Tuesday, October 13, 2026

TẠI SAO CÓ NHIỀU NGƯỜI KẾT HÔN NHƯNG SUỐT ĐỜI CHẲNG CÓ CON?

Có rất nhiều người kết hôn nhưng suốt đời chẳng có con, vì sao? Chẳng có duyên! Con cái phải có duyên với quý vị thì chúng mới đầu thai vào nhà quý vị. Chúng nó chẳng có duyên với quý vị, sẽ chẳng đầu thai vào nhà quý vị.


Nói cách khác, chúng nó đi đầu thai, phải tìm đối tượng. Quý vị mong cầu chúng nó, chưa chắc chúng nó đã để ý tới quý vị! Tìm đối tượng nào? Có mối quan hệ trong đời quá khứ. Trong kinh, đức Phật đã nói bốn loại nhân duyên:

1) Loại thứ nhất là báo ân. Trong đời quá khứ, đôi bên có ân huệ với nhau, lần này chúng nó lại thấy quý vị, bèn đầu thai vào nhà quý vị, sẽ trở thành con hiếu, cháu hiền, đến để báo ân.

2) Loại thứ hai là báo oán. Trong đời quá khứ, quý vị kết cừu hận với họ. Gặp gỡ lần này, họ đến làm con cái quý vị, mai sau lớn lên sẽ thành đứa con khiến cho gia đình suy bại, khiến cho quý vị nhà tan, người chết, nó đến để báo thù quý vị! Vì thế, chớ nên kết oán cừu cùng kẻ khác. Kẻ oán cừu bên ngoài có thể đề phòng, chứ họ đến đầu thai trong nhà quý vị, làm cách nào đây? Quý vị hại chết kẻ đó, thần thức kẻ ấy sẽ đến làm con cháu trong nhà quý vị. Đó gọi là “con cháu ngỗ nghịch” khiến cho nhà tan, người chết!


3) Loại thứ ba là đòi nợ. Đời quá khứ, cha mẹ thiếu nợ chúng nó, chúng nó đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai, ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, nó bèn ra đi.

4) Loại thứ tư là trả nợ. Con cái thiếu nợ cha mẹ, đời này gặp gỡ, nó phải trả nợ. Nó phải nỗ lực làm lụng để nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu nợ cha mẹ rất nhiều, nó cung phụng cha mẹ vật chất rất trọng hậu. Nếu thiếu nợ rất ít, nó lo cho cuộc sống của cha mẹ rất tệ bạc, miễn sao quý vị chẳng chết đói là được rồi.

Hạng người này tuy có thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng thiếu lòng cung kính, chẳng có tâm hiếu thuận. Báo ân bèn có tâm hiếu thuận, chứ trả nợ chẳng có tâm hiếu thuận. Thậm chí trong lòng chúng nó còn ghét bỏ, chán ngán cha mẹ, nhưng vẫn cho quý vị tiền để sống, nhiều hay ít là do xưa kia quý vị thiếu chúng nó nhiều hay ít. Đức Phật dạy rõ chân tướng sự thật, người một nhà là do bốn loại quan hệ ấy mà tụ hợp. Gia đình là như thế, mà người trong một họ cũng là như thế.


Ân, oán, nợ nần nhiều, bèn biến thành cha con, anh em một nhà. Ân oán, nợ nần ít hơn thì biến thành thân thích, bầu bạn. Do đó, giữa người và người với nhau đều có duyên phận. Quý vị đi đường, một kẻ xa lạ gật đầu mỉm cười với quý vị cũng là do duyên phận xưa kia.

Thấy một kẻ xa lạ, vừa thấy kẻ ấy liền cảm thấy gai mắt cũng là do duyên phận trong quá khứ. Phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta khởi tâm động niệm chớ nên không cẩn thận, ngàn muôn phần đừng kết oán cừu với hết thảy chúng sanh, đừng nên có quan hệ nợ nần với hết thảy chúng sanh.

Thiếu nợ phải trả cho sạch nợ, để đời sau khỏi phải đền trả nữa.

Chuyện này rất phiền toái! Giáo huấn của thánh hiền Nho và Phật đều dạy chúng ta phải hóa giải ân oán. Hóa giải là phương pháp tốt lành nhất và viên mãn nhất. Chỉ có Nho và Phật mới có thể làm được, những thứ giáo dục khác trong thế gian chẳng thể thực hiện được!


Điều này nhằm nói rõ đầu thai chẳng phải là tùy tiện bèn trở thành người một nhà, chẳng phải như vậy, mà là đã có quan hệ trong đời quá khứ .

Trích A DI ĐÀ KINH SỚ SAO DIỄN NGHĨA 
Người giảng: LÃO HÒA THƯỢNG TỊNH KHÔNG

NHỮNG ÔNG VUA NGÀNH DƯỢC TẠI SÀI GÒN

Bên cạnh thuốc Đông y thịnh vượng trong nhiều thập niên, ngành Tây dược từ đầu thập niên 1950 bắt đầu phát triển khắp nơi, nhất là tại Sài Gòn. Nhiều dược sĩ tốt nghiệp từ Pháp trở về nước, làm việc ở các viện bào chế (laboratoire) tư nhân và tự mở Nhà thuốc Tây kinh doanh, tạo nên nhiều đại gia tên tuổi.

Thuốc tây, thuốc Đông y quảng cáo khắp nơi ở Sài Gòn trước 1975 (Nguồn: Manhhaiflickr)

Thuở nhỏ của tôi gắn liền với chai thuốc đỏ. Trẻ con thường hay nghịch ngợm chơi đùa, té ngã. Chỗ nào trầy xước, chỉ cần bôi vào một tí thuốc đỏ là vài hôm sau lành lặn như thường. Hồi đó, tôi cũng không biết vì sao thuốc đỏ lại hiệu nghiệm như vậy và cũng không biết loại thuốc này có chứa thủy ngân. Thuốc đỏ sát khuẩn ngoài da, nếu vết thương sâu quá, thuốc đỏ trở nên nguy hiểm do chất thuỷ ngân có thể thâm nhập vào máu, gây phản ứng phụ hoặc thậm chí gây chết người. Do vậy ngày nay, thuốc đỏ không còn là “thần dược” trị vết thương và cấm bán ở nhiều nước châu Âu và tại Hoa Kỳ.

