Friday, June 26, 2026

TÂY HỒ VÃN QUY HỒI VỌNG CÔ SƠN TỰ TẶNG CHƯ KHÁCH - BẠCH CƯ DỊ


Tây hồ vãn quy hồi vọng 
cô sơn tự tặng chư khách

Liễu hồ, Tùng đảo, Liên Hoa tự,
Vãn động quy kiêu xuất đạo trường.
Lô quất tử đê sơn vũ trọng,
Bính lư diệp chiến thuỷ phong lương.
Yên ba đạm đãng dao không bích,
Lâu điện sâm si ỷ tịch dương.
Đáo ngạn thỉnh quân hồi thủ vọng:
Bồng Lai cung tại thuỷ trung ương.


西湖晚歸回望
孤山寺贈諸客

柳湖松島蓮花寺
晚動歸橈出道場
盧橘子低山雨重
拼櫚葉戰水風涼
煙波淡蕩搖空碧
樓殿參差倚夕陽
到岸請君回首望
蓬萊宮在水中央


Chiều từ Tây Hồ về ngắm chùa 
trên núi cô, làm tặng chư khách
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Liên hoa, Hồ Liễu. Đảo Tùng. 
Đạo tràng rời bến, ung dung một chiều. 
Mưa rừng cành quất liêu xiêu. 
Gió sông mát lạnh, tiêu điều tàn cây. 
Yên ba khói sóng tầng mây. 
Bóng chiều cung điện, còn bầy sân si. 
Xin người ngoành lại chớ đi. 
Bồng lai một chốn, người đi không về.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện



PHONG TRÀO NGHĨA HÒA ĐOÀN (1899-1901)

Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn hay còn gọi là Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn là một phong trào bạo lực ở tại Bắc Bộ Trung Quốc (tháng 11 thuộc 1899 đến 7 tháng 9 năm 1901) do Nghĩa Hòa Đoàn khởi xướng, chống lại sự ảnh hưởng của thế lực nước ngoài trong các lĩnh vực giao thương, chính trị, văn hóa,..

Nghĩa quân Nghĩa Hoà Đoàn. Ảnh: Hình ảnh lịch sử.

Nghĩa Hòa Đoàn là gì và xảy ra ở đâu?

Nghĩa Hòa Đoàn là một tổ chức tôn giáo thần bí và đồng thời là một tổ chức chính trị đã lãnh đạo phong trào Nghĩa Hòa Đoàn do Chu Hồng Đăng lãnh đạo. Có thuyết cho rằng tổ chức này liên quan tới Bạch Liên giáo. Lực lượng nòng cốt của Nghĩa Hòa Đoàn bao gồm nhiều người giỏi võ nghệ. Do đó, Nghĩa Hòa Đoàn còn bị những người không ưa nó gọi bằng cái tên "quyền phỉ".

Sách giáo khoa trung học cơ sở của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gọi Nghĩa Hòa Đoàn là những "người yêu nước". Tuy nhiên, có không ít người mà chủ yếu là người nước ngoài lên án Nghĩa Hòa Đoàn và quy kết tổ chức này đã gây ra sự thảm sát hàng chục ngàn người mà phần lớn là người nước ngoài. Khẩu hiệu hành động của tổ chức này là "phù Thanh diệt Dương" nghĩa là "ủng hộ Thanh triều, tiêu diệt người Tây"...

Cuối đời Thanh, nhân dân Trung Quốc luôn luôn bị đế quốc nước ngoài ức hiếp khiến các cuộc nổi dậy như Nghĩa Hòa Đoàn không ngừng phát triển, các nước đế quốc quyết định đưa quân đàn áp. Năm 1900, Tướng quân Anh là E.H.Seymour chỉ huy liên quân 8 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Mỹ, Nga, Nhật, Áo-Hung tiến đánh Bắc Kinh.

Tranh miêu tả binh lính Bát Quốc liên quan trong phong trào Nghĩa Hòa Đoàn.

Bị sự kháng cự của quân triều đình và Nghĩa Hòa Đoàn, Liên quân 8 nước ban đầu gặp khó khăn. Liên quân bèn điều 32 tàu chiến cùng hơn một vạn lính lên bờ tiếp ứng. Họ đưa tối hậu thư cho Trấn tổng binh Thiên Tân La Vinh Quang chỉ huy pháo đài Đại Cô: "Hạn định trong vòng hai ngày phải giao nộp pháo đài để liên quân kiểm soát". La Vinh Quang cự tuyệt yêu cầu vô lý của liên quân tám nước, và yêu cầu quân Thanh bảo vệ pháo đài lập tức có sự chuẩn bị. Liên quân 8 nước sợ "đêm dài lắm mộng" còn chưa tới thời gian quy định đã từ hai phía đồng thời tiến công pháo đài. Quân đóng giữ pháo đài cố gắng kháng cự, các chiến sĩ của Nghĩa Hòa Đoàn ở gần đó cũng phối hợp tác chiến. Qua gần bảy tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, ngày 21 tháng 5 (tức ngày 17 tháng 6 dương lịch), pháo đài thất thủ. Sau khi liên quân tám nước chiếm được pháo đài Đại Cô, trên dọc truyến đường sắt từ Đại Cô tới Thiên Tân, họ dán cáo thị: "Nếu có binh lính của Nghĩa Hòa Đoàn hay quân triều đình dám cản trở cuộc hành quân, chúng ta nhất định sẽ tăng cường sức mạnh, tiêu diệt tận sào huyệt". Điều này đã là sự uy hiếp lớn với quân Nghĩa Hòa Đoàn và quân của triều đình. Từ Hy Thái hậu nghĩ: Trước mắt giờ có hai kẻ thù, một là người ngoại quốc và một là Nghĩa Hòa Đoàn. Sự uy hiếp của người nước ngoài với chúng ta ngày càng lớn, còn sức ép của nghĩa quân cũng có hạn. Vì thế, bà triệu tập hội nghị Ngự tiền đại thần, quyết định tuyên chiến với Liên quân tám nước, trên thực tế, bà để cho quân Nghĩa Hòa Đoàn giao chiến, còn bản thân thì "tọa sơn quan hổ đấu".

Thái độ của quân Nghĩa Hòa Đoàn với quân Tây dương không giống thái độ của Từ Hy Thái hậu. Nghe nói quân Tây dương xâm phạm Thiên Tân, Nghĩa Hòa Đoàn đã vừa cho người phá hoại đường giao thông của kẻ địch và tiến hành chặn đánh vừa đưa quân tập kết về Thiên Tân chuẩn bị phòng thủ. Trương Đức Thành, Tào Phúc Điền, Dương Thọ Thần, Lưu Thập Cửu, Hàn Dĩ Lễ cùng các đại sư huynh, Lâm Hắc Nhi cùng đại sư muội đều cùng quân sĩ có mặt.

Lực lượng quân đội nhà Thanh vào cuối thế kỉ 19.

Liên quân trước hết đưa quân chiếm nhà ga Lão Long Đầu. Nhà ga nằm trên đường tới Bắc Kinh, lại bắc cầu phao nối với Tô giới Tử Trúc Lâm ở bờ bên kia sông để liên hệ với quân ở đó. Nghĩa Hòa Đoàn để bảo vệ Bắc Kinh và cản trở quân Tây dương tất nhiên phải quyết tâm giành lại khu vực này. Vì thế đã xảy ra những trận quyết chiến giữa hai bên ở đây.

