Wednesday, May 6, 2026

"THỦY ĐÁO THÀNH XUYÊN": MỌI VIỆC QUÝ Ở SỰ KIÊN TRÌ

Trong đời, có những đức tính giúp người ta đi xa, nhưng hiếm có điều gì vững chãi như sự kiên trì. Nó giống như dòng nước nhỏ, ngày ngày chảy xuống tảng đá, tưởng như vô hình, vô thanh, nhưng sau năm tháng dài, đá cứng cũng bị khoét mòn. Người có tài năng mà thiếu đi sự bền bỉ chẳng khác nào hạt giống quý không chịu bén rễ, cuối cùng khó mà nở hoa, kết trái.


Lý Thời Trân và 30 năm dâng hiến cho y học

Ở phương Đông, câu chuyện về danh y Lý Thời Trân là minh chứng sống động. Khi còn trẻ, ông nhận ra trong các sách thuốc cũ nhiều chỗ mâu thuẫn, thiếu chính xác, thậm chí có thể gây hại cho bệnh nhân. Từ đó, ông quyết tâm dành cả đời để biên soạn nên một bộ y điển hoàn chỉnh.

Suốt gần ba mươi năm, ông rong ruổi khắp núi rừng quan sát cây thuốc, lặn lội về từng làng quê để ghi chép kinh nghiệm dân gian, rồi kiên nhẫn đối chiếu với sách cổ. Có khi đang bệnh vẫn cầm bút, có lúc nhà cửa nghèo túng cũng chẳng rời bản thảo.

Thành quả ấy là Bản thảo cương mục gồm 52 quyển, hơn 1.800 loại dược vật, 11.000 phương thuốc, trở thành kiệt tác kinh điển, được truyền tụng đến tận hôm nay. Nếu không có sự bền bỉ ấy, có lẽ nhân loại đã đánh mất một di sản vô giá.

Lý Thời Trân và 30 năm dâng hiến cho y học. Ảnh minh họa.

Edison kiên trì hơn 10.000 lần thí nghiệm để thắp sáng nhân loại

Ở phương Tây, Thomas Edison lại dùng sự kiên trì để mang đến ánh sáng cho nhân loại. Trong hành trình chế tạo bóng đèn dây tóc, ông đã tiến hành hàng nghìn thí nghiệm, đối mặt với vô số thất bại. Người đời chế giễu ông là “kẻ mộng tưởng”, “kẻ lừa bịp”, nhưng ông vẫn kiên định. Edison từng nói: “Tôi chưa từng thất bại. Tôi chỉ tìm ra 10.000 cách không hiệu quả mà thôi.”

Ông cũng từng nói: “Rất nhiều thất bại trong cuộc sống là do con người không nhận ra rằng họ đã gần với thành công đến chừng nào, nhưng lại từ bỏ.”

Một ngày kia, từ chiếc nút áo khoác, ông nảy ra ý tưởng dùng sợi chỉ làm dây tóc. Ông đem sợi chỉ nung trong lò lửa nhiều giờ, rồi đặt vào bóng thủy tinh rút hết không khí. Khi dòng điện chạy qua, Edison nín thở chờ đợi. Ánh sáng bùng lên, sợi dây tóc cháy sáng suốt 45 tiếng. Khoảnh khắc ấy, gương mặt Edison rạng rỡ như chính ngọn đèn mà ông vừa thắp sáng. Từ đó, cả nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới.

Thomas Edison – người mang ánh sáng đến cho nhân loại. Ảnh: Getty.

Phép màu của sự lặp lại âm thầm

Từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, những câu chuyện ấy đều chỉ ra một điều giản dị: thành công không trải thảm hoa, mà được dệt nên từ từng bước bền bỉ, lặp lại mỗi ngày. Như đứa trẻ tập viết, ban đầu chữ xiêu vẹo, nhưng nếu ngày nào cũng rèn, chữ sẽ ngay ngắn. Như người nông dân vất vả chăm ruộng, nắng mưa chẳng nản, cuối cùng cũng gặt mùa vàng. Như người học đàn, những ngày đầu âm thanh chập chờn, nhưng sau ngàn lần luyện ngón, tiếng nhạc sẽ trở nên ấm áp, uyển chuyển.

Điều làm nên thành tựu không phải phép màu, mà là sự kiên trì thầm lặng. Người xưa có câu: “Thủy đáo thành xuyên” – nước chảy mãi sẽ xuyên qua đá. Người Tây cũng rằng: “Perseverance conquers all” – sự kiên trì chinh phục tất cả. Lời khác nhau, ý vẫn một: mọi việc quý ở sự kiên trì.

Trong hành trình nhân sinh, nếu ta mang trong lòng một ước mơ, một lý tưởng, hay chỉ một điều nhỏ muốn hoàn thành, hãy nhớ: từng bước nhỏ hôm nay, nếu giữ được bền lòng, sẽ hóa thành con đường vững chãi của ngày mai.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

Tuesday, May 5, 2026

KHI KẺ LÀM ÁC ĐƯỢC THA THỨ, LIỆU CÓ THOÁT KHỎI LUẬT NHÂN QUẢ?

Dù con người có tin hay không, thì mỗi cuộc gặp gỡ trong đời này chưa bao giờ là ngẫu nhiên. Từ vợ chồng, cha mẹ con cái, đến bạn bè, đồng nghiệp hay cả một người lướt qua ngoài đường, tất cả đều mang theo một sợi dây nhân duyên từ quá khứ mà ta không nhìn thấy.


