Wednesday, April 29, 2026

1954-1975: QUỐC TẾ ĐÃ CÔNG NHẬN HAI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất giữa những người Việt Nam khi nói đến cuộc chiến Việt Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1975 là về tính chính danh của hai nhà nước ở hai miền Nam – Bắc.


Hai điều khó có thể phủ nhận là: cả hai miền đều có sự ủng hộ riêng từ cộng đồng quốc tế; và kể từ 30/4/1975, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam rồi tiếp đến là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế hàng loạt quyền và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam Cộng hòa.

Hiệp định Geneva 1954 nhấn mạnh rằng việc tạm thời chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 không đồng nghĩa với việc thiết lập ranh giới lãnh thổ và chính trị giữa hai miền Nam – Bắc. Chính phủ ở cả hai miền đều thể hiện rất rõ ràng điều này tại các bản hiến pháp của họ trong giai đoạn 1954 – 1975.

Từ thời điểm bắt đầu đàm phán Hiệp định Geneva 1954 cho đến khi chiến tranh kết thúc, cả hai chính thể được thành lập trước đó tại mỗi miền đều cho rằng chỉ duy nhất một mình họ là đủ tính chính danh để quản lý cả đất nước, cũng như chỉ có họ là được quốc tế công nhận.

Thế nhưng định nghĩa “quốc tế” của mỗi miền lại không giống nhau. Khi ấy, chính cộng đồng quốc tế cũng chia rẽ thành hai khối, chứ không riêng gì đất nước Việt Nam.

Tháng 1/1950, cùng với Trung Quốc và Liên Xô, các quốc gia cộng sản Đông Âu đều công nhận tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đối với lãnh thổ Việt Nam.

Cũng vào đầu năm 1950, Liên hiệp Pháp công nhận quyền tự trị và nền độc lập của Quốc gia Việt Nam (QGVN), tiền thân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), dựa trên một số hiệp ước được ký kết trước đó giữa hai nước vào năm 1949.

Đến tháng 2/1950, Anh, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây đều công nhận QGVN là thể chế lãnh đạo của nước Việt Nam.

Sau khi VNCH được thành lập vào năm 1955 và thay thế quyền lãnh đạo miền Nam của QGVN, Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây tiếp tục công nhận tính chính danh của VNCH. Đến năm 1966, theo thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đã có 60 quốc gia trên thế giới công nhận chính thể VNCH của Nam Việt Nam.

Một số nước như Ấn Độ, Thụy Điển thì lại theo quy tắc không công nhận cả hai. Tuy nhiên, đến năm 1969, Thụy Điển trở thành nước phương Tây đầu tiên công nhận nhà nước VNDCCH của Bắc Việt Nam.

Việc công nhận thể chế nào tại Việt Nam mới thật sự đại diện cho cả đất nước vốn không hề ngã ngũ vào thời điểm Hiệp định Geneva 1954 được ký kết.

Ngược lại, cuộc giằng co này kéo dài đến hơn 20 năm sau.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, ngoài sự công nhận của các nước trên thế giới chia theo hai cực cộng sản và tư bản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai nhà nước Việt Nam còn được công nhận theo một số cách khác.

Cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hoà tại vĩ tuyến 17 trong thời kỳ chiến tranh. Ảnh: Life.

Gia nhập Liên Hiệp Quốc

Trước hết, VNCH đã từng xin tham gia vào Liên Hiệp Quốc (LHQ) vào đầu thập niên 1950. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, VNDCCH cũng nộp đơn làm thành viên. Tuy nhiên, cả hai đều gặp phải sự phản đối từ thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.

Chúng ta có lẽ không khó hiểu khi biết rằng Liên Xô đã từng phản đối VNCH tham gia vào LHQ, và ngược lại, Hoa Kỳ phản đối VNDCCH.

Vì những sự phản đối này mà hai chính phủ Bắc – Nam Việt Nam đã khá lận đận với việc đăng ký làm thành viên LHQ trong suốt 20 năm.

