Wednesday, September 4, 2024

TẠI SAO "BLACK MYTH: WUKONG" CÓ THỂ TẠO RA CƠN "SỐT" TRONG CỘNG ĐỒNG GAME THỦ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI?

Black Myth: Wukong, trò chơi điện tử lấy cảm hứng từ Tây Du Ký, không chỉ là một hiện tượng trong làng game mà còn là biểu tượng của sự trỗi dậy mạnh mẽ của văn hóa Trung Quốc trên toàn cầu. Từ việc thống trị doanh thu bán hàng đến việc khiến người chơi phương Tây học tiếng Trung, trò chơi này đã minh chứng cho sức mạnh của văn hóa Trung Quốc trong ngành công nghiệp giải trí toàn cầu.


Thống kê ấn tượng và vị thế toàn cầu

Theo các dự báo từ các trang web phân tích dữ liệu game, Black Myth: Wukong đã thu về khoảng 8,7 triệu USD chỉ trong giai đoạn đầu, và tổng doanh thu có thể đạt tới 400 triệu USD, tương đương khoảng 2,8 tỷ nhân dân tệ. Đây là một con số không tưởng đối với một trò chơi điện tử do Trung Quốc sản xuất, đặc biệt là khi nói đến thể loại trò chơi một người chơi. Thành công này đánh dấu một sự kiện lịch sử trong lĩnh vực trò chơi điện tử, đưa Black Myth: Wukong trở thành trò chơi có doanh thu cao nhất được sản xuất tại Trung Quốc.

Không chỉ tạo nên cơn sốt trong nước, trò chơi này còn thu hút một lượng lớn người chơi quốc tế, đặc biệt là ở châu Âu và Hoa Kỳ. Nhiều game thủ trẻ đã bắt đầu học tiếng Trung Quốc để có thể hiểu rõ hơn về chiến lược và cốt truyện của trò chơi, từ đó góp phần đưa văn hóa Trung Quốc ra toàn thế giới. Black Myth: Wukong đã khiến những câu chuyện cổ tích như Tây Du Ký trở nên gần gũi hơn với người chơi quốc tế, từ đó nâng cao nhận thức và sự quan tâm đến văn hóa Trung Hoa.


Cú lội ngược dòng của văn hóa Trung Hoa trong thế giới game

Trong nhiều thập kỷ, các trò chơi điện tử đến từ Mỹ, Nhật Bản, và Hàn Quốc đã thống trị thị trường Trung Quốc. Những cái tên như The Lengend of Mir , Counter-Strike, World of Warcraft của Mỹ, hay Three Kingdoms đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống giải trí của nhiều thế hệ người Trung Quốc. Đặc biệt, Nhật Bản với trò chơi Three Kingdoms đã thành công khi sử dụng bối cảnh lịch sử Trung Quốc, như thời kỳ Tam Quốc, để sản xuất các trò chơi, từ đó không chỉ kiếm được lợi nhuận lớn mà còn xuất khẩu văn hóa của mình sang Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.

Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của một trò chơi như Black Myth: Wukong không chỉ là một làn gió mới mà còn là minh chứng cho sự trỗi dậy của văn hóa Trung Quốc trong ngành công nghiệp game. Thay vì nhập khẩu văn hóa từ các quốc gia khác, Trung Quốc đã bắt đầu tự tin xuất khẩu văn hóa của mình thông qua các sản phẩm giải trí chất lượng cao.


Black Myth: Wukong và sự xuất sắc của game 3A Trung Quốc

Để đạt được thành công này, Black Myth: Wukong đã được đầu tư kỹ lưỡng về mặt kỹ thuật và sáng tạo. Đây là một trò chơi thuộc thể loại 3A, tức là có chi phí phát triển cao, chu kỳ sản xuất dài, yêu cầu nhiều tài nguyên và chất lượng cao. Đồ họa tuyệt đẹp, công nghệ 3D tiên tiến và cốt truyện sâu sắc đã giúp trò chơi này ghi điểm trong mắt người chơi cũng như giới phê bình. Thêm vào đó, trò chơi còn thể hiện đậm chất văn hóa truyền thống Trung Quốc qua việc tái hiện các cảnh quan lịch sử và hình ảnh của Tây Du Ký.

Một yếu tố quan trọng giúp Black Myth: Wukong thành công là việc sử dụng các địa điểm lịch sử thực tế tại Trung Quốc làm nền tảng cho trò chơi. Hơn một nửa số cảnh trong game được lấy cảm hứng từ các di tích lịch sử nổi tiếng như Chùa Phật Quang và Đền Ngọc Hoàng ở Sơn Tây Trung Quốc. Điều này không chỉ giúp trò chơi trở nên chân thực mà còn đóng góp vào việc quảng bá du lịch và văn hóa Trung Quốc đến với cộng đồng quốc tế.


Phá vỡ sự thống trị của châu Âu và Mỹ

Trước khi được phát hành, Black Myth: Wukong đã đứng đầu danh sách bán hàng tại 23 trên tổng số 30 khu vực của nền tảng Steam. Khi ra mắt, trò chơi nhanh chóng phá vỡ sự thống trị lâu dài của các trò chơi 3A đến từ châu Âu và Mỹ. Tạp chí game uy tín IGN đã không ngần ngại đánh giá trò chơi này với số điểm gần như tối đa, trong khi Metacritic cũng ghi nhận điểm số 81/100 từ 60 tổ chức đánh giá quốc tế, bao gồm 45 đánh giá tích cực.