Vậy mà, thuở trước, ông Dược sĩ La Thành Nghệ làm giàu nhờ loại thuốc này và được giới dược phòng phong tặng danh hiệu “vua thuốc đỏ”. Ông xuất thân từ một gia đình giàu có, du học ngành Dược tại Pháp. Trở về nước lập Laboratoire La Thành trên đường Tự Do, giữa nhà sách Xuân Thu và cà phê La Pagoda. Thực ra, dược phòng của La Thành Nghệ được phép độc quyền sản xuất và phân phối thuốc đỏ theo hợp đồng với một công ty dược bên Pháp cung cấp dược liệu, chứ không phải dược phòng của ông điều chế sản xuất. Nhà văn Hứa Hoành ghi nhận loại thuốc đỏ như sau: “Thời đó, thuốc đỏ do Laboratoire La Thành sản xuất, được sử dụng trong các bệnh viện, các quân y viện, các bệnh viện dã chiến, các trung tâm y tế, các đơn vị quân y… và rất được dân chúng, từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng, vì rẻ tiền mà lại hiệu nghiệm”.

Ngoài thuốc đỏ độc quyền phân phối cho các nhà thuốc tây khắp miền Nam, dược phòng của ông La Thành Nghệ còn điều chế và sản xuất được loại thuốc mỡ (pommade) trị bịnh ngoài da bị trầy xước, ghẻ mủ, nhiễm trùng… rất hiệu quả. Pommade của hãng dược La Thành bôi vào năm ba ngày thì các mụn rộp lặn mất.

Nói đến chuyện này, tôi xin góp thêm câu chuyện trà dư tửu hậu của mấy ông bạn già. Số là trong đám bạn già có ông bị bệnh hoa liễu, không dám đi bệnh viện vì mắc cỡ cho dù thuở đó bác sĩ hầu hết đều là đàn ông. Mua thuốc uống mãi không giảm, nghe người ta mách mua thuốc pommade của hãng dược La Thành thoa lên mấy chỗ mụn rộp. Trước khi thoa, lấy cồn xức lên, rồi bôi thuốc đỏ. Ngại ra tiệm thuốc tây, nên ông nhờ đứa nhỏ láng giềng cho nó mấy đồng ăn kẹo. Thằng nhỏ ra hiệu thuốc không nhớ tên thuốc, chạy về nhà gặp ông định hỏi. Không ngờ bà vợ của ông nghe thấy, hỏi bệnh gì mà không kêu tui lo thuốc thang mà nhờ thằng bé. Ông lừng khừng nói: “À thuốc pommade La Thành trị bỏng đó mà.” Bà vợ nói: “Tưởng gì, nhà có lọ mỡ trăn, lấy mà thoa lên công hiệu còn hơn cái gì La Thành đó. Con cái ở nhà không sai lại đi nhờ thằng nhỏ hàng xóm!”.

Dược sĩ La Thành Nghệ nhờ thuốc đỏ, pommade mà trở nên giàu có. Có tiền của nhưng ông không ăn chơi trác táng như những doanh nhân khác. Thuở đó các dược sĩ làm ăn khấm khá, tiền vào như nước, nhiều ông sắm xe hơi, cất nhà lầu, mở thêm vài cái nhà thuốc.

Dược sĩ La Thành Nghệ (góc trái) từng được mệnh danh là “vua” thuốc đỏ (Ảnh: Internet)

Cũng nhắc chuyện “vua” thuốc đỏ La Thành Nghệ, nhà văn Hứa Hoàng viết: “La Thành Nghệ sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nhà giàu khác. Ngược lại, dân ăn chơi Sài Thành, không ai không nghe tiếng hoặc biết đến “công tử” Hoàng Kim Lân, con của “vua dây kẽm gai” Hoàng Kim Quy. Tôi được nghe, có lần tại vũ trường Maxim, ông Hoàng Kim Lân đứng lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay là ngày sinh nhựt của tôi. Tôi xin đãi tất cả quý vị có mặt tại đây. Quý vị tha hồ ăn uống bất cứ món gì mà không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó, rượu sâm banh chảy ra như suối và khách ăn chơi vỗ tay như sấm để tán thưởng sáng kiến độc đáo của mạnh thường quân Kim Lân”.

Trở lại chuyện La Thành Nghệ, ông chỉ giao thiệp với giới nhà giàu và thượng lưu, trí thức ở Sài Gòn. Năm 1967, La Thành Nghệ ra ứng cử nghị sĩ Quốc Hội, chung liên danh Bạch Tượng với Dược sĩ Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần Văn Lắm có lúc làm Phó chủ tịch Thượng Viện và Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên, danh nghĩa nghị sĩ Quốc Hội chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ chứ không hái ra tiền như viện bào chế La Thành. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính trị nào. Ông cũng tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt lớn khác.

Hồi xưa các tiệm thuốc tây bán thuốc cho bệnh nhân có toa bác sĩ hay không có toa đều như nhau. Ai bệnh cứ ra khai bệnh với dược tá là mua được thuốc. Từ những loại thuốc thông dụng như ban nóng, cảm ho cho đến trị bệnh đau bụng vì sán lãi hay thậm chí mua thuốc trụ sinh đều dễ dàng. Nhà thuốc Tây Nguyễn Văn Cao, ngay góc chợ Bến Thành với đường Lê Lợi, chuyên bán các loại thuốc trụ sinh. Nhà thuốc của ông Dược sĩ Nguyễn Chí Nhiều chuyên bào chế và bán thuốc cảm mạo dành cho trẻ em. Thuốc thông dụng nhất của Nguyễn Chí Dược cuộc là Euquinol nổi tiếng khắp miền Nam, từ thành thị đến nông thôn. Trong tủ thuốc gia đình nhà nào cũng có vài gói Euquinol dự phòng.