Ngày 30/4/1975, chế độ VNCH bị chính quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMN) thay thế, nhưng vẫn giữ vị thế một nhà nước độc lập đối với VNDCCH tại miền Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua hai lá đơn xin tham gia LHQ riêng biệt của VNDCCH – Bắc Việt và CHMN – Nam Việt vào năm 1975.

Đến ngày 8/8/1975, Hội đồng Bảo an đã đồng thuận chấp nhận và đề cử với Đại Hội đồng LHQ cho cả hai quốc gia VNDCCH – Bắc Việt lẫn CHMN – Nam Việt được tham gia vào LHQ.

Việc Hội đồng Bảo an đưa ra đề cử với cả hai đơn xin tham gia LHQ của hai nhà nước Việt Nam vào tháng 8/1975 càng làm rõ vấn đề là cả hai chính thể đều được đối xử như nhau và đều được LHQ công nhận.

Sau khi hai nhà nước VNDCCH và CHMN thống nhất và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam ra đời vào ngày 2/7/1976, Việt Nam mới trở thành một quốc gia với một chính phủ duy nhất. Sau đó, CHXHCN Việt Nam đã chính thức gia nhập LHQ vào tháng 9/1977.

Trên danh nghĩa, kể từ ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ do Việt Nam Cộng hoà quản lý trước đó. Ảnh: Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế

Việc VNCH và VNDCCH đều tham gia làm thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) càng giúp chúng ta kết luận Việt Nam đã từng có hai chính phủ và được đối đãi như hai quốc gia riêng biệt.

Trước hết, đây là các tổ chức quốc tế mà thành viên tham gia hầu hết phải là các quốc gia có chủ quyền (sovereign states). Chúng ta có thể dùng Đài Loan làm ví dụ để so sánh vì Đài Loan chưa bao giờ là thành viên của WHO.

Trong khi đó, từ 17/5/1950, VNCH đã là thành viên của WHO, và trở thành thành viên của WMO từ 1/4/1955.

Sau khi VNCH sụp đổ vào ngày 30/4/1975, VNDCCH mới xin gia nhập hai tổ chức này. VNDCCH được kết nạp làm thành viên của WMO vào ngày 7/8/1975, và là thành viên của WHO vào ngày 22/10/1975. Điều này có nghĩa là tư cách thành viên của VNCH tại WHO và WMO lúc đó không bị xóa bỏ cho dù chính thể VNCH không còn tồn tại nữa.

Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất và trở thành CHXHCN Việt Nam vào tháng 7/1976, chính phủ mới đã gửi thông báo đến hai tổ chức này trong năm 1977 để yêu cầu cho phép CHXHCN Việt Nam tiếp nhận tư cách thành viên của cả hai chính phủ Nam – Bắc Việt Nam trước đó.

Điều này đồng nghĩa rằng trong thời gian trước năm 1977, đã có hai quốc gia Việt Nam là thành viên của WHO và WMO, và đều được hai tổ chức quốc tế này công nhận.

Đến thời điểm hiện tại, ngày tham gia vào WHO của Việt Nam được ghi nhận là ngày 17/5/1950 – là ngày mà VNCH tham gia vào WHO như đã nói ở trên. Điều này có nghĩa là tư cách tham gia WHO với danh nghĩa một quốc gia của VNCH không hề bị ảnh hưởng từ việc thống nhất đất nước vào năm 1976.

Ngoài ra, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục thay thế tư cách thành viên của VNCH ở các tổ chức khác như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Đây là những tổ chức quốc tế mà trước năm 1975 chỉ có VNCH tham gia làm thành viên.

Kể từ năm 1977, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là chính thể duy nhất quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: mard.gov.vn.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục tư cách thành viên của VNCH đối với các định chế tài chính quốc tế

Trước tháng 4/1975, chỉ có VNCH là thành viên của các định chế tài chính quốc tế. Đó là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Sau khi được thành lập vào tháng 7/1976, CHXHCN Việt Nam đã trình thư xin thay thế (substitution) tư cách thành viên của VNCH tại các định chế tài chính nói trên, chứ không phải là đơn xin gia nhập làm thành viên mới.

