa thuận “lịch sử”: Chính quyền lâm thời Venezuela sẽ chuyển giao từ 30-50 triệu thùng dầu thô cho Mỹ, với giá trị ước tính lên đến 2,8 tỷ USD dựa trên mức giá dầu thô lúc đó 56,73 USD/thùng. Không chỉ dừng lại ở con số khổng lồ, thỏa thuận này còn cho phép Mỹ trực tiếp kiểm soát doanh thu từ việc bán dầu, nhằm “hỗ trợ người dân Venezuela và đảm bảo lợi ích cho người Mỹ”, theo lời ông Trump.

Nhưng tại sao một siêu cường năng lượng như Mỹ, với sản lượng dầu mỏ vượt trội thế giới, lại cần dầu từ quốc gia Nam Mỹ? Câu trả lời không chỉ nằm ở kinh tế mà còn ở chiến lược toàn cầu, nơi dầu nặng Venezuela trở thành quân bài then chốt. Theo giới chuyên gia, sự kiện này không phải ngẫu nhiên. Nó phản ánh sự kết hợp giữa nhu cầu kỹ thuật của ngành lọc dầu Mỹ, chi phí chuyển đổi khổng lồ và nỗ lực tái định hình bản đồ năng lượng thế giới giữa bối cảnh cạnh tranh gay gắt với các đối thủ.

Lý do kinh tế cốt lõi

Theo NPR, Mỹ sẽ nhận 30-50 triệu thùng dầu “bị cấm vận” từ Venezuela, doanh thu sẽ được quản lý qua một quỹ do Mỹ kiểm soát để hỗ trợ nhân đạo cho Venezuela, bao gồm lương thực và thuốc men. Đến ngày 7/1, Bộ Năng lượng Mỹ bắt đầu triển khai việc tiếp nhận dầu, với các tàu chở dầu của tập đoàn Chevron sẵn sàng tại vùng biển Caribbean. Tạp chí Economist mô tả đây là “nước cờ chớp” của ông Trump, nhằm biến nó thành lợi thế kinh tế.


Đến nay, theo Fox News, ít nhất 4 tàu chở dầu Venezuela đã quay trở lại sau khi bị Mỹ tạm giữ, dòng chảy dầu bắt đầu ổn định. Tuy nhiên, chuyên gia Jason Bordoff từ Center on Global Energy Policy cảnh báo rằng thỏa thuận này có thể gặp thách thức pháp lý quốc tế. Ông Bordoff nhận định: “Đây không chỉ là dầu mỏ, mà là công cụ để Mỹ tái khẳng định ảnh hưởng ở Tây bán cầu”.

Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, với sản lượng trung bình 14 triệu thùng/ngày vào năm 2025, chủ yếu từ cuộc “cách mạng đá phiến” ở Texas và Bắc Dakota. Tuy nhiên, báo Wall Street Journal phân tích, hầu hết dầu Mỹ là loại nhẹ, có độ nhớt thấp và ít lưu huỳnh, phù hợp cho sản xuất xăng nhưng không lý tưởng cho các nhà máy lọc dầu truyền thống. Ngược lại, dầu Venezuela là loại nặng, đặc quánh, giàu lưu huỳnh, được khai thác từ vành đai Orinoco - có trữ lượng lớn nhất thế giới với hơn 300 tỷ thùng có thể khai thác.

Các nhà máy lọc dầu dọc Vịnh Mexico, chiếm 50% công suất lọc dầu Mỹ, được xây dựng từ những năm 1970-1980 để xử lý chính loại dầu nặng từ Canada, Mexico và Venezuela. Theo Hiệp hội Các nhà sản xuất Nhiên liệu và Hóa dầu Mỹ (AFPM), khoảng 70% công suất này hoạt động hiệu quả nhất với dầu nặng, sản xuất ra diesel, nhựa đường và các sản phẩm công nghiệp khác. Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio, trong cuộc phỏng vấn trên ABC News, nhấn mạnh: “Các nhà máy ở Vịnh Mexico là tốt nhất thế giới cho dầu nặng, hiện có thiếu hụt toàn cầu về loại này”.

Một chuyên gia từ nền tảng trực tuyến Substack giải thích rằng dầu đá phiến Mỹ quá nhẹ so với yêu cầu của các lò lọc. Việc trộn dầu nhẹ với nặng giúp tối ưu hóa quy trình, giảm chi phí sản xuất xăng và diesel xuống 10-20%. Nếu thiếu dầu nặng, các nhà máy phải giảm công suất hoặc nhập khẩu từ xa, đẩy giá nhiên liệu nội địa lên cao.

Hơn nữa, chi phí chuyển đổi là rào cản lớn. Việc nâng cấp các nhà máy để chỉ dùng dầu nhẹ có thể tốn hàng tỷ USD và mất 5-10 năm, trong khi ngành công nghiệp Mỹ đang đối mặt với lạm phát và chuyển dịch năng lượng xanh. Giáo sư Jeffrey Sachs từ Đại học Columbia nhận xét: “Mỹ không muốn đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng cũ kỹ khi đang thúc đẩy xe điện, nên dầu Venezuela là giải pháp ngắn hạn lý tưởng”.

Đến ngày 11/1, theo dữ liệu từ Cục Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), nhập khẩu dầu nặng từ Canada và Mexico đã giảm 15% do gián đoạn đường ống, khiến nhu cầu dầu Venezuela càng cấp bách. Guardian lưu ý rằng, dầu Venezuela, dù “bẩn” hơn (phát thải carbon cao), vẫn hấp dẫn vì giá rẻ sau khi dỡ bỏ cấm vận.


Lịch sử quan hệ dầu mỏ của Venezuela

Quan hệ dầu mỏ Mỹ-Venezuela có từ đầu thế kỷ 20, khi các công ty Mỹ như Exxon và Chevron khai thác từ mỏ dầu ở Orinoco. Đến những năm 2000, dưới thời Tổng thống Hugo Chávez, Venezuela đa dạng hóa đối tác sang Trung Quốc và Nga, giảm xuất khẩu sang Mỹ từ 1,5 triệu thùng/ngày xuống còn 500.000 thùng trước cấm vận 2019. Theo Investopedia, sản lượng Venezuela hiện chỉ gần 800.000 thùng/ngày, chiếm chưa đầy 1% toàn cầu, do quản lý chưa tốt, thiếu đầu tư và cấm vận từ bên ngoài.

Sau khi Mỹ bắt giữ ông Maduro, chính quyền lâm thời dưới sự lãnh đạo của bà Delcy Rodríguez cam kết tăng sản lượng lên 2 triệu thùng/ngày trong 2 năm, với sự hỗ trợ từ Chevron (Mỹ). Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo rằng việc phục hồi cần hàng tỷ USD đầu tư vào cơ sở hạ tầng xuống cấp, như bơm, đường ống và cảng. Một chuyên gia từ tổ chức nghiên cứu CFR nhận định: “Dầu Venezuela sẽ không cứu Mỹ ngay lập tức, nhưng nó giúp đa dạng nguồn cung, giảm rủi ro từ Trung Đông”.

Lợi ích chiến lược

Thỏa thuận dầu mỏ Mỹ - Venezuela vừa qua không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà còn là đòn bẩy địa chính trị. Theo DW, Mỹ yêu cầu Venezuela cắt đứt quan hệ với các đối tác truyền thống trước kia. Điều đó khiến Trung Quốc mất nguồn dầu giá rẻ, Nga và Iran mất đồng minh ở Mỹ Latinh. Trung Quốc và Nga đã lên tiếng chỉ trích, cho rằng Mỹ thể hiện cường quyền nước lớn, “bắt nạt” các nước nhỏ.


Giáo sư Paul Musgrave từ Đại học Massachusetts (Mỹ) nhận xét trên báo Chicago News: “Tổng thống Trump đang sử dụng dầu để tái khẳng định Học thuyết Monroe, đưa Nga - Trung ra khỏi khu vực sân sau của Mỹ”. Các nhà báo từ trang Yale Insights bổ sung rằng dù dầu mỏ không phải lý do chính, song nó giúp ông Trump “bán” chiến dịch cho cử tri bằng lợi ích kinh tế. Trang Morgan Lewis nhận định, lệnh trừng phạt Venezuela được nới lỏng, cho phép nguồn đầu tư Mỹ chảy vào. Tuy nhiên, các vụ bắt giữ tàu dầu liên quan Venezuela cho thấy căng thẳng hiện vẫn phức tạp.

Cuộc họp giữa Tổng thống Trump và giới lãnh đạo ngành dầu mỏ tại Nhà Trắng ngày 9/1 vừa qua đã thảo luận về việc đầu tư tái thiết dầu mở Venezuela, nhưng với sự phong tỏa hải quân và nội bộ Venezuela chưa ổn định, sản lượng khó tăng nhanh. Theo VZ, Mỹ có thể tiết kiệm hàng tỷ USD chi phí năng lượng, nhưng rủi ro chính trị tăng cao.

Như vậy, có thể thấy nguồn dầu nặng của Venezuela không chỉ là nhiên liệu mà là “chìa khóa” cho mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ. Trong bối cảnh cạnh tranh leo thang, thỏa thuận này giúp Mỹ giảm phụ thuộc, tối ưu hóa ngành lọc dầu và siết chặt đối thủ. Venezuela có trữ lượng lớn nhất, nhưng sản xuất ít nhất; Mỹ cần nó để lấp khoảng trống kỹ thuật. Với hơn 3 thập kỷ đối đầu, các động thái gần đây chỉ là chương mở đầu của cuộc chơi lớn hơn, nơi năng lượng định hình trật tự thế giới.

Đăng Khôi
Theo: WSJ, Economist, PBS News
Link tham khảo:




MỸ NHÂN ĐẸP NGHIÊNG NƯỚC NGHIÊNG THÀNH, KHIẾN 6 VỊ HOÀNG ĐẾ PHẢI MÊ MẨN

Cuộc đời Tiêu hoàng hậu đã trải qua biết bao thăng trầm, sóng gió, là người phụ nữ duy nhất khiến trái tim của 6 vị hoàng đế thổn thức.

Ảnh minh họa.

Tiêu Hoàng hậu, hay còn gọi là Dạng Mẫn hoàng hậu (566 - 648), xuất thân là một công chúa của Lương Minh Đế, Hoàng đế nước Tây Lương. Kể từ khi sinh ra, với nhan sắc hiếm có, bà đã bị gán cho một phần số đặc biệt, một phần số mà các thầy tử vi coi cho bà từ khi còn bé đã phải thốt lên 8 chữ rằng: "Mẫu nghi thiên hạ, mệnh đới đào hoa".

Tiêu Hoàng hậu sinh vào tháng 2, mà người vùng Giang Nam cho rằng, con gái sinh vào tháng 2 sẽ mang theo điềm dữ, nên Lương Minh Đế đã trao bà cho em họ là Đông Bình vương Tiêu Ngập nuôi dưỡng ở bên ngoài cung.

Không lâu sau đó, Tiêu thị lại được chuyển tới sống nhờ nhà người cậu ruột là Trương Hà Phủ. Tại đây, Tiêu thị phải làm việc để kiếm sống như tất cả những cô gái thường dân khác.

Năm 580, để tri ân sự giúp sức của Lương Minh Đế trong cuộc nội chiến nhà Tùy, Tùy Văn Đế Dương Kiên hỏi cưới một công chúa Tây Lương cho con trai của mình là Tấn vương Dương Quảng.

Lương Minh Đế khi đó đã cho thầy bói xem mệnh các công chúa của mình nhưng không ai hợp tuổi hợp mệnh với Dương Quảng. Bất đắc dĩ, Lương Minh Đế mới cho người đưa Tiêu thị hồi cung và chuẩn bị gả sang nhà Tùy.

Tiêu thị trở thành chính thất của Dương Quảng, được phong làm Tấn vương phi. Năm đó, Dương Quảng đã 20 tuổi, còn Tiêu thị mới lên 9.

Ảnh minh họa.

Khi trở thành con dâu của Tùy Văn Đế, Tiêu thị được Độc Cô Hoàng hậu yêu mến như con ruột, mời rất nhiều thầy giỏi đến dạy cầm kỳ thi họa. Nhờ vậy mà chỉ vài năm sau, Tiêu thị đã trở thành một nữ nhân tuyệt sắc đa tài đa nghệ.

Tiêu thị từ nhỏ đã được dự đoán sẽ trở thành "mẫu nghi thiên hạ", nên Dương Quảng vô cùng cao hứng, tin rằng mình cũng có mệnh làm Thiên tử. Vì vậy, Tấn vương luôn coi Tiêu thị là của trời cho, hết mực sủng ái người vợ 9 tuổi.

Quả nhiên sau này, Dương Quảng bày mưu giết anh, hại cha ruột, ung dung bước lên ngai vàng đẫm máu. Tiêu thị vì thế cũng được sắc phong làm Hoàng hậu, trở thành "mẫu nghi" của nhà Tùy.

Sau khi lên ngôi, Dương Quảng sa vào tửu sắc, khiến cho thiên hạ đại loạn. Lý Uyên, Lý Mật, Đậu Kiến Đức đều khởi binh cát cứ các phương, Tùy triều đành phải rời đô về Nam Kinh, bỏ lại phương Bắc.

Khi ấy, có gian thần Vũ Văn Hóa Cập từ lâu đã dòm ngó ngôi Thiên tử và Hoàng hậu họ Tiêu, liền nhân cơ hội này dấy binh làm phản.

Vũ Văn Hóa Cập đã giết chết Dương Quảng, chiếm lấy ngôi vua và ép Tiêu Hoàng hậu phải làm thiếp cho mình bằng cách đe dọa tính mạng thế tử. Tiêu Hoàng hậu đành ngậm đắng nuốt cay, nhận danh phận Thục phi của chính kẻ đã giết chồng.

Lúc này, quân đội lớn mạnh Đậu Kiến Đức ở vùng Trung Nguyên tới đánh chiếm Giang Đô. Vũ Văn Hóa Cập đấu không lại, bại trận trước Đậu Kiến Đức. Tiêu Hoàng hậu lần hai trở thành góa phụ, thế nhưng nhan sắc của bà không hề lụi tàn. Ngay lần gặp đầu tiên, Đậu Kiến Đức đã bị sắc đẹp của bà làm cho mê hoặc, ông ngay lập tức lập bà làm Hoàng phi.

Ảnh minh họa.

Mải mê với tửu sắc, Đậu Kiến Đức đã quên cả mục đích chính là chinh phục Trung Nguyên. Đó cũng là lúc thế lực của người Đột Quyết ở phương Bắc trở nên hùng mạnh.

Em gái của Tùy Dạng Đế lại chính là vợ của Hòa Thân Khả Hãn, một trong những người đứng đầu tộc Đột Quyết. Khi biết tin chị dâu còn sống, Nghĩa Thành công chúa đã phái sứ giả tới đón chị dâu. Biết không thể chống lại, Đậu Kiến Đức đành trao Tiêu Hoàng hậu lại cho sứ giả.

Bao năm phiêu bạt nhưng một lần nữa, dung nhan và khí chất hơn người của Tiêu thị lại một lần nữa làm điên đảo hai đời thủ lĩnh của người Đột Quyết. Bà lại trở thành sủng phi của Xử La Khả Hãn và sau đó là Hiệt Lợi Khả Hãn.

Thế nhưng, số phận vẫn chưa ngừng trêu đùa Tiêu thị, 10 năm sau đó, Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã đánh bại người Đột Quyết và đưa bà vào hậu cung nhà Đường, phong làm Chiêu dung. Lúc đó dù đã ở tuổi ngũ tuần nhưng dung mạo của Tiêu thị vẫn lay động lòng người.