Vào thuở thập niên 1960, tuy Euquinol thông dụng với nhiều gia đình nhưng gia đình tôi vẫn sử dụng thuốc Nam. Má tôi bảo, thuốc Tây uống nóng, thuốc Nam tuy đắng nhưng dã bệnh. Má tôi quen với thuốc tán hiệu Ông Già chuyên trị cảm mạo, người lớn hay trẻ em đều dùng được. Thật ra Euquinol được bào chế dạng thuốc bột màu trắng, pha chút nước nguội, dễ uống hơn thuốc cảm hiệu Ông Già. Nhưng do nhiều lần gia đình dùng thấy công hiệu, uống vào mồ hôi vã ra như tắm, xông lá tràm, ăn bát cháo nóng, nghỉ ngơi một chút là hết cảm mạo.

Theo ông Hứa Hoành ghi nhận, thuở đó Euquinol đã đánh bại thuốc ngoại cảm tán của nhà thuốc Nhị Thiên Ðường vốn độc quyền thị trường mấy thập niên trước đó. Euquinol của Nguyễn Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được bày bán trong tiệm thuốc tây và cả tiệm tạp hoá nên dân chúng mua dễ dàng. Không những thế, các chiến dịch quảng cáo rầm rộ thuốc Euquinol trương bảng khắp nơi. Ðặc biệt, ông Nguyễn Chí Nhiều biết tận dụng các cuộc tranh tài thể thao để quảng cáo sản phẩm của mình. Sau này ông trở thành ông bầu của đoàn đua xe đạp mang tên Euquinol. Ông bỏ tiền ra mua xe đạp và cung cấp phụ tùng, phát lương cho cua-rơ của đội để họ cố tâm luyện tập, khỏi lo chuyện sinh kế. Vì thế đội Euquinol thường lập được nhiều thành tích, chiếm các giải đồng đội và cá nhân trên các đường đua.

Nhà thuốc Tây Nguyễn Văn Cao tại góc Lê Lợi và chợ Bến Thành (Nguồn: Sanhhaiflick)

Hồi trước 1954, Sài Gòn còn nhiều Nhà thuốc Tây do người Pháp làm chủ, dược sĩ người Việt chỉ số ít. Nhưng sau khi Pháp rút về nước, nhiều dược sĩ Việt từ Pháp về mở Nhà thuốc Tây. Nhà thuốc của người Việt có Cường Lắm ở góc đường Công Lý và đường Lê Lợi của Dược sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời đệ Nhị VNCH, ông Lắm trở thành Thượng nghị sĩ và Ngoại trưởng. Ngoài ra còn có Pharmacie Lý, chủ nhân là Dược sĩ Nguyễn Thị Lý; Pharmacie Dương Hữu Lễ của Dược sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Lê Thánh Tôn.

Trang Nguyen / Theo: baotreonline

TỰ THÁN KỲ 1 - TRẦN DANH ÁN


TỰ THÁN KỲ 1
TRẦN DANH ÁN

Sàng trách yêm yêm bất xuất môn,
Lữ sầu tiêu đắc kỷ hoàng hôn.
Nhược khu chi ỷ tam phân sấu,
Chính khí duy trì nhất điểm tồn.
Vô dược khả y ưu quốc bệnh,
Hữu quan nan trở mộng gia hồn.
Tương liên hạnh hữu đồng tâm lữ,
Thời khải tiên phi uý nhất ngôn.


自歎其一 - 陳名案

床簀淹淹不出門
旅愁消得幾黃昏
弱軀支倚三分瘦
正氣維持一點存
無藥可醫憂國病
有關難阻夢家魂
相憐幸有同心侶
時啟箋屝尉一言


Tự than kỳ 1 
(Người dịch: (Không rõ))

Mảng nằm, cửa ngõ chẳng buồn qua,
Đất lạ, bao phen bóng ác tà.
Chính khí vẫn còn nguyên vẹn một,
Thân hèn gầy đã đến chia ba.
Thuốc đâu chữa được cơn lo nước,
Ải đó khôn ngăn mộng nhớ nhà.
Bỗng gặp có người tri kỷ đến,
Chuyện trò thôi cũng gọi khuây khoa!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trần Danh Án 陳名案 (1755-1794) người xã Bảo Triện, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, cháu Trần Phụ Dực, con Trần Danh Lâm. Ông đỗ hoàng giáp năm Chiêu Thống thứ nhất (1787). Khi Lê Chiêu Thống rời bỏ Thăng Long, ông đi theo mộ quân vận lương mưu đồ khôi phục. Ông cùng Lê Duy Ðản sang cầu viện nhà Mãn Thanh. Sau đó Tôn Sĩ Nghị mang binh mã Lưỡng Quảng sang giúp Lê Chiêu Thống lấy lại ngôi. Ngày mùng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu, Nguyễn Huệ đánh lấy Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị thua cắm cổ chạy trốn về Tàu. Lê Chiêu Thống chạy theo lên ải Nam Quan, Trần Danh Án theo không kịp. Sau vua Quang Trung biết Trần Danh Án là người hiền, bảo Ngô Thì Nhậm viết thư để triệu về, nhưng ông khăng khăng từ chối, bị bắt giam ở Thăng Long cũng không đổi chí. Khi Tây Sơn thua, Gia Long lên ngôi có cho vời để phong chức, nhưng ông không nhận.

Nguồn: Thi Viện

KIỆT TÁC TÂY HÁN: CHIẾC ĐÈN CÓ "HỆ THỐNG XỬ LÝ KHÓI" TỪ HƠN 2,000 NĂM TRƯỚC

Hơn 2.000 năm trước, một ngọn đèn cung đình đã được thiết kế để vừa chiếu sáng, vừa điều hướng khói và dễ dàng tháo lắp vệ sinh.


Năm 1968, tại lăng mộ Đậu Oản, vợ của Trung Sơn Tĩnh vương Lưu Thắng, ở Mãn Thành, tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc), các nhà khảo cổ phát hiện một trong những kiệt tác nổi tiếng nhất của nghệ thuật kim loại thời Tây Hán: Đèn Trường Tín cung (長信宮灯 Changxin Palace Lamp). Hiện vật cao khoảng 48 cm, bằng đồng mạ vàng, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hà Bắc.

Ảnh: ourchinastory

Thoạt nhìn, đây chỉ là hình tượng một cung nữ đang quỳ, hai tay nâng một chiếc đèn. Nhưng càng quan sát, người ta càng nhận ra đây thực chất là một sản phẩm kết hợp tinh tế giữa điêu khắc, luyện kim và kỹ thuật chiếu sáng.

Điểm đặc biệt nhất nằm ở “cánh tay phải” của cung nữ. Bộ phận này thực chất là một ống dẫn khói nối với phần thân rỗng bên trong. Khi đốt đèn, khói không tỏa trực tiếp vào căn phòng mà được dẫn qua ống tay áo vào thân tượng. Thiết kế này giúp hạn chế khói, muội than và giữ cho không gian sử dụng đèn sạch hơn. Chính vì vậy, Trường Tín cung đăng thường được nhắc đến như một ví dụ đặc sắc về tư duy kỹ thuật rất sớm trong việc kiểm soát khói trong nhà.


Nhưng sự thông minh chưa dừng ở đó. Chụp đèn được cấu tạo từ hai tấm đồng cong có thể đóng mở, trong khi đĩa đèn có thể xoay. Người sử dụng vì thế có thể điều chỉnh hướng chiếu sáng cũng như độ sáng. Toàn bộ chiếc đèn được đúc thành sáu bộ phận gồm đầu, thân, tay phải, đế, đĩa đèn và chụp đèn, có thể tháo rời để vệ sinh. Một món đồ cung đình cách đây hơn hai thiên niên kỷ vì thế đã được tính toán cả về công năng lẫn bảo dưỡng.

Bề mặt chiếc đèn còn lưu giữ chín vị trí minh văn, tổng cộng 65 chữ. Trong đó có những dòng như “Trường Tín thượng dục” và “Dương Tín gia”. Chính các minh văn này hé lộ hành trình phức tạp của hiện vật: nó có thể từng thuộc về gia đình Dương Tín hầu, sau đó được đưa vào cung Trường Tín – nơi ở của Đậu Thái hậu – trước khi cuối cùng xuất hiện trong mộ Đậu Oản. Vì vậy, cái tên “Trường Tín cung đăng” không đơn giản chỉ là tên gọi của một vật dụng, mà còn gợi lại một phần lịch sử của giới quý tộc và hoàng thất Tây Hán.

Ảnh: oushinet

Điều đáng kinh ngạc là các nghệ nhân Tây Hán không tách rời cái đẹp và cái hữu dụng. Dáng cung nữ mềm mại, y phục có những nếp gấp tự nhiên, khuôn mặt điềm tĩnh; còn bên trong lại ẩn chứa một hệ thống dẫn khói và các khớp nối có thể tháo lắp. Một hiện vật nhỏ bé vì thế trở thành minh chứng sinh động cho trình độ chế tác và tư duy thiết kế của người xưa.

Ngày nay, Trường Tín cung đăng thường được gọi là “Đệ nhất đăng Trung Hoa”. Nhưng có lẽ điều hấp dẫn nhất ở nó không phải danh hiệu ấy, mà là cảm giác kỳ lạ khi nhận ra rằng: hơn 2.000 năm trước, một người thợ vô danh đã tạo ra một chiếc đèn mà người hiện đại vẫn có thể hiểu được logic thiết kế ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Thanh Bình (t/h) / Theo: kienthuc.net



VÌ SAO TỐNG CAO TÔNG PHẢI LIÊN TIẾP BAN RA 12 KIM BÀI MỚI CƯỠNG ÉP ĐƯỢC NHẠC PHI THU QUÂN? KẾT CỤC CỦA TRIỆU CẤU RA SAO?

Năm đó, chỉ trong một ngày Tống Cao Tông liên tiếp ban ra 12 kim bài, cưỡng ép Nhạc Phi thu quân, Nhạc Phi đành nhẫn chịu lui binh. Nhạc Phi từ chiến trường trở về, bị tước bỏ binh quyền, rồi bị nhốt vào ngục của phủ Lâm An, hàm oan mà chết.

Quân tử và tiểu nhân: Thái độ của mọi người khi Nhạc Phi bị hàm oan (Hình Nhạc Phi (Tác giả: Winnie Wang/ Secretchina)

Sách sử có chép lại: “Thiên hạ đều kêu oan cho ông, người nghe đều rơi lệ“. Việc Nhạc Phi bị nhốt trong ngục rồi bị hại chết, đối với vua dân nhà Nam Tống như một quả bom, đã làm đảo lộn triều đình và nhân gian. Một nhóm người đồng lòng dâng sớ, ngay chính trượng nghĩa, muốn giải oan cho Nhạc Phi; nhưng lại có một nhóm người quyết tâm đẩy ông vào chỗ chết.