Có người đến để mang lại ấm áp, có người đến để gây tổn thương; có mối quan hệ khiến ta nhẹ lòng, cũng có mối quan hệ khiến ta nặng nề không dứt. Nhưng suy cho cùng, tất cả đều xoay quanh bốn chữ: “ân, oán, đòi nợ và trả nợ”. Khi nhìn thấu điều này, ta mới hiểu rằng không có yêu thương nào là vô cớ, cũng không có tổn hại nào hoàn toàn ngẫu nhiên.

Và từ đó, một câu hỏi cốt lõi được đặt ra: nếu mọi sự đều vận hành theo nhân quả, vậy khi một người gây ra tổn hại nhưng lại được tha thứ, họ có thật sự thoát khỏi quy luật ấy hay không?

Nguồn gốc của tổn hại: mọi gặp gỡ đều là duyên nợ từ quá khứ

Trong đời sống, những tổn thương như bạo hành, phản bội hay lừa dối thường khiến con người cảm thấy bất công. Nhưng nếu nhìn trong quy luật nhân quả, đó không chỉ là hiện tượng của hiện tại mà là sự “trả – vay” từ những món nợ chưa dứt trong quá khứ. Có người đến để báo ân, mang lại lợi ích và hạnh phúc; có người đến để đòi nợ, mang theo đau khổ và tổn hại.

Tuy nhiên, mỗi sự việc luôn tồn tại hai phía. Người đi “đòi nợ” nếu chỉ dừng ở mức tương xứng thì oán có thể kết thúc; nhưng nếu vượt quá giới hạn, thì từ chủ nợ lại trở thành con nợ, tiếp tục tạo nghiệp mới. Một người gây tổn hại không phải chỉ đang “lấy lại” mà đồng thời cũng đang gieo thêm, khiến vòng luân hồi oán nghiệp tiếp tục xoay chuyển không dứt.

Hình ảnh minh hoạ: Nguồn gốc của tổn hại: mọi gặp gỡ đều là duyên nợ từ quá khứ

Ngược lại, nếu trong hoàn cảnh ấy biết dừng lại, không tiếp tục làm ác mà chọn cách đối đãi bằng thiện ý, “lấy đức báo oán”, thì không những không tạo thêm nghiệp mà còn tích được đức, làm thay đổi hướng đi của nhân quả.

Tha thứ không xóa bỏ nhân quả, chỉ dừng lại một phần oán kết

Khi người bị hại lựa chọn tha thứ, điều đó trước hết là một sự giải thoát cho chính họ. Buông xuống oán hận là buông bỏ gánh nặng nội tâm, là cách để không tiếp tục trói buộc mình trong quá khứ. Đồng thời, việc “lấy đức báo oán” cũng giúp hóa giải phần nào oán kết giữa hai người, và chính người tha thứ đang tích lũy phúc đức cho bản thân.

Nhưng tha thứ không có nghĩa là xóa bỏ những gì đã xảy ra. Nhân quả không vận hành theo cảm xúc, cũng không thay đổi vì lòng bao dung. Những hành vi đã gây ra vẫn là “nhân” đã gieo và nhất định phải có “quả” tương ứng.

Đối với người gây lỗi, được tha thứ chỉ là cơ hội để dừng lại, không phải là sự kết thúc. Nếu biết sám hối và sửa đổi, nghiệp lực có thể được giảm nhẹ; nhưng giảm nhẹ không đồng nghĩa với tiêu trừ hoàn toàn. Họ vẫn phải bù đắp, phải chịu hậu quả, hoặc tích đức hành thiện trong thời gian dài mới có thể chuyển hóa.


Đặc biệt, với những lỗi nhẹ, sự sám hối chân thành có thể hóa giải phần lớn; nhưng với những nghiệp nặng, như giết người hại mệnh, tà dâm, quấy nhiễu người tu Phật… thì chỉ một lời xin lỗi hay một lần được tha thứ là không đủ. Muốn chuyển hóa, con người buộc phải đi trên con đường tu sửa lâu dài, thậm chí qua nhiều đời nhiều kiếp.

Con đường chuyển hóa: sám hối – nhẫn – tu chính Pháp

Nếu nhân quả không thể bị xóa bỏ, thì lối thoát của con người nằm ở việc chuyển hóa nội tâm. Đối với người bị hại, nếu trong quá trình “trả nợ” mà không sinh oán hận, thì món nợ ấy có thể kết thúc. Ngược lại, nếu phản ứng bằng sân hận hay trả đũa, thì chính là đang tiếp tục “lấy oán báo oán”, khiến nghiệp không những không hết mà còn chồng thêm.

Đối với người gây lỗi, điều cốt lõi không phải là được tha thứ, mà là sám hối thật sự. Sám hối không phải là lời xin lỗi bên ngoài, mà là sự quay về nội tâm, nhận ra sai lầm và thay đổi tận gốc. Tuy nhiên, sám hối chỉ là bước khởi đầu; muốn chuyển hóa nghiệp lực, con người cần tích đức hành thiện và đi xa hơn nữa là tu theo chính pháp, sửa tâm, bỏ ác, giữ thiện. Nếu tâm không đổi, hành vi không đổi, thì dù được tha thứ bao nhiêu lần, nhân quả vẫn không thay đổi.

