Wednesday, April 15, 2026

TOP 10 ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH Ở ĐÀI LOAN "HOT RẦN RẦN"

Đài Loan là điểm đến du lịch hấp dẫn với chi phí phải chăng và vô số trải nghiệm đa dạng. Từ những con phố cổ kính, chợ đêm sôi động đến các công trình kiến trúc hiện đại, hay khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, Đài Loan đều có thể đáp ứng mọi sở thích. Các địa danh nổi tiếng trải dài từ bắc chí nam, mang đến những vẻ đẹp riêng biệt, hứa hẹn một hành trình khám phá đầy thú vị cho du khách.


Đài Loan – thiên đường du lịch "vừa túi tiền" nhưng lại có cả “núi” trải nghiệm xịn sò đang khiến du khách mê mệt. Nếu bạn đang tìm kiếm những điểm đến vừa đẹp, vừa vui, vừa ngập tràn góc sống ảo thì đừng bỏ lỡ danh sách 10 địa điểm hot rần rần dưới đây!

Khám phá những địa điểm du lịch ở Đài Loan siêu hot nhé!


1. Phố cổ Jiufen (Cửu Phần)

Làng cổ Jiufen như bước ra từ cổ tích với hẻm đá, đèn lồng đỏ và tiệm trà đạo hướng biển. Khi đêm xuống, nơi đây lung linh, huyền ảo. Ngoài cảnh đẹp, Jiufen còn là thiên đường ẩm thực với chè khoai, trà sữa và vô số món ngon đường phố – vừa ngon vừa tha hồ sống ảo!

Khung cảnh như mơ của Cửu Phần

2. Taipei 101

Từng là tòa nhà cao nhất thế giới, Taipei 101 là địa điểm du lịch ở Đài Loan nổi bật với kiến trúc lấy cảm hứng từ thân tre. Đài quan sát tầng 89 cho bạn ngắm trọn Đài Bắc, còn khu thương mại bên dưới là thiên đường mua sắm, ẩm thực và check-in sang chảnh.

View triệu đô của Taipei 101

3. Chợ đêm Miếu Khẩu Cơ Long (Keelung Miaokou Night Market)

Chợ đêm Miếu Khẩu Cơ Long là điểm đến không thể bỏ lỡ khi du lịch tự túc Đài Loan. Nơi đây nổi tiếng với hải sản tươi ngon, món ăn đường phố đặc sắc và không khí sôi động đậm chất địa phương.

Chợ đêm Miếu Khẩu Cơ Long

4. Alishan (A Lý Sơn)

Alishan là địa điểm du lịch ở Đài Loan nổi tiếng với cảnh núi rừng hùng vĩ và trải nghiệm săn mây huyền thoại. Ngoài ngắm bình minh, bạn còn có thể đi tàu cổ xuyên rừng và tận hưởng không khí trong lành, yên bình nơi đây.

Cảnh vật đẹp mê người của rừng A Lý Sơn

5. Nhật Nguyệt Đàm (Sun Moon Lake)

Nhắc đến những điểm du lịch Đài Loan, không thể bỏ qua Nhật Nguyệt Đàm – hồ nước tự nhiên lớn nhất với cảnh sắc nên thơ. Du khách có thể đạp xe, chèo thuyền, check-in sống ảo và ghé thăm đền Wenwu linh thiêng. Một trải nghiệm vừa yên bình vừa lãng mạn.

Cảnh vật nên thơ tại Nhật Nguyệt Đàm

6. Chùa Phật Quang Sơn (Fo Guang Shan)

Đến Đài Loan nên đi đâu? Đừng bỏ lỡ Chùa Phật Quang Sơn ở Cao Hùng – trung tâm Phật giáo lớn nhất Đài Loan với tượng Phật cao 108m và không gian thanh tịnh. Đây là điểm đến lý tưởng để tìm sự bình yên và khám phá văn hóa tâm linh.

Trầm trồ trước tượng Phật cao 108m

7. Ximending (Tây Môn Đình)

Ximending là địa điểm du lịch ở Đài Loan cực sôi động, đặc biệt vào buổi tối với ánh đèn rực rỡ và âm nhạc náo nhiệt. Từ thời trang, ẩm thực đến biểu diễn đường phố, khu phố đi bộ này là thiên đường cho những ai mê “đu trend” và khám phá văn hóa trẻ Đài Loan.

Bạn muốn mua gì, Ximending đều có!

8. Suối nước nóng Beitou (Xinbeitou Hot Springs)

Beitou là địa điểm du lịch ở Đài Loan nổi bật với suối khoáng nóng tự nhiên giữa lòng Đài Bắc. Dù tắm suối hay tận hưởng tại spa cao cấp, bạn đều được thư giãn tuyệt đối. Đừng quên ghé Bảo tàng Suối Nóng hoặc Công viên Nhiệt Năng để khám phá thêm về vùng đất đặc biệt này.

Bảo tàng Suối Nước Nóng Beitou

9. Bến Tàu Ngư Dân Đạm Thủy (Tamsui Fisherman's Wharf)

Cầu Tình Yêu duyên dáng giữa hoàng hôn rực rỡ là điểm nhấn tại Bến Tàu Ngư Dân Đạm Thủy – nơi lãng mạn bậc nhất Đài Loan. Khu vực xung quanh có nhiều quán hải sản, cà phê ven biển, thích hợp để dạo chơi, hẹn hò hoặc thư giãn.

Bến Tàu Ngư Dân Đạm Thủy và cầu Tình Nhân

10. Công viên địa chất đảo Hòa Bình (Heping Island Park)

Heping Island Park ở Cơ Long là địa điểm du lịch ở Đài Loan lý tưởng cho ai yêu thiên nhiên. Những khối đá kỳ lạ do sóng gió tạo nên qua hàng triệu năm cùng biển xanh, hồ thủy triều và không khí trong lành sẽ khiến bạn mê mẩn.