Cụ thể là khi thay thế tư cách thành viên của VNCH với ADB, CHXHCN Việt Nam đã tiếp quản 3.000 cổ phần của chính phủ VNCH tại ngân hàng này.

Đồng thời, CHXHCN Việt Nam cũng tiếp tục được nhận tất cả các khoản vay mà VNCH đã được ADB chấp thuận cho vay trong những năm trước đó. CHXHCN Việt Nam cũng bảo đảm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho những khoản vay này.

Vì vậy, ngày gia nhập ADB của Việt Nam hiện nay là ngày 22/9/1966, là ngày mà Quốc hội của chính phủ VNCH tại miền Nam đã phê chuẩn việc tham gia ADB.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục công nhận một số hiệp ước mà VNCH đã ký kết

Tương tự việc tiếp tục tư cách thành viên của VNCH tại một số tổ chức và định chế tài chính quốc tế như đã nêu, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục công nhận ít nhất hai hiệp ước quốc tế mà VNCH đã ký kết trước ngày 30/4/1975.

Ngày 16/12/1976, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đệ trình đơn phê chuẩn Công ước Viễn thông Quốc tế 1973 (1973 International Telecommunication Convention) mà chính phủ VNCH đã ký kết vào ngày 25/10/1974 tại Hội nghị Málaga-Torremolinos nhưng chưa kịp phê chuẩn. Đơn đệ trình của CHXHCN Việt Nam nêu rõ là việc phê chuẩn được dựa trên những ký kết mà VNCH đã thực hiện trước đó.

Tương tự, VNCH được công nhận tư cách thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU) từ năm 1951. Vào tháng 7/1974, chính phủ VNCH đã ký kết các văn bản liên quan đến các Quy chế Chung (General Regulations) và Công ước Liên minh Bưu chính Lausanne (Universal Postal Convention) của UPU nhưng chưa kịp phê chuẩn. Ngày 27/10/1976, Quốc hội của CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn các văn bản này và đệ trình lên tổ chức UPU với yêu cầu được thừa kế (succession) tư cách của VNCH.

Ngoài ra, vào ngày 4/7/1976, chỉ hai ngày sau khi được thành lập, Bộ Ngoại giao của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã gửi công hàm đến chính phủ Thụy Sỹ và tuyên bố khẳng định tiếp tục tham gia vào các hiệp ước của Công ước Geneva 1949 (Geneva Conventions of 1949) mà hai chính phủ VNDCCH và VNCH đã ký kết trước đó về các vấn đề bảo vệ nạn nhân chiến tranh.

***

Qua những ví dụ kể trên, chúng ta nhận thấy rằng bằng nhiều hành động khác nhau, cả hai chính phủ VNCH và VNDCCH đã khẳng định tư cách quốc gia của mình trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.

Nhà nước Việt Nam hiện nay chưa bao giờ chính thức công nhận chính thể VNCH. Tuy nhiên, CHXHCN Việt Nam lại liên tục công nhận tư cách quốc gia của VNCH một cách gián tiếp, qua việc thừa kế hoặc tiếp nhận tư cách thành viên của VNCH tại các tổ chức và định chế tài chính quốc tế.

Ngày nay, có lẽ đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tư cách quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc Việt Nam là việc không còn phải tranh cãi.

Còn về chính thể Quốc gia Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam, chúng ta có thể đọc lại những gì mà Đại Hội đồng LHQ đã phát biểu khi đề cử QGVN tham gia LHQ trong phiên họp năm 1952. Từ đó, chúng ta có thể phần nào hiểu thêm được một quan điểm khác về sự tồn tại và tính chính danh của chính thể QGVN – VNCH:

“Quan điểm của Đại Hội đồng cho rằng (Quốc gia) Việt Nam là một nhà nước yêu chuộng hòa bình đúng như định nghĩa của Điều 4 Hiến chương, đã thể hiện nguyện ý cũng như có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của Hiến chương, và do đó nên được chấp thuận tham gia làm thành viên của Liên Hiệp Quốc.”

