Thursday, October 1, 2026

TRONG HÔN NHÂN, THẮNG ĐƯỢC MỘT CUỘC TRANH CÃI CHƯA CHẮC ĐÃ GIỮ ĐƯỢC HẠNH PHÚC

Có những cuộc cãi vã trong hôn nhân không bắt đầu từ chuyện gì quá lớn, nhưng lại khiến người trong cuộc tổn thương suốt nhiều ngày. Đôi khi, điều khiến người vợ mệt mỏi không phải là bất đồng quan điểm với chồng, mà là cảm giác dù mình nói gì, giải thích ra sao, người kia vẫn nhất quyết phải giành phần thắng.


Khi một người luôn muốn đúng, còn người kia chỉ mong được lắng nghe, cuộc trò chuyện rất dễ biến thành cuộc đấu hơn thua, nơi tình cảm dần bị đẩy ra phía sau.

Trong đời sống vợ chồng, ai cũng có lúc nóng giận, có lúc nhìn nhận sự việc khác nhau. Nhưng một người trưởng thành sẽ hiểu rằng tranh luận không phải để chứng minh mình giỏi hơn, càng không phải để khiến người bạn đời phải cúi đầu nhận sai.

Nếu sau mỗi lần cãi vã, một người cảm thấy mình chiến thắng, còn người kia chỉ còn lại tủi thân, bất an và thất vọng, thì cuộc tranh luận ấy đã không còn giúp gia đình giải quyết vấn đề. Bởi điều cần giữ trong hôn nhân không phải là thể diện của một người, mà là sự tôn trọng giữa hai người.

Trước khi trách móc bạn đời, hãy tự hỏi mình đã thực sự lắng nghe chưa, lời nói của mình có làm tổn thương người kia không, và mình đang muốn giải quyết mâu thuẫn hay chỉ muốn chứng minh mình đúng.

Một người biết tự xét mình sẽ có cơ hội sửa đổi; một người chỉ luôn tìm lỗi ở đối phương rất dễ khiến mâu thuẫn kéo dài.

Người xưa nói: “Hòa vi quý” – lấy hòa làm quý.

Trong nhà, nếu lúc nào cũng phân định phải trái như ngoài đời, hòa khí sẽ mất dần. Cổ nhân ví vợ chồng như nước với lửa: quá nhiều nước thì dập tắt lửa, lửa quá mạnh thì đốt cháy nước.

Chỉ khi biết tiết chế, biết dừng lại đúng lúc thì mới giữ được sự cân bằng. Những người đàn ông luôn cố chấp hơn thua thường thiếu phẩm chất của “bậc trượng phu”, đó là sự bao dung và độ lượng. Họ biến gia đình thành nơi tranh chấp, thay vì là chốn bình yên để dựa vào.


Vì vậy, người vợ không nhất thiết phải theo đuổi đến cùng mọi cuộc tranh cãi. Khi cảm xúc đang dâng cao, biết dừng lại, giữ bình tĩnh và lựa chọn một thời điểm khác để nói chuyện có thể giúp tránh những lời nói khiến cả hai hối tiếc.

Đó không phải là thua cuộc, mà là không để cơn giận điều khiển hành động của mình. Người xưa coi trọng sự điềm đạm, bởi người làm chủ được lời nói và cảm xúc cũng là người có thể giữ được sự sáng suốt trước những biến động.

Nhưng biết nhường lời không có nghĩa là phải nhẫn nhịn mọi điều. Nếu người chồng thường xuyên hạ thấp, xúc phạm, kiểm soát hay phủ nhận cảm xúc của vợ, thì vấn đề không thể được giải quyết chỉ bằng việc người vợ học cách bình tĩnh hơn.

Hôn nhân không phải nơi một người có quyền áp đặt, còn người kia phải liên tục điều chỉnh bản thân để tránh làm đối phương tức giận. Sự nhường nhịn chỉ có ý nghĩa khi cả hai đều biết tôn trọng và có trách nhiệm với mối quan hệ.

Đạo gia đề cao sự mềm mỏng và thuận theo tự nhiên, trong ứng xử, mềm mỏng có thể giúp con người tránh đối đầu không cần thiết. Một người phụ nữ có thể nói chuyện nhẹ nhàng mà vẫn giữ vững nguyên tắc, có thể không tranh cãi trong lúc nóng giận nhưng vẫn thẳng thắn bày tỏ điều mình không chấp nhận.

Bình an thực sự không phải là cố tỏ ra không buồn, không giận trước mọi cách đối xử, mà là hiểu cảm xúc của mình và biết bảo vệ những giới hạn cần thiết.

Sau cùng, hạnh phúc gia đình không thể được xây dựng bằng những cuộc phân định ai đúng, ai sai liên miên. Người chồng cần học cách lắng nghe, người vợ cần biết làm chủ cảm xúc, và cả hai đều cần học cách nhận lỗi, sửa đổi.

Cổ nhân coi trọng chữ “hòa”, nhưng hòa thuận không phải là một người luôn nhún nhường để người kia được quyền quyết định tất cả. Đó là khi hai người có thể khác biệt mà vẫn tôn trọng nhau, có thể bất đồng mà không làm tổn thương nhau.