Trong đời sống hằng ngày, “nhẫn” chính là phương thức thiết thực nhất để cắt đứt vòng lặp của oán nghiệp. Nhẫn không phải là chịu đựng trong ấm ức, mà là dừng lại trước xung đột, không để bản thân tiếp tục tạo nghiệp mới. Mỗi lần lùi một bước, không tranh hơn thua, chính là một lần hóa giải nghiệp cũ ngay trong hiện tại.


Vì vậy, khi kẻ làm ác được tha thứ, họ không thể thoát khỏi luật nhân quả. Tha thứ chỉ giúp hóa giải mối oán giữa con người với con người, chứ không xóa bỏ những gì đã gieo trong quy luật vận hành của đời sống. Nhân quả vẫn luôn công bằng: gieo gì gặt nấy, không vì tha thứ mà mất đi, cũng không vì oán hận mà thay đổi.

Nhưng con người không phải không có lối ra. Lối ra nằm ở sự hiểu, sự tỉnh và sự chuyển hóa từ chính nội tâm mình. Khi hiểu rằng mọi gặp gỡ đều là duyên nợ, ta sẽ bớt oán trách; khi hiểu rằng mọi hành vi đều tạo nghiệp, ta sẽ biết dè chừng; và khi biết quay về tu sửa, tích đức và giữ tâm thiện, ta mới có thể dần bước ra khỏi vòng lặp của “ân – oán – trả – vay”.

Khi đó, tha thứ không còn là điểm kết thúc, mà trở thành điểm khởi đầu cho một con đường sâu xa hơn: tu luyện chuyển hóa nghiệp lực chính mình.

Tiểu Hoa biên tập
Theo: vandieuhay

NGỌC LÂU XUÂN - LÝ DỤC


Ngọc lâu xuân - Lý Dục

Vãn trang sơ liễu minh cơ tuyết,
Xuân điện Tần Nga ngư quán liệt.
Phượng tiêu xuy đoạn thuỷ vân gian,
Trùng án nghê thường ca biến triệt.

Lâm phong thuỳ cánh phiêu hương tiết,
Tuý phách lan can tình vị thiết.
Quy thời hưu phóng chúc hoa hồng,
Đãi đạp mã đề thanh dạ nguyệt.


玉樓春 - 李煜

晚妝初了明肌雪
春殿嬪娥魚貫列
鳳簫吹斷水雲閒
重按霓裳歌遍徹

臨風誰更飄香屑
醉拍闌干情味切
歸時休放燭花紅
待踏馬蹄清夜月


Ngọc lâu xuân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Điểm tô da tuyết trắng ngần. 
Tần Nga cung điện tuyệt trần hiện ra. 
Sáo phượng réo rắt ngân nga. 
Nghê thường tấu khúc, vang xa khắp miền. 
Gió đưa phàng phất hương tiên. 
Cung đàn nhịp phách tình duyên thắm nồng. 
Lối về khéo thắp đèn lồng. 
Một đêm trăng sáng đợi trông ngựa về !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Dục 李煜 (937-978) tự Trùng Quang 重光, tự hiệu là Chung sơn ẩn sĩ 鍾山隱士, Chung phong ẩn sĩ 鍾峰隠者, Bạch liên cư sĩ 白蓮居士, Liên phong cư sĩ 蓮峰居士, người đời quen gọi là Nam Đường Hậu Chủ 南唐後主 hay Lý Hậu Chủ 李後主. Ông là người nhân huệ minh mẫn, văn hay hoạ khéo, biết âm luật. Phủ khố Giang Nam có thu tàng tác phẩm thư hoạ của ông rất nhiều.

Nam Đường bị nhà Tống diệt, phong ông làm An Mệnh hầu, sau lại bị Tống Thái Tổ cho uống thuốc độc chết. Miền Giang Nam được tin Hậu Chủ chết, các phụ lão đều thương khóc.

Hậu Chủ lúc chưa mất nước sinh hoạt rất hào hoa nên từ cũng rất uỷ mị hoan lạc. Sau khi mất nước, bị đưa về nhà Tống, ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt. Từ của ông lúc đó cũng rất thê thảm bi ai, đúng là vong quốc chi âm.

Nguồn: Thi Viện



NGƯỜI CÓ CUỘC ĐỜI VIÊN MÃN NHẤT TRONG "TỨ ĐẠI MỸ NHÂN" HÀ THÀNH XƯA LÀ AI?

Dù trải qua mối tình đầu dang dở, trong số “tứ đại mỹ nhân” Hà thành, bà vẫn được xem là người có cuộc đời êm đềm và trọn vẹn hơn cả.

Nhan sắc nức tiếng một thời của giai nhân Đỗ Thị Bính. Ảnh: Internet

Người có cuộc đời viên mãn nhất trong "tứ đại mỹ nhân" Hà thành xưa là ai?

Tên tuổi 4 tuyệt sắc giai nhân phố cổ Hà Nội thập niên 1920 - 1930 trở thành huyền thoại, được người đời tôn vinh là "Hà thành tứ mỹ", gồm cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Họ xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có bậc nhất khu phố cổ nên có vẻ đẹp đài các và phong thái khiến bao người ngưỡng mộ.

Trải qua thời gian, các giai thoại về 4 mỹ nhân vẫn được lưu truyền, trong đó cuộc đời của cô Bính Hàng Đẫy được xem là bình yên và viên mãn hơn cả.

Giai nhân áo đen của đất Hà thành

Cô Bính Hàng Đẫy tên thật là Đỗ Thị Bính, sinh năm 1915 tại ngôi nhà số 37 Hàng Đẫy (nay là 67 Nguyễn Thái Học, Hà Nội). Đây là một trong những căn nhà mang kiến trúc Pháp dành cho tầng lớp thượng lưu, đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích xưa, trong đó có giàn hoa hồng trước cửa - chi tiết gắn với nhiều câu chuyện về người đẹp.

Đỗ Thị Bính là 1 trong 19 người con của nhà tư sản Đỗ Lợi - nhà thầu khoán thuộc hàng lớn nhất Hà Nội trước những năm 1930 và là một trong những thành viên của dòng họ Đỗ Bá Già (thôn Tiên Lữ, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũ - nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

Hà Thành tứ mỹ nhân, giai nhân Đỗ Thị Bính (người mặc áo dài màu đen, hàng ngồi). Ảnh: Internet

Cụ Đỗ Lợi (1893-1961) trước năm 1945 là nhà tư sản kinh doanh vật liệu xây dựng. Thân sinh ra cụ Đỗ Lợi là cụ Đỗ Văn Kỳ, tự Phúc Thiện. Cụ Đỗ Văn Kỳ là Chánh tổng thời cũ, là người mẫn thế, nhìn xa trông rộng và rất gần gũi với mọi người, nên người dân quý mến gọi là cụ Bá Già. Các con của cụ trong đó có cụ Đỗ Lợi đều ra Hà Nội lập nghiệp và thành đạt.

Trong môi trường gia phong nề nếp, Đỗ Thị Bính được giáo dục bài bản, tiếp cận cả văn hóa truyền thống lẫn phương Tây. Bà thông thạo tiếng Pháp, biết chơi nhạc cụ, đồng thời giữ lối sống nền nã, chuẩn mực.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”, nổi bật với vẻ đẹp thanh tú: Làn da trắng, gương mặt trái xoan, đôi mắt bồ câu và vóc dáng mảnh mai. Sinh thời, bà có thói quen mặc đồ đen. Có lẽ, đó cũng là lý do để người đời gọi bà là "người đàn bà áo đen". Dù xinh đẹp tuyệt trần, thói quen mặc áo dài màu đen và màu trầm khiến bà luôn toát lên sự thanh lịch, bí ẩn và quý phái đặc trưng của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ. Nhiều người đánh giá bà là người có phong thái Tràng An chuẩn mực nhất.

Cụ Đỗ Lợi vô cùng yêu con gái, thấy Đỗ Thị Bính khảnh ăn nên cụ đã cho mời một đầu bếp nấu cho vua Bảo Đại về nhà trông coi việc bếp núc. Vì từ bé đến lớn bà vẫn giữ thói quen không chịu ăn thịt gà, trong một bữa cơm gia đình, cụ Đỗ Lợi bảo nếu con chịu ăn một miếng thịt gà, ông sẽ thưởng 1 nhẫn kim cương, ăn 2 miếng thưởng 2 nhẫn kim cương.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu đầy đủ những phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh, sự trầm tĩnh, khôn khéo, dịu hiền mà trí tuệ. Cũng vì điều này mà dù là người đẹp nức tiếng Hà thành và con nhà giàu có nhưng bà không kiêu kỳ mà nhất mực hoà đồng, giản dị và gần gũi với mọi người.

Cô Bính Hàng Đẫy sở hữu nhan sắc được ví khiến “chim sa cá lặn”. Ảnh: Internet

Nàng thơ bí ẩn, người yêu trong mộng tưởng của thi sĩ nổi tiếng

Những năm 1930, gần phố Hàng Đẫy là khu Văn Miếu. Đây là nơi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp - con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ở. Nguyễn Nhược Pháp lớn hơn cô Bính Hàng Đẫy 1 tuổi, làm việc ở báo Annam Nouveau. Khi ấy, Đỗ Thị Bính thường có thói quen ra vườn tưới cây. Bà tưới gốc tầm xuân sum suê cành lá và thường ngồi đọc sách ở chiếc ghế mây trong vườn. Vì mê Đỗ Thị Bính nên Nguyễn Nhược Pháp luôn mượn cớ đi qua ngôi nhà 37 Hàng Đẫy để ngắm nhìn người đẹp.

Đỗ Thị Bính là giai nhân nổi tiếng, được nhiều người theo đuổi, vì vậy gia đình bà không coi sự xuất hiện của một nhà thơ trẻ là điều đặc biệt. Trong khi đó nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lại mặc cảm vì gia cảnh nghèo của mình nên chẳng dám ngỏ lời. Nhiều tư liệu cho rằng Nguyễn Nhược Pháp có vóc người nhỏ bé thư sinh, tính tình dù rất năng động nhưng đứng trước phái nữ lại hay rụt rè, bẽn lẽn…

Chuyện kéo dài gần 1 năm trời đến nỗi cả 2 gia đình đều biết, nhưng Nguyễn Nhược Pháp và Đỗ Thị Bính chưa một lần gặp gỡ chính thức.

Năm 1935, tập thơ “Ngày xưa” ra đời, đưa Nguyễn Nhược Pháp trở thành một trong những gương mặt đáng chú ý của phong trào Thơ mới. Khi đọc thơ ông, ai cũng hiểu hình bóng người con gái tuyệt vời trong những bài thơ như “Mỵ Nương”, “Tay ngà”, “Cô gái bên bờ ao”, đều được lấy cảm hứng từ người đẹp Đỗ Thị Bính.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp. Ảnh: Internet

"Cúi đầu nàng tha thướt/ Yêu kiều như mây qua/ Mắt xanh nhìn man mác/ Mỉm cười vê cành hoa” đều là những mỹ từ mà Nguyễn Nhược Pháp dành cho người tình trong mộng Đỗ Thị Bính. Người đẹp Đỗ Thị Bính cũng hiểu được tình cảm đó nhưng nhà thơ đa tài, bạc mệnh đã sớm ra đi ở tuổi 24 vì căn bệnh lao.

Cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối, hạnh phúc, bền vững

Dù trải qua mối tình đầu dang dở, trong số “tứ đại mỹ nhân” Hà thành, cô Bính Hàng Đẫy vẫn được xem là người có cuộc đời êm đềm và trọn vẹn hơn cả.

Sau khi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời khoảng 1 năm, gia đình đã thu xếp để bà kết hôn với kỹ sư Bùi Tường Viên - một trong những kỹ sư đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là em trai của luật sư nổi tiếng Bùi Tường Chiểu. Từ năm 16 tuổi, ông Viên sang Pháp theo học ngành silicat, thuộc lớp trí thức kỹ thuật hiếm hoi của Việt Nam thời bấy giờ. Về nước, ông đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng Trường Mỹ nghệ Đông Dương - tiền thân của Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ngày nay.

Cuộc hôn nhân ban đầu được sắp đặt theo khuôn mẫu “môn đăng hộ đối” của tầng lớp tư sản, song thực tế lại phát triển theo một hướng khác. Trong ngày cưới, cô Bính Hàng Đẫy khoác lên mình bộ áo dài màu vàng được dệt bằng chỉ kim tuyến, trở thành tâm điểm của một lễ thành hôn xa hoa kéo dài nhiều ngày, quan khách tấp nập như trẩy hội.

Ngày lên xe hoa, bà Đỗ Thị Bính không hề có chút tình cảm nào với chồng bởi trước họ chưa từng gặp mặt nhau. Phải đến khi sống cùng nhau bà mới bắt đầu yêu chồng. Không giống với các cuộc hôn nhân “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” của tầng lớp tư sản ngày xưa, lấy nhau về người vợ chỉ biết phục tùng và chăm sóc chồng theo khía cạnh trách nhiệm và mệnh lệnh, cuộc hôn nhân của bà Đỗ Thị Bính và ông Bùi Tường Viên tồn tại bởi tình yêu, sự ngưỡng mộ và cảm thông. Ông Bùi Tường Viên chưa bao giờ to tiếng với vợ, lúc nào cũng thể hiện sự tôn trọng nhường nhịn.

Bước ngoặt lớn đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống từ năm 1946, gia đình hai bên đều tham gia cách mạng. Từ một tiểu thư Hà thành sống trong nhung lụa, bà Bính theo chồng tản cư lên Tuyên Quang, bắt đầu cuộc sống hoàn toàn khác biệt nơi vùng núi.

Trong điều kiện thiếu thốn, bà nhanh chóng thích nghi. Từ việc làm bánh, kẹo, bún thang đến buôn bán nhỏ tại các phiên chợ quê, bà chủ động xoay xở để cải thiện sinh kế gia đình. Bên cạnh đó, bà còn tự tay trồng rau, nuôi gà, chế biến thực phẩm, duy trì nếp sống gọn gàng, ngăn nắp vốn có của người Hà Nội.

Đáng chú ý, trong thời gian ở Sơn Dương, bà được bác sĩ Bùi Xuân Tám - em trai họa sĩ Bùi Xuân Phái, hướng dẫn kỹ thuật tiêm thuốc kilofooc để điều trị sốt rét. Dù không qua đào tạo y khoa, bà đã trực tiếp cứu giúp nhiều người dân thoát khỏi căn bệnh nguy hiểm này. Sự tận tâm, không nhận tiền công của bà khiến người dân địa phương quý mến, gọi bà bằng những cái tên trìu mến như “bà tiên kháng chiến”.

Đỗ Thị Bính không bao giờ ỷ lại vào nhan sắc trời cho, ngược lại luôn chăm lo, tu dưỡng cho bản thân và gia đình. Ảnh: Internet

Sau năm 1954, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, gia đình bà trở về Hà Nội, sinh sống tại căn nhà số 67 Nguyễn Thái Học. Từ đây, bà tham gia công tác giáo dục, gắn bó với Phòng Giáo dục khu Hai Bà Trưng cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc sống của bà trở lại nhịp điệu bình dị, lặng lẽ, nhưng vẫn đậm dấu ấn của một người phụ nữ từng đi qua những năm tháng lịch sử nhiều biến động.

Năm 1985, bà Bính mua đất ở khu Trung Tự rồi xây một căn nhà cấp bốn ở cho đến cuối đời. Năm 1986, chồng bà qua đời sau 10 năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Bà Bính thêm một lần run rẩy đau xót mất đi người bạn đời tri âm, tri kỷ.

Trước Tết năm 1992, bệnh cao huyết áp của bà như dòng điện cao thế phập phù không ổn định, lên xuống thất thường. Gia đình đưa bà vào bệnh viện chạy chữa. Sát Tết, bà được về nhà ăn Tết. Hơn 1 tháng trời, ngày nào bà cũng chỉ thèm ăn mỗi món bún thang, con cháu lại xách cặp lồng đạp xe tới chợ Hôm mua về cho bà ăn.

Sau cái Tết năm ấy, ngày mồng 9 tháng Giêng Âm lịch, bà thấy trong người không được khỏe rồi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ ngàn thu, hưởng thọ 77 tuổi. Theo nguyện vọng, bà được mặc chiếc áo dài màu đen - gam màu đã gắn bó với bà gần như suốt cuộc đời, trong giây phút tiễn biệt.

K. Hoàng / Theo: Thời Trang Vàng

Monday, May 4, 2026

CHINH PHỤC ĐƯỜNG HẦM THIÊN SƠN (TIANSHAN SHENGLI TUNNEL 天山勝利隧道) TẠI TÂN CƯƠNG

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel 天山勝利隧道) xác lập vị thế là một trong những công trình hạ tầng vĩ đại nhất, đánh dấu bước tiến khổng lồ của ngành xây dựng Trung Quốc. Với tổng chiều dài lên tới 22,13 km, tuyến đường xuyên núi này mở ra hành trình khám phá Tân Cương đầy mê hoặc, kết nối những vùng đất xa xôi một cách nhanh chóng. Kim Lien Travel mời quý khách cùng tìm hiểu về kỳ quan kỹ thuật này để chuẩn bị cho chuyến hành trình du lịch Trung Quốc đầy ấn tượng trong tương lai gần.

Đường hầm Thiên Sơn là một trong những công trình hạ tầng vĩ đại nhất

Kiệt Tác Giao Thông Giữa Lòng Dãy Núi Thiên Sơn Hùng Vĩ

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) tọa lạc tại vị trí trọng yếu của dãy núi Thiên Sơn, đóng vai trò là "mắt xích" vàng trong tuyến đường cao tốc nối liền Urumqi và Yuli. Công trình khởi công vào mùa xuân năm 2020 và vừa chính thức hoàn thiện vào tháng 12 năm 2025, tạo nên một cột mốc lịch sử cho ngành giao thông vận tải khu vực phía Tây Bắc Trung Quốc. Đây là dự án trọng điểm cấp quốc gia, được kỳ vọng sẽ thay đổi hoàn toàn diện mạo kinh tế và du lịch của vùng đất Tân Cương rộng lớn.

Việc khánh thành đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) minh chứng cho khát vọng chinh phục thiên nhiên và năng lực kỹ thuật thượng thừa của con người. Tuyến đường này giúp rút ngắn khoảng cách địa lý giữa các thành phố lớn, đồng thời tạo ra một hành lang giao thương hiện đại và an toàn. Sự xuất hiện của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) xóa bỏ rào cản chia cắt giữa phía Bắc và phía Nam Tân Cương, vốn trước đây bị ngăn cách bởi những dãy núi tuyết vĩnh cửu.

Những Thông Số Kỹ Thuật Đầy Kinh Ngạc Của Công Trình

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) sở hữu chiều dài 22,13 km, chính thức ghi danh vào danh sách những đường hầm cao tốc dài nhất thế giới hiện nay. Điểm sâu nhất của công trình nằm ở mức 1.112,6 mét dưới bề mặt núi, tạo ra áp lực địa chất vô cùng lớn đòi hỏi các biện pháp thi công cực kỳ khắt khe. Môi trường làm việc tại đây vô cùng khắc nghiệt với nhiệt độ có lúc giảm sâu xuống mức -41,5 độ C, thách thức mọi giới hạn chịu đựng của máy móc và con người.

Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) sở hữu chiều dài 22,13 km

Cấu trúc của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) bao gồm hai đường hầm chính dành cho xe chạy và một đường hầm dịch vụ nằm ở giữa để phục vụ công tác cứu hộ, thông gió. Tốc độ di chuyển thiết kế đạt ngưỡng 100 km/h, cho phép các phương tiện băng qua dãy núi Thiên Sơn hiểm trở chỉ trong thời gian ngắn. Hệ thống điều khiển thông minh, đèn LED cảm biến và trạm lọc không khí công suất cao được tích hợp bên trong, tạo ra không gian di chuyển hiện đại, giảm thiểu cảm giác mệt mỏi cho tài xế và hành khách.

Công Nghệ TBM Đột Phá Trong Thi Công Xuyên Núi

Quá trình kiến tạo đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) ghi dấu ấn đậm nét với việc sử dụng máy khoan hầm TBM (Tunnel Boring Machine) thế hệ mới nhất. Đây là loại siêu máy móc có khả năng cắt gọt đá cứng và gia cố thành hầm một cách tự động, giúp đẩy nhanh tiến độ thi công lên gấp nhiều lần so với phương pháp nổ mìn truyền thống. Việc áp dụng công nghệ này bảo vệ tối đa cấu trúc địa chất tự nhiên, giảm thiểu rung chấn ảnh hưởng đến hệ sinh thái nhạy cảm của dãy núi Thiên Sơn.

Bên cạnh đó, các kỹ sư đã thiết lập hệ thống giám sát dữ liệu thời gian thực để kiểm soát áp suất đất, nồng độ khí thải và độ ẩm bên trong lòng núi. Sự kết hợp giữa trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật xây dựng tiên tiến đảm bảo tính chính xác tuyệt đối trong từng mét khoan của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel). Mỗi phân đoạn của công trình đều được kiểm định nghiêm ngặt, đảm bảo tuổi thọ lên đến hàng trăm năm bất chấp các biến động địa chất phức tạp tại khu vực Tân Cương.

Bước Ngoặt Thay Đổi Thời Gian Di Chuyển Giữa Các Vùng Miền

Sự hiện diện của đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) mang lại lợi ích trực tiếp và mạnh mẽ nhất chính là việc rút ngắn thời gian đi lại. Trước đây, du khách và người dân phải mất hơn 7 giờ đồng hồ để di chuyển qua những con đèo quanh co nguy hiểm nối Urumqi và Yuli. Hiện tại, nhờ có đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel), hành trình này chỉ còn tốn khoảng 3 giờ, giúp tiết kiệm thời gian đáng kể cho các hoạt động trải nghiệm và tham quan.

Kiến tạo đường hầm Thiên Sơn sử dụng máy khoan hầm TBM thế hệ mới nhất

Việc thu hẹp khoảng cách thời gian tạo điều kiện thuận lợi cho sự luân chuyển hàng hóa và hành khách giữa các địa phương. Các doanh nghiệp vận tải có thể tối ưu hóa quy trình logistics, giảm thiểu rủi ro tai nạn đường đèo trong mùa tuyết rơi. Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) đóng vai trò là sợi dây liên kết bền chặt, thúc đẩy sự hòa nhập văn hóa và kinh tế giữa các sắc tộc và vùng miền tại Tân Cương, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng chung.

Tiềm Năng Du Lịch Bứt Phá Nhờ Đường Hầm Xuyên Núi

Tân Cương luôn là điểm đến mơ ước của những tín đồ du lịch với cảnh sắc hoang sơ, và đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) chính là chìa khóa mở ra cánh cửa đó. Tuyến đường này dẫn lối du khách đến với những thảo nguyên xanh bao la, những hồ nước trong vắt và các di tích lịch sử trên Con đường tơ lụa huyền thoại. Sự thuận tiện trong giao thông khuyến khích du khách dành nhiều thời gian hơn để khám phá các địa danh nổi tiếng thay vì phải tiêu tốn cả ngày dài trên xe.

Các đơn vị lữ hành hiện nay đã bắt đầu thiết kế những tour du lịch đặc sắc đi qua đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) để du khách tận mắt chiêm ngưỡng kỳ quan kiến trúc này. Cảm giác lái xe xuyên qua lòng núi sâu hơn một cây số, sau đó rạng rỡ đón ánh nắng mặt trời tại một vùng thảo nguyên mới là trải nghiệm vô cùng khó quên. Đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) trở thành một "điểm check-in" không thể bỏ lỡ, minh chứng cho sự kết hợp hoàn hảo giữa bàn tay con người và thiên nhiên hùng vĩ.

Tác Động Tích Cực Đến Kinh Tế Và Đời Sống Xã Hội

Mở rộng hạ tầng giao thông thông qua đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) đem đến luồng sinh khí mới cho nền kinh tế địa phương. Chi phí vận chuyển hàng nông sản và nhu yếu phẩm từ Nam Tân Cương lên phía Bắc giảm đi đáng kể, ước tính giúp các doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục triệu nhân dân tệ mỗi năm. Điều này gián tiếp làm giảm giá thành sản phẩm, mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng và nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân vùng sâu vùng xa.

Chi phí vận chuyển từ Nam Tân Cương lên phía Bắc giảm đi đáng kể

Thêm vào đó, đường hầm Thiên Sơn (Tianshan Shengli Tunnel) thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực dịch vụ và nghỉ dưỡng dọc theo tuyến đường cao tốc. Những trạm dừng chân hiện đại, khu trưng bày sản phẩm văn hóa địa phương và các khách sạn cao cấp đang dần hình thành, tạo ra hàng ngàn cơ hội việc làm cho lao động bản địa. Sự phát triển này khẳng định tầm nhìn dài hạn của chính phủ Trung Quốc trong việc biến hạ tầng thành đòn bẩy kinh tế bền vững.

Theo: Kim Liên Travel
Link tham khảo:




VÌ SAO GIANG HỒ CÓ MÔN - PHÁI - BANG - GIÁO? HÉ LỘ CẤU TRÚC THẾ GIỚI VÕ HIỆP

Khi đọc truyện võ hiệp hay xem phim cổ trang Trung Quốc, người ta thường bắt gặp những cái tên quen thuộc như Đường Môn, Võ Đang Phái, Cái Bang hay Minh Giáo. Thoạt nhìn, tất cả đều là những tổ chức giang hồ, tụ hội cao thủ bốn phương. Nhưng nếu quan sát kỹ, ta sẽ nhận ra rằng cách gọi “môn, phái, bang, giáo” không hề ngẫu nhiên, mà phản ánh rõ bản chất và cấu trúc của từng tổ chức.


Thực chất, thế giới giang hồ xưa kia có thể được ví như một xã hội thu nhỏ, nơi mỗi tổ chức vận hành giống như trường học, doanh nghiệp hay hiệp hội ngày nay.