Sáng sớm ngày 13 tháng 10 năm Thiệu Hưng thứ 11 (năm 1141), Nhạc Phi vừa bị bắt vào ngục, đã có quan viên dâng sớ kêu oan cho ông, như tiến sĩ Trí Giáp ở Phần Châu. Nhận được thư kêu oan của Trí Giáp, Tần Cối liền bắt giam Trí Giáp vào ngục, sau đó phạt đánh bằng trượng, lưu đày đến Viên Châu (nay thuộc khu Viên Châu, Nghi Xuân, Giang Tây).

Tình thế lúc ấy vô cùng nghiêm trọng, nên đứng ra bảo vệ lẽ phải hay im lặng để tự bảo vệ mình? Đến thời khắc khảo nghiệm nhân tính con người, những người liên quan sẽ lựa chọn đi con đường nào, sẽ chọn đứng về phía nào?

Sau khi Nhạc Phi bị giam trong nhà ngục, tình hình trong triều lúc ấy chỉ có thể dùng một câu để hình dung, chính là: “Nhạc Phi chết trong ngục, khi đó triều thần đều sợ tai họa, không ai dám cất lời”

Trong triều đình

Đại tướng quân Hàn Thế Trung, người đã bị tước binh quyền về nhà ẩn cư, phẫn nộ đến gặp Tần Cối chất vấn, Tần Cối trả lời: “Tuy không rõ, nhưng sự thể không cần có”.

Ý chính là nói, trong chuyện này, Nhạc Phi có tội hay không có tội đều không quan trọng, đây là ý của vị ở trên (Tống Cao Tông Triệu Cấu). Hàn Thế Trung nối giận nói: “Ba chữ ‘không cần có’ làm sao khiến cho thiên hạ chịu phục được”.

Để có thể dẹp yên dư luận, triều đình đem chuyện Nhạc Phi bị bắt vào ngục, công khai cho dân chúng. Không chỉ muốn hại chết Nhạc Phi, chúng còn muốn làm xấu thanh danh của ông, quy kết ông là phản thần nghịch đảng, gán cho ông là phần tử xấu.

Nhưng mọi người vốn đều không tin, hơn nữa còn kịch liệt phản đối. Quan Đại lý tự thừa Lý Nhược Phát và Hà Ngạn Dụ phụ trách thẩm án, không chịu phối hợp với ý của Tống Cao Tông Triệu Cấu, dẫn đầu giải tội cho Nhạc Phi. Họ đều cho rằng Nhạc Phi vô tội.

Triệu Cấu tức giận đập bàn, cho rằng hai người (Lý Nhược Phát và Hà Ngạn Du) chỉ một vụ án cũng không xử được, hai người cũng không cần làm quan nữa, liền miễn chức quan của hai người họ. Sau đó, Tống Cao Tông Triệu Cấu hy vọng Ngự sử Trung thừa Hà Chu sẽ buộc tội được Nhạc Phi.

Hà Chu vốn là người của Triệu Cấu, mang theo nhiệm vụ đến kết tội Nhạc Phi. Kết quả là trong khi thẩm vấn, Nhạc Phi cởi áo, để lộ ra bốn chữ xăm trên lưng “Trung quân ái quốc”, Hà Chú bắt đầu thay đổi lập trường, từ chối phán án: “Không được, nếu kết tội người này tôi sợ sẽ mang tội, ai muốn chịu thì tự chịu lấy”.

Mẹ của Nhạc Phi xăm chữ: Trung quân ái quốc (Nguồn hình: Đoàn Nghệ thuật Shen Yun)

Triệu Cấu lại nổi giận đập bàn. Sau đó Hà Chú bị miễn chức, giáng chức đến Huy Châu. Khu Mật Viện biên tu (quan sử) Hồ Thuyên, chỉ là một chức quan nhỏ bát phẩm. Sau khi Nhạc Phi bị bỏ ngục, ông không ngừng dâng sớ, kêu oan cho Nhạc Phi, còn xin xử trảm Tần Cối. Kết quả Hồ Thuyên bị giáng chức đến Hải Nam.

Còn có Tề An Quận Vương Triệu Sĩ Niễu, ông vốn là hoàng thân quốc thích. Triệu Sĩ Niễu đến trước mặt Tống Cao Tông Triệu Cấu để tranh luận phải trái, nói hết mọi chuyện, còn lấy tính mạng của bản thân và gia đình để bảo đảm cho Nhạc Phi, nói rằng: “Nếu Nhạc Phi có vấn đề gì, bệ hạ chém đầu cả trăm mạng trong nhà thần cũng được”.

Rất nhanh sau đó Triệu Sĩ Niễu cũng bị miễn chức, đày đến Kiến Châu.

Người dân chất vấn

Trong triều đình đấu lý chưa có hồi kết, từ trong nhân gian cũng truyền đến tiếng kêu oan cho Nhạc Phi. Lưu Duẫn Sanh là một trong số đó. Lưu Duẫn Sanh vốn là một người dân bình thường. Ông muốn nói với triều đình, để triều đình biết Nhạc Phi là trung thần.

Trong triều đình có rất nhiều người vì chuyện này mà bị giáng làm thứ dân hoặc lưu đày tha hương, một người dân nhỏ bé, lại dám chủ động dâng tấu, đúng là không biết trời cao đất dày.

Trung Hưng Tứ Tướng: từ trái sang: Nhạc Phi (thứ 2); Trương Tuấn (thứ 4); Hàn Thế Trung (thứ 5); Lưu Quang Thế (thứ 7). Tranh của Lưu Tùng Niên đời Nam Tống. (Miền công cộng)

Lưu Duẫn Sanh thuộc tầng lớp dân thường áo vải, vừa đệ trình đơn kiện không lâu, đã bị mang đi xử tử. Sử quan có chép lại tên của ông, trong chính sử còn lưu lại một câu: “Dân thường áo vải Lưu Duẫn Sanh dâng sớ kiện án oan cho Nhạc Phi, vì vậy mà bị xử tử.”