Khung cảnh độc đáo tại Công viên địa chất Heping Island

Theo: travellive+



THI SĨ CUNG TRẦM TƯỞNG VÀ NHỮNG "CHUYỆN TÌNH PARIS" TRONG THƠ CA - "LÊN XE TIỄN EM ĐI, CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ..."

Có lẽ là có rất nhiều người Việt yêu thơ ca ngày xưa đã hơn một lần mong mỏi được tận mắt nhìn thấy “Ga Lyon đèn vàng”, hay là được đắm mình trong một mùa thu Paris ở xa xôi, mơ ước được sánh đôi cùng tình nhân bước qua vườn Lục Xâm Bảo để nghe hương vị của ái ân tràn trề như trong âm nhạc của Phạm Duy, Phạm Trọng Cầu, và Ngô Thụy Miên.


Những người đi Tây học như nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Trọng, thi sĩ Nguyên Sa hay Cung Trầm Tưởng đã trở về và mang theo cả hồn phách của nước Pháp trữ tình lãng mạn qua thơ và nhạc từ thập niên 1950-1960, là những tác phẩm nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của giới thanh niên, trí thức Sài Gòn – những người vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng từ nền văn hóa Pháp cho dù người Pháp đã rời khỏi Việt Nam từ 1954 sau hàng trăm năm hiện diện.

Một trong những tác phẩm đó là bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế của Cung Trầm Tưởng, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài Tiễn Em, rất nổi tiếng qua giọng hát Lệ Thanh, Sĩ Phú, Anh Ngọc… trước 1975 và Tuấn Ngọc sau năm 1975:


Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa Đông Paris
Suốt đời làm chia ly.

Tiễn em về xứ Mẹ
Anh nói bằng tiếng hôn
Không còn gì lâu hơn
Một trăm ngày xa cách

Tuyết rơi mỏng manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.


Từ cuối thập niên 1950, thi đàn Sài Gòn xuất hiện một gương mặt mới trở về từ nước Pháp, với bút hiệu thật ấn tượng: Cung Trầm Tưởng. Ông tên thật là Cung Thức Cần, sinh quán ở Hà Nội và vào đến Sài Gòn năm 1949, rồi sang Pháp học trường Võ Bị Không Quân từ năm 1952. Tại đây, ông trải qua cuộc tình với một thiếu nữ Pháp, cho dù chỉ kéo dài được hơn 1 năm, nhưng những yêu thương quyến luyến đó đã trở thành cảm hứng cho nhà thơ sáng tác thành nhiều thi phẩm, 2 trong số đó được công chúng biết đến nhiều nhất khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành nhạc: Tiễn Em và Mùa Thu Paris.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng chia sẻ kỷ niệm về những bài thơ này:

“Tôi làm những bài thơ về Paris đó là có thật. Lẽ dĩ nhiên khi làm thơ thì mình cũng lý tưởng hóa nó một chút, tất cả về tóc vàng mắt xanh là có thật. Thời đó tôi học ở trường Pháp cứ bị mang tiếng là Tây con, đã sẵn có ngôn ngữ Pháp và văn hóa Pháp thấm nhuần trong người thành ra sang bên đó mình không bị lạ lẫm. Tôi gặp một số mối tình dù rằng không vĩnh viễn nhưng nó là những kỷ niệm đầu đời của mình”.

Hình ảnh Cung Trầm Tưởng khi đi học ở Paris, được “người em tóc vàng” chụp. Ảnh: Jimmy show

Tám câu đầu tiên của bài hát Tiễn Em được nhạc sĩ Phạm Duy giữ nguyên câu chữ của bài thơ nguyên thủy, không sửa một chữ nào, mô tả cuộc chia ly giữa 2 người dị chủng: Một sinh viên ở miền viễn Đông và một cô gái tóc vàng bản xứ. Họ tiễn nhau trên một sân ga nhỏ nằm trơ trọi giữa mùa đông nước Pháp lạnh lẽo, đó là “ga Lyon đèn vàng” giữa “tuyết rơi buồn mênh mang”. Ga Lyon này không phải là ở thành phố Lyon như nhiều người tưởng, mà có tên chính thức là Paris-Gare-de-Lyon, là một trong sáu ga xe lửa tuyến chính lớn ở Paris – thủ đô nước Pháp.

Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc…


Vì sao ánh đèn sân ga lại màu vàng? Điều này cũng được Cung Trầm Tưởng giải thích, đó là vào một buổi chiều mùa đông Paris lạnh giá, qua làn sương mù lạnh lẽo thì ánh đèn sân ga đã trở thành vàng vọt, gợi hình tượng lãng mạn nhưng cũng thật buồn, buồn như là tâm trạng của đôi tình nhân đang quyến luyến nhau không rời trước giờ phút phân ly.


Vì sao họ phải xa nhau, và “tiễn em về xứ mẹ” là xứ nào? Nhà thơ kể lại:

“Mùa Ðông ở Paris thời hậu thế chiēn, không khí thường bị ô nhiễm; và phổi nàng không được mạnh, và nàng lại bị suyễn nữa, vì thế bác sĩ khuyên là trong ba tháng mùa Ðông, nàng nên đi về miền Địa Trung Hải để hưởng không khí trong sạch. Ba tháng xa cách, thế nhưng thời đó tuổi trẻ lắm lúc đam mê và cũng hơi cường điệu, tôi có cảm tưởng xa nhau biền biệt, nên mới trải tâm sự thành bài thơ”.

Nàng con gái tóc vàng rời Paris tròn 3 tháng để về Marseille, là thành phố miền Nam nhìn ra Địa Trung Hải có nắng ấm, có biển muối mặn, tốt hơn cho sức khỏe của nàng. 3 tháng được được nhà thơ làm tròn thành “100 ngày xa cách”.