Tài liệu tham khảo:
Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com



Tuesday, April 28, 2026

ĐỆ NHẤT MỸ NHÂN NÀO TRONG KIẾM HIỆP KIM DUNG LÀM XOAY CHUYỂN LỊCH SỬ TRUNG QUỐC?

Không chỉ có nhan sắc làm mê hoặc lòng người, mỹ nhân này còn có tài cầm, kỳ, thi, họa khiến võ tướng nhà Minh hết mực sủng ái.


Trong thế giới kiếm hiệp Kim Dung, không chỉ xuất hiện hình ảnh của vô số anh hùng, hảo hán kiệt xuất mà có rất nhiều mỹ nữ tuyệt sắc giai nhân gây ấn tượng trong lòng khán giả. Trong số đó, không thể không kể đến Trần Viên Viên - một đại mỹ nhân có thật trong lịch sử Trung Hoa.

Hình tượng đệ nhất mỹ nhân trong kiếm hiệp Kim Dung trên màn ảnh

Nhà văn Kim Dung đã xây dựng hình ảnh của Trần Viên Viên trong bộ tiểu thuyết cuối đời "Lộc đỉnh ký". Theo đó, nhan sắc xinh đẹp của Trần Viên Viên khiến cho Tổng binh Ngô Tam Quế chấp nhận mang tiếng xấu đến ngàn năm. Kẻ tài tuấn như Bách thắng đao vương Hồ Dật Chi chỉ một lần nhìn thấy Viên Viên đã cam nhận từ bỏ mộng vùng vẫy giang hồ mà làm thân phận kẻ quét vườn để chỉ được ngày ngày ngắm nhìn dung nhan của mỹ nhân tuyệt tục.

Tạo hình Trần Viên Viên trong phim.

Trong tác phẩm "Lộc Đỉnh ký", Kim Dung đã mô tả đoạn nhân vật chính Vi Tiểu Bảo gặp Trần Viên Viên tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô thành Côn Minh. Dù quen biết với không ít những người đẹp, trong đó có cả A Kha, con gái của Trần Viên Viên nhưng Vi Tiểu Bảo vẫn xiêu lòng trước vẻ tài sắc của người phụ nữ lớn tuổi gấp đôi mình.

Cuộc đời mỹ nhân này gắn liền với nhiều biến động trong lịch sử Trung Quốc. Nhiều nhà sử học cho rằng, chính cô là nguyên nhân khiến Ngô Tam Quế phản bội Lý Tự Thành, làm cả vạn người chết oan trong trận chiến tại Nhất Phiến Thạch.

Lương Tiểu Băng vào vai Trần Viên Viên trong phiên bản "Lộc đỉnh ký" năm 1997.

Trên phim ảnh, vai diễn Trần Viên Viên đã được khắc họa rõ nét qua sự thể hiện của nhiều mỹ nhân nổi tiếng. Trong phiên bản "Lộc đỉnh ký" 1998, nhân vật đệ nhất mỹ nữ Tô Châu được giao cho nữ diễn viên Lương Tiểu Băng. Vốn là Á hậu 2 trong cuộc thi Hoa hậu Hồng Kông 1990, với diễn xuất tinh tế và nhan sắc xinh đẹp không góc chết, vừa đoan trang, dịu dàng lại chẳng kém phần yêu kiều, vai diễn của Lương Tiểu Băng được đánh giá là kinh điển nhất trên màn ảnh Hoa ngữ.

Năm 2000, Chu Ân hóa thân thành nàng Trần Viên Viên trong bộ phim "Tiểu Bảo Và Khang Hy" do Trương Vệ Kiện diễn chính. Mặc dù, khi đó đã 30 tuổi nhưng nữ diễn viên vẫn gây ấn tượng mạnh với khán giả nhờ gương mặt xinh đẹp không tì vết, thần thái hơn người.