Lính canh ngục lương thiện

Thế nhưng, không phải ai cũng bị dọa sợ. Ngay sau lúc Nhạc phi bị hại, một người lính canh ngục tên là Ngỗi Thuận đã nhặt di thể của ông. Ngỗi Thuận chỉ là một lính canh ngục nhỏ bé, ở vị trí thấp nhất trong hệ thống quan lại.

Ngỗi Thuận đã chứng kiến toàn bộ quá trình Nhạc Phi bị bắt giam, tra tấn rồi xử tử. So với những người khác, Ngỗi Thuận càng thấu hiểu sâu sắc nỗi oan khuất của Nhạc Phi.

Ông cũng biết rằng nếu liên quan đến Nhạc Phi sẽ nguy hiểm biết bao. Một ngày nọ, thừa dịp đêm tối, Ngỗi Thuận tìm được di thể của Nhạc Phi, liền cõng trên lưng, đi vòng qua qua lính canh rồi trốn ra được khỏi thành.

Ông mang di thể của Nhạc Phi chôn ở bên đền Cửu Khúc Tùng. Để sau này có thể nhận ra, Ngỗi Thuận lấy chiếc vòng ngọc sinh thời Nhạc Phi đeo buộc vào dưới lưng ông, còn trồng trước mộ hai cây quýt.

Ngỗi Thuận trước khi chết đã nói việc này với con trai và căn dặn con: “Nhạc đại nhân cả đời anh hùng, cuối cùng lại chịu kết cục này, con nếu chết thì cũng phải truyền lại bí mật này cho các đời sau. Trời xanh có mắt, Nhạc tướng quân nhất định có ngày được minh oan”.

Hai mươi năm sau, tức năm Thiệu Hưng thứ 32 (năm 1162), Tống Hiếu Tông Triệu Thận lên ngôi, chuẩn bị thảo phạt quân Kim ở phương Bắc. Thuận theo lòng dân, Tống Hiếu Tông Triệu Thận giáng chỉ giải oan, rửa tội cho Nhạc Phi, ban thụy là Võ Mục, treo thưởng 500 quan bạc trắng tìm di cốt Nhạc Phi.

Con trai của Ngỗi Thuật đem chân tướng cha mình đã bí mật chôn Nhạc Phi bẩm báo cho quan phủ, lúc này di thể của Nhạc Phi mới lại được thấy ánh sáng mặt trời. Di cốt của Nhạc Phi được cải táng ở núi Thê Hà, hồ Tây Tử Hàng Châu, gọi là “Tống Nhạc Ngạc Vương mộ“. Nhạc Phi còn được lập miếu thờ ở Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc, truy thụy hiệu là “Trung Liệt”.

Tống Hiếu Tông còn sửa lại “Tống sử” để người đời sau hiểu rõ, hậu thế sẽ đến trước mộ để tưởng nhớ ông. Nếu không có Ngỗi Thuận, phần mộ của Nhạc Phi ngày nay, có lẽ chỉ có quần áo và di vật của vị anh hùng dân tộc Nhạc Phi mà thôi.

Ngày nay ở quê hương Nhạc Phi, trong miếu Nhạc Phi huyện Thang Âm tỉnh Hà Nam, bên trái tượng Nhạc Phi ngồi là bức tượng toàn thân Ngỗi Thuận, đó là dân gian góp tiền xây dựng. Nhạc Phi trong lòng người dân Trung Quốc là một vị Võ Thánh, mà Ngỗi Thuận liều chết nghĩa khí chôn Nhạc Phi là mẫu mực của kẻ sỹ nhân nghĩa.

Cặp đôi quân thần gian tà

Năm đó, Triệu Cấu và Tần Cối, một đôi gian đế gian tướng này, vì mạng sống và hưởng lạc của mình, yên ổn một xó, không để ý gì đến cuộc sống của nhân dân, chủ động cầu hòa với nước Kim, xưng thần, nộp cống, để lấy lòng Hoàn Nhan Ngột Truật, đã sát hại Nhạc Phi tàn khốc.

Tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 25 (năm 1155), Tần Cối mọc một cái mụn độc khó hiểu trên cột sống, mấy ngày sau, đau đớn mà chết ở tuổi 65. Trước khi Tần Cối chết, Triệu Cấu đã cự tuyệt ý đồ đưa con nuôi Tần Cối là Tần Hy lên làm tể tướng, từ đó, bè đảng Tần Cối thất sủng, bị triều đình ghẻ lạnh, đẩy nhanh cái chết của Tần Cối.

Tần Cối. (Miền công cộng)

Năm Thành Hóa thứ 11 đời Minh (năm 1485), mộ Tần Cối bị kẻ trộm hủy hoại hoàn toàn, những kẻ trộm mộ lấy được hàng vạn các đồ vàng bạc. Kẻ trộm mộ sau khi bị quan phủ bắt được, quan địa phương có ý giảm nhẹ hình, gọi là “giảm hình phạt, để rõ cái ác của Tần Cối”, thực ra là quan phủ xúi giục kẻ trộm mộ. Con cháu đời sau Tần Cối phần lớn đổi sang họ Từ.

Sau khi Tần Cối chết, thân thể thật sự bị đọa địa ngục chịu tội, sau mấy trăm năm rồi, vào thời Dân Quốc, có người bị xuống địa ngục được hoàn dương trở về nói, Tần Cối vẫn ở dưới địa ngục chịu khổ.

Ngày 17 tháng 3 năm 1279, triều đình lưu vong Triệu Tống dưới sự truy đuổi đánh đến cùng của quân Nguyên Mông, trải qua trận Nhai Sơn hải chiến, quân Nguyên lấy ít thắng nhiều đánh bại quân Tống. Tả thừa tướng thời Tống Mạt Lục Tú Phu cõng tiểu hoàng đế Triệu Bỉnh vừa tròn 8 tuổi, dẫn hơn 800 người hoàng tộc họ Triệu nhảy xuống biển tự tử.