Quân Nga đang chiếm nhà ga nhờ đại pháo chiến đấu rất ngoan cường. Tào Phúc Điền, Hàn Dĩ Lễ chỉ huy quân chống cự khiến cho đại pháo cũng mất tác dụng. Quân Tây dương xâm lược phải hoảng hồn kêu cứu, có nơi phải giương cờ trắng xin quân Thanh đình chiến. Quân Nghĩa Hòa Đoàn tiếp tục thừa thắng xông lên, tiêu diệt tới hơn năm trăm quân Nga, chiếm được nhà ga Lão Long Đầu và phần đất phía bắc.

Cũng lúc đó, Trương Đức Thành mang hơn năm nghìn quân Nghĩa Hòa Đoàn trong "Thiên hạ đệ nhất đoàn" từ trấn Độc Lưu tới tiến công mãnh liệt vào tô giới Trúc Lâm. Trong tô giới, liên quân chôn rất nhiều mìn để chờ quân Nghĩa Hòa Đoàn tiến vào. Trương Đức Thành cho người tìm mấy chục con trâu, đuôi trâu buộc rẻ tẩm dầu rồi châm lửa. Đàn trâu hoảng sợ lao về phía trước, đuôi trâu lửa bốc nghi ngút khiến trận địa náo loạn. Toàn bộ mìn do quân Tây dương chôn sẵn nổ inh tai nhức óc, "Địa lôi trận" của họ phá sản. Quân Nghĩa Hòa Đoàn xốc tới, tiêu diệt rất nhiều quân Tây Dương, sau đó cướp bóc, thiêu hủy nhiều nhà cửa. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thiên Tân, một bộ phận quân triều đình cũng tích cực tham gia chiến đấu, có một số gia nhập quân Nghĩa Hòa Đoàn. Nhưng Bang biện Bắc dương quân vụ đại thần Tống Khánh đến Thiên Tân đã chỉ huy quân triều đình bao vây quân Nghĩa Hòa Đoàn. Đồng thời, cùng lúc đó, một lực lượng quân triều đình tiến hành tập kích từ phía sau làm hơn hai nghìn chiến sĩ Nghĩa Hòa Đoàn thương vong, phá hủy hoàn toàn các cứ điểm của quân Nghĩa Hòa Đoàn ở Thiên Tân. Vừa phải chiến đấu chống quân triều đình, vừa phải chiến đấu chống quân Tây dương, sau những hy sinh nặng nề, cuối cùng, ngày 17 tháng 6 (tức ngày 13 tháng 7 dương lịch), Thiên Tân rơi vào tay liên quân tám nước.

Tranh mô tả lính Anh và Nhật đang chiến đấu với quân đội Mãn Thanh trong trận Thiên Tân.

Sau đó, Liên quân 8 nước đã tiến hành cuộc thảm sát và cướp bóc ở Thiên Tân rồi tiến về phía Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu hoảng sợ, cử Vinh Lộc tới sứ quán của quân xâm lược cầu hòa, mang nhiều của ngon vật lạ tới thăm hỏi. Quân xâm lược không thèm chú ý, tiếp tục tiến về Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu đã hóa trang thành một phụ nữ nông dân mang theo Hoàng đế Quang Tự và các văn võ đại thần được một số người bảo vệ lặng lẽ tới Tây An. Các quý tộc và đại thần cũng đua nhau bỏ chạy. Thành Bắc Kinh chẳng mấy chốc rơi vào tình trạng hỗn loạn. Khi quân Nga cùng liên quân các nước tới Đông Tiện môn, quân Nghĩa Hòa Đoàn liều mạng chiến đấu, giết chết một tướng quân, hai quan thống binh và rất nhiều binh lính. Quân Nhật Bản dùng trang phục quân triều đình, giả làm quân của Tống Khánh cùng người Hán chui vào đội ngũ Nghĩa Hòa Đoàn tới trước cửa Triều Dương và Đông Trực gọi lính canh cửa Nghĩa Hòa Đoàn mở cổng. Quân Nghĩa Hòa Đoàn mắc mưu mở cổng thành. Ngày 20 tháng 7 (tức 14 tháng 8 dương lịch) liên quân tám nước tiến vào thành Bắc Kinh, sự kiện đó được gọi là Quốc nạn Canh Tý.

Trước hết, họ tập trung ở Đông Giao dân cảng, sau đó chia quân ra nhiều hướng, từ Thiên An Môn, Đông Hoa Môn cùng tiến đánh Hoàng cung. Quân Nghĩa Hòa Đoàn và một số vệ binh của Hoàng cung tiến hành những cuộc chiến đấu phòng ngự, họ dùng trường mâu, đại đao, gậy gộc và một số súng lấy được của liên quân để chống lại. Liên quân tám nước dùng các loại súng và pháo hiện đại tiến công, rất nhiều lính đã chết. Cuối cùng, họ đánh giáp lá cà với quân địch, dùng sức lực để chống lại sự xâm nhập của liên quân vào Hoàng cung. Qua ba ngày ba đêm chiến đấu, liên quân tám nước đã tiến được vào Hoàng cung, rồi chia Bắc Kinh làm nhiều khu vực khác nhau để chiếm đóng.

Tranh miêu tả liên quân các nước đang mổ xẻ con rồng Trung Hoa

Sau ba ngày tiến hành cuộc đại thảm sát, liên quân tám nước còn tiến hành cướp bóc bất kể trên đường phố, chùa chiền hay nhà riêng của dân chúng. Những kỳ trân dị bảo, những văn vật quý hiếm trong Cố Cung và Di Hòa Viên đều bị cướp sạch để bù cho thiệt hại của liên quân. "Vĩnh Lạc đại điển" và nhiều sách khác cũng bị đốt cháy hoặc cướp đoạt. Nhiều bảo vật, sách vở hiện nằm ở các viện bảo tàng, các thư viện ở New York, Paris, London,.…

Đến lúc này, triều đình nhà Thanh một lần nữa lại cử Lý Hồng Chương nghị hòa với quân xâm lược, chấp nhận "Nghị hòa đại cương" do liên quân đưa ra. Ngày 25 tháng 7 năm Quang Tự thứ 27 (ngày 7 tháng 9 năm 1901), lịch sử cận đại lại chứng kiến một Hiệp ước bán nước tủi nhục. Năm này theo âm lịch là năm Tân Sửu, cho nên Hiệp ước này được gọi là "Tân Sửu điều ước". Điều ước đã cho phép các nước đế quốc được đặt tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Sơn Hải Quan và binh lính thuộc các sứ quán được đóng quân ở Bắc Kinh, phá hủy pháo đài Đại Cô và pháo đài nằm giữa Bắc Kinh và Thiên Tân, bồi thường 450.000 vạn lượng bạc. Đây là một biểu hiện mới thể hiện các nước đế quốc chủ nghĩa tiến thêm một bước trong việc khống chế Trung Quốc.

PV / Theo: danviet
Link tham khảo:

Thursday, June 25, 2026

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 1: TÌM QUÊ SƠN NAM BẬN QUẦN ĐÙI, DÁ CÁ LIA THIA

Trên nẻo đường nghề nghiệp, tôi được đâu hơn mươi lần xuôi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ. Chuyến thì tôi dừng chân lâu để trải cùng cuộc sống dân nghèo hào sảng, chuyến chỉ làm khách trọ nán chơi vài hôm rồi qua miệt U Minh Hạ, Cà Mau.