Hỡi em người xóm học
Sương thấm hè phố đêm
Trên con đường anh đi
Lệ em buồn vương vấn.

Tuyết rơi phủ con tầu
Trong toa em lạnh đầy
Làm sao em không rét
Cho ấm mộng đêm nay?


“Xóm học” trong đoạn này được tác giả giải thích là khu đại học ở Paris. Họ yêu nhau khi tuổi còn rất trẻ mà thi sĩ Cung Trầm Tưởng nói đó là thời bồng bột. Ông đã theo đuổi một cô gái tóc vàng, và nàng cũng nhiệt thành đáp lại tình cảm, họ thường hẹn nhau ở vườn Lục Xâm (Luxembourg) với công viên ghế đá mà nhà thơ đã nhắc tới trong bài Mùa Thu Paris:

Click để nghe Vũ Khanh hát "Mùa thu Paris"

Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu

Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì…

Công viên ghế đá ở trong vườn Lục Xâm

Hai người cùng là sinh viên, cùng trọ học nơi mà ông gọi là “gác trọ”. Rồi một hôm nàng sang gõ cửa, được ông ghi lại bằng hình ảnh thật nhẹ nhàng: Sang anh, gót nhỏ thầm thì…, thể hiện sự bối rối, thẹn thùng của người thiếu nữ.

Những bài thơ Paris của Cung Trầm Tưởng được ông đem theo về Sài Gòn sau khi tốt ngiệp ở Pháp năm 1957, rồi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc năm từ năm 1959, ban đầu là Tiễn Em (bài thơ Chưa Bao Giờ Buồn Thế), sau đó là Mùa Thu Paris, Kiếp Sau, Bên Ni Bên Nớ, Chiều Đông… Tất cả đã trở thành bất từ trong hơn 60 năm qua.

Đông Kha
Nguồn: nhacxua



HIỂU HÀNH ĐẠO BÀNG ĐỖ QUYÊN HOA - DƯƠNG VẠN LÝ


Hiểu hành đạo bàng 
đỗ quyên hoa

Khấp lộ đề hồng tác ma sinh?
Khai thì thiên trị đỗ quyên thanh.
Đỗ quyên khẩu huyết năng đa thiểu,
Bất thị chinh nhân lệ chích thành.


曉行道旁杜鵑花

泣露啼紅作麼生
開時偏值杜鵑聲
杜鵑口血能多少
不是征人淚滴成


Sáng khởi hành thấy 
hoa đỗ quyên bên đường
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Sương rơi, khóc lục than hồng. 
Cuốc kêu thảm thiết, nghe không hỡi người.? 
Chinh nhân cũng nhỏ lệ rơi. 
Đỗ quyên nào tiếc máu tươi cho cùng


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.

Nguồn: Thi Viện

HOÀNG HẬU TRẺ NHẤT CỦA IRAN LÀ AI? ĐÁM CƯỚI HÀO NHOÁNG Ở TUỔI 18 VÀ 7 NĂM SAU RỜI ĐI TRONG NƯỚC MẮT VÌ LÝ DO "CAY ĐẮNG"

Cái tên Soraya Esfandiary Bakhtiari không chỉ là hoàng hậu trẻ nhất của Iran mà còn được nhớ đến với biệt danh “công chúa có đôi mắt buồn”. Cuộc đời của bà gắn liền với quốc vương Mohammad Reza Pahlavi.

Soraya Esfandiary Bakhtiari (1932 - 2001)

Từ tiểu thư quý tộc đến hoàng hậu trẻ nhất Iran

Soraya Esfandiary Bakhtiari sinh ngày 22/6/1932 tại Isfahan (một thị trấn của Iran), trong một gia đình quý tộc danh giá. Cha bà, Khalil Esfandiary là một nhà ngoại giao có tiếng, trong khi mẹ bà, Eva Karl là một nữ thừa kế người Đức. Chính xuất thân đặc biệt này đã khiến tuổi thơ của Soraya trải dài giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, khi bà thường xuyên di chuyển giữa Iran và châu Âu, đặc biệt là tại Berlin.

Theo trang Factinate, ngay từ nhỏ Soraya đã được giáo dục trong môi trường ưu tú, theo học tại những trường nữ sinh danh giá nhất. Vẻ đẹp lai cùng phong thái quý phái khiến bà nhanh chóng nổi bật trong giới thượng lưu châu Âu.

Bước ngoặt lớn của cuộc đời Soraya đến từ một cuộc gặp gỡ tại London, khi bà quen biết Shams Pahlavi – chị gái của quốc vương Iran. Chính Shams là người nhận thấy Soraya phù hợp với em trai mình và đã mời bà đến Tehran để gặp mặt.

Soraya Esfandiary Bakhtiari sinh ra trong một gia đình quý tộc danh giá

Ở thời điểm đó, Mohammad Reza Pahlavi đang chịu áp lực lớn về việc duy trì dòng dõi hoàng gia. Cuộc hôn nhân trước của ông với Fawzia of Egypt đã đổ vỡ và chỉ để lại một người con gái, khiến vấn đề người kế vị trở nên cấp bách.

Theo CNN đưa, sau một bữa tối với Thái hậu Tadj ol-Molouk, cha của Soraya đã hỏi ý kiến con gái về việc kết hôn với nhà vua. Chỉ 24 giờ sau, hai người chính thức đính hôn – một tốc độ chóng mặt ngay cả với tiêu chuẩn hoàng gia.

Đám cưới cổ tích và áp lực kế vị ngai vàng

Sau một thời gian trì hoãn vì Soraya mắc bệnh thương hàn, hôn lễ hoàng gia cuối cùng được tổ chức vào ngày 12/2/1951 tại Cung điện Golestan. Đây được xem là một trong những đám cưới xa hoa bậc nhất thời bấy giờ.