Theo số liệu thống kê, Black Myth: Wukong đã bán được hơn 3 triệu bản trên Steam và tổng cộng hơn 4,5 triệu bản trên các nền tảng khác, mang lại tổng doanh thu hơn 1,5 tỷ nhân dân tệ. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển của ngành công nghiệp game Trung Quốc, đánh dấu một bước tiến lớn trong việc nâng cao sức mạnh mềm văn hóa.


Thành công của Black Myth: Wukong không chỉ nằm ở doanh thu mà còn ở khả năng truyền tải văn hóa một cách hiệu quả. Trò chơi này đã giúp văn hóa Trung Quốc tiếp cận được với nhiều người chơi trên toàn thế giới, tạo ra sự kết nối giữa người chơi và những câu chuyện cổ tích Trung Quốc. Sự nổi tiếng của Black Myth: Wukong cũng khẳng định rằng Trung Quốc có thể và sẽ tiếp tục sản xuất những trò chơi điện tử chất lượng cao mang đậm bản sắc văn hóa.

Giống như cách mà Disney và các bộ phim bom tấn của Mỹ đã giúp văn hóa Mỹ lan tỏa khắp thế giới, Black Myth: Wukong đang mở ra một con đường mới cho văn hóa Trung Quốc chinh phục trái tim của người chơi toàn cầu. Với lịch sử 5.000 năm, Trung Quốc còn nhiều câu chuyện để kể và những chủ đề này hoàn toàn có thể được khai thác để tạo ra những tác phẩm game chất lượng cao trong tương lai. Điều quan trọng là đảm bảo rằng những câu chuyện này không chỉ hấp dẫn mà còn phản ánh chân thực và sâu sắc văn hóa và tinh thần của dân tộc Trung Hoa.

Đức Khương / Theo: ĐSPL



Tuesday, September 3, 2024

BA SÂN BAY CÔ ĐƠN NHẤT TRUNG QUỐC CHỈ CÓ MỘT CHUYẾN BAY MỖI NGÀY, NHƯNG CHÚNG CÓ Ý NGHĨA VÔ CÙNG LỚN

Đất nước Trung Quóc rộng lớn có rất nhiều sân bay, trong đó có nhiều sân bay quốc tế, với những chuyến bay tấp nập. Tuy nhiên, vẫn còn một số sân bay dù có cơ sở vật chất đầy đủ nhưng lại hiếm khi có chuyến bay cất cánh, hạ cánh, khiến chúng trở thành những “sân bay cô đơn”.


Sân bay Qilian: Cửa ngõ kết nối cao nguyên Thanh Hải

Sân bay Qilian (祁連機場) nằm ở huyện Qilian, tỉnh Thanh Hải. Trên cao nguyên lạnh lẽo và nhấp nhô này, sân bay Qilian giống như một viên ngọc sáng được gắn vào núi. Mặc dù mỗi ngày chỉ có một chuyến bay cất cánh và hạ cánh nhưng đây là cửa ngõ hàng không quan trọng nối cao nguyên Thanh Hải với thế giới bên ngoài.

Huyện Qilian nằm ở một khu vực hẻo lánh, giao thông bất tiện. Trước khi sân bay Qilian được xây dựng, người dân địa phương phải vượt đèo và những rặng núi để ra ngoài, điều này tốn rất nhiều thời gian và sức lực. Việc hoàn thành và khai trương sân bay Qilian chắc chắn đã tiếp thêm sức sống mới cho vùng đất này. Nó không chỉ cải thiện đáng kể điều kiện giao thông địa phương và mang đến cho người dân sự lựa chọn thuận tiện trong việc đi lại mà còn thúc đẩy sự phát triển du lịch địa phương, giúp nhiều người có cơ hội chiêm ngưỡng cảnh đẹp của dãy núi Qilian.

Mỗi khi màn đêm buông xuống, ánh đèn của sân bay Qilian lấp lánh trên cao nguyên như ngôi sao sáng nhất trên bầu trời đêm. Những nhân viên hàng không dân dụng gắn bó với chức vụ của mình đã mang lại hy vọng và tương lai cho vùng đất này bằng sự chăm chỉ và nỗ lực.

Sân bay Qilian, nằm trên cao nguyên Thanh Hải hùng vĩ, là một trong những sân bay quan trọng của Trung Quốc. Với vị trí địa lý đặc biệt, sân bay này đóng vai trò là cửa ngõ kết nối cao nguyên Thanh Hải với các khu vực khác của đất nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

Sân bay Alxa Right Banner Badanjilin: Cây cầu trên không của Alxa Right Banner

Sân bay Alxa Right Banner Badanjilin (阿拉善右旗巴丹吉林機場) nằm ở thị trấn Badanjilin, nơi tọa lạc của Alxa Right Banner ở Nội Mông, Trung Quốc. Điều đặc biệt ở sân bay này là nó là sân bay dành cho hành khách đầu tiên ở khu vực này, mang đến cho người dân địa phương một phương tiện đi lại thuận tiện hơn.