10 vạn quân dân nhà Nam Tống sau khi chiến bại cũng theo đó mà nhảy xuống biển tuẫn quốc, nhà Nam Tống do Triệu Cấu khai sáng yên ổn một chút thì từ đây đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Đại quân Nguyên Mông vừa mới đánh tan Lâm An xong, mấy tháng sau, Dương Liễn Chân Ca, tăng nhân Tây Vực, Tổng quản Phật giáo Giang Nam lúc đó đã chỉ thị cho nhóm người Tông Duẫn, với danh nghĩa báo thù, đào trộm phá hủy lăng mộ của nhóm người Triệu Cấu. Tất cả đào 101 ngôi lăng mộ họ Triệu, đem hài cốt dòng tộc họ Triệu vứt đầy núi rừng, trông thật thê thảm.

Dương Liễn Chân Ca còn đem thi hài họ Triệu trộn lẫn xương trâu ngựa, để vào trong tháp xây cao 13 trượng ở cố cung Lâm An, gọi là Trấn Bản, ý nghĩa là trấn trụ triều đình Nam Tống, ngăn chặn nó sống lại. Ngày nay lăng mộ nhà Nam Tống đã không còn tồn tại.

An Nhiên
Theo: NTDVN

Monday, October 12, 2026

HẠM ĐỘI KHỔNG LỒ CỦA TRỊNH HÒA ĐÃ ĐI ĐÂU SAU CHUYẾN HẢI TRÌNH CUỐI CÙNG?

Hơn 600 năm trước, những đoàn thuyền khổng lồ của Trung Quốc từng vượt Ấn Độ Dương, nhưng rồi biến mất trong một bước ngoặt lịch sử.


Từ năm 1405 đến 1433, đô đốc Trịnh Hòa dẫn đầu bảy chuyến hải trình lớn dưới triều Minh, đưa các hạm đội Trung Quốc đến Đông Nam Á, Ấn Độ, bán đảo Arab và bờ biển Đông Phi. Những đoàn thuyền này mang theo sứ thần, binh lính, thương nhân và hàng hóa, thể hiện sức mạnh hàng hải của đế chế Minh. Thế nhưng, sau chuyến đi cuối cùng, một câu hỏi vẫn khiến hậu thế tò mò: Điều gì đã xảy ra với hạm đội từng làm chủ những tuyến đường biển rộng lớn ấy?

Hạm đội của Trịnh Hòa không chỉ gồm những “thuyền bảo vật” nổi tiếng mà còn có nhiều loại tàu phục vụ các nhiệm vụ khác nhau, từ vận chuyển lương thực, chở ngựa đến hộ tống và tác chiến. Quy mô chính xác của các con tàu lớn vẫn là chủ đề tranh luận. Một số sử liệu ghi kích thước rất đồ sộ, nhưng các nghiên cứu hiện đại lưu ý rằng việc quy đổi đơn vị đo cổ và thiếu bằng chứng khảo cổ trực tiếp khiến những con số ấy cần được xem xét thận trọng.

Bước ngoặt xuất hiện sau khi hoàng đế Vĩnh Lạc qua đời năm 1424. Người kế vị là Hồng Hy chủ trương chấm dứt các chuyến đi tốn kém, dù chương trình được khôi phục dưới thời Tuyên Đức và dẫn đến chuyến hải trình thứ bảy, khởi hành năm 1431. Trịnh Hòa qua đời trong hoặc gần cuối chuyến đi cuối cùng, khoảng năm 1433. Sau đó, triều đình không còn duy trì những cuộc viễn chinh hàng hải quy mô tương tự.

Ảnh: welt

Dưới thời các hoàng đế tiếp theo, chính sách hàng hải thay đổi đáng kể. Năm 1435, triều đình bãi bỏ một số chức vụ quản lý tàu viễn dương, giải tán lực lượng liên quan và ra lệnh tháo dỡ hoặc cải biến nhiều tàu đi biển thành loại thuyền nhỏ hơn. Hoạt động vận chuyển lương thực bằng đường biển cũng dần nhường chỗ cho hệ thống kênh đào. Những con tàu từng vượt đại dương vì thế không còn được ưu tiên bảo dưỡng và sử dụng như trước.

Số phận cụ thể của từng con tàu vẫn chưa được xác định đầy đủ. Nhiều tàu có thể đã bị tháo dỡ, cải tạo hoặc xuống cấp theo thời gian. Không có bằng chứng chắc chắn cho giả thuyết phổ biến rằng toàn bộ hạm đội bị đốt cháy trong một chiến dịch duy nhất. Những câu chuyện về việc triều đình cố tình tiêu hủy mọi con tàu và hồ sơ hàng hải thường đơn giản hóa một quá trình suy giảm kéo dài, chịu tác động của chính sách, ngân sách và sự thay đổi ưu tiên chiến lược.

Ảnh: sinocultural

Sự kết thúc của các chuyến đi không có nghĩa hoạt động hàng hải Trung Quốc lập tức biến mất. Thương mại tư nhân vẫn tiếp tục, bất chấp những quy định hạn chế ở một số giai đoạn. Tuy nhiên, triều Minh không còn tổ chức những hạm đội viễn dương khổng lồ với mục tiêu ngoại giao và phô trương quyền lực như thời Trịnh Hòa.

Ngày nay, những chuyến đi của Trịnh Hòa vẫn là biểu tượng nổi bật của lịch sử hàng hải thế giới. Câu chuyện về hạm đội của ông cũng cho thấy một sự thật đáng suy ngẫm: sức mạnh kỹ thuật và hàng hải không tự bảo đảm sự tồn tại lâu dài của một chương trình lớn. Khi ưu tiên chính trị thay đổi, ngay cả những con tàu từng vượt đại dương cũng có thể dần biến mất khỏi lịch sử.