Bởi trong hôn nhân, điều đáng quý nhất không phải là thắng được người bạn đời, mà là sau mọi bất đồng, cả hai vẫn muốn cùng nhau giữ gìn mái nhà.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

NGƯỜI XƯA THƯỜNG NÓI "TAM THÊ, TỨ THIẾP", LÀ CHỈ TAM THÊ NÀO VÀ TỨ THIẾP GÌ?

Câu nói “Tam thê, tứ thiếp” lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm văn học “Kim Bình Mai” của triều đại nhà Minh, dùng để chỉ một người đàn ông có nhiều thê thiếp. Trên thực tế, “tam thê tứ thiếp” mà người xưa nhắc đến cũng có những ám chỉ cụ thể, vậy thì “tam thê, tứ thiếp” có nghĩa là gì?


1. “Tam thê” có nghĩa là gì?

“Tam thê” trong tam thê tứ thiếp chỉ chính thê, thiên thê và hạ thê.

Chính thê là người có địa vị cao nhất trong “ba vợ”. Khi một người đàn ông cưới chính thê, phải khiêng cô ấy vào cổng lớn bằng kiệu hoa tám người khiêng. Ngoài ra giữa chính thê và chồng đều có địa vị bình đẳng như nhau. Trong xã hội dân gian, người ta sẽ gọi chính thê là vợ kết tóc se tơ. Trong hoàng cung xưa, chính thê là hoàng hậu của hoàng đế và có địa vị rất tôn quý.

Trong xã hội cổ xưa quy định nam giới chỉ được lấy một chính thê, nếu lấy nhiều hơn một chính thê thì sẽ bị quan lại trừng phạt. Ngoài ra, chính thê không thể bị nam nhân ly hôn, mà cho dù không được sủng ái cũng không thể biến thành thê thiếp. Có thể thấy, thời xa xưa chính quyền cũng có những luật lệ, quy định đặc biệt để bảo vệ chính thê.

Ngoài chính thê ra còn có thiên thê cùng hạ thê. Địa vị của những thiên thê và hạ thê này trong gia đình thấp hơn so với những người chính thê và cao hơn những các thiếp. Đây là sự khác biệt rõ ràng nhất giữa vợ và thê thiếp.


2. “Tứ thiếp” là gì?

“Tứ thiếp” là chỉ lương thiếp, quý thiếp, tiện thiếp, bình thiếp.

Lương thiếp, địa vị trong nhà cao hơn các thiếp khác. Nam tử trước khi cưới lương thiếp vào nhà, đều sẽ viết văn thư nạp thiếp, cũng lấy đó làm bằng chứng. Đối với lương thiếp mà nói, mặc dù địa vị trong nhà thấp, nhưng cuộc sống an ổn nửa đời sau, đồng dạng có thể dựa vào văn thư nạp thiếp, được cuộc sống bảo đảm tương ứng.Quý thiếp, thường là người phụ nữ tùy giá từ nhà mẹ đẻ của chính thê, tuổi tác tương đối lớn, dựa vào quan hệ thân mật với chính thê, địa vị của họ trong gia đình cũng tương đối cao.

Tiện thiếp ám chỉ những người phụ nữ không có xuất thân đứng đắn. Những người làm thê thiếp thấp hèn thường là gái lầu xanh hoặc là kỹ nữ, đa số đều có dung mạo xuất chúng hoặc tài năng phi thường, sau khi được nam nhân sủng ái sẽ được nam nhân chuộc ra khỏi lầu xanh, từ đó mà sống ổn định sau khi kết hôn.

“Tứ thiếp” trong tam thê tứ thiếp chỉ chính lương thiếp, quý thiếp, tiện thiếp, bình thiếp. Ảnh: VnExpress

Bình thiếp, là thiếp thất bình thường, cũng là loại cuối cùng trong “Tứ thiếp”. Các bình thiếp vừa không có văn thư nạp thiếp của mình, cũng không có quan hệ thân mật với chính thê, thiên thê hoặc hạ thê trong nhà, càng không có dung mạo hoặc tài hoa hơn người, nhiệm vụ chủ yếu là vì trượng phu sinh con, truyền tục hương khói.

Chế độ đa thê thực chất là chế độ một vợ một chồng nhưng có nhiều thê thiếp

Một số đàn ông hiện đại có thể ghen tị với cuộc sống của đàn ông cổ đại vì họ có “ba vợ, bốn thê”. Trên thực tế, vào thời Ân Thương, chế độ một vợ một chồng đã trở thành xu hướng xã hội chủ đạo, và nhiều vị vua của triều đại Ân đã chọn chế độ một vợ một chồng. Có nhiều lý do dẫn đến chế độ một vợ một chồng và đa thê, nhưng mục đích chính của hôn nhân là gánh vác gia đình.

Vào thời nhà Chu, “chế độ thê thiếp” được bổ sung trên cơ sở tiếp nối của hệ thống Ân Thương, và quy định rõ ràng rằng chỉ có thể có một “chính thê”, còn lại là “thê tử”. Còn “nguyên phối” (phát thê) dùng để chỉ người chính thê, sau khi chính thê qua đời hoặc chính thê tái hôn sau khi ly hôn thì gọi là “kế thất” hoặc “điền phòng”.