Trước khi sân bay Alxa Right Banner Badanjilin được xây dựng, cư dân của Alxa League phải di chuyển đến các thành phố khác nếu muốn bay ra ngoài. Điều này không chỉ làm tăng chi phí đi lại mà còn lãng phí thời gian. Việc hoàn thành và khai trương sân bay Alxa Right Banner Badanjilin đã chấm dứt hoàn toàn lịch sử trước đó của Alxa League - không có hoạt động kinh doanh vận tải hàng không dân dụng. Nó giống như một cây cầu trên không, kết nối chặt chẽ vùng đất này với thế giới bên ngoài.

Việc hoàn thành sân bay Alxa Right Banner Badanjilin không chỉ thể hiện sức mạnh kỹ thuật và trình độ quản lý của ngành hàng không dân dụng Trung Quốc mà còn phản ánh sự chú trọng của quốc gia này trong việc phát triển giao thông vận tải ở các vùng sâu vùng xa. Việc khai trương sân bay này đã mang lại sự thuận tiện và hạnh phúc thực sự cho người dân địa phương, đồng thời cũng tạo ra hình mẫu cho sự phát triển của ngành hàng không dân dụng tại quốc gia này.

Trước khi sân bay được xây dựng, cư dân Alxa League phải di chuyển đến các thành phố khác nếu muốn bay, làm tăng chi phí và lãng phí thời gian. Sân bay Badain Jaran đã kết nối Alxa League với thế giới bên ngoài, như một cây cầu trên không.

Sân bay Ejin Banner Taolai: Động lực mới cho du lịch

Sân bay Ejin Banner Taolai (額濟納旗桃來機場) tọa lạc tại Ejina Banner, Liên đoàn Alxa, Khu tự trị Nội Mông. Vùng đất này nổi tiếng thế giới với cảnh quan thiên nhiên độc đáo, thu hút một lượng lớn khách du lịch mỗi năm. Việc hoàn thành và khai trương sân bay Ejin Banner Taolai chắc chắn đã tiếp thêm sức sống mới cho địa điểm du lịch này.

Mặc dù sân bay Ejin Banner Taolai chỉ có một chuyến bay cất cánh và hạ cánh mỗi ngày nhưng đây là tuyến hàng không quan trọng kết nối Ejina Banner với thế giới bên ngoài. Sân bay có cơ sở vật chất đầy đủ và dịch vụ chu đáo, mang đến cho hành khách trải nghiệm du lịch thoải mái và thuận tiện. Đồng thời, sân bay Ejin Banner Taolai cũng tích cực thúc đẩy các biện pháp bảo vệ môi trường như vé điện tử và quy trình lên máy bay không cần giấy tờ, góp phần thúc đẩy du lịch xanh.

Mỗi khi mùa du lịch đến gần, sân bay Ejin Banner Taolai sẽ đón những đợt khách du lịch nhất định. Họ đã để lại tiếng cười và những kỷ niệm đẹp ở đây, đồng thời cũng tạo động lực mới cho sự phát triển du lịch ở Ejina Banner.

Sân bay Ejina Banner Taolai tọa lạc tại Ejina Banner, Liên đoàn Alxa, Khu tự trị Nội Mông, nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên độc đáo.

Vai trò quan trọng của những sân bay cô đơn

Ba sân bay cô đơn này tuy không có nhiều chuyến bay mỗi ngày nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Chúng không chỉ cung cấp cho người dân địa phương khả năng đi lại thuận tiện mà còn thúc đẩy sự phát triển của du lịch địa phương. Sự hiện diện của các sân bay này là minh chứng cho sự phát triển chung của ngành hàng không dân dụng Trung Quốc và sự chú trọng phát triển giao thông ở các vùng sâu vùng xa.

Trong tương lai, có thể sẽ có thêm nhiều sân bay tương tự được mở cửa tại quốc gia này, cung cấp cho người dân vùng sâu vùng xa những phương thức đi lại thuận tiện và hiệu quả hơn.

Đức Khương / Theo: ĐSPL
Link tham khảo:



TU LUYỆN MỘT ĐỜI KHÔNG CHÍNH QUẢ, MỘT NGÀY HƯỚNG PHẬT LẠI HỒI THIÊN

Khi nhà sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang lăm lăm cầm một mũi mác ở tay. Hắn quát hỏi: “Mày đi đâu thế?” Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì một người thường, bèn trấn tĩnh đáp: “Tôi đi tìm Phật”…

Nguồn ảnh: ntdvn

Quý độc giả thân mến, Phật Pháp có thuyết giảng câu rằng: “Thần Phật chỉ nhìn nhân tâm”, bởi vậy mà trong cõi nhân thế xưa nay đã từng có biết bao nhiêu người ngày đêm dựng chùa, khắc tượng, siêng năng kêu cầu lễ bái mà cả đời không ngộ đạo từ bi. Ngược lại, lại có những người chỉ nhất thời xuất ra một chân tâm nguyện, chân nguyện – một lòng hướng Phật, buông bỏ mọi vị tư và danh-lợi-tình nhân thế, ấy vậy mà đột nhiên tu thành đắc đạo. Câu chuyện về nhà sư bôn ba đi tìm Phật và mẹ con nhà Ác Lai dưới đây chính là như thế…

Chuyện kể lại rằng: ngày xưa, có một nhà sư trẻ tuổi rất mộ đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện sư đã thuộc lòng tất cả những kinh kệ của nhà Phật, lại rất giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn chưa thành chính quả…

Cuộc hành trình đã được bốn mươi chín tuần trăng. Nhà sư đã nhiều lần lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét. (Ảnh: Pixabay)

Một ngày kia sư tự nhủ với lòng: “Phải hành hương đến đất Phật một phen mới có hy vọng thành chính quả”. Nghĩ vậy, nhà sư mới quyết chí tìm đường sang Tây Trúc.