Cây cầu thứ 11, nơi đã phát triển thị tứ sầm uất ở Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

"Trong khói sóng mênh mông /Có bóng người vô danh /Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu… Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng /Muỗi vắt nhiều hơn cỏ /Chướng khí mù như sương… /Thân không là lính thú /Sao chưa về cố hương…". Nhắc dải đất cuối nước Miệt Thứ - U Minh, nhiều người nghĩ đến bài thơ Sơn Nam.

Nhưng kể đâu chuyện xưa, mới cách đây vài chục năm đường về miệt dưới từng như hoang địa khắc nghiệt này vẫn xa lắc xa lơ, mà giờ đã đổi thay quá nhiều.

Trên nẻo đường nghề nghiệp, tôi được đâu hơn mươi lần xuôi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ. Chuyến thì tôi dừng chân lâu để trải cùng cuộc sống dân nghèo hào sảng, chuyến chỉ làm khách trọ nán chơi vài hôm rồi qua miệt U Minh Hạ, Cà Mau. Tuy nhiên hầu như chuyến nào cũng đọng lại trong tôi những kỷ niệm khó quên.

Đường về Miệt Thứ

Ngày nay người xứ xa mến Sơn Nam, mê những câu thơ mộc mạc mà đượm tình ông viết "Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút/ Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa", có nhiều đường tiện lợi để về thăm quê hương nhà văn.

Nhanh nhứt là ngồi máy bay đáp phi trường Rạch Giá hoặc Cà Mau. Ai đó nếu theo hướng bay Rạch Giá, chỉ ngồi xe thêm chưa đầy một tiếng đã nghe tiếng gà gáy ở Xẻo Bướm, Xẻo Rô cửa ngõ Miệt Thứ.

Đường xá giao thông về Miệt Thứ hiện nay đã rất tiện lợi - Ảnh: QUỐC VIỆT

Còn người bay Cà Mau thì phải thêm chuyến xe lâu hơn nhưng cũng chỉ tầm một tiếng già đã vào Vĩnh Thuận, ranh giới Miệt Thứ giáp Cà Mau. Kể ra tiện lợi dữ thần thiên địa, có gì xa lắc xa lơ đâu mà ông Sơn Nam bạc đầu vẫn da diết nhớ quê " Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê".

Tuy nhiên đó là thời nay trên trời có máy bay, dưới đất sẵn đường cao tốc. Mới tầm gần 30 năm trước, tôi về Miệt Thứ đâu dễ dàng vậy. Còn cà rà kể chuyện tận đời tía má, ông nội bà ngoại lại càng hun hút hơn nữa.

Nhớ mùa nước nổi năm 1997, tôi rong ruổi xe máy một mình tìm về quê hương ông già Sơn Nam ở Miệt Thứ, xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (nay là xã Đông Thái, tỉnh An Giang). 4h sáng tôi đã khởi hành từ ngã tư Bảy Hiền, Sài Gòn mà phải đến gần 19h tối thui không thấy mặt người mới đến nơi. Đoạn đường già 250km.

Quốc lộ 1A bận đó đang nâng cấp mù bụi nhưng thiệt ra mất thời gian nhứt là băng qua sông Tiền, sông Hậu và sông Cái Lớn rộng mênh mông ở ba bến phà Mỹ Thuận, Vàm Cống, Tắc Cậu đã đi vào ký ức thân thương bao đời người dân miền Tây.

Sản vật rau củ tươi ngon của Miệt Thứ bày bán tràn ngập chợ Thứ 3, trung tâm An Biên - Ảnh: QUỐC VIỆT

Đó là tôi chọn quẹo hướng quốc lộ 80 sau khi qua phà Mỹ Thuận để xuôi Sa Đéc - Lộ Tẻ - Rạch Sỏi về Miệt Thứ. Còn ai đi hướng Cần Thơ, Hậu Giang thì đi phà Cần Thơ mà vào quốc lộ 61, quốc lộ 63 về Minh Lương, Miệt Thứ...

Thời giờ hai cung đường này đều đã có phần dài đường cao tốc với những cây cầu dây văng đẹp như chiếc lược sừng cong cong của cô gái miền Tây.

Bận tôi đi chỉ có thể chọn những chuyến phà vượt trường giang mà hiếm hoi gặp may được đi sớm cũng mất nửa tiếng là nhanh, còn phải đợi vì bị kẹt phà thì một, hai tiếng là bình thường. Ai đó bị chậm trễ "đừng có làu bàu má la" như mấy cô miệt dưới này hay nói vui khi bạn trai gặp chuyện hổng vui trở mặt sưng sỉa.

Bến phà nào cũng ắp đầy kỷ niệm nhưng tôi nhớ mãi phà Tắc Cậu - Xẻo Rô qua sông Cái Lớn, Kiên Giang hay còn gọi là chuyến phà về Miệt Thứ, vì nó là "cánh cửa" cuối cùng mở ra vùng đất lạ lùng và hấp dẫn này.

Lần đó tôi đi gần cuối tháng 10-1997, tức chỉ còn ít ngày nữa xảy ra cơn bão Linda khủng khiếp làm chết hơn 3.000 người mà chủ yếu là ngư dân các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang… Trước cuồng phong, dòng Cái Lớn vẫn thơ mộng. Chuyến phà thép hơi tròng trành nhưng chẳng ai bận tâm. Trên mặt sông, nhiều con đò nhỏ nối đuôi chở cây trái, rau cỏ và cá tôm ê hề Miệt Thứ…

Miệt Thứ nhiều địa danh ngồ ngộ liên quan đến kinh rạch, cảnh vật địa phương - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cảnh quê Sơn Nam

Lần đầu tôi về vùng đất này đã lận theo mấy cuốn sách của lão nhà văn Sơn Nam như "bạn chỉ đường" nhưng không thể nào tìm ra nơi chôn nhau cắt rốn "ông già Nam Bộ" quá nổi tiếng. Xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (tên trước sáp nhập) chính là quê hương cha mẹ sinh cậu bé Phạm Văn Tày (Sơn Nam) năm 1926, mà tôi hỏi thăm cả cán bộ địa phương lẫn người cao tuổi đều chỉ nhận được những cái lắc đầu.

An Biên, cửa ngõ vào Miệt Thứ, quê hương nhà văn Sơn Nam hiện nay đã xanh ngát ruộng vườn, không còn hoang vu như thời xưa ông kể - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cuối thập niên 1990, Miệt Thứ vẫn còn "nghèo thấy bà cố luôn" như cách nói của chính bà con ở đây nhưng cũng đổi thay, phát triển hơn nhiều thời nhà văn Sơn Nam còn bận quần xà lỏn, đi đá cá lia thia hay lượm trứng chim cò với đám bạn quê xác xơ.

Nhà Nam Bộ học đáng kính này kể ông sinh ở vùng rừng tràm trầm thủy. "Ðây là khu vực thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành Thông Chí đời Gia Long đã mô tả.

Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy nước dưới rạch như mãi lưu thông…

Bờ biển là bãi bùn hàng km, đầy cây mắm, cây giá, muỗi mòng bay ào ào ngày như đêm, bước xuống thì lún ngang đầu gối. Rừng cũng vậy, mãn năm sình lầy, dưới bùn lố nhố những gốc cây đã chết hoặc cây sậy, đế khá bén nhọn.

