Độc ỷ nguy lâu phong tế tế.
Vọng cực ly sầu,
Ảm ảm sinh thiên tế.
Thảo sắc sơn quang tàn chiếu lý.
Vô nhân hội đắc bằng lan ý.
Dã nghĩ sơ cuồng đồ nhất tuý.
Đối tửu đương ca,
Cưỡng lạc hoàn vô vị.
Y đới tiệm khoan chung bất hối.
Vị y tiêu đắc nhân tiều tuỵ.
蝶戀花 - 柳永
獨倚危樓風細細。
望極離愁,
黯黯生天際。
草色山光殘照裏。
無人會得憑闌意。
也擬疏狂圖一醉。
對酒當歌,
強樂還無味。
衣帶漸寬終不悔。
為伊銷得人憔悴。
Điệp luyến hoa
(Dịch thơ: HHD)
Đứng tựa lầu cao làn gió nhẹ,
Trông xa viễn cực,
mối ly sầu.
Buồn dâng tình tự chân trời thẳm,
Trong nắng tàn, sơn thảo sắc mầu.
Tấc dạ lan can ai hiểu thấu?
Say sưa tuý luý,
muốn cuồng ngông.
Rượu đầy ca hát đều vui gượng,
Tiều tuỵ vui chăng, một bóng hồng.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Liễu Vĩnh 柳永 (khoảng 987 - khoảng 1053) tự Kỳ Khanh 耆卿, người huyện Kỳ An, tỉnh Phúc Kiến. Năng cải trai man lục nói: “Từ tự Nam Đường trở xuống, chỉ có tiểu lệnh. Mạn từ tới thời vua Tống Nhân Tông (1023-1062) trung nguyên thanh bình, Biện kinh phồn thịnh, ca đài vũ tạ, đua thưởng tân thanh. Kỳ Khanh lưu liên phường khúc, thu hết lời nói quê mùa, biên vào trong từ, cho người truyền lưu ca xướng, rồi sau có Thiếu Du và Sơn Cốc kế tiếp, nên man từ trở thành đại thịnh”. Hiện Liễu Vĩnh còn Nhạc chương tập 樂章集 3 quyển.
Nguồn: Thi Viện