Ðường đi từ nước nhà sang Tây Trúc ngày đó quả là mịt mùng gian khó. Việc qua lại hầu hết là theo đường bộ, mà đi bộ thì thật là muôn vàn nguy hiểm. Nhưng nhà sư trẻ tuổi quả quyết nhằm hướng tây mà tiến bước.

Cuộc hành trình đã được bốn mươi chín tuần trăng. Nhà sư đã nhiều lần lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét, nhưng nhờ được giúp đỡ của những người qua đường nên đều qua khỏi, và cứ thế ông tiếp tục cuộc hành trình.

Một hôm, nhà sư đến một khu rừng thì trời đã về chiều. Sư cố bước dồn, những mong tìm được một nơi nghỉ ngơi vì trong người đã thấy ơn ớn lạnh. May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà. Nghe tiếng gọi cửa, một bà cụ già bước xuống sàn. Sư tỏ ngay ý định của mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà cụ vừa thấy khách đã xua tay rối rít.

– Đi mau lên! Mau lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng.

Sư đáp:

– Tôi bây giờ thật là kiệt sức, không thể nào bước được bước nữa. Nếu không cho nghỉ thì cũng đành nằm liều trước cửa đây mà thôi.

Bà cụ nghe vậy rối rít bảo:

– Chao ôi! Con ta vốn là Ác Lai, một kẻ hay ăn thịt người. Hãy bỏ chạy đi nhanh lên, bây giờ nó sắp về rồi đó!

Nhưng sư đã vứt tay nải, nằm vật xuống đất. Hai đầu gối va vào nhau lập cập. Bà cụ thấy vậy không biết nói thế nào nữa, đành nắm tay ông, cố hết sức mà lôi đến một cái hầm đá lớn. Sau khi đẩy nhà sư vào, bà cụ bảo ông phải cố giữ cho im lặng, nếu như không muốn chết thê thảm. Ðoạn, bà cụ chất củi phủ lá che đậy lại căn hầm rất kín đáo.

Bà cụ không biết nói thế nào nữa, đành nắm tay ông mà lôi đến một cái hầm đá lớn. (Ảnh: Shutterstock)

Trời tối hẳn thì Ác Lai về đến nhà, vai hắn vác một con mang lớn, hắn dừng lại ở chân cầu thang và khịt mũi mãi. Rồi nói:

– Có mùi thịt mẹ ạ!

Mẹ hắn đáp:

– Thì chả là thịt con đem về đây là gì?

– Không phải. Thịt người. Con biết lắm. Có mùi thịt người, hắn trợn mắt nói.

Bà cụ chưa kịp cản thì hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi chạy đi tìm. Chả mấy chốc, hắn đã lôi được nhà sư đang bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình.

Khi sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm lăm ở tay. Hắn quát hỏi:

– Mày đi đâu thế?

Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì một người thường, bèn trấn tĩnh đáp:

– Tôi đi tìm Phật.

– Tìm để làm gì? – Ác Lai hỏi.

Nhà sư bây giờ mới nói rõ mục đích của mình, ngài ôn tồn giảng giải đạo lý từ bi cho hắn. Sư nói mãi, kể lại bao nhiêu tháng ngày gian khổ của mình dọc đường ra sao, và niềm mong muốn cuối cùng là làm sao tìm được Ðức Phật để mà thành đạo.

Và niềm mong muốn cuối cùng là làm sao tìm được Ðức Phật để mà thành đạo. (Ảnh: Pixabay)

Sư nói khéo quá, đến nỗi mẹ con Ác Lai đều cảm động mà rơi nước mắt. Thấy họ thành thật hối lỗi. Sư cho họ biết là họ cũng sẽ trở nên “vô sinh vô diệt”, sẽ sống một đời sống vô cùng sung sướng trên Thiên giới, nếu họ kiên quyết bỏ ác làm thiện… Thế rồi, tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai từ từ buông rơi xuống sàn. Những biểu hiện dữ dằn, hung ác trên khuôn mặt lúc nãy bây giờ đã dịu lại.

Sáng hôm sau, khi nhà sư chuẩn bị lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp sẵn lương thực cho ông. Họ lại tiễn đưa sư đi qua một ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt n nhà sư, Ác Lai hỏi:

– Tôi biết lấy gì mà dâng Phật đây?

Sư đáp:

– “Tâm tức thị Phật. Phật tức thị tâm”. Chỉ cần có lòng thành tâm hướng Phật là đủ.

Sư không ngờ vừa nghe thấy vậy, Ác Lai đã rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch từ ngực tới bụng mình, lôi ra cả một mớ ruột gan đưa cho nhà sư rồi y chỉ kịp nói nhanh qua hơi thở đứt đoạn:

– Nhờ hòa thượng đưa hộ… dâng lên Ðức Phật!