Kỹ nữ khiến hai hoàng đế mất cả giang sơn

Trần Viên Viên sinh ra ở một gia đình lao động nghèo tại Giang Tô, Trung Quốc vào thời mạt Minh - Thanh sơ. Mẹ nàng sớm qua đời vì bệnh, cha vì nghèo nên bỏ đi biệt xứ. Viên Viên được người dì ruột nhận về nuôi dưỡng. Nhờ nhan sắc tuyệt trần, tư chất thông minh nên từ nhỏ, nàng đã được dì ruột mời thầy về dạy ca vũ, đánh đàn. Thế nhưng, khi Viên Viên khôn lớn, người dì đã nhẫn tâm bán nàng vào kỹ viện.

Trần Viên Viên sở hữu nhan sắc tuyệt thế và tài năng cầm kì thi hoạ xuất chúng.

Tuy phận kỹ nữ nhưng Viên Viên chỉ bán nghệ, không bán thân. Tiếng tăm của nàng đã nhanh chóng lan ra khắp thiên hạ. Khi nhắc đến Viên Viên, người đời mô tả lại rằng: Từ quan lại cho đến những công tử giàu có đều mê mẩn nàng. Thế nhưng, nhan sắc và tài năng của mỹ nhân họ Trần lại là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cuộc đời nàng.

Đương thời, vua Sùng Trinh chỉ đam mê tửu sắc, ngày đêm hoan lạc với Điền Quý phi, bỏ bê triều chính. Chu Hoàng hậu và phụ thân bèn mua lại Viên Viên đưa vào cung nhằm khiến Điền Quý phi thất sủng. Tuy nhiên, hoàng đế lại mê mẩn Viên Viên quá mức khiến Chu hoàng hậu phải đưa nàng lánh tạm ở nhà quốc trượng Chu Khuê.

Nhan sắc và tài năng của đệ nhất mỹ nhân là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cuộc đời nàng.

Trong một bữa tiệc tại phủ, ông cho Viên Viên ra múa hát. Khi đó, nhan sắc cùng tài năng của nàng đã lọt vào "mắt xanh" của Ngô Tam Quế. Khi viên võ quan này được cử ra trấn thủ Sơn Hải quan để ngăn chặn quân Mãn Châu, Sùng Trinh đã ban Viên Viên cho ông. Thế nhưng, Viên Viên chưa được thỏa tình gần gũi người anh hùng thì Ngô Tam Quế được lệnh cấp tốc phải về quan ải, chỉnh đốn quân binh sửa soạn chống đỡ với giặc ngoại xâm. Võ quan họ Ngô đành dứt áo ra đi, để lại người vợ trẻ mới cưới cho phụ thân chăm sóc.

Tưởng rằng, cuộc đời của đệ nhất mỹ nữ Tô Châu đã tìm được bến đỗ bình yên. Thế nhưng, đến năm 1644, quân đội của Lý Tự Thành đánh chiếm kinh thành, Ngô Tam Quế ở xa không thể ứng cứu kịp thời, nhà Minh chính thức sụp đổ.

Đệ nhất mỹ nữ Tô Châu trở thành vị đạo cô, sống ẩn dật đến cuối đời.

Lý Tự Thành khi bắt gặp nhan sắc của Viên Viên cũng "mê như điếu đổ", liền thu nạp nàng vào hậu cung. Ngô Tam Quế hay tin phu nhân bị chiếm đoạt nên đã liên quân với Đa Nhĩ Cổn đánh chiếm kinh thành. Trước binh lực hùng mạnh của tướng quân họ Ngô, Lý Tự Thành vô cùng hoảng sợ. Hắn cho bắt tất cả gia quyến của Ngô Tam Quế, thậm chí còn tàn sát dã man. Cuộc nội chiến kéo dài nhiều ngày, binh lính và thường dân thương vong vô số. Kể từ đó, Trần Viên Viên bị người đời chì chiết là "mầm họa quốc gia".

Theo một số tài liệu, sau khi quân Mãn Thanh dẹp được Lý Tự Thành, mở ra một trang mới cho lịch sử Trung Quốc. Nhờ vậy, Ngô Tam Quế cũng trở thành một vị đại tướng của nhà Thanh. Thế nhưng, do lo ngại bị điều tiếng lấy phải kỹ nữ, Ngô Tam Quế liền đưa Trần Viên Viên lên sống cô đơn trên một ngôi chùa vắng ở Côn Sơn - Vân Nam. Cuối đời, nàng kỹ nữ nổi tiếng nhất đời Minh Thanh trở thành một vị đạo cô, sống ẩn dật và mất một cách âm thầm trong cô quạnh.