Trước hết là “môn”. Trong tiếng Trung, chữ “môn” thường gắn với khái niệm “một môn tay nghề” hay “độc môn tuyệt kỹ”. Vì vậy, các tổ chức mang chữ “môn” thường nổi tiếng nhờ một loại kỹ năng riêng biệt. Họ tập trung nghiên cứu sâu vào một lĩnh vực duy nhất, tạo ra những bí kỹ không ai bắt chước được.

Đường Môn Tứ Xuyên chuyên về ám khí và độc dược, Huyết Đao Môn chuyên về đao pháp, đều là những ví dụ điển hình. Các môn phái này giống như trường dạy nghề cao cấp: ít người, đào tạo tinh sâu, truyền thừa chủ yếu trong nội bộ gia tộc. Vì coi trọng huyết thống, họ hiếm khi thu nhận người ngoài, nên lực lượng không đông nhưng chất lượng rất cao.

Nếu “môn” giống trường nghề, thì “phái” lại giống như đại học tổng hợp. Các phái có hệ thống võ học hoàn chỉnh, đa dạng và phát triển toàn diện. Một phái thường không chỉ giỏi một môn võ, mà bao gồm nội công, khinh công, quyền pháp và binh khí.

Võ Đang phái là ví dụ tiêu biểu. Từ Thái Cực Quyền, Thái Cực Kiếm đến các loại nội công cao cấp, tất cả đều được hệ thống hóa chặt chẽ. Trong mỗi phái còn có sự phân chia thành các “tông”, tương tự như các khoa trong trường đại học. Điều này giúp võ học không ngừng phát triển và mở rộng.

Khác với môn, các phái có tiêu chuẩn thu nhận đệ tử linh hoạt hơn. Bất kể xuất thân, chỉ cần có tư chất và ý chí, đều có thể gia nhập. Vì thế, cốt lõi của phái là truyền bá và phát triển võ học.

Tiếp theo là “bang”. Bang không lấy võ học làm trung tâm, mà dựa trên nghề nghiệp và thân phận xã hội. Cái Bang gồm người ăn mày, Diêm Bang gồm thương nhân buôn muối, Thanh Bang gồm thủy thủ vận tải. Họ chủ yếu là tầng lớp bình dân, sống nhờ sự đoàn kết và hỗ trợ lẫn nhau.

Bang giống như hiệp hội ngành nghề ngày nay, giúp các thành viên bảo vệ quyền lợi và sinh tồn trong xã hội đầy biến động. Gần với bang là “hội”, thường có mục tiêu chính trị hoặc lý tưởng rõ ràng, như Thiên Địa Hội hay Hồng Hoa Hội từng chống lại triều đình nhà Thanh.

Thế giới giang hồ xưa kia có thể được ví như một xã hội thu nhỏ, nơi mỗi tổ chức vận hành giống như trường học, doanh nghiệp hay hiệp hội ngày nay. (Ảnh minh họa: Pinterest)

Cuối cùng là “giáo”, loại tổ chức đặc biệt nhất trong giang hồ. Giáo được xây dựng trên nền tảng niềm tin và tín ngưỡng. Chỉ cần cùng chung đức tin, bất kể thân phận cao thấp đều có thể gia nhập.

Minh Giáo thờ phụng Thánh hỏa, Nhật Nguyệt Thần Giáo hay Thần Long Giáo tôn sùng Giáo chủ, đều là những ví dụ tiêu biểu. Nhờ sức mạnh tinh thần, các giáo phái này có sự gắn kết rất cao. Tuy nhiên, chính vì quá coi trọng niềm tin, họ cũng dễ bị thao túng và cực đoan, nên thường bị triều đình cảnh giác và đàn áp.

Ngoài bốn loại hình chính, giang hồ còn tồn tại các thế gia và sơn trang, nằm giữa môn và phái. Những tổ chức này vừa có hệ thống võ học riêng, vừa coi trọng truyền thừa huyết thống, như Đào Hoa Đảo hay Bạch Đà Sơn Trang.

Tổng kết lại, mỗi loại tổ chức đều mang một vai trò riêng trong thế giới võ hiệp:

  • Môn chú trọng truyền thừa tinh túy.

  • Phái chú trọng phát triển và lan tỏa.

  • Bang dựa vào nghề nghiệp và sinh tồn.

  • Giáo dựa trên niềm tin và tinh thần.

Nhờ sự tồn tại song song của “môn – phái – bang – giáo”, giang hồ không chỉ là nơi tranh đấu võ lực, mà còn là một xã hội phức tạp, đa dạng và giàu chiều sâu, phản ánh sinh động đời sống và tư tưởng của con người trong văn hóa phương Đông.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

DƯƠNG LIỂU CHI KỲ 3 - ÔN ĐÌNH QUÂN


Dương liễu chi kỳ 3

Tô Tiểu môn tiền liễu vạn điều,
Tam tam kim tuyến phất Bình Kiều.
Hoàng oanh bất ngữ đông phong khởi,
Thâm bế chu môn bạn tế yêu.


楊柳枝其三

蘇小門前柳萬條
毿毿金線拂平橋
黃鶯不語東風起
深閉朱門伴細腰


Dương liễu chi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Trước nhà thiếu nữ họ Tô. 
Muôn nhành liễu rủ, sóng xô tơ vàng. 
Cái oanh hót khúc dở dang. 
Gió xuân dịu nhẹ, ghé ngang khuê phòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

Nguồn: Thi Viện