Sư lấy làm bối rối quá. Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào đây. Cuối cùng nhà sư đành nhìn vào cặp mắt đầy trăn trối và chân thành của Ác Lai, gật đầu nhận lời rồi gói bộ lòng của con người đáng thương đó mà quả quyết lên đường…

Sư vừa đi được mấy ngày thì khu rừng rậm biến mất, hiển lộ ra trước mặt là cảnh trời nước mênh mông bát ngát trông thật là thanh bình và khoáng đạt, nhưng trong bụng sư thì chẳng vui một tí nào. “Món lễ vật” của Ác Lai nhờ dâng Ðức Phật đang đè nặng trên vai ông. Nếu chỉ có thế thì không có gì là đáng ngại cho lắm! Khổ một nỗi là mùi xú uế trong bộ lòng kia xông ra ghê sợ khó tả! Sư đã bọc nó ba tầng bốn lớp mà cái mùi kia vẫn bốc lên nồng nặc. Sư lẩm bẩm:

“Như thế này thì các nhà trọ dọc đường còn ai dám chứa mình đây!”…

Qua ngày hôm sau, không thể chịu được nữa, Sư bèn vứt bộ lòng của Ác Lai xuống biển.

Nhà sư đi mãi, đi mãi rồi cũng đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của mình vì sao chưa được đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng truyền xuống rằng:

“Con còn thiếu một vật nữa mới thành chính quả!”…

Sư rất đỗi ngạc nhiên, cố ngước mắt nhìn lên. Trên chín tầng trời cao bát ngát, sư thấy Ðức Phật đang ngự giữa tòa sen, ánh sáng chói lòa, sau lưng Ngài có bóng dáng hai người tựa hồ như hai mẹ con Ác Lai cùng hòa lẫn trong ánh hòa quang tỏa sáng. Sư bỗng hiểu hết: Ðức Phật đã thấy rõ sự thiếu thành thực, thiếu tận tâm của mình, còn mẹ con Ác Lai nay đã thành chính quả chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột ngột và chân thành trong phút chốc… Sư cúi đầu, phủ phục hồi lâu, trong lòng thẹn thùng và hối tiếc không sao tả xiết!…

Nhà sư đành thẫn thờ trở về chốn cũ để tìm lại bộ lòng của Ác Lai. Tuy biển mênh mông và sâu thăm thẳm, nhưng cũng cố lặn hụp để mong thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai từng gửi gắm mình. Sư nghĩ chỉ có làm thế mới dám nhìn lại mẹ con Ác Lai và có hy vọng được gần gũi tòa sen của Đức Phật.


Sư bơi lên lặn xuống tìm mãi cho đến khi sức cùng lực tận. Sau đó sư hóa thành loài cá mà người ta vẫn gọi là cá Heo, cũng gọi là cá Nược hay có nơi gọi là cá Ông Sư. Vì cho đến ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy có cái đầu trọc nhẵn, và vẫn làm cái việc mải mê tìm kiếm của nhà sư nọ – nghĩa là chúng bơi theo từng đàn, cứ lặn xuống nổi lên liên hồi không ngừng nghỉ.

Những người ngư dân đi biển lâu năm còn kể lại rằng, loài cá Heo ấy rất ghét những ai trêu chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi lại chuyện câu chuyện đau lòng xưa cũ, khi đó bầy cá Heo sẽ kéo đàn đàn lũ lũ tới quậy phá, làm cho đắm thuyền rách lưới. Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng sẽ lặn xuống nổi lên nhiều lần để bày tỏ thành ý và lòng biết ơn.

Đường Phong

Nguồn tư liệu tham khảo, theo: “Sự tích cá heo” – Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam – Nguyễn Đổng Chi

MỘT BÀI THƠ ĐƯỜNG KHIẾN TƯỚNG CƯỚP CẢI TÀ QUY CHÁNH

Một lần Lý Thiệp gặp cướp trên sông. Danh tiếng tài thơ của ông không những khiến tướng cướp kính ngưỡng mà một bài thơ của ông còn khiến hắn cải tà quy chính.


Thời thịnh thế triều Đường là thời văn trị võ công đều đạt được thành tựu rất cao. Có đến hàng nghìn bài thơ Đường được người đời từ xưa đến nay yêu thích ngâm vịnh, đi sâu vào tâm hồn mỗi người. Có thể chúng ta đã nghe nói sức mạnh của thơ Đường còn lớn hơn cả sức mạnh vũ lực, ngay cả tướng cướp cũng ngưỡng mộ nhà thơ, kính ngưỡng những tác phẩm của nhà thơ.

Thi nhân đời Đường là Lý Thiệp cũng là một trong những nhân vật được chép trong “Tài tử truyện” đời Đường. Lý Thiệp rất tài hoa, là người quang minh lỗi lạc, yêu thích núi sông, du sơn ngoạn thủy, tự lấy danh hiệu là “Thanh Khê Tử”. Thơ văn ông trác tuyệt xuất chúng, cảnh giới vượt ngoài thế tục. Ông sở trường viết thơ tự sự, mềm mại bay lượn như nước chảy mây trôi, liền một mạch thơ. Tài danh của ông được mọi người kính ngưỡng, vang động đương thời.