Nguyệt Lương / Theo: Theo Arttimes

BỒ TÁT MAN KỲ 3 - VI TRANG


Bồ tát man kỳ 3

Nhân nhân tận thuyết Giang Nam hảo,
Du nhân chỉ hợp Giang Nam lão,
Xuân thuỷ bích ư thiên,
Hoạ thuyền thính vũ miên.
Lư biên nhân tự nguyệt,
Hạo oản ngưng sương tuyết.
Vị lão mạc hoàn hương,
Hoàn hương tu đoạn trường.


菩薩蠻其三

人人盡說江南好,
遊人只合江南老,
春水碧於天,
畫船聽雨眠。
壚邊人似月,
皓腕凝霜雪。
未老莫還鄉,
還鄉須斷腸。


Bồ tát man kỳ 3
(Dịch thơ: Đoan Trang)

Người người đều nói Giang Nam đẹp
Du khách chỉ mong ở đến già
Nước xuân xanh biếc thiên hà
Ở trong thuyền vẽ ngủ mà nghe mưa
Bên lò người tựa trăng xưa
Cổ tay tròn trắng cũng vừa tuyết sương
Chưa già đừng vội hồi hương
Hồi hương mới biết trăm đường xót xa!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vi Trang 韋莊 (khoảng 860-910) tự Đoan Kỷ 端已, nguyên đậu tiến sĩ đời Đường, đi sứ sang Thục rồi lưu lại Thục không về. Ông sinh hoạt rất giản dị khâm hoài khoát đạt. Tác phẩm của ông có Hoán hoa tập, Hoán hoa từ. Trong tập Luận từ tạp trước, Chu Tế có nói: “Từ của Đoan Kỷ thanh diễm tuyệt vời”.

Nguồn: Thi Viện



CÓ LÀM CÓ CHỊU


Tối nay, không đúng. Phải nói là khuya thật khuya vì bây giờ đã gần 3:00 sáng ở Úc. Hôm nay ở nhà không đi làm, coi video về Phật giáo hơi nhiều nên còn vương vương vấn vấn dù không có ăn chay. Hai ngày nay không ăn cơm mà chỉ ăn bún măng vịt, steak bò và pizza Ý.

Tôi tin Phật và học Phật nhưng chưa ăn chay được, chưa thường xuyên đến chùa và chưa đọc kinh. Tôi tin vào sự tu luyện của bản thân, tức là tự sửa đỗi, hoàn thiện, không nổi nóng, không đam mê, không tham lam vì lợi ích bản thân. Hy vọng cái gì của mình thì nó sẽ đến. Tôi chưa từng ganh ghét với người giàu và không bao giờ khi dễ những người nghèo. Có cái tôi khinh thường và không dung tha là bọn "ngụy quân tử".

Tôi giận ai, vài tiếng sau hay nhiều lắm 1 ngày là hết. Ai làm cho đến tôi phải thù oán thì không bao giờ hết, nó đã là cái nghiệp. Kiếp này không trả được thì kiếp sau cũng phải đòi. Người TQ thường nói "Quân tử báo thù, thập niên vị vãn" (君子报仇,十年未晚). Nhà Phật cũng phải chấp nhận cho nên người nuôi chí báo thù không có gì là xấu hay tội ác. Còn lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan. Vậy lấy gì báo đức? Đây không phải là oán mà là thù, thù thì phải trả.

Mời quí vị đọc bài này. (LKH)


CÓ LÀM CÓ CHỊU

Lúc Đức Thích Ca Mâu Ni trụ tại thành Vương Xá, một hôm có một người lái buôn tên gọi là Phất Ca Sa muốn đi mua hàng hóa, nên sáng sớm đi đến thành La Việt, nhưng vừa tới cổng thành thì đã bị một con trâu húc chết.