Cô dâu Soraya xuất hiện trong chiếc váy cưới do Christian Dior thiết kế, sử dụng hàng chục mét vải ánh bạc, đính hàng nghìn viên kim cương, ngọc trai cùng hàng chục nghìn lông vũ. Tổng trọng lượng bộ trang phục lên tới khoảng 20kg – một con số cho thấy mức độ xa xỉ của hoàng gia Iran thời kỳ này.

Sau lễ cưới, Soraya chính thức trở thành hoàng hậu và cũng là một trong những hoàng hậu trẻ nhất trong lịch sử Iran khi mới 18 tuổi. Những năm đầu hôn nhân của bà và quốc vương được mô tả như một câu chuyện cổ tích, với những chuyến công du, những buổi dạ tiệc xa hoa và hình ảnh một cặp đôi quyền lực được công chúng ngưỡng mộ. Tuy nhiên, phía sau ánh hào quang ấy là áp lực vô hình nhưng nặng nề: nghĩa vụ sinh người thừa kế ngai vàng.


Theo các nguồn tin, đến năm 1954, các bác sĩ thông báo rằng Soraya có thể gặp khó khăn trong việc mang thai. Điều này đồng nghĩa với việc triều đại Pahlavi đứng trước nguy cơ không có người nối dõi trực tiếp.

Bi kịch càng chồng chất khi hoàng tử Ali Reza Pahlavi – người được xem là phương án kế vị dự phòng qua đời trong một vụ tai nạn máy bay. Sự kiện này đẩy hoàng gia Iran vào tình thế khủng hoảng, khi vấn đề kế vị trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Áp lực từ chính trị, hoàng tộc và truyền thống đã khiến cuộc hôn nhân giữa nhà vua và hoàng hậu dần rạn nứt. Dù vẫn còn tình cảm, cả hai buộc phải đối diện với một quyết định đau đớn.

Ly hôn, lưu vong và cuộc đời của “công chúa có đôi mắt buồn”

Ngày 14/3/1958, cuộc hôn nhân giữa Soraya Esfandiary Bakhtiari và Mohammad Reza Pahlavi chính thức chấm dứt sau 7 năm chung sống. Trong thông báo ly hôn, quốc vương đã không giấu được xúc động khi thừa nhận đây là một quyết định đầy đau đớn. Về phần mình, Soraya gọi đó là “sự hy sinh hạnh phúc của chính tôi”.

Sau ly hôn, bà không còn là hoàng hậu nhưng vẫn giữ tước hiệu công nương và được đảm bảo một cuộc sống sung túc. Bà chuyển tới sống tại châu Âu, thường xuyên qua lại giữa Rome, Munich và Paris và nhanh chóng trở thành mục tiêu của giới săn ảnh, họ gọi bà là “công chúa đôi mắt buồn”.

Dù sống trong nhung lụa, Soraya không bao giờ tìm lại được hạnh phúc trọn vẹn. Bà từng thử sức với điện ảnh, xuất hiện trong bộ phim I tre volti (1965) và một số dự án khác, nhưng không đạt được thành công đáng kể.

Hình ảnh Hoàng hậu Soraya khi đóng phim

Chuyện tình sau này của bà với đạo diễn Franco Indovina cũng kết thúc trong bi kịch khi ông qua đời trong một vụ tai nạn máy bay. Biến cố này càng khiến cuộc đời Soraya nhuốm màu u buồn. Những năm cuối đời, bà sống tại đại lộ Montaigne ở Paris, thường xuyên xuất hiện trong các buổi tiệc thượng lưu nhưng luôn giữ hình ảnh trầm lặng, kín đáo.

Theo CNN, bộ sưu tập trang sức của Soraya Esfandiary Bakhtiari vô cùng xa hoa, gồm kim cương, hồng ngọc, lam ngọc và lục bảo, đến từ các thương hiệu danh tiếng như Cartier, Bulgari, Harry Winston và Van Cleef & Arpels.

Đầu thập niên 1980, khi Cách mạng Hồi giáo Iran khiến nguồn thu nhập của bà suy giảm đáng kể, Soraya buộc phải bán bớt một phần trang sức. Đáng chú ý, chiếc vòng cổ kim cương do Harry Winston chế tác đã được đưa ra đấu giá tại Christie's ở Geneva vào ngày 17/11/1988.


Một chi tiết đặc biệt được các sử gia nhắc lại là vào cuối thập niên 1970, khi biết tin chồng cũ – quốc vương Mohammad Reza Pahlavi đang hấp hối vì bệnh ung thư, Soraya đã viết thư bày tỏ tình cảm và mong muốn gặp lại ông. Nhà vua cũng hồi đáp với mong muốn tương tự. Tuy nhiên, khi bà kịp đến Ai Cập nơi ông sống lưu vong thì ông đã qua đời. Sử gia Abbas Milani gọi họ là “những ngôi sao lỡ hẹn” – hai con người yêu nhau nhưng không thể ở bên nhau đến cuối đời.

Soraya qua đời ngày 25/10/2001 tại Paris, hưởng thọ 69 tuổi. Nguyên nhân cái chết không được công bố rộng rãi. Sau khi em trai bà là Bijan qua đời, toàn bộ tài sản của bà được chuyển giao cho chính phủ Đức và hiện được lưu giữ, trưng bày tại Munich.

Ngoài ra, cuốn hồi ký của bà mang tên Le Palais des Solitudes xuất bản năm 1991 tại Paris đã trở thành một trong những tác phẩm bán chạy tại Pháp thời điểm đó, phần nào cho thấy sức hút lâu dài của cuộc đời đầy biến động này.

Cuộc ly hôn giữa Soraya Esfandiary Bakhtiari và Mohammad Reza Pahlavi còn trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật.