Thiếp không được phép làm chính thê, cho dù là hoàng đế cũng phải tuân thủ quy tắc “một chính thê, những người khác đều chỉ là thiếp”. Lúc này mới xuất hiện sự khác biệt “thê tôn thiếp ti”, “con chính thê là con trai trưởng, con thiếp là thứ tử”, cùng với lý “chính thê chi tử vy đích tử, thiếp chi tử vy thứ tử“.


“Bình thê” (còn gọi là hựu xưng tịnh đích) là một người phụ nữ được một thương nhân kết hôn khi anh ta đang làm việc bên ngoài, tức là người vợ tồn tại đồng thời với chính thê. Mặc dù gọi là “thê tử”, nhưng về mặt pháp lý của nhà Minh và Thanh thì vẫn là thân phận “thiếp”.

Chế độ đa thê thực chất là chế độ có nhiều hơn một vợ (nhiều thê thiếp). Chỉ một số ít người lấy thê thiếp, chủ yếu là những người có địa vị xã hội cao, trong khi dân thường hiếm khi có cơ hội lấy thê thiếp. Vì vậy, lấy thê thiếp được coi là đặc quyền của những người có quyền lực trong xã hội cổ xưa.

Sen vàng biên tập
An Nhiên / Theo: vandieuhay

CẢNH GIÁC VỚI LOÀI ẾCH ĐẸP CHỨA ĐỘC CHẾT NGƯỜI

Được mệnh danh là loài sinh vật “độc” nhất thế giới, nọc độc của ếch phi tiêu khiến hệ thần kinh bị tê liệt, gây tê liệt các cơ và dẫn tới tử vong. Nọc của một con ếch phi tiêu vàng có thể giết chết gần 20 người đàn ông khỏe mạnh hoặc thậm chí 2 con voi đực châu Phi.


Nọc độc không chỉ là vũ khí tự về mà con dùng để tấn công, vô hiệu hóa con mồi trong thế giới động vật. Vượt qua vô vàn đối thủ "nặng ký", sinh vật bé nhỏ này lại chính là sinh vật sở hữu nọc độc đáng sợ nhất thế giới: Sinh vật có thể giết người nhanh nhất!

Đó chính là ếch phi tiêu độc (tên khoa học: Dendrobatidae) là một nhóm các loài ếch trong họ Dendrobatidae chuyên sống ở Trung và Nam Mỹ.

Sở dĩ chúng có tên như vậy vì nọc độc của chúng được thổ dân da đỏ sử dụng để tẩm vào phi tiêu khi săn bắn.

Đứng đầu là ếch phi tiêu vàng (Phyllobates terribilis) ở Colombia, là loài vật độc nhất hành tinh. Chất độc do nó tiết ra có thể giết chết từ 10-20 người đàn ông, hoặc 2 con voi đực Châu Phi.

Ếch phi tiêu vàng.

Da của chúng tiết ra batrachotoxin, một loại chất độc khiến hệ thần kinh bị tê liệt, gây tê liệt các cơ và dẫn tới tử vong. Nọc của một con ếch phi tiêu vàng có thể giết chết gần 20 người đàn ông khỏe mạnh hoặc thậm chí 2 con voi đực châu Phi.

Loài ếch này có bề ngoài khá rực rỡ và bắt mắt. Tuy nhiên, đừng để vẻ "bắt mắt" đó đánh lừa bởi vì chỉ cần một va chạm nhỏ với da của chúng, tim người có thể ngừng đập nhanh chóng.

So với các loài ếch phi tiêu khác như ếch phi tiêu đen hay ếch phi tiêu nhị sắc, ếch phi tiêu độc Kokoe (Phyllobates aurotaenia) thì độc tính của ếch phi tiêu vàng gấp rất nhiều lần. Điều đáng sợ hơn, nọc độc của chúng có thể tồn tại tới 1 năm!

Nếu lỡ tay chạm vào chúng, điều đó không có nghĩa là bạn có thể bị trúng độc qua da, bởi vì chúng chỉ bài tiết chất độc qua da khi cảm thấy bị đe dọa, tuy nhiên cũng không vì thế mà có thể chạm vào chúng thoải mái.

Tuy là loài ếch bé nhỏ có nọc độc có thể giết chết cả... voi, nhưng tổ tiên của chúng sống cách đây 40 tới 45 triệu năm lại không hề có độc. Sở dĩ chúng có thể tiết nọc độc là do chúng ăn vào các sinh vật có độc tính.

Nhỏ hơn ếch phi tiêu vàng một ít, ếch phi tiêu chân đen hay ếch phi tiêu nhị sắc (Phyllobates bicolor) ở miền tây Colombia giết chết người chỉ với 150 microgram độc tố. Nạn nhân bị trúng độc sẽ sốt, đau đớn, co giật, liệt hô hấp và cơ bắp, rồi chết.

Ếch phi tiêu độc Kokoe (Phyllobates aurotaenia) là ếch độc nhỏ nhất trong chi ếch độc phi tiêu. Chất độc loài ếch này có thể thấm qua vết thương, lỗ chân lông, làm cho nạn nhân đau đớn, sốt, co giật và tê liệt. Thổ dân Colombia thường dùng chất độc của nó để tẩm vào mũi tên săn bắn.

