Monday, May 11, 2026

TRƯỜNG GIANG TUYỆT ĐẢO ĐỒ - TÔ THỨC


Lý Tư Huấn hoạ 
“Trường Giang tuyệt đảo đồ”

Sơn thương thương, thuỷ mang mang,
Đại Cô, Tiểu Cô giang trung ương.
Nhai băng lộ tuyệt viên điểu khứ,
Duy hữu kiều mộc sam thiên trường.
Khách chu hà xứ lai?
Trạo ca trung lưu thanh ức dương.
Sa bình phong nhuyễn vọng bất đáo,
Cô sơn cửu dữ thuyền đê ngang.
Nga nga lưỡng yên hoàn,
Hiểu kính khai tân trang.
Chu trung mãi khách mạc mạn cuồng,
"Tiểu cô" tiền niên giá "Bành lang".


李思訓畫長江絕島圖

山蒼蒼,水茫茫,
大孤小孤江中央。
崖崩路絕猿鳥去,
惟有喬木攙天長。
客舟何處來?
棹歌中流聲抑揚。
沙平風軟望不到,
孤山久與船低昂。
峨峨兩煙鬟,
曉鏡開新粧。
舟中買客莫漫狂,
小姑前年嫁彭郎。


Bức tranh “Trường Giang tuyệt đảo” 
do Lý Tư Huấn vẽ
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Non xanh nước biếc mênh mang. 
Thuyền to thuyền nhỏ, nhịp nhàng giữa sông. 
Chim kêu vượn hú tầng không. 
Chênh vênh cầu gỗ, bắc trông ngang trời. 
Thuyền đưa khách lạ ghé chơi ?. 
Điệu hò mái đẩy, xa vời ca vang. 
Bãi bồi gió thổi nhịp nhàng. 
Non tiên một dải, thuyền ngang theo dòng. 
Vút cao như vấn mây bồng. 
Soi gương mặt nước, còn lồng điểm tô. 
Giữa thuyền khách chớ xô bồ. 
Hỏi thăm cô lái, biết cô có chồng !?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô. Thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Thức), Tô Thức, Tô Triệt (em Tô Thức), Vương An Thạch và Tăng Củng), khoáng đạt nhất, tư tưởng và tính tình cũng phức tạp nhất.

Nguồn: Thi Viện



ÁP DỤNG 3 KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI XƯA ĐỂ ĐƯỢC VẠN NGƯỜI QUÝ MẾN: CÓ NHỮNG LÚC KHÔNG NÓI LÀ KHÉO NHẤT

Thông qua lời nói, bạn hoàn toàn có thể quyết định việc có được người khác yêu mến, kính trọng hay không.


Việc không cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày dễ khiến bạn rơi vào những tình huống khó xử, mọi người xung quanh khó chịu hay thậm chí đem đến tai họa cho bản thân.

Dưới đây là 3 câu nói của cổ nhân xưa để lại, đúc kết kinh nghiệm để trở nên thông minh, khéo léo hơn trong giao tiếp. Áp dụng những điều này, bạn có thể quyết định có được người khác yêu mến, kính trọng hay không.
Euripides - Nhà văn cổ đại Athena: "Hãy nói nếu bạn có những lời lẽ mạnh mẽ hơn, nếu không, hãy im lặng."
Trong một số trường hợp, im lặng mới chính là chìa khóa dẫn đến thành công.

Thay vì nói nhiều, nói những điều vô nghĩa, không có giá trị, hay gây khó chịu cho người khác, hãy thử học cách im lặng và dùng đôi tai lắng nghe. Miệng lưỡi lanh lợi là một thế mạnh, tuy nhiên vũ khí đó chỉ nên được sử dụng khi suy nghĩ, tư tưởng trong bạn đã chín chắn, thông suốt.

Khi đó những lời nói từ bạn sẽ có giá trị và hữu ích với người nghe, từ đó, trọng lượng lời nói cũng như giá trị bản thân con người bạn cũng sẽ tăng lên.