Lý Thiệp quê cha đất tổ ở Lạc Dương. Thuở nhỏ ông ngụ cư ở Khai Phong, Hà Nam. Sau này để tránh loạn nên đã di cư xuống miền Nam. Yêu thích núi sông, du sơn ngoạn thủy, ông ẩn cư ở hang động dưới ngọn núi Hương Lô núi Lư Sơn. Ông thuần dưỡng một con hươu trắng và gọi nơi mình ở là “Bạch Lộc Động” (hang Hươu Trắng). Trong những năm Đại Hòa đời Đường Văn Tông, Lý Thiệp được tể tướng tiến cử làm Thái học Bác sỹ.

Một bài thơ Lý Thiệp đã đẩy lui băng cướp

Một lần Lý Thiệp đến Cửu Giang, Giang Tây để tìm người em trai là Lý Bột. Khi từ biệt lên thuyền, ông đem những đồ ở trong túi ra tặng ẩn sỹ núi Lư Sơn, chỉ giữ lại thư tịch và gạo mà thôi. Thuyền đi đến cửa sông Hoán thì trời tối, bỗng có gió lớn, và mấy chục tên cướp mang vũ khí xông đến.

Bọn cướp hỏi thuyền của ai. Người đi cùng thuyền nói: “Lý bác sỹ”.

Tên tướng cướp lâu nay đã nghe danh tiếng tài thơ của Lý Thiệp, hắn mừng lắm và nói: “Nếu là Lý bác sỹ thì chúng tôi không cướp đồ của ông. Vàng bạc vải vóc có gì đáng quý đâu, thơ văn mới là thứ quý hiếm”.

Rồi hắn nói tiếp: “Tôi từ lâu đã ngưỡng mộ thi danh của Lý bác sỹ, xin ngài làm một bài thơ tặng tôi thì tôi rất mãn nguyện rồi”.

Lý Thiệp nghe xong, lòng đang lo nơm nớp liền bình thản trở lại. Lúc này ông mới nhìn kỹ tên tướng cướp, gương mặt ánh mắt không có nét gì đáng ghét cả, thậm chí còn toát lên nghĩa khí vượt hơn người thường. Lý Thiệp vui vẻ làm bài thơ thất ngôn tuyệt cú hài hước “Tặng hào khách thi” (Thơ tặng khánh anh hào) tặng cho hắn. Bài thơ như sau:

Làng chài xao xác tiếng mưa đêm,
Lục lâm hào khách vốn nghe tên.
Ngày sau chẳng cần che danh tính,
Ngày nay nhân thế nửa là ông.

Nguyên văn:

Mộ vũ tiêu tiêu giang thượng thôn,
Lục lâm hào khách dạ tri văn.
Tha thời bất dụng tàng danh tính,
Thế thượng như kim bán thị quân.


Tướng cướp được tặng bài thơ thì vô cùng vui mừng, liền đem lễ vật hậu hĩ gồm trâu và rượu tặng Lý Thiệp. Lý Thiệp nhất thời cũng không dám cự tuyệt. Ông thấy tướng cướp này đúng là một ‘hào khách’, nên muốn tiến cử hắn lên triều đình để có cơ hội dốc sức báo đáp quốc gia. Thế là ông bày tỏ tâm ý muốn gặp lại ở chùa Phật tại Dương Châu. Hào khách ‘tướng cướp’ bày tiệc rượu tiễn biệt Lý Thiệp, cảm tạ tình cảm hữu hảo của ông đã tặng thơ, rồi bái tạ thêm lần nữa, sau đó đưa tiễn ông xuống thuyền.

Bài thơ “Tặng hào khách thi” này được lưu truyền ra thế gian ngay từ thời Đường. Câu chuyện Lý Thiệp làm một bài thơ đẩy lui băng cướp được ghi chép lại trong các sử sách như “Đường tài tử truyện”, “Đường thi kỷ sự” và “Vân Khê hữu nghị” đời Đường.

Lục lâm hào khách năm xưa nay ở đâu

Rất nhiều bài viết về chuyện Lý Thiệp chỉ viết đến đây. Sau này tướng cướp như thế nào? Sự tình sau này khiến mọi người kinh ngạc tán thán.

Hào khách vốn có ngộ tính tốt, chỉ là thời tuổi trẻ ngông cuồng đã lầm đường lạc lối làm cướp. Lý Thiệp tuy trong lòng có ý tiến cử khi nói lời cáo biệt, nhưng sau này cũng không gặp lại được hào khách. Nhưng có một vị cử nhân đã chứng kiến những chuyển biến của hào khách sau khi được tặng bài thơ “Tặng hào khách thi”.

Mấy chục năm sau, có một vị cử nhân tên là Lý Hội Trưng đi ngao du đến vùng Tuần Châu (thành phố Huệ Châu ngày nay) ở Mân Việt. Trên đường ông gặp trận mưa như trút, không thể nào đi tiếp được, đành đội mưa tìm nhà xin tá túc. Có người chỉ cho ông đến Vi Thị Trang để xin tá túc.