Nhà văn người Bỉ Françoise Mallet-Joris đã viết một bài thơ về câu chuyện của bà, sau đó được chuyển thể thành ca khúc nhạc pop nổi tiếng Je veux pleurer comme Soraya (tạm dịch: “Tôi muốn khóc như Soraya”). Bài hát do Marie-Paule Belle thể hiện và phát hành năm 1995.


Năm 2003, một bộ phim truyền hình hợp tác giữa Ý và Đức mang tên Soraya (còn gọi là “Công chúa buồn”) được phát sóng, tái hiện cuộc đời đầy biến động của bà. Trong phim, Anna Valle vào vai Soraya, còn Erol Sander thủ vai Quốc vương. Nữ diễn viên Pháp Mathilda May cũng tham gia với vai Shams Pahlavi.

Ngoài ra, câu chuyện về Soraya còn được tái hiện trong tiểu thuyết lịch sử Raya của Mahsa Rahmani Noble, xuất bản ngày 31/7/2018, dựa trên cuộc đời nhiều thăng trầm của vị công chúa này.

Nguồn tham khảo: Factinate, CNN, Tatler, Helino
Gia Huy / Theo: Dân Việt
Link tham khảo:



CÓ MỘT KIỂU ĐAU KHỔ MANG TÊN: SUY NGHĨ QUÁ NHIỀU

Bạn có bao giờ tin rằng, sẽ có người khổ không phải vì nghèo khó, không phải vì biến cố lớn lao, mà chỉ vì… suy nghĩ quá nhiều không?


Nghe qua tưởng như vô lý. Nhưng thực tế, rất nhiều người đang sống như vậy, bên ngoài bình thường, bên trong lại luôn mệt mỏi. Không ai làm họ tổn thương rõ ràng, nhưng tâm trí của chính họ thì chưa từng được nghỉ ngơi.

Tâm lý học hiện đại gọi trạng thái này là overthinking — suy nghĩ quá mức.

Đó không phải là sự sâu sắc, cũng không phải cẩn trọng. Đó là khi suy nghĩ vượt quá giới hạn cần thiết, trở thành một vòng lặp không lối thoát.

Khi bộ não không chịu dừng lại

Người suy nghĩ quá nhiều thường có những biểu hiện rất quen thuộc.

Họ nhớ rất lâu những chuyện nhỏ người khác đã quên. Một câu nói vô tình trong cuộc trò chuyện có thể bị tua đi tua lại hàng chục lần trong đầu: “Mình nói vậy có kỳ không? Họ có hiểu sai ý mình không?”

Một tin nhắn trả lời chậm cũng đủ khiến họ tưởng tượng ra hàng loạt kịch bản: người kia đang giận, đang thất vọng, hay dần xa cách.

Ban ngày họ vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng đêm đến, khi mọi thứ yên tĩnh, tâm trí lại bắt đầu hoạt động mạnh nhất. Những chuyện của quá khứ, những lo lắng của tương lai, những điều chưa xảy ra tất cả cùng xuất hiện, khiến giấc ngủ trở nên xa xỉ.

Có người từng nói rằng họ cảm thấy mình như sống với hai thế giới: một thế giới bên ngoài rất yên ổn, và một thế giới bên trong thì chưa bao giờ ngừng ồn ào.

Điều đau lòng là họ không hề muốn nghĩ nhiều, mà là họ không biết cách dừng lại.


Vì sao có lúc ta không thể kiểm soát được suy nghĩ của mình?

Không phải ai sinh ra cũng là người suy nghĩ quá nhiều.

Có những người trước đây rất vô tư, sống nhẹ nhàng, nhưng theo thời gian lại dần trở nên lo lắng, nhạy cảm và dễ suy diễn. Điều đó cho thấy overthinking không chỉ đến từ tính cách, mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường sống và những gì ta tiếp xúc mỗi ngày.

Chúng ta tiếp xúc với con người, tin tức, mạng xã hội, sách vở, câu chuyện của người khác… và tưởng rằng mình chỉ đang tiếp nhận thông tin. Nhưng thực ra, mỗi điều ta tiếp xúc đều mang theo một dạng “năng lượng” vô hình.

Người xưa đã nói rất giản dị mà sâu sắc: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.”

Khi ta thường xuyên tiếp xúc với sự tiêu cực: những lời than vãn, tin tức đầy lo âu, sự so sánh, phán xét hay sợ hãi,… tâm trí cũng dần học cách nhìn thế giới theo hướng bất an hơn.

Điều đáng nói là không phải sự tiêu cực nào cũng dễ nhận ra. Có những thứ len vào rất nhẹ: một thói quen đọc tin xấu mỗi sáng, những cuộc trò chuyện đầy bi quan, hay việc liên tục so sánh bản thân với cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng.

Ban đầu ta không cảm thấy gì. Nhưng lâu dần, tâm trí trở nên cảnh giác quá mức, luôn chuẩn bị cho điều tệ nhất và đó chính là mảnh đất màu mỡ cho overthinking sinh sôi.

Chỉ khi bắt đầu quan sát lại đời sống của mình, từ những gì mình đang nghe, đang xem, ở cạnh ai, nghĩ về điều gì mỗi ngày, chúng ta mới nhận ra nguồn gốc của sự mệt mỏi ấy.


Không chỉ là tâm lý, mà còn là trạng thái năng lượng của thân tâm

Trong văn hóa phương Đông, con người không chỉ được nhìn như một cơ thể vật lý, mà còn là một tổng hòa của “tâm, khí và thần”.

Khi thân tâm ở trạng thái thấp, những mệt mỏi, lo âu, căng thẳng kéo dài suy nghĩ tiêu cực dễ xuất hiện hơn. Người xưa gọi đó là trạng thái “khí suy”, khi tinh thần không còn đủ ổn định để giữ tâm an.

Ngày nay, nhiều người dùng khái niệm hiện đại hơn: tần số năng lượng.