Ấy thế mà người dân đi chân đất, gần như chẳng bao giờ bị thương tích đáng kể… Chung quanh nhà, nơi tôi chào đời, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi lại còn ong rừng (gọi ong mật). Hừng sáng trẻ con dễ đói bụng, thường đi tìm đám lau sậy hoặc cây tạp mà gặp tổ ong mật, ổ còn nhỏ ni tấc cỡ cái bánh tráng (bánh đa). Vắt mật ong, uống tại chỗ gọi là ăn điểm tâm, lát sau ra về, lừng khừng như kẻ say rượu vì mật ong có rượu, gây khó chịu lúc đói bụng. Lắm khi trẻ con đi dạo trong đồng cỏ, thu hoạch được chút ít mật ong, đem lại tiệm quán đổi lấy vài viên kẹo…" (trích Hồi ký Sơn Nam).

Gần 80 năm với bao thời cuộc chiến tranh, đói kém, ly hương… đã diễn ra trên quê hương nhà văn Sơn Nam nhưng mùa mưa năm 1997 tôi về vẫn thấy man mác cảnh này. Đó cũng chính là đặc trưng Miệt Thứ, rẻo đất thấp ven biển chằng chịt kinh rạch tự nhiên lẫn con người tạo nên và um tùm rừng tràm, lau sậy, cỏ trai, đọt choại, cỏ bàng, cỏ năn.

Mãi đến gần năm 2000, sản vật tự nhiên vẫn ê hề khắp Miệt Thứ. Sau một ngày mần ăn ở bãi biển hay dưới tán rừng tràm, kinh rạch, trảng bưng, sáng sáng người dân đem rau rừng, mật ong, cá tôm, rắn rùa lên bán ở các chợ Thứ như Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Chín Rưỡi, Thứ Mười Một…

Chợ quê này giờ đầy tiệm vàng, còn ngày đó chưa sầm uất nhưng cũng đã rộn rã động cơ tắc ráng, vỏ lãi lẫn tiếng ca cải lương vọng ra từ máy cassette xài bình ắc quy. Bài Em về Miệt Thứ của nhạc sĩ Hà Phương nghe giữa cảnh sông nước mà da diết: "Em yêu anh nên đành xa xứ/ Xuôi ghe chèo Miệt Thứ Cà Mau… /Sương khuya ướt đẫm giàn bầu/ Em về Miệt Thứ bỏ sầu cho ai"…

Người xứ xa đến Miệt Thứ hay tò mò cái tên ngồ ngộ này. Thiệt ra Thứ là tên các con kinh như "mặt tiền" ở đây để lưu dân ngày xưa tìm đến tụ cư lần hồi phát triển xóm ấp và địa danh Miệt Thứ cũng được miệng dân quen gọi từ đó.

Khách qua cầu Cái Bé, Cái Lớn đã đặt chân đến Miệt Thứ gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, Kiên Giang (nay là các xã thuộc An Giang). Kinh Thứ Hai chào đón rồi đến kinh Thứ Ba, Thứ Tư và lần lượt đến kinh Thứ Mười Một. Theo quốc lộ 63 cặp bờ kinh xáng Xẻo Rô, khách băng qua các cây cầu cùng tên Thứ như tâm điểm của các xóm ấp, thị trấn.
------------------------------------

"Thỉnh thoảng dân bắt rắn, bắt lươn dùng chĩa mà xom, phát hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa". Liệu Sơn Nam có quá lời?

>> Kỳ tới: Dưới sông cá lội, trên bờ cọp tha

Quốc Việt / Theo: tuoitre



MÓN GÀ PHÁP XA XỈ NẤU TRONG BÀNG QUANG HEO

Tại Paris, món Poularde de Bresse en vessie (gà Bresse nấu trong bàng quang heo) là một trong những biểu tượng của ẩm thực thượng lưu nước Pháp.

Giống gà Bresse nổi tiếng với chất lượng thịt thượng hạng và giá bán đắt đỏ (Ảnh: The Peasant’s Daughter).

"Linh hồn" của món Poularde de Bresse en vessie chính là giống gà Bresse, chỉ được nuôi tại vùng Bresse, miền đông nước Pháp, với quy định nghiêm ngặt về diện tích chăn thả, chế độ ăn và thời gian nuôi.

Mỗi con gà phải có tối thiểu 10m² không gian ngoài trời, được ăn ngũ cốc và sữa, sau đó trải qua giai đoạn “vỗ béo” cuối cùng trong chuồng gỗ truyền thống.

Giống gà này được miêu tả là "nữ hoàng của các loài gà" nhờ chất thịt săn chắc nhưng mềm, lớp mỡ mịn và hương vị đậm đà đặc trưng. Gà Bresse nguyên con có thể đạt mức trên dưới 1 triệu đồng/kg và cao hơn vào mùa lễ.

Tổng thống Pháp nhiều thời kỳ được cho là thường chọn gà Bresse trong các quốc yến. Màu lông trắng, mào đỏ và chân xanh của gà Bresse còn được xem là trùng với 3 màu quốc kỳ Pháp - điều càng củng cố vị thế như “biểu tượng quốc gia” của giống gia cầm này.

Trong món Poularde de Bresse en vessie, con gà được nấu bên trong bàng quang heo nhằm giữ trọn tinh chất và hương vị của nguyên liệu khi nấu chín.

Bàng quang heo được buộc kín, phồng lên như một quả bóng trong quá trình chế biến (Ảnh: Épicure).

Trong phiên bản cổ điển, trước khi chuyển vào bọng heo, gà Bresse được nhồi các nguyên liệu cao cấp như nấm truffle và gan ngỗng để tạo độ phong phú về mùi vị và tăng độ béo ngậy. Sau đó, bọng heo được buộc kín và nấu trong nước dùng gà ở lửa nhỏ, khiến bọng phồng lên như quả bóng đầy hơi.

Khi món ăn được mang ra tới bàn, bọng heo được cắt mở ngay tại chỗ, tỏa ra một làn khói thơm thoang thoảng. Công đoạn này là một phần không thể thiếu của trải nghiệm fine dining (ẩm thực cao cấp).

Một trong những địa điểm nổi tiếng phục vụ Poularde de Bresse en vessie là nhà hàng Épicure tại khách sạn 5 sao Le Bristol Paris (Pháp).

Đầu bếp phục vụ món ăn tại bàn (Ảnh: Épicure).

Theo Tastytastic, Épicure là một trong những nhà hàng danh giá nhất thế giới với 3 sao Michelin. Nhà hàng cũng coi món này là “signature dish” (món đặc trưng) của mình, phục vụ trong thực đơn cao cấp.

Không chỉ tại Paris, món này còn từng xuất hiện ở các nhà hàng danh tiếng khác, như phiên bản demi-deuil (gà với nấm truffle kẹp dưới da) tại nhà hàng L’Auberge du Pont de Collonges của Paul Bocuse - đầu bếp huyền thoại Pháp.

Theo trang Mashed, món Poularde de Bresse en vessie tại Épicure được bán với giá khoảng 360 euro (khoảng 11 triệu đồng), phục vụ cho hai người.

Ái Vy / Theo: Dân Trí



ỨC GIANG NAM - HOÀNG PHỦ TÙNG


Ức Giang Nam

Lan tẫn lạc,
Bình thượng ám hồng tiêu.
Nhàn mộng Giang Nam mai thục nhật,
Dạ thuyền xuy địch vũ tiêu tiêu,
Nhân ngữ dịch biên kiều.