Chủ con trâu thấy thế, sợ nếu giữ con trâu hung ác này lại thì về sau thế nào cũng sẽ xẩy ra chuyện không lành, nên bèn đem con trâu đi bán với một giá rẻ mạt.

Người chủ mới mua trâu xong bèn dắt trâu về nhà. Đi được nửa đường gặp một con sông, ông muốn cho trâu uống nước. Không ngờ không những trâu không uống nước, mà bản tính hung bạo dữ dằn của nó thình lình nổi dậy, nó dùng sừng húc người này chết tươi.

Người nhà của nạn nhân thấy thế mới nổi giận đem con trâu ra giết, rồi đem thịt ra chợ bán. Có một người nông phu tham giá rẻ, mua đầu trâu về, lấy dây cột sừng trâu lại rồi xách về nhà.

Ấn Độ là một nước nhiệt đới, vô cùng nóng bức. Người nông phu đi được một đoạn đường thì vừa nóng vừa khát, bèn treo đầu con trâu lên một cành cây rồi ngồi dưới gốc cây này nghỉ ngơi.

Quái lạ thay, sợi dây cột đầu con trâu mắc lên cành cây bỗng dưng vô cớ đứt đoạn, khiến đầu con trâu rơi xuống, trúng ngay đầu người nông phu khiến ông này bị trọng thương mà chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong vòng một ngày mà con trâu này đã giết chết hết ba người.

Vua Tần Bà Sa La nghe tin này rất lấy làm lạ, biết rằng bên trong phải có nguyên do gì đây. Ông bèn dẫn một số đại thần, đem hoa quả hương đèn tới núi Linh Thứu lễ Phật rồi thỉnh Ngài thuyết giải cho nghe.

Đức Phật kể cho vua Tần Bà Sa La nghe rằng:

- Hồi xưa có ba người lái buôn đi qua nước láng giềng làm ăn mua bán. Họ muốn để dành tiền nên chiều hôm ấy, thay vì đi tìm khách sạn, thì lại ghé đến nhà một bà lão xin mướn một căn phòng. Hai bên thỏa thuận giá cả xong, họ Ở lại nhà bà lão ngủ qua đêm ấy. Sáng hôm sau, bà lão có việc phải đi ra ngoài, ba người thừa cơ hội bà vắng mặt lẻn trốn đi mất.

Về tới nhà thấy thế, bà lão tức giận vô cùng, đuổi theo họ đòi tiền. Ba người phải gánh vác hành lý nặng nề nên đi chưa được xa đã bị bà lão bắt kịp. Họ thấy bà lão già cả, dễ ức hiếp, nên nặng lời nhục mạ chưởi mắng bà. Bà lão không làm gì được họ, phẫn uất mà nói:

- Mấy người chỉ là một phường vô lại, thấy tôi già cả nên mới ức hiếp nhục mạ tôi. Nhưng hành động này của mấy người thế nào cũng có ngày trả báo. Kiếp này tôi không làm gì mấy người được, nhưng kiếp sau, dầu tôi có sinh ra làm người hay dầu có mất thân người đi nữa, tôi cũng quyết sẽ báo thù. Tôi sẽ giết hết cả ba người, có thế mới hả được niềm căm hận này.


Đức Phật thuyết câu chuyện nhân duyên ấy quả báo xong, Ngài nói tiếp:

- Con trâu hung ác chỉ nội trong một ngày mà giết hại hết ba mạng người chính là bà lão tái sinh. Ba người lái buôn đã khinh miệt bà lão trong kiếp xưa, kiếp này đã lần lượt bị trâu húc chết trong vòng một ngày.

Tội phúc như chiếc bóng đi theo mỗi người, nếu mình khinh miệt người khác mà làm việc trái với lương tâm, thì cũng chỉ có mình tự chịu lấy quả báo đau khổ về sau mà thôi!

Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh

BÀI HỌC QUÝ GIÁ

Bài học quý giá từ một vị thầy tu già trồng hoa lan


Một vị lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan, ông rất chăm sóc và bảo vệ chậu hoa thanh nhã này, thường xuyên tưới nước, nhổ cỏ và bắt sâu cho nó. Hoa lan dưới sự chăm chút hết lòng của lão hòa thượng mà lớn lên khỏe mạnh và trổ hoa rất thanh tú.

Một lần, lão hòa thượng phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền đem chậu hoa lan giao lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.

Chú tiểu rất có trách nhiệm, cũng một lòng để tâm chăm sóc, nâng niu hoa lan như lão hòa thượng vẫn làm khiến hoa lan phát triển rất khỏe mạnh.

Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi đã tưới nước cho chậu hoa lan liền đặt nó ở trên bệ cửa sổ rồi đi ra ngoài làm việc.


Không ngờ, trời đổ mưa to, gió lớn làm chậu hoa lan rơi xuống đất vỡ tan. Chú tiểu sau khi trở về nhà nhìn thấy trên mặt đất cành lá gãy nát, héo úa nên vừa đau lòng vừa lo sợ lão hòa thượng sẽ quở trách.

Mấy ngày sau, lão hòa thượng trở về nhà, chú tiểu kể lại sự tình đã xảy ra và cũng sẵn sàng đón nhận sự trách mắng của lão hòa thượng.

Nhưng lão hòa thượng chẳng nói một lời nào quở trách nào cả khiến chú tiểu vô cùng bất ngờ, vì đó là chậu hoa lan mà ông yêu quý nhất mà!

Lão hòa thượng chỉ mỉm cười rồi nói với tiểu hòa thượng rằng: “Ta trồng hoa lan, đâu phải để tức giận?”

(Ảnh: Pixabay)

Chỉ một câu nói đơn giản nhưng lão hòa thượng đã thể hiện ra một thái độ sống đầy độ lượng, một người có tấm lòng bao dung rộng lớn.

Chúng ta làm việc không phải để tức giận…

Chúng ta yêu thương nhau không phải để tức giận…

Thứ gì đó một khi bị mất đi không thể vãn hồi được nữa có nhất thiết phải oán trách hay thù hận không?

(Sưu tầm trên mạng)

Monday, April 27, 2026

THĂM BÀ QUẢ PHỤ "NGƯỜI ANH HÙNG MŨ ĐỎ TÊN ĐƯƠNG"

Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971, và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn dưới đây.

Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?

Bà Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết khái niệm “khăn mới” là gì hết.

Một tuần sau, tôi nhận được giấy báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn sống.

Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3 ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là “lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn. Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.

Sau đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày 29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.

Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?

TTM: Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ đi chiến dịch quan trọng, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.

Lần lượt các đơn vị Dù đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn 719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ 9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”

Sau này khi tôi nghe các anh lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn vào đầu mình.

Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ 31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây… (khóc)

NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?

TTM: Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu” nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ cửa lúc nửa đêm.”

Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.

Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ðứa con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi, lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm. Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.

Bản thân tôi năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng (tức bố mẹ anh Ðương).

NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?

TTM: Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ, tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.

NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?

TTM: Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).

Còn điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim tôi!

Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).

NV: Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.

TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Việt Hùng / Theo: Người Việt



HẢO SỰ CẬN - DƯƠNG VẠN LÝ


Hảo sự cận

Nguyệt vị đáo thành trai,
Tiên đáo vạn hoa xuyên cốc.
Bất thị thành trai vô nguyệt,
Cách nhất lâm tu trúc.

Như kim tài thị thập tam dạ,
Nguyệt sắc dĩ như ngọc.
Vị thị thu quang kỳ tuyệt,
Khán thập ngũ thập lục.


好事近

月未到誠齋,
先到萬花川穀。
不是誠齋無月,
隔一林修竹。

如今才是十三夜,
月色已如玉。
未是秋光奇絕,
看十五十六。


Hảo sự cận
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Ánh trăng ghé lại trai phòng. 
Thăm Hoa Xuyên cốc, lặng lòng liêu trai. 
Ánh trăng còn đó nào phai ?. 
Ẩn sau bụi trúc, mé ngoài song lan. 
Ánh trăng tựa ngọc quan san. 
Mười ba mười bốn, căng tràn mười năm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.

Nguồn: Thi Viện