Khi tâm trạng thấp, suy nghĩ thường nặng nề, lặp lại và tiêu cực. Nhưng khi trạng thái bên trong được nâng cao, bạn sẽ thấy cơ thể khỏe hơn, tâm trí sáng hơn, cảm xúc ổn định hơn và những dòng suy nghĩ ấy tự nhiên giảm đi, giống như sương mù tan khi mặt trời lên.

Không phải vì chúng ta cố xua đuổi suy nghĩ, mà vì tâm trí lúc ấy không còn môi trường để nuôi dưỡng chúng nữa.


Vậy làm thế nào để “nâng tần số” của bản thân?

Người xưa không dùng những khái niệm phức tạp. Họ chỉ sống theo những nguyên tắc rất giản dị nhưng sâu sắc:
  1. Thanh lọc điều mình tiếp xúc: Giảm bớt tin tức tiêu cực, những cuộc trò chuyện khiến tâm trạng nặng nề. Chọn đọc, nghe và ở gần những điều khiến lòng mình sáng lên thay vì kiệt sức.

  2. Điều hòa thân trước khi điều tâm: Ngủ đủ, vận động nhẹ, hít thở sâu, đi bộ ngoài trời. Khi cơ thể ổn định, suy nghĩ cũng tự nhiên chậm lại.

  3. Làm chậm nhịp sống: Uống trà chậm, ăn chậm, làm một việc tại một thời điểm. Khi thân quay về hiện tại, tâm cũng dần ngừng chạy loạn

  4. Nuôi dưỡng nội tâm bằng điều thiện lành: Đọc sách tích cực, biết ơn những điều nhỏ, giúp đỡ người khác. Những hành động nhỏ này âm thầm thay đổi trạng thái tinh thần lâu dài.

Sau cùng, điều cần học không phải là kiểm soát suy nghĩ

Suy nghĩ không phải kẻ thù, chúng chỉ là phản chiếu của trạng thái bên trong ta. Càng cố kiểm soát, tâm trí càng phản kháng. Nhưng khi ta thay đổi môi trường sống, thay đổi điều mình tiếp xúc, chăm sóc thân tâm đủ đầy, suy nghĩ tự nhiên biết dừng đúng chỗ.

Có người cả đời cố tìm cách khiến đầu óc im lặng; nhưng người xưa hiểu rằng, khi lòng đủ an, sự yên tĩnh sẽ tự đến.

Bình yên không phải là không còn suy nghĩ, mà là khi suy nghĩ không còn dẫn dắt cuộc đời ta nữa.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Tuesday, April 14, 2026

TẠI SAO CHIẾN DỊCH "MÓNG VUỐT ĐẠI BÀNG" CỦA ĐẶC NHIỆM MỸ CÁCH ĐÂY 47 NĂM THẤT BẠI?

47 năm trước, chiến dịch giải cứu 52 con tin Mỹ tại Iran – được kỳ vọng là đòn đột kích táo bạo của lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ bậc nhất. Thế nhưng, giữa sa mạc khắc nghiệt và những sai lầm chí mạng, chiến dịch đã kết thúc trong thảm họa, trở thành một trong những thất bại cay đắng nhất trong lịch sử giải cứu con tin của nước Mỹ.


Tại sao chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” của đặc nhiệm Mỹ cách đây 47 năm thất bại?

Chỉ 5 phút sau khi ông Ronald Reagan làm lễ nhậm chức Tổng thống thứ 40 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (20/1/1981), 52 con tin Mỹ lập tức được phóng thích, kết thúc 444 ngày bị giam giữ tại Iran (từ 4/11/1979 - 20/1/1981), chấm dứt cuộc khủng hoảng con tin hy hữu trong lịch sử quan hệ quốc tế.

Còn ông Jimmy Carter - Tổng thống thứ 39 (từ 9/3/1977 - 20/1/1981), được người kế vị yêu cầu lập tức bay sang Đức đón các con tin về nước. 47 năm đã trôi qua (1981-2026), nhưng vụ phóng thích 52 con tin Mỹ tại Iran lại được dư luận và giới chuyên môn đề cập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Những quyết định bất ngờ

Một trong những nguyên nhân chính khiến vụ phóng thích 52 con tin Mỹ tại Iran lại được nhắc tới bởi họ vừa được Chính phủ Mỹ quyết định bồi thường mỗi người 4,4 triệu USD. Theo giới truyền thông, một trong những điểm chú ý nhất của dự luật chi tiêu được thông qua vào ngày 18/12/2015 chính là các nạn nhân người Mỹ trong vụ bắt cóc con tin tại Iran năm 1979 được bồi thường mỗi người 4,4 triệu USD sau 36 năm kiện, đòi quyền lợi.

Quốc vương Iran Mohammad Reza Pahlavi hội kiến với Tổng thống Mỹ Jimmy Carternăm 1977.

Dự luật chi tiêu mới cho phép thanh toán 10.000 USD/ngày đối với những người bị giam giữ. Theo đó, 37 con tin còn sống và thân nhân của 16 con tin đã chết trong vụ bị bắt cóc ngày 4/11/1979 ở Iran, sẽ được bồi thường 4,4 triệu USD/người.

Theo lời con tin Rodney Sickmann, họ bị tra tấn trong thời gian bị giam giữ, nhưng khiếu kiện của 52 con tin lên Tòa án tối cao và Quốc hội Mỹ không được chấp nhận. Tờ The New York Times cho biết, Mỹ có thể lấy tiền từ khoản phạt trị giá 9 tỉ USD dành cho Ngân hàng Paribas (Pháp) do vi phạm lệnh trừng phạt đối với Iran, Sudan và Cuba, để bồi thường cho các nạn nhân và người thân bị bắt cóc làm con tin ở Iran.