Thanh Bình (t/h) / Theo: kienthuc.net



THỜI XƯA VỢ CHỒNG XƯNG HÔ VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Theo quan niệm của người xưa, “Đạo của bậc quân tử”, cũng như “đức hạnh” của người phụ nữ là những chuẩn tắc mà xã hội yêu cầu để tránh cho đạo đức con người không quá nhanh chóng xuống dốc.

(Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, trong cuộc sống xã hội hiện đại ngày nay, các quan niệm đó đã có sự thay đổi ít nhiều. Vậy sự thay đổi đó đã và đang diễn ra như thế nào?

Chúng ta hãy cùng xem một trong những điểm khá nổi bậc, đó là sự thay đổi trong cách xưng hô vợ chồng theo thời gian.


Phụ nữ Trung Quốc cổ đại gọi chồng như thế nào?

Chúng ta biết rằng chữ Hán dựa trên một nền văn hóa vô cùng lâu đời. Thời cổ đại, người phụ nữ thường gọi chồng hoặc người yêu là “Lương nhân” và “Lang quân”, nghe rất nho nhã.

Đến thời nhà Tống, có sự dung hòa giữa văn hóa Nam Bắc, phụ nữ sẽ gọi một nửa của mình là “Quan nhân”. Còn ở trong cung đình thì sẽ gọi là “Quan gia”, sau này lại gọi thành “Tướng công.”

Điểm đặc biệt là địa vị của người chồng càng ngày càng được nâng cao. Đến thời cận đại, lại xuất hiện cách gọi là “Tiên sinh” và “Người yêu”.

Đến thời hiện đại, cách gọi chồng phổ biến nhất ở Trung Quốc hiện nay chính là “Lão công.” Nhưng thực ra, ở thời cổ đại, “Lão công” là dùng để chỉ Thái giám.

Vì vậy, có rất nhiều cách gọi chồng, nếu các chị em không muốn gọi chồng là “Lão công” thì có thể cách gọi cho phù hợp.

Mà lỡ chuyển cách xưng hô “Lão công” thành “Lão công công…” thì mau thay cách gọi đi nhé!

Cách xưng hô vợ chồng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các cặp vợ chồng trẻ ngày nay thường xưng hô đơn giản là “anh, em”, dân dã hơn thì gọi nhau là “ông xã, bà xã”.

(Ảnh minh họa)

Lùi lại khoảng 30-40 năm trước, vợ chồng gọi nhau bằng “mình”. Mỗi lần xưng hô, gọi “mình ơi!…”, thể hiện tình cảm và sự gắn bó, tuy hai mà một. Ngày nay cách xưng hô “mình” vẫn tồn tại nhưng không phổ biến.

Thời Pháp thuộc, vợ chồng con nhà sang trọng, giàu có thường gọi nhau bằng “cậu mợ”, nhà thường dân thì gọi nhau là “anh chị”. Nếu có con rồi thì gọi nhau là “thầy em”, còn nhà thô tục thì gọi là “bố nó, mẹ nó”. Có vùng cả hai vợ chồng gọi nhau là “nhà ta, nhà tôi”.

Người xưa rất coi trọng tiếng gọi vợ chồng, tiếng gọi vừa thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, cũng là nhắc nhở cả hai về nghĩa vợ chồng.

Trong hôn nhân thời xưa, vợ chồng cư xử với nhau quan trọng nhất là hai chữ “hòa thuận”. Dù chuyện gì xảy ra cũng cần “đóng cửa bảo nhau”, tìm cách dung hòa, giải quyết, chứ tuyệt đối không được vội vàng từ bỏ hoặc làm điều gì trái với đạo đức, lương tâm.

Người chồng trọng nhất là giữ nghĩa với vợ, người vợ trọng nhất là giữ tiết với chồng.

Xét về phẩm chất của người vợ, người vợ thời xưa phải đảm bảo đủ “tam tòng, tứ đức”. )Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử – Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất thì theo con. Tứ đức là: Công, dung, ngôn, hạnh.)

Công: là sự khéo của người phụ nữ, từ nữ công gia chánh như nấu ăn, may thêu, buôn bán, giỏi nữa thì biết tứ nghệ: cầm kỳ thi hoạ.

Dung: Chỉ “dung nhan”, đề cập đến vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ. Đó là vẻ kín đáo, thùy mị, nết na, đảm đang,… như ca dao ca ngợi:

“Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con”.

Ngôn: Là những lời nói nhã nhặn, kín đáo, dễ nghe, nhỏ nhẹ, khoan thai, dịu dàng,… kèm theo đó là những cử chỉ phù hợp, cư xử đúng phép tắc, nói đúng chỗ, đúng lúc; thể hiện sự đoan trang, thanh lịch của người phụ nữ.


Hạnh: Đây là đức tính cuối cùng trong “tứ đức” của người phụ nữ và được xem là quan trọng nhất. Hạnh dùng để chỉ đạo đức, lòng chung thủy son sắt, lòng nhân hậu, giữ trọn nề nếp gia phong,… Đức hạnh đó của người phụ nữ được thể hiện qua các mối quan hệ với cha mẹ, con cái, vợ – chồng…Biết trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh, không cay nghiệt với ai.

Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ trong quan niệm thời xưa là phải ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quý trọng vợ, nhất là có tài trí, trở thành điểm tựa khiến cho vợ có được bảo vệ, nương nhờ.

Người xưa có câu “Phu phụ tương kính như tân”, nghĩa là vợ chồng quý nhau như khách, ngoài ra cũng có câu “phu phụ hòa nhi hậu gia đạo thành”, nghĩa là vợ chồng có hòa thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương cho đạo vợ chồng.

Thiện Thành / Theo: Tinh Hoa