Chủ nhân gia trang là Vi Thị rất hào phóng. Cụ già ngoài 80 chống gậy ra tiếp đón vị khách trẻ không mời mà đến. Cụ tự xưng là người chốn thôn quê tên là Vi Tư Minh. Khi cùng cử nhân họ Lý đàm luận thơ văn sử sách, cụ trích dẫn rất rộng, thuộc làu các bài thơ của các nhà thơ tên tuổi. Hai người đàm đạo từ sáng đến tối mà vẫn chưa muốn dứt. Lý Hội Trưng tuy là người giỏi ăn nói mà cũng không thể sánh được với cụ.

Khi Lý Hội Trưng ngâm nga bài thơ “Tặng hào khách thi” mà Lý Thiệp sáng tác năm xưa, cụ già Vi Tư Minh vừa nghe bỗng nét mặt trở nên rầu rĩ. Rồi cụ kể lại câu chuyện của cụ với Lý bác sỹ năm xưa.

Cụ nói: “Tôi thuở tuổi trẻ phẩm hạnh tính tình rất xấu, phóng đãng giang hồ, kết giao với nhiều kẻ gian, đã làm nhiều việc xấu. Sau này gặp được Lý bác sỹ, được ngài viết bài thơ này đề tặng, vì vậy tôi đã cải tà quy chính. Tôi biết ngài Lý coi trọng tôi, muốn tiến cử tôi với triều đình để dốc sức báo đáp quốc gia, giống như Lục Cơ thời Tấn xưa kia tiến cử Đới Uyên. Trong lòng tôi chứa đựng tình nghĩa của ngài Lý, thế là tôi ẩn cư ở núi La Phù 12 năm. Nghe nói ngài Lý qua đời, tôi đã mất đi tâm nguyện muốn trở lại nơi cũ. Hôm nay lại nhắc đến chuyện xưa khiến tôi cảm thương. Nào, hãy nâng chén truy điệu Lý bác sỹ”.


Lúc đó, Vi Tư Minh phất ngược tay áo, khảng khái ngâm nga:

Làng chài xao xác tiếng mưa đêm,
Lục lâm hào khách vốn nghe tên.
Ngày sau chẳng cần che danh tính,
Ngày nay nhân thế nửa là ông.

Trong khi ngâm nga bài thơ về hào khách này, chúng ta cũng phát hiện ra rằng, vị lục lâm hào khách cướp thuyền năm xưa, trải qua mấy chục năm ẩn cư tu hành đã chuyển biến thành một vị Ngũ Lăng Hào Khách anh hùng sung mãn, hào hiệp khí khái. Thi phong Đại Đường mênh mông quả thực tràn đầy sức mạnh nhân đức cảm hóa nhân tâm.

Hoài Nhẫn Nhẫn / Theo: ĐKN
Triêu Lộ biên dịch

NHỮNG LĂNG MỘ RÙNG RỢN NHẤT THẾ GIỚI

Trên thế giới hiện nay vẫn còn tồn tại hàng loạt các hầm mộ kỳ lạ và ma quá. Những nơi u ám này lưu giữ hàng chục ngàn bộ xương người, kèm theo đó là vô số những bí mật đen tối.

Lạnh gáy với những lăng mộ rùng rợn nhất thế giới

1. Những hầm mộ trong lòng Paris


Có lẽ bạn sẽ kinh ngạc khi biết rằng bên dưới những con đường duyên dáng và tráng lệ của thành phố lãng mạn nhất thế giới lại là một một “bộ sưu tập” xương cốt và sọ người đồ sộ cũng vào loại nhất thế giới.

Trong nhiều thế kỷ trước, hệ thống đường hầm ngầm bên dưới thành phố này đã được sử dụng như một nghĩa địa. Hiện nay, nó lại biến thành một điểm tham quan du lịch cho những ai muốn tìm kiếm một chút “cảm giác lạnh” khi đến thăm Paris.

2. Hầm mộ ở nhà thờ Santa Maria Della Concezione (Rome, Ý)


Ngay bên dưới nhà thờ này là một hầm mộ đồ sộ. Vào năm 1631 một thầy tu dòng thánh Francis đã ra lệnh khai quật và chuyển tất cả hài cốt của các thầy dòng Francis ở chủng viện Via dei Lucchesi về lưu giữ tại đây. Các thầy tu ở nhà thờ này từ đời này qua đời khác lại tiếp tục được an táng tại hầm mộ này.

Đây cũng là nơi các thầy dòng xuống cầu nguyện và ăn năn mỗi tối trước khi đi ngủ. Hiện nay, hầm mộ chia làm 5 gian này lưu giữ hài cốt của khoảng 4 ngàn tu sĩ. Người ta xếp những mảnh xương thành những hoa văn khá phức tạp để trang trí trần và tường, còn một số bộ xương được để nguyên và mặc quần áo tu.

3. Tu viện ở Sedlec (Czech)


Trong suốt các thế kỷ từ 13 đến 15, nghĩa địa của tu viện này là nơi yên nghĩ của hàng chục ngàn người. Cũng trong thế kỷ thứ 15, một nhà thờ lớn được xây dựng ngay giữa nghĩa địa, và người ta đã cho xây một hầm mộ lớn để chứa những hài cốt được khai quật lên trong quá trình xây dựng.