Tuy nhiên, để có thể ký thỏa thuận kể trên, Mỹ và Iran đã phải trải qua khá nhiều thăng trầm. Sau khi bắt 66 công dân Mỹ làm con tin hôm 4/11/1979 tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, và để chứng tỏ thiện chí, ngày 17/11/1979, lãnh tụ Iran Ayatollah Ruhollah Khomeini đã ra lệnh phóng thích con tin nữ và người Mỹ gốc Phi, chỉ để lại 52 con tin.

Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” không giải cứu được con tin nào mà còn khiến Mỹ tổn thất 1 máy bay vận tải C-130 và 8 trực thăng RH-53.

Giới phân tích cho rằng, quyết định ngày 22/10/1979 của Tổng thống Jimmy Carter - cho phép Quốc vương Iran bị phế truất, ông Shah Mohammed Reza Pahlavi tị nạn chính trị và chữa bệnh tại Mỹ, là giọt nước tràn ly, khiến Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị tấn công hôm 4/11/1979.

Chính phủ mới ở Iran đã đưa ra một số điều kiện để phóng thích con tin, trong đó có yêu cầu Washington phải dẫn độ nhà lãnh đạo Shah Mohammed Reza Pahlavi về nước để xét xử và hoàn trả số tài sản của cựu vương cho Tehran. Bởi sau cuộc đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Mohammed Mossadegh thành công (19/8/1953, cuộc khủng hoảng dầu hỏa mang tên Công ty dầu Anh-Iran được nối lại), Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã cho phép các công ty dầu hỏa của Anh, Mỹ và Hà Lan cùng khai thác với Iran. Quyết định của Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã tạo ra những phản đối của phe đối lập.

Năm 1962, Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi từng ra lệnh bắt ông Ayatollah Ruhollah Khomeini vì lập trường chống chính quyền thân phương Tây ở Tehran. Năm 1964, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini phải sống lưu vong tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Pháp.

Nên sau khi trở lại nắm quyền, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini không những tuyên bố lập nhà nước Cộng hòa Hồi giáo, mà còn từ chối ảnh hưởng của Mỹ tại Iran, cũng như khu vực này. Giới phân tích cho biết, cái chết của cựu vương Shah Mohammed Reza Pahlavi ở Ai Cập và bị Iraq xâm chiếm là một trong những nguyên nhân chính khiến Iran chấp nhận đàm phán với Mỹ để giải quyết việc phóng thích 52 con tin.

Và khi đó Algieri là nhà trung gian hòa giải để Mỹ-Iran ký thỏa thuận Algiers (Algiers Accords). Ngay sau khi 52 con tin được phóng thích, Mỹ đã giải ngân gần 8 tỷ USD tài sản bị đóng băng cho Iran. Tuy cử người tiền nhiệm Jimmy Carter sang Đức đón con tin, nhưng tân Tổng thống Ronald Reagan không những áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế, mà còn kiện Iran ra Tòa án Công lý quốc tế xung quanh cuộc khủng hoảng con tin-ngoại giao kể trên.

Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”

Theo giới truyền thông, việc Tổng thống Jimmy Carter chỉ giành được 41% phiếu bầu trong cuộc bầu cử tháng 11/1980 là do thất bại trong cuộc giải cứu con tin ở Iran. Sau khi tuyên bố cắt đứt quan hệ với Iran, Tổng thống Jimmy Carter đã ra lệnh cho Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown lên kế hoạch giải cứu 52 con tin.

Quan chức Iran thị sát xác máy bay bị Mỹ bỏ lại sa mạc gần Tehran sau chiến dịch. Ảnh: AP.

Và chiến dịch giải cứu con tin với tên gọi Eagle Claw (Móng vuốt đại bàng) đã ra đời. Khi đó, chiến dịch này được chia làm 2 giai đoạn. Theo đó, giai đoạn chuẩn bị có tên gọi Operation Rice Bowl. Và công tác chuẩn bị kéo dài mấy tháng, tới thượng tuần tháng 4-1980, lính đặc nhiệm Mỹ mới được điều tới châu Á.

Khi đó Washington đã quyết định điều 12 máy bay, trong đó có 4 chiếc MC-130E Combat Talon, 3 chiếc EC-130E Commando Solo, 3 chiếc AC-130 Spectre và 2 chiếc vận tải quân sự C-141 Starlifter. Lầu Năm Góc còn huy động 8 trực thăng RH-53D cùng 120 lính thuộc đơn vị đặc biệt tinh nhuệ Delta Force. Ngoài ra, 2 tàu sân bay chở tiêm kích và cường kích cũng được lệnh sẵn sàng hành động chi viện khi cần thiết. Giai đoạn hành động có tên gọi Operation Eagle Claw.

Giới truyền thông cho biết, đêm đầu tiên của chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”, 3 chiếc C-130 Combat Talon được lệnh chở 120 lính đặc nhiệm Delta Force tới Iran. Và nhiều hành động khác cũng diễn ra xung quanh khu vực ngoại ô thủ đô Tehran.

Theo kế hoạch, đến đêm thứ hai, các máy bay hạ cánh tại sân bay Manzariyeh, sau khi được 100 lính đặc nhiệm đánh chiếm và chốt giữ dưới sự yểm trợ của không quân. Trong lúc đó, lực lượng Delta Force đi trên các xe tải được chuẩn bị sẽ tiến đến Đại sứ quán Mỹ, đột kích đánh chiếm, cứu con tin và chở họ bằng trực thăng đến sân bay Manzariyeh. Số trực thăng sau khi kết thúc chiến dịch sẽ bị hủy.

Một trong số 52 con tin Mỹ bị trói và bịt mắt được đưa ra gặp gỡ báo chí 4 ngày sau khi bị bắt giữ.