Euripides - một trong 3 nhà văn vĩ đại nhất Athena thời Hy Lạp cổ đại với câu nói về sự im lặng là thông minh trong giao tiếp. (Ảnh minh họa)

Càng nói nhiều, bạn càng dễ nói hớ, nói những lời không ý nghĩa. Bạn không thể nghĩ những điều bạn vô tình nói ra lại thật ngu ngốc, cho đến khi bạn lãnh đủ hậu quả từ nó.

Ví dụ như khi bạn tùy tiện nói ra một lời hứa nhưng không thực hiện được nó, điều này sẽ khiến bạn bị mất uy tín và lòng tin của mọi người, từ đó sẽ không ai muốn nghe bạn hứa nữa.
Nhà văn Nga L.Leonop: "Những người mạnh không dùng lời lẽ lăng mạ."
Lời nói là một phần quan trọng để đánh giá tính cách, phẩm chất của một con người. Chính vì vậy, trong ứng xử, hãy cố gắng luôn nói ra những lời hay ý đẹp, giao tiếp vui vẻ, điềm đạm và lịch sự với mọi người. Tránh chê trách thẳng thừng hay nói ra những lời ác ý, cay nghiệt.

Khi bạn nói những lời tử tế với gia đình, bạn bè, hay chỉ là những người xã giao, qua đường, bạn sẽ tạo được ấn tượng tốt trong mắt họ. Và chính họ cũng sẽ đối xử lại như vậy với bạn.

Giao tiếp vui vẻ, điềm đạm, lịch sự giúp bạn phát triển thêm nhiều mối quan hệ, được mọi người yêu mến. (Ảnh minh họa)

Dù có nóng giận, muốn chê trách đến đâu, hãy cố gắng kìm nén bản thân để không nói ra những lời lẽ cay nghiệt, khó nghe hay thậm chí và xúc phạm người khác. Việc làm này không chỉ gây khó chịu, tổn thương đến người khác mà còn vô tình khiến bạn bị đánh giá là nóng nảy, ác khẩu, mặc dù thực sự trong thâm tâm bạn không hề là người xấu.

Ai cũng có khuyết điểm, hoặc trong cuộc sống chắc chắn sẽ có những lúc ta gặp phải điều không như ý. Tuy nhiên, người thông minh sẽ biết cách bình tĩnh trước mọi vấn đề. Hãy thẳng thắn chia sẻ, góp ý chân thành với nhau, từ đó tìm ra giải pháp thay vì chỉ chăm chăm “xả” cơn tức giận qua ngôn từ.
Tôn Tử: "Tướng giỏi sau khi thắng trận không cần ai khen và cũng không cần ai biết đến công lao."
Về bản chất, việc phô trương những điểm mạnh bạn có không phải là xấu. Nhưng khi bạn nói quá nhiều về nó, người khác sẽ cảm thấy không được vui vẻ cho lắm.

Câu nói của Tôn Tử ý chỉ, những người thông minh, tài giỏi sẽ hiếm khi khoe khoang ra những tài năng của họ. (Ảnh minh họa)

Bạn càng khoe khoang nhiều, người ta càng biết rõ về bạn, vô tình những điểm mạnh và cả những điểm yếu của bạn sẽ được để ý. Đây là cơ hội dành cho những kẻ vốn đã không thích bạn từ lâu lợi dụng.

Những người xung quanh khác tuy không có ý xấu với bạn nhưng sẽ không tránh khỏi cảm giác khó chịu khi suốt ngày phải nghe 1 người tự mãn về bản thân, hoặc có thể sẽ có nghĩ rằng bạn là “thùng rỗng kêu to”. Nếu bạn đã thực sự tài giỏi, tài năng đó sẽ được tự biết đến.

Đối với những việc quan trọng của bản thân thì bạn càng không nên khoe khoang chúng mà thay vào đó là hãy giữ bí mật.

Vì vậy trong cuộc sống, cách chúng ta giao tiếp, ứng xử, từng lời ăn tiếng nói đều rất quan trọng. Hãy nắm rõ các cách giao tiếp ứng xử thông minh để được mọi người xung quanh yêu mến hơn và cũng tránh khỏi những rắc rối không đáng có.

Thu Phương / Theo: Soha

Sunday, May 10, 2026

"PHÚC TỪ TÂM MÀ ĐẾN, HỌA TỪ MIỆNG MÀ RA", PHONG THỦY TỐT HAY XẤU CŨNG TỪ MIỆNG MÀ THÀNH

Cổ nhân có câu: “Kẻ làm biếng gây chuyện thị phi, kẻ tiểu nhân thì hay đồn thổi”. May mắn từ miệng mà ra, xui xẻo từ miệng mà ra, đôi khi cái miệng của chúng ta nhanh nhạy nhưng lại làm mất lòng nhiều người.


Làm người, lòng nhân ái chân chính không chỉ là tấm lòng nhân hậu, mà còn là biết giữ im lặng. Biết rằng im lặng đúng lúc là một loại trí tuệ và cũng là một loại phong thái. Từ miệng có thể nói ra lời nói ngọt ngào hay cay đắng. Những người thực sự tu dưỡng đạo đức tốt, họ có lòng yêu thương, nhân hậu, biết dùng lời nói ấm áp để thuyết phục mọi người, nhưng họ không dùng lời nói để làm tổn thương người khác.

Miệng của một người không chỉ dùng để ăn uống. Ai đó đã từng nói: “Nói là danh thiếp thứ hai của con người.” Cuộc sống là sự sinh tồn của con người có thể lời “nói” không quan trọng hơn việc “làm”, nhưng “nói” có thể giúp ích, hay gây hạy cũng là một vấn đề cần tu dưỡng của mỗi người. Đôi khi, vai trò của người “làm” quả thật không kém, nhưng có lúc chúng ta cũng cần người khác hỗ trợ mình thì bản thân phải nói sao để người khác thấy vừa lòng mà giúp đỡ. Có câu nói rằng “mồm miệng đỡ chân tay”.

Khi nào thì cần nói

Khi bạn muốn nói, điều bạn nói phải có giá trị hơn sự im lặng của bạn. Là một người chúng ta đều biết rằng im lặng quan trọng hơn nhiều so với lời nói. Biết giữ im lặng đúng lúc, nói đúng lúc, không thể ăn nói tùy tiện, như vậy sẽ thành thiếu sự tôn trọng với người khác và bản thân lại trở thành người không có tu dưỡng.

Một người đã nói rằng: “Chúng tôi mất hai năm để học nói, nhưng mất sáu mươi năm để học cách im lặng.”


Không nói chuyện phiếm

Biết rằng im lặng là một khóa học bắt buộc trong cuộc sống, nó có thể phản ánh sự tu dưỡng bản thân, trí tuệ và khả năng đối nhân xử thế của một người. Trên thực tế, dù ở nơi làm việc hay trong cuộc sống của bạn, nói chuyện phiếm là một điều cấm kỵ lớn. Có thể bạn chỉ nghĩ rằng việc nói chuyện phiếm của người khác là thú vị, nhưng bạn có thể nghe thấy điều này một ngày nào đó từ những người khác đưa bạn ra làm chủ đề chính của câu chuyện. Cuộc sống này ai trong chúng ta cũng có thể phạm phải khuyết điểm hoặc gặp phải những rắc rối, hay chuyện cá nhân gia đình. Nhưng nếu biết giữ im lặng với chuyện của người khác cũng là sự tu dưỡng lời nói của bản thân.

Người xưa có câu dạy rằng: “Người có lỗi chớ vạch trần, việc riêng người chớ nói truyền.” Nếu giữ những thói quen xấu ngồi đâu cũng nói chuyện phiếm, không chỉ lưu truyền những điều không tốt với người khác về một ai đó, không chỉ nói những điều bất hảo về người khác, bạn ảnh hưởng đến họ, và còn đang tự gây họa cho cuộc đời của mình. Và một ngày nào đó bạn sẽ “rước họa vào thân” và phải trả giá cho những lời đàm tiếu về việc nói sau lưng.