Ếch độc 3 màu (Epipedobates tricolor) chỉ ngắn hơn 1/2 inch nhưng chất độc của nó có thể dễ dàng giết chết động vật săn mồi và con người. Hiện loài ếch này bị đe dọa tuyệt chủng ở Ecuador vì nó đang bị khai thác để làm thuốc giảm đau epibatadine với công dụng mạnh gấp 200 lần morphine.

Ếch độc ba màu.

Tiếp đến, là ếch đốm đen (Ranitomeya variabilis) sống trên cây rừng nhiệt đới ở Ecuador và Peru, có chất độc tiết ra da có thể giết chết 5 người.

Ếch sọc lưng vàng (Phyllobates vittatus) là một trong 4 chi ếch phi tiêu độc nhất. Nhưng chứa ít độc tính hơn, có thể làm đau đớn, co giật nhẹ và thậm chí tê liệt trong một số trường hợp trúng độc.

Ếch phi tiêu độc sọc (Phyllobates lugubris) ở Trung Mỹ có lượng độc tố tương đối thấp từ 0-0,8 microgram nhưng vẫn có khả năng gây suy tim ở các động vật ăn thịt nó.

Tuy không độc chết người như các chi ếch phi tiêu khác, nhưng ếch phi tiêu lưng gù (Dendrobates Azureus) vẫn là loài ếch có độc tính nguy hiểm.

Ếch phi tiêu lưng gù.

Vẫn thuộc chi ếch phi tiêu độc nổi tiếng, ếch phi tiêu đỏ (Oophaga pumilio) có thể gây sưng và bỏng cho những ai trúng độc.

Ếch độc đỏ đen (Ranitomeya reticulatus) sống ở Peru có độc tính trung bình nhưng có thể giết chết các động vật như gà, làm người bị thương.

Là loài ếch phi tiêu độc lớn thứ 3 với chiều dài khoảng 2 inch, ếch độc nhuộm màu (Dendrobates tinctorius) có rất nhiều màu sắc khác nhau chứa chất độc để tự vệ. Nó được các bộ lạc sử dụng để tẩm mũi tên săn bắn.

Cuối cùng là loài ếch lá khổng lồ (Phyllomedusa bicolor), còn gọi là ếch khỉ, có độc tố nhẹ gây ra cảm giác đau, dạ dày nôn nao dẫn tới ảo giác khi trúng phải. Hiện chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng do một số thành phần độc tính của nó có thể được sử dụng trong điều trị AIDS và ung thư.

Mặc dù biết đây là sinh vật cực độc, nhưng một số người vẫn chọn ếch phi tiêu độc để làm vật nuôi. Bởi vì chất độc của chúng đến từ những gì chúng ăn, nên người nuôi cũng có thể "vô hiệu hóa" một con ếch phi tiêu độc bằng cách cung cấp cho nó một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, trong đó bao gồm côn trùng không độc.

Ngoài ra, sẽ an toàn để xử lý ếch phi tiêu độc nếu nó chỉ ăn những con bọ như ruồi giấm và dế.

Ngược lại, nếu chúng sống ở Hawaii hoặc British Columbia, Canada, ai nuôi ếch phi tiêu độc là phạm luật. Theo đó, luật này được thi hành để bảo vệ ếch phi tiêu độc, đồng thời bảo vệ cả con người.

Hiện nay, do nạn phá rừng, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới nên ếch phi tiêu độc có nguy cơ tuyệt chủng. Môi trường sống của chúng cũng đang bị thu hẹp.

Cách săn mồi độc đáo của loài ếch phi tiêu độc

Ếch phi tiêu độc có cách săn mồi rất độc đáo. (Ảnh: Smithsonian).

Thức ăn chính là bí mật ẩn đằng sau chất độc cực mạnh của ếch phi tiêu độc. Thế nhưng điều ngạc nhiên là loài ếch phi tiêu độc lại không dùng độc để săn mồi. Thay vào đó, chúng thường dụ con mồi đến bằng cách gõ ngón chân giữa thon dài xuống đất.

Các nhà khoa học cho rằng những nhịp gõ nhẹ này là cách để giả tiếng mưa nhằm lôi kéo côn trùng đang ẩn náu bước ra. Khi những côn trùng này ra ngoài, chúng sẽ rơi vào miệng ếch.

Ếch phi tiêu độc sẽ phóng chiếc lưỡi dài và dính rồi nuốt chửng con mồi. Đây cũng là bí quyết giúp chúng sở hữu chất độc cực mạnh.

Vì sao ếch phi tiêu độc không bị trúng độc?

Theo nhà nghiên cứu Fayal Abderemane-Ali tại Viện Nghiên cứu Tim mạch của Đại học California (Mỹ), những con ếch phi tiêu độc và các loài động vật có độc khác có 3 thủ thuật để ngăn chặn quá trình tự nhiễm độc.

Trong đó, thủ thuật phổ biến nhất giúp các loài vật có độc nhưng không bị trúng độc là liên quan tới một đột biến gene làm thay đổi một chút hình dạng của protein mục tiêu của độc tố để độc không thể liên kết với protein.

Chẳng hạn, loài ếch độc Dendrobates tinctorius azureus có mang một chất độc gọi là epibatidine. Đây là chất độc không gây nghiện nhưng rất mạnh. Theo một nghiên cứu vào năm 2017 được công bố trên tạp chí Science, những con ếch độc này đã tiến hoá sự thích nghi trong những thụ thể acetylcholine của chúng để làm thay đổi một chút hình dạng của những thụ thể đó, từ đó giúp chúng có khả năng kháng độc tố.

Thủ thuật thứ hai mà những kẻ săn mồi có độc thường sử dụng là khả năng loại bỏ hoàn toàn chất độc khỏi cơ thể. Đây chỉ là cách khác để động vật tránh bị nhiễm độc bởi những thứ mà chúng ăn.

Thủ thuật thứ ba được gọi là cô lập. Theo đó, động vật sẽ phát triển hệ thống lưu giữ độc tố ở trong cơ thể mà không gây ra bất kỳ vấn đề hay ảnh hưởng nào cho bản thân chúng.

Theo: khoahoc.tv




LƯU BỊ KHI CÒN SỐNG ĐỂ LẠI 3 CÂU NÓI, CÂU THỨ 2 ĐẾN NAY ĐƯỢC COI NHƯ LÀ CHUẨN TẮC

Vào cuối thời nhà Hán và thời Tam Quốc, quần hùng tranh giành Trung nguyên, Lưu Bị tuy là tôn thất nhà Hán, hậu duệ của Hán Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng, nhưng gia đạo sa sút, cuối cùng lại trở thành quân vương khai sáng đại nghiệp Thục Hán. Ông là người khiêm tốn nhã nhặn, chiêu hiền đãi sĩ, khoan dung độ lượng, chí hướng cao xa, biết dùng người, được thế nhân ca tụng về lòng nhân từ và đức độ.


Lưu Bị không chỉ để lại cơ nghiệp to lớn, mà còn lưu lại cho hậu nhân những trí tuệ nhân sinh quý báu. Lưu Bị đã để lại 3 câu danh ngôn vẫn còn được truyền tụng đến ngày nay, cũng có thể nói là những câu kinh điển.

Câu thứ nhất: “Khuất thân thủ phân dĩ đãi thiên thì, bất khả dữ mệnh tranh dã”. Nghĩa là: Hạ mình giữ phận mà đợi thiên thời, không thể tranh giành cùng số phận.

Từ câu nói của Lưu Bị, chúng ta có thể biết rằng, Lưu Bị trong giai đoạn khó khăn vẫn ôm chí lớn, cả đời Lưu Bị có nhiều lần gây dựng sự nghiệp và nhiều lần gặp phải thất bại. Ông cũng nhiều lần đi cùng với những người bất đồng với mình, ví dụ như Công Tôn Toản, Tào Tháo, Lưu Biểu, Lã Bố. Họ đều từng là lãnh đạo của Lưu Bị. Nhưng cho dù gặp bao nhiêu thất bại hay phiền muộn, Lưu Bị chưa từng buông bỏ khát vọng của mình.

Cuối cùng, Lưu Bị đã lấy được căn cứ địa Thục Xuyên với sự trợ giúp của Gia Cát Lượng, Ngũ hổ tướng cùng với các võ tướng và công thần khác, và cũng tiến thêm một bước nữa đặt định bá nghiệp của Thục Hán. “Tam Quốc diễn nghĩa” chép: Lã Bố được Trần Cung hiến kế mời Huyền Đức trở về Tiểu Bái, làm vây cánh của mình, chuẩn bị cho việc đại hỉ. Khi vào thấy Lã Bố bái tạ, Quan Vũ, Vân Trường trong tâm bất bình, Huyền Đức nói: “Hạ mình giữ phận mà đợi thiên thời, không thể tranh giành cùng số phận”. Từ câu nói này chúng ta có thể thấy, Lưu Bị biết ẩn nhẫn, biết chờ thời cơ, xử sự mềm mỏng, như vậy mới đạt được thành công trong cuộc sống.

Lưu Bị muốn nói với chúng ta rằng, muốn thành công, tất phải dũng cảm và kiên trì, biết ẩn nhẫn, cho dù gặp phải khó khăn lớn thế nào cũng không được từ bỏ.


Câu thứ hai: Không mong sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, nhưng nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm!

Câu cách ngôn nổi tiếng này của Lưu Bị đã được người đời sau sử dụng cho đến ngày nay. Trong các bộ phim truyền hình chúng ta thường xuyên nghe thấy câu này. Có thể nói cả đời Lưu Bị, hai người anh em kết nghĩa Quan Vũ và Trương Phi đã giúp đỡ ông rất nhiều, cũng chính vì câu nói của Lưu Bị khiến Quan Vũ và Trương Phi vô cùng cảm động, nên hai người trước sau luôn trung thành với Lưu Bị.

Ví như khi Quan Vũ ở chỗ Tào Tháo, mặc dù Tào Tháo hứa hẹn quan to lộc hậu, lại đem con ngựa xích thố của Lã Bố tặng cho ông. Trong khi lúc đó Lưu Bị đang rơi vào tình cảnh rất thê thảm, vậy nhưng Quan Vũ vẫn thân tại Tào doanh tâm tại Hán. Hay như lúc quân Tào Tháo truy sát khiến Lưu Bị phải vội vàng bỏ chạy, Trương Phi xả thân bảo vệ cho Lưu Bị chạy, chỉ một thân một mình chống lại cường địch.

Câu này đã trở thành chuẩn tắc kết nghĩa huynh đệ cho hậu thế, thể hiện ý chí và tình cảm sâu nặng sống chết có nhau.

Lưu Bị nói với chúng ta, tình cảm huynh đệ rất quan trọng, chỉ có người trọng tình trọng nghĩa thì mới được người khác tôn trọng và đối xử thật lòng.


Câu thứ ba: Chớ thấy điều ác nhỏ mà làm, chớ thấy điều thiện nhỏ mà không làm.

Đây là lời Lưu Bị đã nói với Lưu Thiện trước khi lâm chung, mục đích Lưu Bị lưu lại câu nói này chính là muốn nói với Lưu Thiện, làm một vị quân vương, thì làm việc tốt nên bắt đầu từ việc nhỏ, tích tiểu thành đại, sau có thể thành đại sự; việc xấu phải đề phòng từ việc nhỏ, nếu không thì gom ít thành nhiều, sẽ làm hỏng việc đại sự.

Vì vậy, không nên vì việc tốt nhỏ mà không làm, càng không thể vì việc xấu nhỏ mà làm. Và câu nói này cũng trở thành câu cách ngôn nổi tiếng trong giáo dục gia đình, các bậc cha mẹ cũng thường dùng câu nói này của Lưu Bị để dạy dỗ con cái.

Ba câu cách ngôn nổi tiếng của Lưu Bị đã để lại cho thế hệ sau rất nhiều suy ngẫm, cũng giúp người đời sau học được trí tuệ nhân sinh to lớn.

Tiểu Phàm biên dịch
Theo: Đường Đông Bách – Aboluowang

Wednesday, September 30, 2026

TA NGHĨ MÌNH ĐÃ QUÊN, KỲ THỰC TA CHƯA TỪNG CHÚ Ý ĐỂ NHỚ

Có một giai đoạn, mỗi ngày tôi đều đọc cùng một cuốn sách, bởi tôi tin rằng những điều hay, nếu đọc đủ nhiều ắt sẽ thấm vào người. Ngày qua ngày, những dòng chữ quen đến mức tôi có thể lật đến bất cứ đoạn nào mà không cần đánh dấu. Tôi nghĩ mình đã nhớ rất rõ, rất nhiều. Tôi tin rằng cuốn sách ấy đã ở trong tôi.


Thế nhưng có một lần, một người hỏi tôi một câu rất đơn giản: điều căn bản nhất của cuốn sách ấy là gì? Tôi thật sự đã phải suy nghĩ. Trong khoảnh khắc ấy, đầu óc tôi trống rỗng lạ thường. Tôi cố gắng lục lọi trí nhớ, cố ghép những mảnh chữ nhưng không thể. Tôi đã đọc, đã đọc rất nhiều, vậy mà không trả lời được điều cốt lõi nhất.

Khi ấy, tôi mới nhận ra: có thể tôi không hề quên. Kỳ thực, tôi chưa từng nhớ. Tôi chỉ quen mắt với con chữ, quen tay lật trang, quen với cảm giác “mình đang đọc”, chứ chưa từng thật sự chú tâm để hiểu. Thời gian vẫn trôi qua, trang sách vẫn lật, nhưng tâm trí tôi có lẽ đã ở đâu đó rất xa. Không phải tôi lãng phí thời gian, mà là tôi đã sống trong một thói quen vô thức, nơi sự lặp lại tạo ra ảo giác của hiểu biết.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy gia đình cũng giống như thế.

Mỗi ngày, chúng ta đều ở bên gia đình. Ta nhìn thấy họ, ăn cơm cùng họ, ngồi chung một phòng, cùng xem ti vi, cùng im lặng. Ta nghĩ rằng chỉ cần có mặt là đủ, chỉ cần “ở đó” thì đã là quan tâm. Nhưng thực ra, có khi ta ở rất gần về không gian, mà lại rất xa về tâm hồn.

Xa vì ta không hỏi hôm nay họ có gì vui. Xa vì không có một câu chào buổi sáng đúng nghĩa, không có một ánh nhìn đủ lâu để nhận ra trong mắt họ có điều gì khác hôm qua. Xa vì ngày nào cũng như ngày nào, nên ta mặc định rằng mọi thứ vẫn ổn. Ta thấy họ, nhưng chưa chắc đã nhìn họ. Ta nghe họ nói, nhưng chưa chắc đã thật sự lắng nghe.

Giữa chúng ta và người thân, có một “cửa sổ” vô hình. Nó không phải là cánh cửa khóa chặt bằng then sắt, mà là cánh cửa khép hờ bởi sự quen thuộc. Ta cứ nghĩ nó luôn mở, nên chẳng bao giờ thử đẩy ra thêm. Ta quen với việc để nó đóng, quen đến mức quên mất ánh nắng từng chiếu qua đó.