Ngày 24/4/1980, Tổng thống Jimmy Carter phát lệnh thực thi chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” từ hàng không mẫu hạm USS Nimitz. Theo giới truyền thông, chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” bắt đầu từ tối 24/4/1980, nhưng mọi việc diễn ra không đúng như kế hoạch. Bởi khi đó 8 trực thăng bay ở độ cao thấp nhằm tránh radar phát hiện đã bị bão cát làm mất phương hướng. Do trục trặc kỹ thuật, nên chỉ có 6/8 trực thăng đến được điểm hẹn với các máy bay tiếp dầu, nhưng chậm hơn một tiếng đồng hồ theo kế hoạch.

Sau đó, người ta còn phát hiện trong số 6 trực thăng đến được điểm hẹn có 1 chiếc bị hỏng. Đúng lúc đó xuất hiện một xe buýt chở 43 người Iran và một xe chở dầu. Chiếc xe chở dầu bị lính đặc nhiệm bắn và tiếng nổ dữ dội đã khiến tính bí mật của chiến dịch bị mất. Mặc dù đã phát lệnh thu quân, quay về căn cứ, nhưng do hoảng loạn và thay đổi vị trí bất ngờ, nên một trực thăng đã va mạnh vào một chiếc EC-130E Commando Solo khiến cả 2 tổ lái đều thiệt mạng.

Vừa rơi vào tình trạng hoảng loạn, vừa phải khẩn trương đưa những người bị thương lên các máy bay còn lại, nên khi lính đặc nhiệm Mỹ rời khỏi Iran, họ đã bỏ lại hiện trường nhiều tài liệu, chứng cứ (5 trực thăng RH-53D còn nguyên vẹn bị bỏ lại) vạch trần số gián điệp Mỹ ở Tehran, cũng như kế hoạch giải cứu 52 con tin.

Điều quan trọng nhất là các chỉ huy không thống nhất được với nhau về kế hoạch tiếp theo. Mâu thuẫn giữa Trung tá Edward Seiffert, chỉ huy đội trực thăng với Đại tá Charlie Beckwith, chỉ huy đội Delta Force và Đại tá James Kyle, chỉ huy đội máy bay vận tải đã khiến cho mọi việc càng trở nên rối bời.

Theo tiết lộ của tờ Global Security, sau khi được Tổng thống Jimmy Carter giao nhiệm vụ, Lầu Năm Góc đã lên kế hoạch giải cứu con tin. Ngoài lực lượng đột kích chính là 120 thành viên của Delta Force, còn có sự hỗ trợ của đội đặc nhiệm Ranger và người của CIA. Và theo kế hoạch, chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” sẽ diễn ra trong 2 đêm 24 và 25/4/1980.

Theo đó, sau khi máy bay xâm nhập không phận Iran, các lực lượng liên quan lập tức thiết lập một trạm trung chuyển mang mật danh Sa mạc 1. Sau đó, 8 trực thăng RH-53D chở 120 thành viên của Delta Force cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz sẽ tiếp nhiên liệu tại Sa mạc 1 để bay đến điểm trung chuyển thứ 2 mang mật danh Sa mạc 2, cách thủ đô Tehran 83,6km. Và khi đó họ sẽ ngụy trang số máy bay, và chờ đến đêm 25/4/1980 tiếp tục hành động.

Trong khi đó, người của CIA bên trong Iran sẽ đưa xe tải đến Sa mạc 2 chở lực lượng đột kích tiến vào Đại sứ quán Mỹ ở Tehran. Trong khi 120 thành viên của Delta Force tấn công vào Đại sứ quán Mỹ, lính đặc nhiệm Ranger sẽ chiếm sân bay Manzariyeh, để dọn đường cho 2 chiếc vận tải quân sự C-141 Starlifter hạ cánh.

Máy bay trực thăng CH – 53 được sử dụng cho chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”.

Và mấy phút trước khi diễn ra cuộc tấn công, một nhóm biệt kích sẽ cắt điện của toàn bộ khu vực để khiến cho phản ứng của quân đội Iran bị gián đoạn. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”, phi đoàn CVW-8 của tàu sân bay USS Nimitz và CVW-14 thuộc USS Coral Sea làm nhiệm vụ yểm trợ trên không.

Sau thất bại của chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” - vừa không cứu được con tin, vừa mất máy bay, cùng 8 binh sỹ thiệt mạng và 12 người bị thương, Thiếu tướng James Vaught, chỉ huy sứ mệnh kể trên lập tức trở thành “dê tế thần”. Và sau một thời gian điều tra, Ủy ban điều tra của Quốc hội Mỹ kết luận: Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” đã thất bại ngay từ khi lập kế hoạch và chuẩn bị lực lượng.

Tuệ Sỹ-Trọng Hậu / Theo: CAND
Link tham khảo:




NAM LƯU DẠ LANG KÝ NỘI - LÝ BẠCH


Nam lưu Dạ Lang ký nội

Dạ Lang thiên ngoại oán ly cư,
Minh nguyệt lâu trung âm tín sơ.
Bắc nhạn xuân quy khan dục tận,
Nam lai bất đắc Dự Chương thư.

Năm 759, Lý Bạch bị biếm đi Dạ Lang (Quý Châu), gia đình vợ con ở tại Dự Chương (Nam Xương, Giang Tây), trên đường đi trông ngóng thư nhà nhưng không có. Chưa đến Dạ Lang, Lý Bạch nhận được chiếu miễn lưu, bỏ lệnh đi đày.


南流夜郎寄內

夜郎天外怨離居
明月樓中音信疏
北雁春歸看欲盡
南來不得豫章書


Gửi vợ khi đày xuống nam Dạ Lang
(Dịch thơ: phanlang)

Biếm xa ngàn dặm Dạ Lang
Lầu cao trăng sáng mong manh tin nhà.
Nhạn xuân lên bắc đã xa,
Xuống nam chẳng thấy thư quà Dự Chương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện