Saturday, October 17, 2026

TRÊN CỔ CÓ MỘT "TỬ HUYỆT", ĐỤNG NHẦM CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI

Mát-xa là một cách thức giúp chúng ta thư giãn rất tốt. Lúc mệt mỏi chỉ cần mát-xa một lát là cơ thể sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Nhưng hãy nhớ, nhất định đừng chạm vào động mạch cổ.

Mat-xa giúp thư giãn rất tốt, nhưng nhất định không nên chạm vào động mạch cổ. (Ảnh: NTDTV)

Vị trí của động mạch cổ

Động mạch cổ nằm ở vị trí chỗ đầu ngón tay ở trên hình, hai bên mỗi bên một cái. Nó gồm kết cấu vô cùng đặc thù của mạch máu, có thể cảm giác được sự thay đổi của huyết áp máu, dựa vào huyết áp máu để điều tiết nhịp đập của tim, tần suất co rút của mạch máu.

Tại sao nó là tử huyệt?

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy: Nhấn mạnh vào hõm động mạch cổ sẽ dễ dàng khiến tim đập chậm lại, làm huyết áp hạ thấp, thậm chí có thể dẫn tới hôn mê, tim đột ngột ngừng đập, cho nên huyệt vị này cũng được gọi là “Tử huyệt”, vì vậy nên hạn chế động chạm vào vị trí này đến mức tối đa có thể.

Trong cơ thể con người có đến 409 huyệt vị, trừ “Tử huyệt” này ra, có 8 huyệt được coi như huyệt hoàng kim, có tác dụng dưỡng sinh phòng bệnh, thậm chí là cấp cứu.

1. Huyệt Minh Nhãn
Ví trí: Nằm ở đốt giữa ngón tay cái như ở trên hình. (Ảnh qua Bệnh Học)

Đề cao thị lực: Chơi điện thoại nhiều rất dễ giảm thị lực. Thường xuyên nhấn huyệt minh nhãn có thể cải thiện chứng mỏi mắt, khôi phục và nâng cao thị lực. Nhấn huyệt vị này mỗi ngày trước khi đi ngủ 5 phút là tốt nhất.

Phòng các bệnh về mắt: Đối với người bị viêm kết mạc cấp tính, người già bị viễn thị, bệnh đục tinh thể, thường xuyên nhấn huyệt vị này cũng sẽ có tác dụng hỗ trợ phục hồi rất tốt.

2. Huyệt Bách Hội
Vị trí: Nằm ở giữa đường nối 2 tai như trên hình. (Ảnh qua phapbao.org)

Tăng cường trí nhớ: Áp lực trong thời đại hiện nay là rất lớn, khiến trí nhớ người tra ngày càng kém hơn, thông qua việc thường xuyên nhấn huyệt Bách Hội, sức sống của tế bào não sẽ dần dần được nâng cao, giúp tăng cường khả năng ghi nhớ của não.

3. Huyệt Ấn Đường
Vị trí: Ở giữa hai lông mày như ở trên hình. (Ảnh qua SKVTY.com)

Giảm choáng váng đầu, đau đầu: Người thường xuyên thức đêm, ngủ chưa đủ giấc, sẽ cảm thấy đầu óc choáng váng hoặc khả năng tập trung giảm, mỗi ngày nhấn huyệt ấn đường 5 phút không chỉ giúp giảm đau đầu mà còn có thể cải thiện trí nhớ.

Ngoài ra việc thường xuyên mát-xa huyệt ấn đường còn làm giảm nếp nhăn xuất hiện trên mặt.

4. Huyệt Túc Tam Lý
Vị trí: Nằm ở phía ngoài bắp chân, từ đầu gối xuống khoảng 10 cm như trên hình. (Ảnh qua vatlytrilieu.vn)

Giảm béo: Vào mỗi buổi sáng, từ khoảng 7-9h là thời điểm dạ dày thịnh nhất, nhấn huyệt Túc Tam Lý khoảng 5 phút có thể thúc đẩy dạ dày co bóp, giúp quá trinh tiêu hao mỡ được gia tăng, có tác dụng giảm cân rất tốt. Ngoài ra thường xuyên nhấn vị trí này cũng có thể trừ bệnh phù chân.

5. Huyệt Hợp Cốc
Vị trí: Hợp Cốc chính là huyệt Hổ Khẩu, là huyệt dễ tìm thấy nhất.

Giảm đau răng: Khi bị đau răng, nhấn huyệt Hợp Cốc sẽ giúp giảm đau rõ rệt, ngoài ra nhấn huyệt vị này cũng có tác dụng giảm nhẹ sưng lợi, sưng amidan.

6. Huyệt Huyết Hải
Vị trí: Nằm ở má trong của đùi tại vị trí gần đầu gối. (Ảnh qua Facebook)

Nhấn vào Huyệt Huyết Hải có thể làm giảm dị ứng da và ngứa da.

7. Huyệt Dũng Tuyền
Vị trí: Nằm ở lòng bàn chân như ở trên hình vẽ. (Ảnh qua Huong Sen Healthcare Center)

Tăng nhanh quá trình bài tiết độc tố: Tác dụng trực tiếp nhất của việc thường xuyên nhấn huyệt Dũng Tuyền là thúc đẩy sự tuần hoàn của huyết dịch, lưu thông khí huyết, bài tiết những độc tố và vật chất có hại ra bên ngoài, còn có thể giảm bớt mệt nhọc, giúp ngủ sâu giấc hơn.

8. Huyệt Phong Trì
Vị trí: Huyệt Phong Trì nằm ngay sau gáy, ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ. Cách xác định: lần bên dưới đáy hộp sọ có 2 hõm, đó chính là huyệt Phong Trì. (Ảnh qua Facebook)

Loại bỏ khí lạnh: Tối đi ngủ chăn đắp không tới vai, sẽ rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến bị cúm hoặc hai vai đau nhức. Mát-xa Huyệt Phong Trì khoảng 10 phút, sẽ rất nhanh loại trừ gió lạnh ra khởi cơ thể, giúp kinh mạch khai thông trở lại, bạn sẽ thấy thoải mái dễ chịu hơn rất nhiều.

Tiêu trừ viêm mũi: Mát-xa Huyệt Phong Trì không chỉ có thể tiêu từ khí lạnh, mà đối với viêm mũi cũng có tác dụng rất tốt, kết hợp với ngải cứu thì hiệu quả lại càng tốt hơn nữa. Ngoài ra còn có tác dụng làm giảm sổ mũi, nghẹt mũi.

Lê Hiếu (Theo NTDTV)

Friday, October 16, 2026

VÌ SAO TỐNG TRIỀU ĐƯỢC COI LÀ TRIỀU ĐẠI "GIÀU NHƯNG KHÔNG MẠNH", CÓ KẾT CỤC BI THẢM NHẤT TRONG LỊCH SỬ?

Lưỡng Tống (Bắc Tống và Nam Tống) là triều đại vô cùng giàu có, được xem là triệu đại “xưa nay hiếm” trong lịch sử Trung Quốc. Thời Bắc Tống, thu nhập tài chính trong một năm của quốc gia từng đạt tới 150 triệu quán. Tuy nhiên, hậu thế thường dùng mấy chữ “giàu mà không mạnh” để hình dung về triều đại này.

Tống triều được coi "Giàu nhưng không mạnh", có kết cục bi thảm nhất trong lịch sử

Chúng ta biết rằng vào thời nhà Thanh, trải qua 130 năm tích luỹ của thời ‘Khang Càn thịnh thế’ (thời kỳ thịnh thế của vua Khang Hy, Càn Long), thu nhập tài chính của quốc gia trong một năm không quá 40 triệu lượng bạc trắng.

Đương nhiên một quán tiền đồng chưa chắc đã tương đương với một lượng bạc trắng, đồng thời thu nhập tài chính của quốc gia cũng không tương đương với tổng giá trị mà tất cả quốc dân sản xuất, nhưng Lưỡng Tống xác thực là vô cùng giàu có, thậm chí có thể nói là thời đại giàu có nhất trong các vương triều của Trung Quốc.

Nói đến Lưỡng Tống, chúng ta thường nghĩ tới thể thơ Tống từ, hình thức văn học này của thời Tống vô cùng phát triển. ‘Đường Tống bát đại gia’, tức 8 nhà văn học lớn thời Đường – Tống gồm: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng, Vương An Thạch.

Ngoài Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên thuộc triều Đường, thì 6 người còn lại xuất hiện vào triều Tống.

Thêm vào đó, khoa học kỹ thuật vào thời Tống cũng rất phát triển. Trong ‘Tứ đại phát minh’ gồm: Giấy, kỹ thuật in, la bàn và thuốc súng. Ngoại trừ kỹ thuật in xuất hiện vào thời Minh, thì 3 phát minh còn lại xuất hiện vào thời Tống.

Hơn nữa, chính trị thời Tống vô cùng thanh minh (trong sạch). Chúng ta biết rằng lịch sử các triều đại Trung Quốc thường thấy vài loại tình huống, ví dụ như: hoạn quan can chính, ngoại thích chuyên quyền, hoặc tàn sát lẫn nhau trong nội bộ tông thất. Những sự việc trên có rất ít vào thời Tống, thậm chí có thể nói là hoàn toàn không có.

Tống Thái Tổ đã từng hạ lệnh không giết ‘ngôn quan’ tức người can gián, cho nên toàn bộ bầu không khí chính trị thời Tống vô cùng khoan dung, những án oan thời ấy ít hơn nhiều so với triều đại khác. Đây là một vài ưu điểm nổi trội của thời Tống.

Đương nhiên thuận theo sự phát triển văn hoá, thì quân sự triều Tống có sự suy yếu.

Vấn đề thứ nhất: Nạn “nhũng binh”.

Để duy trì thể chế chính trị của mình, khi đất nước gặp phải thiên tai, các Hoàng đế Tống triều thường chiêu mộ thêm một lượng lớn binh sĩ.

Dưới thời Tống Thái Tổ, quân đội toàn quốc có 37.8 vạn người. Con số này đã tăng gấp đôi, lên tới gần 66,6 vạn người vào thời Tống Thái Tông.

Triều Tống giàu nhưng không mạnh – Ảnh: Minh họa

Đến khi Chân Tông tại vị, lượng binh sĩ của triều đại này đã tăng lên 91,2 vạn và chính thức chạm mốc 125,9 vạn dưới thời Tống Nhân Tông. Từ đó về sau, số lượng binh sĩ của Tống triều thường duy trì ở mức 110 vạn quân.

Đội quân khổng lồ này trở thành gánh nặng lớn đối với tài chính quốc gia lúc bấy giờ. Một học sĩ thời đại này từng đánh giá: “Mười phần thì có tới chín phần cung ứng cho quân đội, vậy mà vẫn không đủ vì số lượng binh lính quá nhiều.”

Vấn đề thứ hai: Võ tướng địa vị thấp, quân đội thiếu khả năng chiến đấu

Tống triều có lệ trọng dụng quan văn, việc cầm quân đôi khi còn được giao cho hoạn quan.Cũng theo đó, địa vị của võ tướng trong triều tương đối thấp và chịu nhiều thua thiệt.

Ngay cả những vị tướng kiệt xuất như Địch Thanh cũng không tránh khỏi việc bị tập đoàn quan văn đua nhau chèn ép.

Chủ tướng vô năng khiến cho vạn quân mất đi nhuệ khí. Đây là câu trả lời cho việc vì sao Tống triều sở hữu hàng chục vạn quân nhưng sức chiến đấu lại vô cùng kém cỏi.

Do đó, khi đối mặt với các vấn đề ngoại giao hay những cuộc xâm chiến từ bên ngoài, đại quân này vẫn không thể cứu vương triều thoát khỏi cảnh tận diệt.

Năm vị Hoàng đế nhà Tống không có con nối dõi

Tống Nhân Tông là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Bắc Tống, tại vị 42 năm, là vị Hoàng đế cai trị lâu nhất trong lịch sử nhà Tống. Thực tế, không phải Tống Nhân Tông không có con trai, mà ông có ba người con trai nhưng cả ba đều chết yểu.

Thời gian Tống Nhân Tông tại vị rất dài, cho nên hậu cung phi tần của ông cũng rất nhiều, ông có tổng cộng 12 công chúa, nhưng lại không có Hoàng tử nào.

Người thứ hai là Hoàng đế Tống Triết Tông Triệu Hú. Tống Triết Tông là con trai của Tống Thần Tông, lên ngôi năm 9 tuổi, tại vị 15 năm, bệnh nặng qua đời năm 24 tuổi. Tống Triết Tông vốn có một vị Hoàng tử, nhưng không may mất sớm.

Coi trọng đối nội hơn ngoại cũng là nguyên nhân dẫn đến triều Tống diệt vong

Bởi vì Tống Triết Tông không có con nối dõi, cho nên sau khi ông mất, ngôi vị Hoàng đế đã được truyền lại cho các em trai ông, sau cùng ngôi vị Hoàng đế của Tống Triết Tông được truyền lại cho người em thứ 11 của ông là Triệu Cát, tức Tống Huy Tông.

Trong thời gian Tống Huy Tông trị vì, Bắc Tống hoàn toàn suy bại, cuối cùng dẫn đến loạn Tĩnh Khang, chấm dứt vương triều Bắc Tống.

Người đầu tiên được mệnh danh là “Trung Hưng chi chủ” – Tống Cao Tông Triệu Cấu. Ông là con trai thứ 9 của Tống Huy Tông, lên ngôi sau trận loạn Tĩnh Khang. Tống Cao Tông là vị Hoàng đế sống rất thọ, ông tại vị 35 năm, sau đó làm Thái Thượng hoàng 25 năm, nhưng chỉ có thể nhận con nuôi để truyền lại ngôi vị.

Triệu Cấu vốn cũng có một vị Hoàng tử, nhưng bất cẩn bị cung nữ dọa chết. Về sau, khi Triệu Cấu chạy trốn khỏi sự truy kích của quân nước Kim, lo lắng nhiều thành tật, sau dẫn đến mắc chứng vô sinh.

Vì để tiếp nối vương triều Nam Tống, có được sự ủng hộ của nhân dân, Triệu Cấu đã thu dưỡng hậu duệ của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận làm con trai, nuôi dưỡng thành người sau đó đem ngôi vị truyền lại cho con trai nuôi, cũng chính là Tống Hiếu Tông sau này.

Nối ngôi Tống Hiếu Tông là Tống Quang Tông, sau khi Tống Quang Tông thoái vị, đem hoàng vị truyền lại cho con trai mình là Triệu Khoách, tức Tống Ninh Tông.

Tống Ninh Tông cũng có 9 vị Hoàng tử nhưng tất cả đều chết yểu, không còn cách nào khác, Tống Ninh Tông buộc phải nhận con cháu trong tông thất nhà Tống làm con nuôi.

Sau khi Tống Ninh Tông qua đời, Sử Di Viễn câu kết với Dương Hoàng hậu, giả truyền thánh chỉ, phế Thái tử Triệu Hồng làm Tế vương, lập Nghi vương Triệu Qúy Thành làm Hoàng đế, hiệu là Tống Lý Tông.

Tống Lý Tông là vị Hoàng đế thứ 5 của Nam Tống, là cháu đời thứ chín của Triệu Đức Chiêu – con trai của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dật.

Nếu như Sử Di Viễn không phát động chính biến thì Triệu Quý Đức cũng không có cơ hội để thừa kế ngôi vị. Chính vì thế, trong thời gian Tống Lý Tông trị vì đã mở rộng việc tuyển phi, muốn sinh được con nối dõi để kéo dài hoàng vị của bản thân. Kết quả chuyện không được như ý, Tống Lý Tông trị vì 40 năm, chỉ sinh được một vị Hoàng tử nhưng lại chết yểu.

Tống Lý Tông vì ích kỷ, mang lòng riêng, không muốn chọn con cháu trong tông thất nhà Tống có phẩm chất tốt làm người thừa kế, mà lại chọn cháu của mình để kế vị, cũng tức là Tống Độ Tông.

Nhưng Tống Độ Tông vốn đã kém cỏi, bẩm sinh đã có khuyết tật, trong thời gian trị vì lại chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, không lo nghĩ gì, cuối cùng dẫn đến kết cục nhà Nam Tống bị diệt vong.

Nguyệt Hòa biên tập
Theo: DKN/GDTT

THU TUYỀN - TIẾT ĐÀO


Thu tuyền - Tiết Đào

Lãnh sắc sơ trừng nhất đới yên,
U thanh dao tả thập ty huyền.
Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ,
Bất sử sầu nhân bán dạ miên.


秋泉 - 薛濤

冷色初澄一帶烟
幽聲遥瀉十絲弦
長來枕上牽情思
不使愁人半夜眠


Suối thu
(Dịch thơ: Trang Y Hạ)

Sương mờ suối lạnh vừa tan
Nước trong thanh vắng tiếng đàn mười dây
Gối đầu trằn trọc ai đây
Nửa đêm chưa ngủ buồn lây lất buồn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiết Đào 薛濤 (768-831) tự Hồng Độ 洪度, người Trường An, thân phụ làm quan tại đất Thục nên nàng lưu ngụ ở đó. Nàng biết làm thơ từ thuở lên tám. Phụ thân mất khi đến tuổi cập kê, nổi tiếng tài thơ, lại có nhan sắc, nàng thường giao du với nhiều danh sĩ đương thời. Vi Cao, trấn thủ đất Thục, mời nàng đến hầu rượu làm thơ, muốn tiến cử làm hiệu thư lang, nhưng không được. Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Ngưu Tăng Nhụ, Lệnh Hồ Sở, Bùi Độ, Nghiêm Phụ, Trương Tịch, Lưu Vũ Tích, Đỗ Mục đều có thơ xướng hoạ với nàng. Khi ở Hoãn Hoa khê, nàng chế tạo một thứ giấy hoa thông, và một thứ giấy màu đỏ thẫm có vẽ năm sắc rất đẹp, gọi là Tiết Đào tiên. Lúc vãn niên, ở phường Bích Kê, nàng dựng lầu Ngâm Thi. Khi mất, được Đoàn Văn Xương (tức là danh sĩ đã làm bài bia Bình Hoài Tây thứ hai, sau khi bài của Hàn Dũ bị mài bỏ) soạn mộ chí.

Nguồn: Thi Viện



12 LOẠI THỰC PHẨM THƯỜNG XUYÊN KHIẾN NGƯỜI KHÁC NHẦM LẪN

Có những loại thực phẩm dù sở hữu vẻ ngoài y hệt nhau nhưng thực chất lại khác xa "một trời một vực".


Trên đời, chuyện thứ này giống với thứ kia vốn dĩ chẳng còn xa lạ gì. Ở cách chúng ta tận nửa vòng Trái Đất, biết đâu có một người sở hữu dáng vẻ và khuôn mặt gần "y như đúc" với mình thì sao? Trong thế giới đồ ăn thức uống cũng vậy, có nhiều loại thực phẩm sở hữu vẻ ngoài giống y hệt nhau nhưng bản chất lại hoàn toàn khác biệt. Nếu không tin, mời bạn xem qua vài trường hợp dưới đây sẽ rõ.

1. Nấm cóc (toadstool) và nấm thường (mushroom)

Toadstool (nấm cóc) cũng là từ dùng để chỉ các loại nấm, tuy nhiên chúng lại có phần nắp tròn bên trên, thường có độc và không ăn được. Trong khi đó, cây nấm (mushroom) lại có phần nắp hình vòm hơi cong xuống dưới. Ngoài ra, các cây nấm cóc còn được nhận biết bởi màu sắc và hoa văn sặc sỡ của nó.


2. Chuối táo quạ (plantain) và chuối thường (banana)

Chuối táo quạ còn được gọi là chuối tá quạ, chuối mễ. Chúng thường có vỏ màu xanh, cứng và kích thước to hơn chuối bình thường rất nhiều. Đặc biệt khi ăn, người ta thường phải luộc lên. Trong khi đó, trái chuối mà chúng ta hay ăn có vị ngọt, mềm và nhỏ hơn.


3. Mì sợi (noodle) và mì Ý (pasta)

Mì sợi và mì Ý khác nhau chủ yếu do nguyên liệu và cách chế biến. Mì bình thường mà chúng ta hay ăn được làm bằng bột mì, có dạng sợi dài. Trong khi đó, pasta là từ dùng để chỉ chung một loại thực phẩm truyền thống của nước Ý với hơn 310 loại cùng 1.300 tên gọi khác nhau. Trong đó, điển hình nhất là pasta dạng sợi (mì spaghetti, mì Ý) và pasta dạng ống (như nui của Việt Nam).


4. Mứt (jam) và thạch (jelly)

Sự khác biệt lớn nhất giữa mứt và thạch là lượng trái cây được sử dụng ban đầu để làm ra chúng. Thạch được tạo thành bằng cách nghiền nát các loại quả, tuy nhiên lại loại bỏ đi hầu hết phần xác rắn của vỏ, thịt hay hạt quả. Trong khi đó, mứt cũng được tạo thành bởi quá trình tương tự nhưng tất cả mọi nguyên liệu đều được giữ lại, tạo thành độ sánh nhất định.


5. Đào (peach) và đào trơn (nectarines)

Cách để dễ nhận biết 2 loại này là dựa vào lớp vỏ bên ngoài của chúng. Trong khi vỏ quả đào có một lớp phủ mờ, khiến chúng không bao giờ được mịn màng thì đào trơn lại hoàn toàn trái ngược, đúng như cái tên của nó.


6. Tôm thường (shrimp) và tôm thương phẩm (prawns)

Mặc dù có hương vị giống hệt nhau, thế nhưng 2 loại tôm này có những điểm khác biệt nhất định. "Shrimp" thường được người dân Mỹ và nhiều nước khắp thế giới sử dụng phổ biến, là thuật ngữ để chỉ tất cả các loại tôm nói chung, bao gồm cả những loại không ăn được. Trong khi đó, "Prawns" là loại tôm có kích thước lớn hơn với giá trị thương mại cao, thường được sử dụng ở các quốc gia thuộc Vương quốc Anh.


7. Đậu gà (chickpeas) và đậu nành (soybean)

Cả 2 loại đậu đều sở hữu vẻ ngoài khá giống nhau, rất giàu vitamin và các khoáng chất tốt cho cơ thể. Tuy nhiên, đậu nành thường không thể ăn sống, được người ta sử dụng làm ra món sữa. Còn đối với đậu gà, bạn có thể thưởng thức chúng theo nhiều cách khác nhau kể cả ăn sống.


8. Rau mùi (cilantro, coriander) và ngò Tây (parsley)

Với vẻ ngoài khá giống nhau, 2 loại rau này luôn bị nhiều người dân khắp thế giới nhầm lẫn. Rau mùi (ngò ta) đã quá quen thuộc trong ẩm thực Việt, chúng có phần lá khá cong và mùi hăng hơn, thường được sử dụng cả cây. Ngược lại, ngò Tây chỉ có thể ăn phần lá nhọn với mùi bớt nồng hơn loại kia.


9. Kem Ý (Gelato) và kem thường (ice cream)

Đều là kem, tuy nhiên Gelato là món tráng miệng có nguồn gốc từ nước Ý, thường ít béo hơn loại kem bình thường. Để làm Gelato, người ta thường sử dụng ít kem, nhiều sữa, đặc biệt không cần lòng đỏ trứng gà như "ice cream". Ngoài ra, kem Gelato khi ăn sẽ thấy lạnh hơn kem thường rất nhiều.


10. Khoai mỡ (yam) và khoai lang (sweet potatoes)

Trên thực tế, rất nhiều người dân trên thế giới không thể phân biệt nổi 2 loại củ này. Khoai mỡ thường có kích thước lớn hơn, lớp vỏ khá thô cứng và không thể bóc lột dễ dàng trừ khi đem nấu chín. Còn khoai lang thì mang vị ngọt, nhiều tinh bột cùng với lớp vỏ mịn hơn.


11. Bánh Cupcake và bánh Muffin

Cả bánh Cupcake và bánh Muffin đều có kích thước, hình dáng tương tự nhau, được chứa trong một chiếc ly giấy. Tuy nhiên nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy bánh Cupcake thường được trang trí cầu kỳ với các loại kem tươi và topping đầy màu sắc bên trên. Trong khi đó, Muffin trông đơn giản hơn rất nhiều. Ngoài ra xét về tính chất, Cupcake là bánh bông lan, còn Muffin là dạng bánh mì, tức là chúng sử dụng nguyên liệu khác nhau.


12. (Cặp bổ sung thường gặp) Củ cải trắng và củ cải Turnip (hoặc súp lơ trắng/các loại củ tương tự): 

Dễ nhầm lẫn khi cắt lát trong chế biến món ăn

Nguồn & ảnh: Brightside

NGẠO CỐT VỚI NGẠO TÂM

“Ngạo cốt không nên thiếu, mà ngạo tâm thì không nên có; không có ngạo cốt thì gần với hạng người thô lậu, mang ngạo tâm thì không thể làm bậc quân tử” (Ngạo cốt bất khả vô, ngạo tâm bất khả hữu. Vô ngạo cốt tắc cận ư bỉ phu, hữu ngạo tâm bất đắc vi quân tử). Đây là câu nói rất hay của Trương Trào mà tôi đọc được trong tác phẩm U Mộng Ảnh. Đều là ngạo cả mà một cái thì nên có, một cái lại nên không. Cũng là chuyện thú vị.


1. Thông thường, trong giao tế xã hội, hễ ai dính dáng đến chữ ngạo đều khó gây được thiện cảm. Những người có thực tài mà ngạo đã khiến ta khó chịu rồi, nhưng dù sao cũng còn tạm chấp nhận, cũng như một cô gái đẹp thì ưa “chảnh”. Đến như những kẻ chỉ có tài mọn mà cũng học đòi ngạo thì quả là khôi hài, không sao chịu nổi. Ấy vậy mà những kẻ kém tài nhưng kiêu ngạo đó thường lại nhan nhản trong thiên hạ. Cho nên nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan mới có câu thơ dí dỏm nhưng sâu sắc, mà thuở sinh tiền anh vẫn thường đọc mỗi khi ngồi nhậu: “Ra đường gặp chín thiên tài. Lâu lâu mới có được vài thằng ngu”. Mà quả đúng là thế thật!

Cũng đều là ngạo cả, nhưng sự khác biệt lại nằm ở hai chữ cốt và tâm. “Ngạo cốt không nên thiếu, mà ngạo tâm thì không nên có”. Ngạo cốt là muốn nói đến cốt cách bất khuất, còn ngạo tâm là muốn nói đến thói kiêu ngạo, lòng kiêu ngạo. Ngạo cốt thuộc khí chất, ngạo tâm thuộc tâm tính.

Khi đánh giá phần quan trọng của một vấn đề, ta thường gọi đó là phần “cốt lõi”. Khi nhận định phong cách của một người nào, ta thường nói đến cái “cốt cách”. Phần tinh túy của một nền triết học hay khoa học nào đó cũng gọi là “cốt tủy”. Cốt - nghĩa đen là xương, giống như bộ khung chống đỡ. Con người không có khung xương thì không đứng được. Không có ngạo cốt thì phong cách trở nên xoàng xĩnh, dễ biến thành tầm thường. Nhưng ngạo cốt của những kẻ có chân tài thực học là phong cách biểu hiện tự nhiên của tài hoa tiềm ẩn, như con hạc nổi bật một cách tự nhiên giữa đàn gà. Nó hoàn toàn khác với cái gọi là “ngạo cốt” của những người có đôi chút tài mọn, nhưng lại thích làm ra vẻ khác người của những “vĩ nhân tỉnh lẻ”, mà ta thấy nhan nhản trong giao tế hàng ngày. Kẻ mang ngạo tâm thì luôn nghĩ mình cao hơn thiên hạ, dù đôi khi họ không biểu hiện cái ý tưởng đó ra bên ngoài. Ngẫm cho cùng, ngạo tâm cũng chỉ là một dạng selfie tinh thần đáng thương kiểu A.Q của hai hạng người. Hạng thứ nhất, là những người có học và hiểu biết, nhưng chưa được đến nơi đến chốn, luôn quanh quẩn trong cái ao làng theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng”, không biết đến biển rộng sông dài. Hạng thứ hai, là những người mang tâm lý tự ti mặc cảm vì sợ người khác xem thường mình.

Chỉ những người có cơ duyên đến được cửa biển mới hiểu được sự nhỏ bé của ao hồ. Nhưng dẫu là kẻ có tài năng lỗi lạc mà mang ngạo tâm cũng là đã đánh mất đi đức tính khiêm tốn của “người quân tử”, vì “người quân tử” là biểu tượng mẫu mực về con người có tài và đức trong Nho giáo. Bình rỗng mới chứa được nhiều nước, tâm khiêm tốn mới tiếp thu được lẽ phải điều hay.


2. Có giai thoại lý thú về chuyện cụ Bùi Hữu Nghĩa “sửa lưng” một “thiên tài tỉnh lẻ”. Cụ Bùi Hữu Nghĩa, tức Thủ khoa Nghĩa, lúc về già cáo quan, sống ẩn dật tại Bình Thủy (Cần Thơ) nhưng vẫn nổi tiếng khắp vùng Nam Bộ về tài thơ phú. Lúc bấy giờ ở đất Gia Định có tú tài Văn Bình luôn kiêu ngạo cho rằng mình tài cao học rộng, chẳng qua là do học tài thi phận nên khoa bảng lận đận. Nghe thiên hạ ca ngợi cụ Thủ khoa Nghĩa, anh ta không phục nên tìm đến tận Cần Thơ để thử tài. Văn Bình qua cầu Bình Thủy, trên đường đi tìm nhà cụ Bùi, anh ta thấy một ông già nhà quê đang ngồi đan sọt tre trước nhà, nên ghé lại hỏi đường.

Ông già ngước lên, hỏi:

- Cậu là ai, kiếm ông thủ khoa mần chi?

Văn Bình hãnh diện đáp:

- Tôi là tú tài Văn Bình nổi tiếng ở Gia Định. Nghe đồn ông thủ khoa là người giỏi thi phú nên đến tìm gặp, coi thử thực hư thế nào.

Ông già cười xòa:

- Mời cậu vô ngồi chơi uống nước đã, rồi tôi biểu thằng cháu nó dắt đường cho. Nhà ông thủ khoa còn xa lắm!

Văn Bình vô nhà ngồi uống trà, thấy trên vách có dán mấy câu đối. Ông già giải thích:

- Đó là mấy câu đối của ông Thủ khoa đó. Tôi thích nên treo chơi. Tôi cũng thích đối, nhưng già mà ít học, nên không đối được câu dài, mà chỉ biết đối từng chữ một thôi. Cậu thử đối với tôi từng chữ một cho vui nghe.

Văn Bình tủm tỉm cười, chấp nhận, trong khi chờ thằng cháu ông già dẫn đường.


Ông già chậm rãi hớp trà, rồi mở đầu:

- Võ

Văn Bình đối ngay:

- Văn

Ông già lại ra tiếp:

- Trắc

Văn Bình đối:

- Bình

Ông già ra tiếp:

- Vãng

Văn Bình đối:

- Lai

Ông già lại ra tiếp:

- Nam

Văn Bình đối:

- Bắc

Ông già ra tiếp:

- Cô

Văn Bình đối:

- Cụ

Tới đây, ông già ngừng lại, rồi khề khà nói:

- Vậy đủ rồi, tui thiệt phục cậu quá xá. Đúng là tú tài! Đối chữ nào nghe cũng chuẩn. Bây giờ mỗi người đọc lại hết các chữ trong câu đối nghe. Câu của tui là “Võ Trắc Vãng Nam Cô”, nghe thì được nhưng lại chẳng có nghĩa chi hết. Còn cậu, thử đọc lại câu của cậu coi sao.

Văn Bình lớn giọng đọc:

- Văn Bình lai bắc cụ.


Vừa đọc xong, Văn Bình đỏ mặt, vì câu của mình có nghĩa là: “Văn Bình tới đây để bắc cụ”! (dân Quảng Nam mà đọc là hiểu liền!).

Văn Bình giật mình, chắp tay xá ông già và nói:

- Con xin lỗi bác! Bác chính thiệt là Thủ khoa Nghĩa rồi!

Không biết qua giai thoại văn chương này, giữa cụ Thủ khoa Nghĩa với tú tài Văn Bình, ai là người mang ngạo cốt, ai là kẻ có ngạo tâm?