Rồi một ngày, rất bất chợt, một buổi sáng se lạnh khi gió lùa qua khe cửa ấy, ta mới giật mình nhận ra: hóa ra cửa sổ đã đóng kín từ lâu, đến mức chính ta cũng không nhớ nó khép lại từ khi nào. Có thể là từ lúc ta quá bận, từ lúc ta mãi lo cho tương lai, hay từ khi ta tin rằng “còn nhiều thời gian”.


Buổi sáng ấy mang theo sự thức tỉnh. Không ồn ào, không kịch tính, chỉ là một cảm giác nuối tiếc rất khẽ nhưng đủ sâu để khiến ta không thể làm ngơ. Ta nhận ra mình cần phải thay đổi, không phải thay đổi cả thế giới, mà thay đổi cách ta hiện diện trong từng khoảnh khắc nhỏ.

Ta bắt đầu chào buổi sáng. Ta hỏi han, dù chỉ là vài câu vụn vặt. Ta lắng nghe, dù câu chuyện có vẻ chẳng đi đến đâu. Ta mở cửa sổ, để ánh nắng bình minh tràn vào, không chỉ cho căn phòng mà cho chính lòng mình.

Buổi sáng ấy đã rót vào ta một nguồn năng lượng kỳ lạ. Ta thấy mình vui vẻ hơn, nhẹ nhõm hơn, yêu đời hơn. Ta chào hỏi những người ta gặp trên đường, ta thật sự thấy họ giống như người thân, những con người đang cùng đi qua một ngày sống mong manh và quý giá.

Cuối cùng, tôi hiểu rằng: điều quan trọng không phải là ta đã đọc bao nhiêu lần, đã ở bên nhau bao lâu, mà là ta có thật sự ở bên trong không gian đó hay không. Bởi nếu tâm không ở đó, thì dù thời gian có trôi qua bao nhiêu, ta vẫn chỉ đứng trước một cuốn sách chưa từng mở, một gia đình chưa từng thật sự chạm vào nhau.

Mỹ Mỹ biên tập
Theo: vandieuhay

THU DẠ HỮU CẢM - NGUYỄN KHUYẾN


Thu dạ hữu cảm

Sơn hà liêu lạc tứ vô thanh,
Độc toạ thư đường khán nguyệt minh.
Hà xứ thu phong xuy nhất diệp,
Dẫn lai vô hạn cố viên tình.


秋夜有感 - 阮勸

山河寥落四無聲
獨坐書堂看月明
何處秋風吹一葉
引來無限故園情


Cảm xúc đêm thu
(Dịch thơ: Trương Việt Linh)

Non sông bốn phía lặng yên
Phòng văn tựa ghế ngắm vầng trăng soi
Gió thu một chiếc lá rơi
Mối tình quê cũ bời bời trào dâng


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Khuyến 阮勸 (15/2/1835 - 5/2/1909) tự Miễn Chi 勉之, hiệu Quế Sơn 桂山, vốn tên là Nguyễn Thắng 阮勝, sau vua Tự Đức mến tài ban tên Khuyến với nghĩa là đáng khuyến khích. Ông sinh tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, mất tại Yên Đổ. Quê nội của ông là làng Và, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Cha ông là Nguyễn Tông Khởi 阮宗起 (1796-1853), thường gọi là cụ Mền Khởi, đỗ ba khoá tú tài, dạy học. Mẹ là Trần Thị Thoan 陳氏湍 (1799-1874), nguyên là con của Trần Công Trạc 陳公鐲, từng đỗ tú tài thời Lê Mạt.

Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ tam nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ hoàng giáp Phạm Văn Nghị. Nguyễn Khuyến nổi tiếng là một người thông minh, hiếu học. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức giải nguyên) trường Hà Nội. Năm sau (1865), ông trượt thi hội nên phẫn chí, ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ hội nguyên và đình nguyên (hoàng giáp). Từ đó, Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.

Nguồn: Thi Viện

TOP 5 LOÀI ĐỘNG VẬT CÓ KHẢ NĂNG BAY LƯỢN CỪ KHÔI DÙ KHÔNG PHẢI LÀ CHIM

Thế giới tự nhiên thật sự vô cùng phong phú. Một số loài động vật dù không phải chim nhưng lại có thể bay lượn điêu luyện. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về 5 loài động vật biết bay thú vị nhất dù không có cánh nhé.

Những loài vật có khả năng bay lượn tài tình dù không phải chim

1. Cá đuối bay

Cá đuối có thể bay lên khỏi mặt nước như chim tới 2m. (Ảnh: NatGeo)

Cá đuối bay hay còn gọi Mobula là một chi cá trong họ cá Myliobatidae (cá đuối đại bàng) thuộc bộ cá đuối ó Myliobatidae. Hẳn bạn sẽ cảm thấy rất ngạc nhiên vì loài cá này có thể bay lên khỏi mặt nước như chim tới 2m. Những con cá đuối này có chiều ngang đạt tới 5,2m, trọng lượng đạt tới 1 tấn.