Sau nhiều năm sống yên bình ở chốn hậu cung, bà qua đời vào năm 648 tại Trường An và được hợp táng với Tùy Dạng Đế. Năm 2013, các nhà khảo cổ đã tìm thấy khu lăng mộ của Tùy Dạng Đế, trong đó có một hài cốt phụ nữ cao khoảng 1m5, được cho là của Tiêu Hoàng hậu.

Mộc Miên (T/h)
Theo: nguoiduatin

Saturday, January 17, 2026

MỖI NGƯỜI ĐỀU ĐÚNG TRONG THẾ GIỚI CỦA HỌ


Ai cũng có nhận thức đúng với sự hiểu biết hiện tại của mình.

Điều ta cho là sai, với người khác có thể là đúng.

Điều ta xem là ngu ngốc, với người khác có thể là minh triết.

Mỗi người đang sống trong tầng nhận thức của riêng họ - được hình thành từ trải nghiệm, niềm tin, tổn thương và tình yêu mà họ đã đi qua.

Vì thế, điều khôn ngoan nhất không phải là thuyết phục người khác tin như mình, mà là học cách tôn trọng hành trình nhận thức của họ.

Người đang giận dữ, chưa biết yêu thương, không phải kẻ xấu - họ chỉ đang đau theo cách mà ta chưa hiểu.

Người sống trong sợ hãi, phòng thủ, phản ứng - chỉ đang cố gắng bảo vệ điều gì đó mà họ từng mất.

Chân lý không thuộc về bất kỳ ai.

Mỗi người chỉ đang nắm một mảnh của nó, từ góc nhìn mà họ có thể thấy.

Khi ta chấp nhận điều đó, ta không còn tranh luận để thắng, mà lắng nghe để hiểu.

Đừng ép ai phải nghe theo.

Đừng bắt ai phải thấy điều mà họ chưa đủ trải nghiệm để thấy.


Chỉ cần diễn đạt chân lý của bạn, bằng cách sống và bằng năng lượng bạn tỏa ra.

Một tâm sáng không cần phải giảng đạo - nó tự khiến người khác muốn lắng nghe.

Hãy tin rằng, khi thời điểm chín muồi, mỗi linh hồn sẽ tự mở ra như một đóa hoa.

Không sớm, không muộn - chỉ là đúng lúc.

Cho nên, hãy cứ là bạn, và để người khác được là họ.

Vì chính sự khác biệt ấy là cách vũ trụ mở rộng nhận thức của chính mình.

Hoàng Nhật Minh
Theo: khoahoctamlinh

TÚC NGHIỆP SƯ SƠN PHÒNG ĐÃI ĐINH ĐẠI BẤT CHÍ - MẠNH HẠO NHIÊN


Túc Nghiệp Sư sơn phòng 
đãi Đinh Đại bất chí

Tịch dương độ tây lĩnh,
Quần hác thúc dĩ mính.
Tùng nguyệt sinh dạ lương,
Phong tuyền mãn thanh thính.
Tiều nhân quy dục tận,
Yên điểu thê sơ định.
Chi tử kỳ túc lai,
Cô cầm hậu la kính.


宿業師山房
待丁大不至

夕陽度西嶺
群壑倏已暝
松月生夜涼
風泉滿清聽
樵人歸欲盡
煙鳥棲初定
之子期宿來
孤琴候蘿逕


Đêm ngủ ở sơn phòng của 
Nghiệp Sư đợi Đinh Đại không đến
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Mặt trời mới gác non tây,
Bỗng nhiên bóng tối tràn đầy các hang.
Thông, trăng, đêm mát nhẹ nhàng,
Suối và gió thổi nghe càng tronng veo.
Chim vừa đậu, khói sương deo,
Những người đốn củi đi theo nhau về.
Đến chơi, bạn đã hẹn thề,
Ôm đàn đứng đợi bên lề lối đi...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.

Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạnh thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.

Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng.

Nguồn: Thi Viện