Liêu Hân / Quảng Nam Online

Thursday, October 15, 2026

BÊN TRONG SA MẠC LỚN NHẤT TRUNG QUỐC, NƠI HỎA DIỆM SƠN TỪ TÂY DU KÝ BƯỚC RA ĐỜI THỰC

Sa mạc Taklamakan không chỉ là sa mạc lớn nhất Trung Quốc với khí hậu khắc nghiệt bậc nhất, mà còn là vùng đất gắn với Hỏa Diệm Sơn - địa danh nổi tiếng trong Tây Du Ký. Từ những biển cát mênh mông đến dãy núi đỏ rực như lửa, nơi đây khiến nhiều người tò mò vì ranh giới đặc biệt giữa truyền thuyết và đời thực.


Hoả Diệm Sơn từ Tây Du Ký bước ra ngoài đời thực

Trong tiểu thuyết kinh điển Tây Du Ký, Hỏa Diệm Sơn hiện lên qua ngòi bút của Ngô Thừa Ân như một vùng đất rực lửa và đầy hiểm nguy.

Tác giả miêu tả nơi đây có ngọn lửa cháy ngùn ngụt suốt tám trăm dặm, khiến bốn bề khô cằn, không một ngọn cỏ nào có thể sinh trưởng. Sức nóng khủng khiếp đến mức, người đi qua dù có thân thể cứng rắn như đồng sắt cũng khó tránh khỏi cảnh bị nung chảy.

Hỏa Diệm Sơn không chỉ là địa danh xuất hiện trong trí tưởng tượng của Tây Du Ký, mà là một dãy núi có thật ngoài đời. Dãy núi này nằm ở khu vực Tân Cương, gần rìa phía bắc sa mạc Taklamakan và phía đông thành phố Turpan.


Hỏa Diệm Sơn dài khoảng 100 km, rộng từ 5-10 km. Người dân địa phương gọi nơi đây là Kiziltag, nghĩa là “Núi Đỏ”. Tên gọi này bắt nguồn từ màu sắc đặc trưng của dãy núi: Những lớp đá sa thạch đỏ, khô cằn, bị gió và thời gian bào mòn suốt hàng nghìn năm, tạo nên cảnh quan vừa dữ dội vừa kỳ vĩ.

Khu vực Hỏa Diệm Sơn có khí hậu đặc biệt khắc nghiệt, nhất là vào mùa hè. Đây được xem là một trong những nơi nóng nhất Trung Quốc, với nhiệt độ không khí thường xuyên lên tới khoảng 50°C; trong khi nhiệt độ bề mặt có thời điểm vượt ngưỡng 70°C.

Gần dãy núi này còn có một trong những nhiệt kế ngoài trời lớn nhất Trung Quốc, được đặt tại khu du lịch để du khách có thể trực tiếp theo dõi nhiệt độ môi trường xung quanh.

Nhờ cảnh quan độc đáo gắn với truyền thuyết Tây Du Ký cùng điều kiện tự nhiên hiếm có, Hỏa Diệm Sơn đã được công nhận là thắng cảnh cấp 4A của Trung Quốc.
Taklamakan - Sa mạc lớn nhất Trung Quốc

Theo Wikipedia, sa mạc Taklamakan, còn được gọi là sa mạc Taklimakan hay Tháp Khắc Lạp Mã Can, là một trong những sa mạc lớn ở khu vực Trung Á. Sa mạc này nằm trong địa phận Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc, thuộc bồn địa Tarim ở phía nam Tân Cương. Taklamakan được bao bọc bởi dãy Côn Lôn ở phía nam, sa mạc Gobi ở phía đông, dãy Pamir ở phía tây và dãy Thiên Sơn ở phía bắc.

Taklamakan là sa mạc cát lớn nhất nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Trung Quốc với diện tích khoảng 337.000 km2 và là sa mạc cát dịch chuyển lớn thứ hai thế giới với khoảng 85% diện tích Taklamakan là các cồn cát di động. Mỗi năm, sa mạc này có lượng mưa trung bình khoảng 50mm, trong khi tốc độ bốc hơi lên tới hơn 2.500 mm.


Bề mặt sa mạc Taklamakan được hình thành từ các lớp trầm tích phù sa bở rời, có độ dày lên tới vài trăm feet. Dưới tác động lâu dài của gió, lớp trầm tích này bị bào mòn, vận chuyển và tích tụ, tạo nên những tầng cát do gió mang đến có nơi dày tới khoảng 1.000 feet.

Địa hình Taklamakan vì thế mang đậm dấu ấn của quá trình phong hóa và bồi tụ do gió. Trên bề mặt sa mạc xuất hiện nhiều dạng địa hình khác nhau, nổi bật là hệ thống cồn cát với hình thái đa dạng. Các cồn cát này được tạo thành từ vật liệu phù sa trong bồn địa Tarim, cùng với trầm tích từ các đồng bằng chân núi Côn Lôn và khu vực phía đông dãy Thiên Sơn.

Các dãy cồn cát lớn ở Taklamakan có quy mô khá đồ sộ, thường cao từ 30-150 m, rộng khoảng 240-500 m; khoảng cách giữa các dãy cồn cát dao động từ 1-5 km.

Trong số các dạng địa hình do gió tạo nên, nổi bật nhất là những cồn cát hình chóp, có thể cao tới 200-300 m. Tại khu vực phía đông và trung tâm sa mạc, địa hình chủ yếu là mạng lưới các cồn cát rỗng xen lẫn những dãy cồn cát lớn, phức tạp.