Nói ít tranh cãi đỡ lãng phí sức lực của bạn

Trong cuộc sống, con người ai cũng có cá tính và ý tưởng riêng, khi không hòa hợp sẽ luôn có những xích mích khi giao tiếp xã hội. Người thông minh họ không bao giờ lãng phí sức lực để tranh cãi với người khác, ai cũng biết mình đúng hay sai.

Lincoln từng nói: “Một người đạt được một sự kiện lớn không nên dành nhiều thời gian để tranh cãi với người khác. Việc tranh cãi không cần thiết không chỉ làm hỏng đi sự đạo đức và học vấn của bạn mà còn khiến bạn mất tự chủ bản thân, hao tổn sức lực. Hãy khiêm tốn với người khác càng nhiều càng tốt.”

Người thông minh, không nói chuyện tranh luận, giữ một phần tu dưỡng bản thân, giữ một điểm trong sạch tâm hồn và dưới ánh nhìn của người khác.


Nói ít không khoe khoang, hãy để cho mình một bước đường lui trong cuộc sống

Trong cuộc sống của chúng ta có những người rất giỏi có nhiều năng lực, nhưng thường những người làm nên bản sự to lớn và thành công trong nhiều lĩnh vực họ lại có đức tính tu dưỡng tốt thường khiêm tốn không khoe khoang, nói ít, không thể hiện bản thân với người khác. Không nên nói nhiều để khoe khoang. Sự tự tin của một người rất cần nhưng sự tin và khoe khoang là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Khoe khoang không đúng chỉ tự gây hại cho bản thân, mình không làm được mà đề cao bản thân chỉ khiến người khác khinh thường bạn.

Tránh xa sự nóng vội và bình tĩnh như núi, chỉ như vậy bạn mới có thêm năng lượng để điều chỉnh hướng đi của mình. Người thông minh học cách trở thành một người điềm tĩnh và chín chắn.

Trên thực tế, chúng ta không cần phải ép mình phải trở nên thông minh và giỏi giang. Thực tế, biết “điều gì nên nói và điều gì không nên nói” đã là kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nhất trong cuộc sống và tu dưỡng bản thân mình là sự lựa chọn của trí tuệ.

Tâm An / Theo: vandieuhay

TỀ BẠCH THẠCH VẼ TÔM LÀ ĐẸP NHẤT, NHƯNG TRANH VẼ CHIM LẠI ĐẮT NHẤT, HAI CON HẠC GIÁ HƠN 2000 TỶ ĐỒNG


Trong những năm gần đây, nếu ai sở hữu một bức tranh của Tề Bạch Thạch tương đương với một “người phát tài”. Giá tranh của họa sỹ Tề Bạch Thạch cao khó tin nhưng cũng là điều tất nhiên vì xét cho cùng, danh tiếng của Tề Bạch Thạch đã vững vàng chiếm giữ vị trí số một trong làng hội họa hiện đại nhờ những bức tranh vẽ tôm rất nổi tiếng và chân thực của ông.

Tuy nhiên, trong các bức tranh của Tề Bạch Thạch, tác phẩm đắt giá nhất của ông không phải là tranh vẽ về tôm. Cho đến nay, có hàng chục triệu con tôm được các họa sỹ vẽ trên thế giới, nhưng con tôm của Tề Bạch Thạch là tuyệt đối độc nhất vô nhị trong thế giới hội họa, những con tôm hoạt bát sống động như thật, thần thái đủ đầy, với những nét bút mực nhạt vẽ thành thân thể tươi tắn, càng thể hiện cảm giác long lanh xuyên thấu, tưởng rằng nó có thể nhảy ra khỏi trang giấy, giờ đây nó đã trở thành biểu tượng tiêu biểu cho văn hóa của Tề Bạch Thạch.

Họa sỹ Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: ntdvn

Tề Bạch Thạch vẽ tôm đã đạt đến cảnh giới xuất thần, trong nét bút đơn giản đã thể hiện ra đàn tôm đang vui chơi trong nước. Bức tranh “Tôm hứng thú” (hà thú) dưới đây là ví dụ tiêu biểu.

Nguồn ảnh: ntdvn

Tranh vẽ tôm của Tề Bạch Thạch thì ai cũng biết đến, nhưng tranh đắt nhất của ông chính là tranh vẽ chim, nhưng trên thực tế thì hầu hết mọi người đều không biết tác phẩm vẽ chim của Tề Bạch Thạch. Trong số các tác phẩm vẽ chim Tề Bạch Thạch, đặc biệt là chim đại bàng và hạc là nổi tiếng nhất trong giới hội họa hiện đại.

Tác phẩm “Hồng hạc” được sáng tạo năm 1933, đã được bán với giá cao ngất trời 36,8 triệu USD sau nhiều vòng đấu giá trong cuộc đấu giá mùa xuân năm 2014 của China Guardian. Nhìn vào những dòng chữ dày đặc trong bức tranh, chúng ta có thể thấy rằng ý nghĩa của bức tranh này không hề đơn giản.

Dựa theo tính cách của Tề Bạch Thạch, ông ấy sẽ không vô cớ tạo ra những tác phẩm mà không có lý do, Tề Bạch Thạch tạo ra bức tranh này là để người khác biết về tiểu sử của ông. Tất nhiên, ông không chỉ thuật lại cuộc đời mình bằng một bài diễn văn dài, mà ông còn vẽ bức tranh để tăng thêm phần thú vị cho cuộc sống.

Nguồn ảnh: Sohu

Ngoài tác phẩm “Hồng hạc”, Tề Bạch Thạch còn có một tác phẩm nổi tiếng về “Bạch hạc”, từ cái tên cũng có thể thấy được nguồn gốc của tác phẩm này, đó là một bức tranh ca ngợi quê hương, tất cả đều là hiện thân một hình ảnh của sự sung túc và thịnh vượng. Bức tranh này đã được bán với giá cao ngất trời 82,8 triệu USD trong “Cuộc đấu giá mùa thu năm 2012”, và nó cũng đã trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu của Tề Bạch Thạch.

Bức tranh “Bạch hạc” của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: Sohu

Giá trị cộng lại của hai tác phẩm “Hồng hạc” và “Bạch hạc” là hơn 100 triệu USD, những bức tranh vẽ về chim của Tề Bạch Thạch còn đắt giá hơn những bức tranh về tôm của ông ấy.

Trên thực tế, tranh vẽ chim của Tề Bạch Thạch đắt không phải vô cớ, điểm đầu tiên là tranh vẽ chim của ông hầu hết đều là tác phẩm hiếm thấy, tranh như vậy còn lại trên thế giới rất ít. Điểm thứ hai là hầu hết các bức tranh vẽ về chim của ông đều còn tồn tại, tất cả đều được sáng tác vào những năm cuối đời của ông, khi ông đã đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật và phong cách hội họa.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: Sohu

NGẪU THÀNH - CHU HY


Ngẫu thành - Chu Hy

Thiếu niên dị lão học nan thành,
Nhất thốn quang âm bất khả khinh.
Vị giác trì đường xuân thảo mộng,
Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.


偶成 - 朱熹

少年易老學難成
一寸光陰不可輕
未覺池塘春草夢
階前梧葉已秋聲


Ngẫu thành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Tuổi trẻ có học mới thành. 
Một tấc lên tận trời xanh mấy người. 
Ao xuân cỏ mộng xanh ngời. 
Thoảng nghe chiếc lá thu rơi ngoài thềm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Hy 朱熹 (1130 - 23/4/1200) là nhà tư tưởng đời Tống, tự Nguyên Hối 元晦, hiệu Hối Am 晦庵, người Vụ Nguyên, Huy Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 18 (1148).

Nguồn: Thi Viện



THỜI TRẺ CHU NGUYÊN CHƯƠNG VIẾT MỘT CHỮ NHẤT, THẦY TOÁN MỆNH BẢO ÔNG TRỐN ĐI

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từ ăn xin đến làm hoàng đế, nên bản thân ông đã có rất nhiều truyền kỳ, những câu chuyện về ông nhiều không đếm xuể. Câu chuyện ông xem toán mệnh trước trận chiến đánh bại cường địch Trần Hữu Lượng chính là một trong số đó.