Theo các nhà khoa học, cá đuối bay sống trong phạm vi nhỏ hẹp với tỷ lệ sinh sản thấp. Điều này khiến chúng phải cạnh tranh rất khốc liệt để duy trì nòi giống. Khi tới mùa sinh sản, cá đuối bay sẽ tập trung thành bầy lớn bơi cùng nhau, cũng trong thời điểm này chúng sẽ tìm cách để kết bạn với cá đuối cái. Để thu hút bạn tình, những con cá đuối đực sẽ phi thân lên mặt nước cao nhất có thể rồi dang rộng "đôi cánh" để nhào lộn sao cho đẹp mắt nhất và để tăng diện tích tiếp xúc với mặt nước tạo tiếng nổ lớn nhất.

2. Rắn bay

Rắn bay có thể lướt đi nhanh với tốc độ 8 đến 10 mét/giây. (Ảnh: NatGeo).

Rắn bay có danh pháp khoa học: Chrysopelea là một chi rắn trong phân họ Ahaetuliinae họ Colubridae. Chúng là một nhóm rắn sống trên cây từ Đông Nam Á (ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào, Campuchia) tới Nam Á. Rắn bay chủ yếu sống ở các ngọn cây, chúng nhảy từ cành cây để thoát khỏi kẻ săn mồi hoặc tìm kiếm con mồi. Chúng có thể bay tới khoảng cách lên đến 24m.

Jake Socha, một nhà sinh vật học thuộc Đại học công nghệ Virginia cho biết: Các loài rắn bay có cấu tạo cơ thể đặc biệt có thể tự làm phẳng mình khi chúng quăng mình, chúng còn biết cách nghiêng bên này bên kia để hứng gió, tạo lực nâng chống lại trọng lực. Rắn bay có thể lướt đi nhanh với tốc độ 8 đến 10 mét/giây.

3. Mực bay

Mực bay có thể bay được 30m trên bề mặt nước để tránh kẻ thù hoặc tiết kiệm năng lượng khi di cư. (Ảnh: NatGeo)

Mực bay có tên gọi Todarodes pacifius theo tiếng La-tinh, thuộc họ mực Ommastrephidae. Chúng sống ở phía bắc của Thái Bình Dương, quanh khu vực biển Nhật Bản, Trung Quốc và Nga, phía nam bờ biển Alaska và Canada, chúng cũng sống ở miền trung Việt Nam. Mực bay có màu xanh, dài khoảng 20cm, chúng có thể bay được 30m trên bề mặt nước để tránh kẻ thù hoặc tiết kiệm năng lượng khi di cư.

Mực bay có 2 vây và một vòi nước có tác dụng lấy nước từ bên này và đẩy nước ra ngoài từ bên kia. Đây cũng là cơ chế bay của mực. Chúng bay ngược về phía sau với các xúc tu đung đưa và vây của chúng hoạt động như đôi cánh giúp chúng giữ thăng bằng trong không trung.

4. Ếch bay

Ếch bay có thể dễ dàng liệng từ trên cây cao xuống và tiếp đất nhẹ nhàng. (Ảnh: NatGeo)

Ếch bay hay còn gọi là ếch lượn là một loài ếch trong họ Rhacophoridae. Chúng được tìm thấy ở Trung Quốc, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, có thể cả Brunei, và có thể cả Myanma. Do có tứ chi rất khoẻ, giữa các ngón có màng da, màng chân lớn, nếp da bên cánh tay rộng nên ếch bay có thể dễ dàng liệng từ trên cây cao xuống và tiếp đất nhẹ nhàng, hoặc lướt từ cây này sang cây khác mà không hề hấn gì.

Chúng có kích thước khá lớn, con đực dài 72,3 – 85,5mm, con cái 89,4 – 90,7mm. Màu sắc con đực và con cái giống nhau. Ngoại hình ếch bay thường tương xứng với khu vực sinh sống và có khả năng thay đổi. Loài sống ở vùng nhiệt đới thường có màu sắc sặc sỡ, còn loài sống ở vùng khí hậu ôn đới thường có màu tối hơn.

5. Sóc bay

Loài sóc này có thể bay xa tới 60 – 100 mét chỉ sau vài giây. (Ảnh: NatGeo)

Sóc bay là loài thú có túi kích thước nhỏ, có nguồn gốc từ nước Úc và New Guinea. Cấu tạo cơ thể cho phép sóc bay dễ dàng di chuyển từ cây này qua cây khác. Chúng có một lớp màng mỏng kéo dài hai bên sườn, có tác dụng như một chiếc dù lượn. Nhờ lớp mảng mỏng manh ấy mà sóc có thể bay xa tới 60 – 100 mét chỉ sau vài giây. Tuy nhiên, chúng không thể tự cất cánh từ dưới mặt đất mà phải thả mình từ trên cây cao xuống.

Sóc bay ban ngày thường trốn trong tổ, đến tối mới ra ngoài kiếm ăn và dạo chơi. Đa số thời gian được chúng dành để ngủ. Sóc bay có 1 bộ lông màu xanh xám mịn màng, cơ thể nhẹ và nhỏ nhắn. Trong tự nhiên, sóc bay gần như có thể ẩn mình vào môi trường tự nhiên ví dụ như lá và cành cây. Chúng rất khó bị phát hiện bằng mắt thường.

Theo: khoahoc.tv