Truyền thông Trung Quốc thường gọi Taklamakan là “vùng đất chết", nhấn mạnh điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, khô hạn và nguy hiểm khi đi xuyên qua vùng cát rộng lớn này. Tên gọi Taklamakan trong tiếng Duy Ngô Nhĩ mang ý nghĩa "nơi đi vào mà không thể trở ra" (chốn đi dễ khó về).

Sa mạc có khí hậu khắc nghiệt, mang đặc trưng rõ nét của vùng sa mạc nằm sâu trong lục địa.và có biên độ nhiệt lại rất lớn. Vào mùa hè, nhiệt độ ở rìa phía đông sa mạc có thể lên khoảng 38°C, thậm chí mức cao nhất từng được ghi nhận lên tới 45,6°C. Ngược lại, vào mùa đông, nhiệt độ thường giảm sâu, có thời điểm xuống dưới -20°C.

Chính sự đối lập gay gắt này khiến Taklamakan vừa có đặc điểm của một sa mạc nóng vào mùa hè, vừa mang dáng dấp của “sa mạc lạnh” trong mùa đông. Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm tại đây có thể vượt 40°C, tạo nên điều kiện tự nhiên đặc biệt khắc nghiệt.

Ảnh minh hoạ AI.

Một hiện tượng hiếm gặp từng xảy ra vào đầu năm 2008, khi đợt bão tuyết mùa đông tại Trung Quốc khiến Taklamakan được cho là lần đầu tiên bị phủ kín bởi một lớp tuyết mỏng. Tại một số trạm quan sát, lớp tuyết dày khoảng 4 cm và tồn tại liên tục trong 11 ngày đêm.

Dù rất khô hạn, Taklamakan không hoàn toàn là “vùng đất chết” về sinh thái. Sông Hotan, còn gọi là Khotan, là dòng sông theo mùa, được nuôi bởi nước băng tan từ dãy Côn Lôn. Vào mùa hè, dòng sông này có thể mang nước chảy về phía bắc, băng qua sa mạc Taklamakan rồi nhập vào sông Tarim ở phía bắc bồn địa.

Trong lịch sử, Taklamakan là vùng đất khiến các đoàn thương nhân trên Con đường Tơ lụa phải đi vòng theo các ốc đảo ở rìa bắc và rìa nam sa mạc. Ngày nay, khu vực này đang được Trung Quốc kết nối bằng đường bộ, đường sắt và các dự án kiểm soát cát quy mô lớn.

Năm 2022, tuyến đường sắt Hotan - Ruoqiang được đưa vào vận hành, hoàn thiện tuyến đường sắt vòng quanh Taklamakan dài 2.712 km. Đây là tuyến đường sắt vòng quanh sa mạc đầu tiên trên thế giới; riêng đoạn Hotan - Ruoqiang dài 825 km, trong đó khoảng 65% chiều dài nằm trong vùng sa mạc.


Về đường bộ, tuyến Tarim Desert Highway có vành đai cây chắn cát dài 436 km, với hơn 20 triệu cây chịu hạn như saxaul và liễu đỏ. Đây được coi là một mô hình kết hợp giữa giao thông, khai thác tài nguyên và kiểm soát sa mạc hóa.

Nỗ lực bao phủ sa mạc bằng cây xanh bắt đầu từ năm 1978 với việc khởi động dự án "Vành đai chắn gió", thường được gọi là Vạn Lý Trường Thành xanh của Trung Quốc. Theo Reuter, hơn 30 triệu hecta cây xanh đã được trồng.


Việc trồng cây ở vùng tây bắc khô hạn đã giúp tổng diện tích rừng của Trung Quốc vượt quá 25% vào cuối năm 2023, tăng từ khoảng 10% vào năm 1949. Riêng ở Tân Cương, diện tích rừng đã tăng từ 1% lên 5% trong 40 năm qua, theo báo Nhân dân Nhật báo.

Dự án trồng hàng cây chắn gió đã trải qua hàng thập kỷ thử nghiệm với nhiều loài cây khác nhau để xác định loài nào có khả năng chịu đựng tốt nhất.

Về sự xuất hiện của cộng đồng cư dân, dù phần lõi Taklamakan gần như không có cư dân sinh sống do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng các ốc đảo và đô thị ven rìa sa mạc lại là nơi tập trung dân cư từ lâu đời. Chính những điểm cư trú này từng tạo nên các trạm dừng quan trọng trên Con đường Tơ lụa, giúp con người tồn tại bên rìa một trong những sa mạc khô hạn nhất châu Á.

Nguồn: Tân Hoa Xã, Wikipedia, Reuter, UNESCO, Nhân dân Nhật báo

Minh Dương / Theo: Dân Việt



DẬY THÌ - LÊ THỊ KIM


DẬY THÌ
thơ Lê Thị Kim

Xuân đến căng tròn đôi má nõn,
Dậy thì thơi thả gót sen non
Tóc mai vài sợi bay lơ đễnh
Trắng nuột thanh tao ngấn cổ tròn.

Em đi bước nhẹ như làn gió
Thả tóc dài cho hoa bướm vương
Đôi tà lụa trắng đầy mộng tưởng
Bao trái tim trai rụng xuống đường.

LÊ THỊ KIM


Sơ lược tiều sử tác giả:

Lê Thị Kim, tên thật là Lê Thị Ngà, sinh ngày 31 tháng 3 năm 1950 tại thị xã Thanh Hóa. Tác phẩm đã xuất bản: Khi tình yêu đến (thơ, 1988).

Nguồn: Thi Viện