Trước trận quyết chiến với Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương dẫn đại quân từ Hòa Châu vượt sông hành quân theo đường Thái Bình, sau đó tạm thời đóng quân. Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. Hôm đó, Chu Nguyên Chương mặc bộ y phục vải thô rách rưới, cũng không đem theo thị vệ, một mình đi ra ngoài.

Do chiến tranh loạn lạc liên miên, đại đa số người dân đều ăn chưa đủ no, nên trên phố rất đìu hiu. Chu Nguyên Chương vừa đi vừa than thở. Lúc này đột nhiên bên tai ông vọng đến tiếng gọi: “Vị đại huynh này tướng mạo phi phàm, nhìn là biết người đại phú đại quý. Này… đừng đi nhé, tôi vốn là thầy toán mệnh, không đúng không lấy tiền”.

Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. (Ảnh: epochtime)

Chu Nguyên Chương thuận thế bước đến, buộc miệng hỏi: “Tiên sinh đoán tiền đồ cho tôi nhé”.

Thầy toán mệnh quan sát Chu Nguyên Chương một lát, sau đó bảo ông hãy viết một chữ. Thế là Chu Nguyên Chương viết lên mặt đất chữ Nhất (一) rồi nói: “Là chữ Nhất này, mời tiên sinh đoán đi”.

Thầy toán mệnh kinh nhạc nhìn một lát rồi ngẩng đầu nhìn Chu Nguyên Chương, rồi đột nhiên cuống quýt xóa chữ đi, sau đó kéo Chu Nguyên Chương lại và ghé tai nói nhỏ: “Anh mau trốn đi, không được nói bất cứ điều gì. Chạy thoát mạng là quan trọng nhất”.

Chu Nguyên Chương lắc đầu, cứ nhất quyết hỏi cho rõ ràng. Thầy toán mệnh nói khẽ: “Chữ Nhất (一) này, viết ở trên mặt đất, tức Thổ (土) thì chính là chữ Vương (王). Sau này anh nhất định sẽ làm hoàng thượng. Hiện nay Chu Trọng Bát (tên gốc của Chu Nguyên Chương) đã đem quân đến rồi, sẽ quyết chiến với Trần Hữu Lượng. Nếu việc này mà để Chu Trọng Bát biết được thì cái mạng của anh khó mà giữ được. Nghe nói ông ấy rất tin vào những việc như toán mệnh, đoán chữ như thế này. Anh còn nói nhiều lời gì nữa, mau trốn đi”.

Chu Nguyên Chương vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thầm nghĩ: “Theo như những lời này của thầy toán mệnh, vậy trận quyết chiến với kẻ địch mạnh Trần Hữu Lượng lần này, mình sẽ khắc chế được và chiến thắng chăng?”.

Thế là Chu Nguyên Chương lại hỏi: “Vậy ngài xem, Chu Trọng Bát và Trần Hữu Lượng, ai sẽ chiến thắng?”

Thầy toán mệnh vừa đẩy Chu Nguyên Chương đi vừa nói: “Phùng hung chi xứ bất thị hung, chỉ nhân Trọng Bát hựu phùng xuân (Gặp nơi hung hiểm lại không hung hiểm, Trọng Bát lại gặp mùa xuân). Trọng Bát ắt sẽ thắng. Chớ nói nhiều nữa, mau chạy đi”.

Chu Nguyên Chương vốn muốn đưa tiền cho thầy toán mệnh, nhưng lại phát hiện ra không mang theo một xu nào, thế là Chu Nguyên Chương ôm quyền nói: “Xin thụ giáo, sau này nếu phát đạt, tại hạ nhất định sẽ đến cảm tạ”.


Nhiều ngày sau, trong trận chiến hồ Bà Dương, Chu Nguyên Chương quả nhiên nhất cử tiêu diệt Trần Hữu Lượng. Thế là Chu Nguyên Chương đích thân đến tìm thầy toán mệnh này, nhưng tìm khắp mà không thấy.

Câu chuyện truyền kỳ này cũng được ghi chép trong sử sách “Minh triều tiểu sử” rằng: “Thái tổ từ Hòa Châu vượt sông đi đường Thái Bình, gặp một thuật sĩ, hỏi rằng: Thiên hạ loạn lạc, sẽ thuộc về ai? Thuật sĩ trả lời rằng: Xin viết một chữ để xem bói. Thái tổ lập tức rút dao vẽ một chữ Nhất trên mặt đất. Thuật sĩ cúi xuống xe rồi bái lễ nói rằng: Một chữ Nhất trên mặt đất tức trên chữ Thổ, thần biết ngài là Vương”.

Tường Hòa
Theo Apollo

Saturday, May 9, 2026

VÌ SAO NGƯỜI QUÂN TỬ COI CÁI CHẾT NHẸ TỰA LÔNG HỒNG?

Đời người như mộng, sinh lão bệnh tử cũng là lẽ thường. Nhưng khi đứng trước lằn ranh sinh tử, có mấy ai coi chuyện sống chết tựa như lông hồng?


Trang Tử coi cái chết như một trò đùa

Men theo dòng sông lịch sử cuồn cuộn của văn minh phương Đông, ta hãy trở ngược về thời Tiên Tần, nơi ta sẽ bắt gặp một trong những triết gia cá tính nhất của Trung Hoa cổ đại: Trang Tử.

Trang Tử sống đời ẩn dật, sử sách ghi chép về ông rất kiệm lời. Một trong những bộ sách cổ xưa nhất chép về ông là “Sử Ký” (Tư Mã Thiên) cũng chỉ dành khoảng vài trăm chữ nói rất sơ lược trong “Truyện Trang Tử”. Ở đó dù không biết Trang Tử sinh mất năm nào, quê quán ở đâu, nhưng đại để ta có thể vẽ lại một chút tính cách con người ông thế này: Học rộng, hiểu nhiều, viết một bộ sách 10 vạn chữ (Nam Hoa Kinh), gần với đạo Lão Tử mà chê đạo Khổng, cá tính mạnh, ghét cường quyền, thích tiêu diêu tự tại. Trang Tử là một trượng phu đầy hào khí, tính tình phóng khoáng, phiêu dật, có phần cao ngạo. Quan niệm về sự sống – cái chết của ông rất khoáng đạt, nói cách khác ông không coi cái chết ra gì.

Chuyện kể rằng, vợ Trang Tử chết, có người bạn là Huệ Tử đến viếng. Vừa vào nhà, Huệ Tử đã giật nẩy người khi thấy Trang Tử xoạc chân ngồi gõ ình ình vào một cái vò mà hát nghêu ngao. Huệ Tử kinh hãi nói:

– Ăn ở với người ta, người ta nuôi con cho, nay người ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ư?

Trang Tử nghe bạn nói vậy, cứ vừa cười vừa gõ vò mà rằng:

– Không phải! Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thương xót? Nhưng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa, chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái Nhà Lớn (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc.

Tình thân quyến thật nặng, ấy vậy mà Trang Tử chỉ coi như cơn gió thoảng qua. Vợ chết rồi vẫn ung dung ngồi nói được những lời kia. Thật là một tư tưởng kỳ lạ! Bạn đừng quên Trang Tử sống ở thời Chiến Quốc, cách đây ít nhất cũng phải 2300 năm…

Trang Tử thật cổ quái, vợ chết còn hát nghêu ngao, cho đến khi chính mình đang lâm cơn hấp hối vẫn giữ một thái độ thản nhiên! Chuyện kể rằng, lúc Trang Tử sắp lâm chung, các đệ tử vây quanh ông khóc lóc. Có người nói rằng phải làm tang cho thầy thật hậu để tỏ rõ uy đức của Trang Tử. Ông nghe được, bèn gạt đi, nói:

– Chớ làm vậy! Ta chết đi đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?

Các học trò lại thưa:

Chúng con sợ diều quạ sẽ rỉa xác thầy.

Trang Tử thản nhiên đáp:

Ta trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục, đằng nào cũng vậy. Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài trên mà cho các loài dưới?