憶江南 - 皇甫松

蘭燼落
屏上暗紅蕉
閒夢江南梅熟日
夜船吹笛雨瀟瀟
人語驛邊橋


Ức Giang Nam
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Hắt hiu ngọn nến vừa tàn. 
Bình phong khuất lấp, hồng nhan bóng mờ. 
Giang Nam mộng chín hoa mơ. 
Vi vu tiếng sáo đợi chờ thuyền ai ?. 
Mưa đêm lất phất nhạt phai. 
Tiếng người cưới nói mé ngoài bến sông.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Phủ Tùng 皇甫松 tự Tử Kỳ 子奇, tự hiệu Đàn loan tử 檀欒子, năm sinh mất không rõ, người Tân An, Mục Châu đời Vãn Đường, con của Hoàng Phủ Thục 皇甫湜 (tác gia). Trong Hoa gian tập gọi ông là “Hoàng Phủ tiên bối” cho thấy ông từng đỗ tiến sĩ nhưng chưa làm quan (đời Đường thường dùng “tiên bối” để chỉ người đỗ tiến sĩ nhưng chưa làm quan).

Nguồn: Thi Viện



MẠO TỪ "THE" TRONG TIẾNG ANH: MỜ NHẠT NHƯNG LỢI HẠI

Từ 'the' hiện diện ở khắp nơi; chúng ta không thể tưởng tượng được là tiếng Anh sẽ ra sao nếu không có nó.


Nhưng nó không có gì nhiều để phân tích. Nó không có tính gợi tả, khơi gợi hoặc truyền cảm hứng.

Về mặt kỹ thuật, nó không có nghĩa gì cả. Nhưng từ có vẻ nhạt nhẽo và vô thưởng vô phạt này có lẽ là một trong những từ lợi hại nhất trong ngôn ngữ tiếng Anh.

'Sử dụng thường xuyên nhất'

'The' đứng đầu bảng xếp hạng các từ xuất hiện thường xuyên nhất trong tiếng Anh, cứ trong 100 từ được dùng thì nó chiếm 5%.

"'The' thực sự vượt xa bất cứ từ ngữ nào khác," Jonathan Culpeper, giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Lancaster, nói.

Nhưng tại sao lại như vậy? Câu trả lời là có hai khía cạnh, theo chương trình Word of Mouth của Đài BBC Radio 4.

George Zipf, nhà ngôn ngữ học và triết học Mỹ thế kỷ 20, đã trình bày nguyên tắc nỗ lực tối thiểu. Ông dự đoán rằng những từ ngắn và đơn giản sẽ là những từ xuất hiện thường xuyên nhất - và ông đã đúng.

Lý do thứ hai là 'the' nằm ở trung tâm của ngữ pháp tiếng Anh, có chức năng ngữ pháp hơn là ngữ nghĩa.

Các từ được chia thành hai loại: loại dùng diễn đạt ý nghĩa, và loại đóng vai trò xác định chức năng cần phải làm, như 'the', 'to', 'for'.

'The' có thể được dùng theo nhiều cách.

Gary Thoms, phó giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học New York, giải thích, "một từ sử dụng quá mức thông thường như thế sẽ phát triển tính linh hoạt thực sự", với nhiều cách dùng tinh tế khác nhau khiến ta khó mà xác định cụ thể.

Để giúp chúng ta hiểu được cái gì đang được đề cập, từ 'the' làm rõ ý nghĩa của danh từ trong vai trò là chủ ngữ hoặc vị ngữ. Nhờ thế cho nên ngay cả những người biết chút đỉnh tiếng Anh cũng có thể biết sự khác biệt giữa 'I ate an apple' và 'I ate the apple'.

'He scored a goal' ('anh ấy đã ghi một bàn') và 'He scored the goal' ('anh ấy đã ghi bàn thắng đó') có ý nghĩa rất khác nhau. Ảnh: Getty Images

Mặc dù bản thân 'the' không có nghĩa gì, nhưng "dường như nó có thể làm việc một cách tinh tế và kỳ diệu", nhà thơ Michael Rosen nói.

Hãy xem xét sự khác biệt giữa 'he scored a goal' ('anh ấy đã ghi một bàn') và 'he scored the goal' ('anh ấy đã ghi bàn thắng đó').

Mạo từ 'the' có mặt ngay lập tức báo hiệu điều gì đó quan trọng về bàn thắng (goal). Có lẽ đó là bàn thắng duy nhất của trận đấu? Hay có thể đó là bàn thắng quyết định giành chiến thắng chung cuộc ở cả giải? Thông thường bối cảnh quyết định ý nghĩa.

Có nhiều ngoại lệ trong cách sử dụng mạo từ xác định, ví dụ trong mối tương quan với danh từ riêng. Chúng ta không nghĩ ai đó sẽ nói 'the Jonathan' ('ông Jonathan đó') nhưng cũng không sai khi nói là 'you're not the Jonathan I thought you were' ('anh không phải là cái ông Jonathan mà tôi tưởng'). Và bình luận viên bóng đá nào đó có thể cố ý tạo ra cảm giác chung chung bằng cách nói, 'you've got the Lampards in midfield' ('chúng ta đang có những Lampard ở khu trung tuyến') để nói đến những cầu thủ giống như Lampard.

Tần suất sử dụng 'the' có thể đã tăng lên khi giao thương và sản xuất phát triển trong giai đoạn tiến tới cuộc cách mạng công nghiệp, khi chúng ta đề cập rõ về sự vật và quy trình. 'The' giúp phân biệt rõ ràng và có thể đóng vai trò như lượng từ, chẳng hạn 'the slab of butter', tức 'một thanh bơ'.

Điều này có thể dẫn đến niềm tin rằng 'the' là 'trâu cày' trong tiếng Anh; mang tính chức năng nhưng nhàm chán.

Nhưng Rosen bác bỏ quan điểm đó. Mặc dù học sinh tiểu học được dạy dùng các từ gây ấn tượng, như là dùng 'exclaimed' ('kêu lên') thay vì 'said' ('nói'), ông không cho rằng bất kỳ từ nào đó có nhiều hay ít yếu tố gây ấn tượng hơn những từ khác; tất cả tùy thuộc vào cách nó được sử dụng.

"Sức mạnh trong ngôn ngữ đến từ bối cảnh. 'The' có thể là một từ gây ấn tượng," ông nói.

Từ đơn giản nhất này có thể được sử dụng để tạo ra hiệu ứng mạnh mẽ.

Mở đầu vở kịch Hamlet, người cận vệ hô lớn 'Long live the King' ('Đức Vua vạn tuế') mà sau đó là sự xuất hiện của hồn ma bóng quế: 'Looks it not like the King?' ('Trông không giống Đức Vua?')

Chữ 'the', khán giả tự hỏi, là đề cập đến ai? Vị Vua đang sống hay một vị Vua nào đó đã chết? Sự mơ hồ như thế là loại 'mồi nhử' mà các nhà văn sử dụng để làm cho chúng ta thắc mắc, thậm chí có một chút hồi hộp.

"'The' có rất nhiều công dụng ở đây," Rosen nói.

Ý nghĩa sâu xa

'The' thậm chí có thể còn có ngụ ý triết học.

Triết gia người Áo Alexius Meinong nói rằng cụm từ biểu thị như 'the round square', tức 'hình vuông tròn' đã giới thiệu sự vật đó; giờ đây đã có một thứ như vậy.

Ảnh: Getty Images

Theo Meinong, từ này bản thân nó đã tạo ra các sự vật không tồn tại, lập luận rằng có những vật thể tồn tại và những vật thể không tồn tại - nhưng tất cả đều do ngôn ngữ tạo ra.

"'The' có một dạng tính năng ma thuật trong triết học," Barry C Smith, giám đốc Viện Triết, Đại học London, nói.

Triết gia người Anh Bertrand Russell đã viết một bài luận vào năm 1905 có tựa là On Denoting, tất cả là về mạo từ xác định.

Russell đưa ra lý thuyết về mô tả xác định. Ông cho rằng không thể chấp nhận được việc những cụm từ như 'the man in the Moon' ('người đàn ông trên Mặt Trăng') đã được sử dụng như thể người đó thực sự tồn tại.

Ông muốn sửa lại ngữ pháp bề mặt của tiếng Anh, vì nó sai lệch và 'không phải là hướng dẫn tốt cho logic của ngôn ngữ', Smith giải thích. Chủ đề này đã được tranh luận kể từ đó trong bối cảnh triết học.

"Bất chấp tính đơn giản của từ này," Thoms nhận định, "nó đã không thể được định nghĩa một cách chính xác trong một thời gian dài."

Lynne Murphy, giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Sussex, phát biểu tại Hội nghị Boring năm 2019, một sự kiện tôn vinh các chủ đề trần tục, bình thường và bị bỏ qua, nhưng được cho là thú vị.

Bà đã chỉ ra điều lạ lùng như thế nào khi từ được sử dụng phổ biến nhất trong tiếng Anh là từ mà nhiều ngôn ngữ trên thế giới không có, và những người nói tiếng Anh tuyệt vời như thế nào khi họ nắm bắt được vô số cách sử dụng nó.

Các ngôn ngữ Scandinavia như tiếng Đan Mạch hoặc tiếng Na Uy và một số ngôn ngữ Semitic như tiếng Do Thái hoặc tiếng Ả Rập sử dụng phụ tố (hoặc phần bổ sung ngắn vào cuối từ) để xác định xem người nói đang đề cập đến một đối tượng cụ thể hay sử dụng một cách chung chung.

Tiếng Latvia hoặc tiếng Indonesia sử dụng chỉ định từ - những từ kiểu như 'this' và 'that' - để làm công việc của 'the'.

Có một nhóm ngôn ngữ không sử dụng bất kỳ từ vựng nào kiểu này, chẳng hạn như tiếng Urdu hoặc tiếng Nhật.

Các từ đóng vai trò chức năng đều có nhiệm vụ rất cụ thể trong từng ngôn ngữ.

Do đó, một người nói tiếng Hindi hoặc tiếng Nga bản ngữ sẽ phải suy nghĩ rất khác khi xây dựng một câu bằng tiếng Anh.

Murphy cho biết bà đã nhận thấy, chẳng hạn, đôi khi các sinh viên Trung Quốc của bà muốn cho chắc ăn bằng cách dùng 'the' ở những chỗ không cần thiết.

Ngược lại, Smith mô tả những người bạn Nga không biết chắc khi nào nên sử dụng 'the' đến nỗi đôi khi họ tạm dừng một chút: "I went into... bank. I picked up... pen." ("Tôi đi vào... ngân hàng. Tôi nhặt... cây bút")

Những người nói tiếng Anh học một ngôn ngữ không có từ tương đương với 'the' cũng phải vật lộn và có thể bù đắp quá mức bằng cách sử dụng các từ như 'this' và 'that'.

Chia rẽ Đại Tây Dương

Ngay cả trong tiếng Anh, có những khác biệt tinh tế trong cách sử dụng 'the' trong tiếng Anh-Anh và tiếng Anh-Mỹ, chẳng hạn như khi nói về chơi nhạc cụ.

Một người Mỹ nhiều khả năng nói 'I play guitar' trong khi một người Anh có thể chọn cách nói 'I play the guitar'.

Nhưng có một số nhạc cụ mà người dân ở cả hai nước có thể vui vẻ bỏ 'the', chẳng hạn như 'I play drums'.

Tương tự, cùng một người có thể sử dụng qua lại có 'the' hay không có 'the' khi nói về chơi bất kỳ nhạc cụ nào - bởi vì cả hai cách dùng đều đúng và đều có nghĩa.

Ảnh: Getty Images

Ấy vậy mà, đi theo tâm trạng âm nhạc, có một sự khác biệt tinh tế về ý nghĩa của 'the' trong các cụm từ 'I play the piano' và 'I clean the piano'.

Câu đầu tiên chúng ta tự động hiểu là chơi piano nói chung và không giới hạn trong một cây đàn cụ thể nào, còn trong câu sau chúng ta biết rằng đó là một cây đàn piano cụ thể đang được lau chùi cho sáng bóng.

Culpeper nói 'the' xuất hiện ít hơn khoảng một phần ba trong ngôn ngữ nói.

Tất nhiên là việc nó được sử dụng thường xuyên hơn trong văn viết hay văn nói tùy thuộc vào chủ đề được đề cập. Chủ đề mang tính tình cảm, cá nhân hơn có thể sẽ có ít lần sử dụng 'the' hơn chủ đề trang trọng.

'The' xuất hiện thường xuyên nhất trong ngôn ngữ học thuật, đem đến một từ hữu ích khi truyền đạt thông tin - cho dù đó là các bài báo khoa học, hợp đồng pháp lý hoặc tin tức.

Tiểu thuyết sử dụng 'the' ít nhất, một phần bởi vì trong đó đã có các cuộc hội thoại.

Theo Culpeper, đàn ông dùng 'the' thường xuyên hơn nhiều.

Deborah Tannen, nhà ngôn ngữ học người Mỹ, đưa ra giả thuyết rằng đàn ông xử lý báo cáo nhiều hơn trong khi phụ nữ xử lý mối quan hệ nhiều hơn - điều này giải thích tại sao đàn ông sử dụng 'the' thường xuyên hơn.

Tùy thuộc vào bối cảnh và xuất thân, trong các cấu trúc quyền lực truyền thống, một người phụ nữ cũng có thể đã được xã hội đào luyện để không có tiếng nói quyền lực, cho nên có thể sử dụng 'the' ít thường xuyên hơn.

Tất nhiên là bất kỳ sự khái quát nào dựa trên giới tính như vậy cũng còn phụ thuộc vào bản chất của chủ đề được nói tới.

Những người có địa vị cao cũng sử dụng 'the' nhiều hơn - đó có thể là tín hiệu về uy thế và tầm (tự cho là) quan trọng của họ.

Và khi chúng ta nói về 'the prime minister', tức ông thủ tướng, hay 'the president', tức ông tổng thống, chữ 'the' khiến cho địa vị đó có nhiều quyền lực và quyền hạn hơn. Nó cũng có thể làm cho một khái niệm đáng tin hơn hoặc thúc đẩy chương trình nghị sự.

Nói về 'the greenhouse effect' - hiệu ứng nhà kính - hay 'the migration problem' - vấn đề di cư - làm cho những khái niệm đó trở nên xác định.

'The' có thể là một từ rất bấp bênh, Murphy nói.

Những người nói 'the Americans' thay vì đơn giản chỉ là 'Americans' nhiều khả năng là phê phán người dân nước đó về những khía cạnh nào đó.

Khi người ta nhắc đến 'the Jews', tức người Do Thái, trong giai đoạn sắp xảy ra nạn Holocaust, tức là nạn diệt chủng người Do Thái, thì dân tộc đó trở nên khác đi và mang tính khách quan.

Theo Murphy, "chữ 'the' làm cho nhóm sắc tộc này có vẻ như là một khối lớn, đồng nhất, thay vì một nhóm các cá nhân khác nhau."

Đó là lý do tại sao Trump bị chỉ trích vì sử dụng cách nói này trong bối cảnh đó trong cuộc tranh luận chạy đua chức tổng thống Mỹ hồi năm 2016.

Nguồn gốc

Chúng ta không biết chính xác 'the' bắt nguồn từ đâu - nó không có tổ tiên chính xác trong ngữ pháp tiếng Anh cổ.

Người Anglo Saxons không nói 'the', nhưng có từ của riêng họ. Những từ này không hoàn toàn tuyệt chủng, theo nhà ngôn ngữ học lịch sử Laura Wright.

Ở một số khu vực của Yorkshire, Lancashire và Cumberland còn sót lại tàn dư của các hình thức biến cách trong tiếng Anh cổ của mạo từ xác định - t' (như trong "going t' pub").

Chữ cái 'y' trong các câu nói 'ye olde tea shop' - quán trà cổ - là hệ thống chữ Thorn cũ, một phần của hệ thống chữ viết được sử dụng trên khắp Bắc Âu trong nhiều thế kỷ. Chỉ mãi đến tương đối gần đây, với sự du nhập của bảng chữ cái La Mã, 'the' mới được ra đời.

'The' xứng đáng được tôn vinh. Từ với ba chữ cái này vượt quá sức nặng của nó về cả tác động và chiều rộng của ý nghĩa ngữ cảnh.

Nó có thể là chính trị, có thể là kịch tính - thậm chí nó có thể làm xuất hiện những khái niệm không tồn tại.

Hélène Schumacher
Theo: BBC Culture

ẨM THỰC PHÚC KIẾN - TRƯỜNG PHÁI ẨM THỰC NỔI TIẾNG TẠI TRUNG QUỐC

Phúc Kiến là một tỉnh nằm ở vùng ven biển Đông Nam Trung Quốc, tiếp giáp với các tỉnh Chiết Giang, Giang Tây, Quảng Đông và nhìn ra eo biển Đài Loan, đối diện với tỉnh Đài Loan. Với vị trí địa lý chiến lược, Phúc Kiến không chỉ đóng vai trò quan trọng trong giao thương quốc tế mà còn là điểm đến hấp dẫn trong hành trình khám phá du lịch ven biển Trung Quốc.


Toàn tỉnh Phúc Kiến hiện có 9 thành phố trực thuộc tỉnh cùng Khu thí điểm hợp tác tổng hợp Bình Đàm, bao gồm 11 thành phố cấp huyện, 31 quận và 42 huyện. Phúc Kiến thuộc khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, đặc trưng bởi thời tiết ấm áp, ẩm ướt quanh năm. Với đường bờ biển dài 3.752 km, đứng thứ hai toàn quốc, cùng 501 km bờ biển nước sâu có khả năng xây dựng các bến cảng cho tàu trọng tải lớn, tỉnh này dẫn đầu cả nước về tiềm năng cảng biển.

Phúc Kiến cũng nổi bật với sản lượng thủy sản cao, bình quân đầu người xếp thứ hai toàn quốc. Là địa phương có tỷ lệ che phủ rừng lên tới 66,8% cao nhất toàn quốc suốt 43 năm liên tiếp, Phúc Kiến không chỉ giàu tài nguyên sinh thái mà còn đứng đầu khu vực Hoa Đông về trữ lượng thủy điện.

Phúc Kiến cũng là một trong những tỉnh đầu tiên của Trung Quốc mở cửa giao thương với thế giới. Nhờ lợi thế của các khu vực như đặc khu kinh tế, khu thí điểm thương mại tự do, tỉnh đã thiết lập quan hệ đầu tư và thương mại với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo nên một nền kinh tế biển Phúc Kiến phát triển năng động và hội nhập mạnh mẽ.

Lịch sử và nguồn gốc ẩm thực

Thành phố Hạ Môn (Phúc Kiến)

Lịch sử của ẩm thực Phúc Kiến có thể truy về thời cổ đại, khi dân tộc Mân Việt sinh sống tại khu vực này với nhiều phong tục ăn uống đặc trưng, tạo nền tảng ban đầu cho văn hóa ẩm thực bản địa. Đến thời Tần Hán, làn sóng di cư của người Hán từ Trung Nguyên mang theo kỹ thuật nấu nướng tiên tiến, gia nhập và giao hòa với văn hóa địa phương, tạo bước chuyển mình quan trọng cho Phúc Kiến Thái.

Thời kỳ Đường Tống, Phúc Kiến trở thành trung tâm kinh tế và thương mại lớn của Trung Quốc, các tuyến giao thương hàng hải phát triển mạnh mẽ, đưa vào nguồn hải sản phong phú và nguyên liệu mới từ nước ngoài, thúc đẩy ẩm thực Phúc Kiến phát triển vượt bậc, nhiều kỹ thuật nấu ăn đã bắt đầu định hình rõ nét phong cách ẩm thực riêng của vùng.

Đến thời Minh Thanh, ẩm thực Phúc Kiến chính thức hoàn thiện hệ thống đặc trưng của mình. Các phong cách như dùng canh làm nền, dùng đường để khử tanh, dùng giấm để làm dậy vị ngày càng tinh tế. Nhiều món ăn kinh điển và phương pháp chế biến độc đáo đã ra đời. Đồng thời, với sự mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, Phúc Kiến Thái còn tiếp thu thêm những yếu tố ẩm thực ngoại lai, càng làm giàu thêm nội dung và bản sắc.

Bước vào thời kỳ hiện đại, ẩm thực Phúc Kiến tiếp tục được kế thừa và đổi mới. Nhiều đầu bếp vẫn giữ gìn cách chế biến truyền thống qua các nhà hàng lâu đời, đồng thời áp dụng sáng tạo để tạo nên các món ăn mới phù hợp khẩu vị hiện đại. Nhờ vậy, ẩm thực Phúc Kiến không chỉ phổ biến trong nước mà còn dần vươn ra thế giới, trở thành nét văn hóa ẩm thực được yêu thích tại nhiều quốc gia.

Đặc điểm nổi bật của ẩm thực

Đặc điểm nổi bật của món ăn Phúc Kiến là chú trọng giữ được hương vị tự nhiên của nguyên liệu, đề cao sự thanh đạm, tươi ngon và vị ngọt thanh nhẹ. Đặc biệt, ẩm thực Phúc Kiến sử dụng khéo léo đường để khử mùi tanh, giấm để tăng độ đậm đà, giúp món ăn đạt được vị ngọt nhưng không ngấy, thanh nhẹ mà hấp dẫn.

Một điểm đặc sắc nữa là nghệ thuật nấu canh và súp được mệnh danh là “một canh biến thành mười món”, với kỹ thuật ninh nước dùng tinh tế để giữ lại trọn vẹn độ tươi ngon và giá trị dinh dưỡng của thực phẩm.

Về kỹ thuật chế biến, Phúc Kiến Thái nổi tiếng với tay nghề dao cắt điêu luyện, đạt đến mức “thái mỏng như giấy, thái sợi mảnh như tóc, cắt nhỏ như hoa vải thiều”, giúp món ăn không chỉ ngon miệng mà còn đẹp mắt và tinh tế. Các phương pháp nấu ăn phổ biến gồm: xào, hấp, om, kho, ninh kết hợp linh hoạt để tạo nên các món ăn phong phú về hương vị và hình thức

Những món ăn biểu tượng của ẩm thực Phúc Kiến

Phật nhảy tường - đệ nhất của ẩm thực Phúc Kiến

Phật nhảy tường

Phật Nhảy Tường, còn được gọi là “Mãn Đàn Hương” hoặc “Phúc Thọ Toàn”, là một món ăn truyền thống nổi tiếng của thành phố Phúc Châu (tỉnh Phúc Kiến), được mệnh danh là “vua của các món ăn Mân Nam” và là đại diện xuất sắc nhất của ẩm thực Phúc Kiến (Mân Thái). Món ăn này không chỉ thơm ngon bổ dưỡng mà còn mang giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc. Năm 2008, kỹ nghệ chế biến Phật Nhảy Tường đã được đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia của Trung Quốc.

Năm 1884, món ăn chính thức được trình làng với cách hầm trong niêu đất bịt kín, khi mở nắp, hương thơm lan tỏa khắp nơi. Theo truyền thuyết, mùi thơm lan tỏa đến mức khiến các nhà sư cũng phải “bỏ thiền nhảy tường” để thưởng thức từ đó món ăn có tên Phật Nhảy Tường

Phật Nhảy Tường thường xuyên xuất hiện trong quốc yến để chiêu đãi nguyên thủ quốc gia, và từng đoạt giải Kim Đỉnh danh hiệu cao quý trong ngành ẩm thực Trung Hoa. Bộ thực đơn “Phật Nhảy Tường Yến” cũng được công nhận là Danh yến Trung Quốc.Ngày nay, Phật Nhảy Tường không chỉ đơn thuần là một món ăn cao cấp, mà còn là biểu tượng của ẩm thực Phúc Kiến và di sản văn hóa ẩm thực Trung Quốc. Mỗi lần thưởng thức là một lần cảm nhận sự công phu, tinh tế và chiều sâu văn hóa mà người xưa gửi gắm qua từng nguyên liệu và kỹ thuật chế biến.

Thịt vải - món ăn dân dã của ẩm thực Phúc Kiến

Thịt vải - Món ăn đặc sản Phúc Kiến

Thịt vải, hay còn gọi là Lìzhī ròu (荔枝肉), là một món ăn truyền thống đặc sắc có xuất xứ từ Phúc Châu, thuộc ẩm thực Phúc Kiến. Món ăn này có hình dáng giống quả vải sau khi chế biến bên ngoài màu đỏ ánh vàng, bên trong mềm mọng, nên được đặt tên là “thịt vải”. Đây là món ăn không chỉ gắn bó với người dân địa phương qua nhiều thế hệ, mà còn được xem là món “nhập môn” khi học nấu Mân Thái.

Với hương vị thơm ngon và hình thức bắt mắt, năm 2016, món ăn được vinh danh là “Top 10 danh thực Phúc Châu” đến năm 2021, được chọn vào danh mục bảo tồn món ăn Mân Thái cấp thành phố.

Gà hầm nghêu biển - tinh hoa ẩm thực Phúc Kiến

Gà hầm nghêu biển

Gà hầm nghêu biển là một trong những món ăn truyền thống nổi bật của ẩm thực Mân Thái (Phúc Kiến). Với hương vị thanh ngọt, đậm đà, món ăn không chỉ làm say mê bao thực khách mà còn được xem là biểu tượng văn hóa ẩm thực của vùng duyên hải Phúc Kiến.

Có hai truyền thuyết thú vị về nguồn gốc món ăn này:
  • Thuyết thứ nhất kể rằng vào thời Vạn Lịch nhà Minh, một thương nhân giàu có tên Trần Ngao Các đã mời đầu bếp vùng Giang Nam đến Phúc Châu để sáng tạo món mới chiêu đãi khách quý. Từ gà thả vườn và nghêu biển tươi vùng ven biển, các đầu bếp đã sáng chế ra món gà hầm nghêu biển, trở thành điểm nhấn trên bàn tiệc và nhanh chóng lan truyền rộng rãi.

  • Thuyết thứ hai gắn liền với danh tướng Tề Kế Quang. Năm Gia Tĩnh thứ 41, sau khi dẹp giặc tại Phúc Kiến, dân chúng huyện Trường Lạc dùng món canh nghêu để chiêu đãi quân sĩ. Tề Kế Quang ca ngợi món ăn, đặt tên là gà hầm nghêu biển, từ đó lan truyền đến Phúc Châu, trở thành món đặc sản trứ danh.
Món ăn được chọn vào thực đơn quốc yến, tiếp đãi nguyên thủ quốc gia và vinh dự xuất hiện tại Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan và Đông Nam Á, trở thành “danh thiếp” của ẩm thực Trung Hoa trên trường quốc tế.

Gà luộc Hòa Điền - món ăn truyền thống ẩm thực Phúc Kiến

Gà luộc Hòa Điền là một món ăn truyền thống nổi bật của Trường Đinh, thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, nằm trong hệ thống ẩm thực khách gia miền Tây Phúc Kiến. Món ăn sử dụng giống gà Hòa Điền nổi tiếng, kết hợp với phương pháp chế biến đơn giản nhưng tinh tế, nhằm giữ trọn hương vị nguyên bản, thanh ngọt và tươi ngon của thịt gà.

Giống gà Hòa Điền có lịch sử nuôi dưỡng lâu đời, từ thời nhà Đường, gắn liền với điều kiện tự nhiên lý tưởng tại thị trấn Hòa Điền, Trường Đinh nơi có nguồn nước trong lành, khí hậu ôn hòa, thức ăn phong phú và môi trường sinh thái ổn định. Qua nhiều thế hệ chọn giống và lai tạo, gà Hòa Điền đã trở thành một trong những giống gà bản địa chất lượng cao nhất Trung Quốc.

Gà luộc Hòa Điền

Món gà luộc Hòa Điền ra đời như một cách tôn vinh trọn vẹn độ ngon của loại gà quý này. Phương pháp luộc nguyên con, không tẩm ướp giúp giữ nguyên độ ngọt, mềm và thơm của thịt gà, là lựa chọn hàng đầu trong các dịp lễ Tết, cưới hỏi, mừng thọ, tế tổ trong văn hóa người khách gia nơi gà tượng trưng cho phúc lành, đoàn viên và sung túc.

Hiện nay, gà luộc Hòa Điền đã được ghi danh trong “Trung Quốc Thái Phổ” và trở thành một phần không thể thiếu của ẩm thực Phúc Kiến truyền thống.

Ẩm thực Phúc Kiến là sự kết tinh tuyệt vời giữa nguồn nguyên liệu phong phú của vùng đất ven biển và kỹ thuật chế biến tinh tế được lưu truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đều thể hiện sự chăm chút và tinh thần dưỡng sinh đặc trưng của người dân nơi đây. Những món ăn này không chỉ làm phong phú thêm văn hóa ẩm thực Phúc Kiến, mà còn mang theo thông điệp về sự gắn bó, ấm áp và quan tâm dành cho người thân yêu.

Với hương vị độc đáo, giá trị dinh dưỡng cao và câu chuyện văn hóa sâu sắc phía sau từng món ăn, ẩm thực Phúc Kiến xứng đáng là đại diện tiêu biểu cho nghệ thuật nấu ăn Trung Hoa, là điểm đến lý tưởng cho những tâm hồn yêu ẩm thực, yêu văn hóa và muốn khám phá chiều sâu tinh thần phương Đông qua từng hương vị.

Theo: studyinchina.io