Hàng nghìn năm qua, câu chuyện này đã trở thành đề tài bàn luận của biết bao nhiêu nhân sĩ. Có người chê Trang Tử bỡn cợt, trào phúng quá. Có người nói Trang Tử có lẽ không muốn học trò tốn công tốn của hậu táng mình mà nói thế. Lại có người cho đây chỉ là câu chuyện đời sau thêu dệt… Ta chưa có bằng cứ nào nói rằng ai đúng ai sai. Nhưng với tính cách phiêu dật của mình, Trang Tử có thể làm ra những điều đó lắm chứ! Trang Tử cả đời theo đuổi triết thuyết vô vi, thuận theo tự nhiên của mình, hẳn có lẽ cũng thấu hiểu được sự vô thường của nhân sinh.

Người ta chết rồi chính là trở về với tự nhiên. Nào công hầu, nào danh tướng, nào mỹ nhân, nào già nào trẻ, nào ngu nào hiền, chết đi rồi cũng chỉ vỏn vẹn một nấm mồ xanh mà thôi. Có gì là quan trọng đây?

Socrates lấy cái chết ra để bảo vệ chân lý

Gần như cùng thời với Trang Tử, ở phương Tây cũng có một người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ấy là Socrates. Là một triết gia nhưng Socrates mạnh mẽ chẳng kém gì những dũng tướng đương thời. Bởi những nỗ lực truyền bá tri thức của mình, ông bị toà án Athens kết án vì một lý do rất quen thuộc mà giới cầm quyền thường đưa ra: “Gieo rắc nghi ngờ các thần linh mà chính thể Athens thời đó tôn thờ, kêu gọi nhân dân tôn thờ các thần linh ngoại lai và làm hư hỏng thanh thiếu niên”. “Tội” của Socrates quá lớn. Chính thể Athens không thể để con người “nguy hiểm” và “nổi loạn” ấy ở lại được nữa. Họ ép ông phải tự tử bằng một chén thuốc độc.

Nhưng Socrates đã không hề run sợ. Trong bức tranh nổi tiếng “Cái chết của Socrates” của danh hoạ người Pháp thuộc trường phái Tân Cổ điển Jacques-Louis David vẽ năm 1787, Socrates hiện lên như một vị Thần, xung quanh là những môn đệ đau đớn, gục ngã khi phải chứng kiến bi kịch của thầy. Trong bức tranh, Socrates vừa nói vừa giơ tay trái lên trời, phong thái hùng hồn, tự tin. Tay phải ông dửng dưng với lấy chén thuốc độc không hề run sợ. Trước cái chết, Socrates vẫn điềm tĩnh lạ thường! Bức tranh của David đâu chỉ là một tác phẩm hội hoạ kiệt xuất, ấy là sự ca tụng dành cho những người kiên trì chân lý, thậm chí có thể lấy cái chết ra để bảo vệ đức tin của mình.


Cái chết không đáng sợ như người ta nghĩ. Điều đáng sợ lớn nhất lại chính là người ta luôn… sợ chết! Hiểu được nhân sinh là ngắn ngủi, trần gian là cõi tạm không phải là cái khí khái liều mình không sợ chết đến mức sẵn sàng phung phí sinh mệnh của mình. Đó là cái hiểu của bậc trí giả, của người có hàm dưỡng. Có một điều cần phải nói là người xưa… ít sợ chết hơn người thời nay, dù y tế và các phương pháp kéo dài tuổi thọ ngày càng trở nên tinh vi hơn.

Người xưa không sợ cái chết bởi họ tin rằng cái chết không phải là kết thúc cuối cùng. Nó giống như mở ra một cánh cửa khác, bước vào một không gian khác vậy thôi. Lòng thành kính vô hạn với Thần Phật cho phép họ có được đức tin ấy. Với họ, điều đáng sợ nhất lại chính là sự sống sau cái chết vậy, là sự trừng phạt dưới âm gian, là cái giá phải trả ở “Ngày phán xét” cuối cùng!

Cái chết, quả thực, không doạ được người quân tử.

Tiểu Lý / Theo: ĐKN