Vào năm 1870, một thợ chạm khắc gỗ tên František Rint được thuê để sắp xếp các đống xương khổng lồ lại cho gọn và đẹp mắt. Kết quả của công việc này là những cấu trúc xương đồ sộ được xếp chồng lên nhau rất chắc chắn và nghệ thuật. Trong số này nổi bật là một chiếc đèn chùm khổng lồ có chứa tất cả các loại xương trong cơ thể người.

4. Nhà nguyện làm bằng xương ở Evora (Bồ Đào Nha)


Được một tu sĩ dòng Francis xây dựng vào thế kỷ thứ 16 nhằm chuyển tại thông điệp vô thường của kiếp người. Tường và cột ở đây được trang trí bằng cách sắp xếp những mảnh xương và sọ lại với nhau và gắn kết bằng xi-măng. Ước tính có khoảng 5 ngàn bộ hài cốt của các tu sĩ được sắp xếp tại đây.

Và phần lạnh gáy nhất là hai cái xác sấy khô treo lủng lẳng trên tường, một người đàn ông và một đứa trẻ. Theo những người dân địa phương, hai cha con này bị nguyền rủa vì đã đối xử tồi tệ với vợ/mẹ của mình.

5. Đội quân đất nung (Thiểm Tây, Trung Quốc)


Vào năm 1974, người ta đã tìm thấy và khai quật khu lăng mộ của vị hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa – Tần Thủy Hoàng. Khu lăng mộ này bao gồm hơn 8 ngàn binh lính, 130 chiến xa, 520 con ngựa và 150 kỵ binh. Tất cả đều bằng đất nung và được làm từ những năm 210 trước công nguyên.

Vị hoàng đế này đã cho chôn theo đội quân này để bảo vệ ông ta ở cõi chết. Một điều ít người biết nữa là ngoài đội quân đất nung khổng lồ này, Tần Thủy Hoàng còn cho xây dựng cả một thành phố để ông ta có thể tiếp tục sinh sống ở kiếp sau, gồm các cung điện, tháp canh và cả 100 con sông thủy ngân.

6. Nhà nguyện đầu lâu (Czermna, Ba Lan)


Skull Chapel là một nhà nguyện kỳ quái ở làng Czermna (Ba Lan). Được cha đạo Wacław Tomaszek xây dựng vào năm 1776, nhà nguyện này chính là mồ chôn tập thể của các nạn nhân chết trong các cuộc chiến tranh từ 1618-1648 và giai đoạn 1740-1763, cả những người chết vì các đợt dịch tả và nạn đói.

Cha đạo này đã cùng với một số người thu thập hài cốt của những người ở trong vùng và khu lân cận đem về bảo quản ở đây. Bao quanh các bức tường nhà nguyện là 3 ngàn chiếc sọ người, ngoài ra, ở tầng hầm của nó còn chứa hơn 21 ngàn bộ hài cốt khác. Trong số này có hài cốt của những người đã sáng lập nhà nguyện được đặt trên một bàn thờ ở trung tâm khu nhà.

7. Những tháp mộ ở Palmyra (Syria)


Palmyra là một thành phố cổ của Syria. Ngay phía bên ngoài những bức tường thành cổ này là một nghĩa địa rộng lớn dài đến 1 km. Ở đây người xưa đã xây dựng hàng loạt các lăng mộ và công trình tưởng niệm vừa đồ sộ về kích thước lại vừa phong phú trong phong cách trang trí.

Một số trong những lăng mộ này nằm dưới mặt đất, được ngăn thành từng gian có chiều dài vừa đủ để đặt người chết nằm duỗi thẳng ra. Một phiến đá vôi với một tượng bán thân của người quá cố sẽ được đậy bên ngoài mỗi gian chứa xác. Các tượng này tượng trưng cho linh hồn của người nằm phía bên trong, và là một phần trang trí của các bức tường trong lăng mộ.

8. Lăng mộ Brno (Czech)


Hầm mộ Brno đã nằm yên trong quên lãng dưới quảng trường thánh Jacob ở cộng hòa Czech hàng trăm năm qua cho đến khi được phát hiện và khai quật vào năm 2001. Khoảng 50 ngàn bộ hài cốt được tìm thấy nằm lấp đầy trong các đường hầm ngầm dưới đất.

Các nhà khảo cổ cho rằng những hài cốt này được bốc lên từ các nghĩa trang để lấy chỗ chôn những người khác. Trước đây, các bộ xương này được sắp xếp gọn gàng, nhưng qua thời gian dài bị xao lãng nơi đây đã trở thành một đống hỗn độn khổng lồ. Chính quyền thành phố đang tiến hành việc sắp xếp lại khu lăng mộ này để giới thiệu với công chúng trong năm nay hoặc năm sau; đây sẽ là hầm mộ lớn thứ 2 ở Châu Âu.

9. Các kim tự tháp


Có thể nói rằng nổi tiếng nhất trong các lăng mộ cổ là các kim tự tháp. Chúng được xây dựng để làm nơi an nghỉ cuối cùng của các vị vua. Sau khi chết, các vị vua này mang theo cả các con vật nuôi yêu thích của họ, những đồ dùng cá nhân quen thuộc, các phương tiện di chuyển, và cả những người hầu cận để có thể tiếp tục hưởng thụ sự thoải mái tiện nghi ở thế giới bên kia. Người ta cho rằng kích thước của kim tự tháp càng lớn có nghĩa là tình cảm dành cho vị vua đó càng nhiều.

Theo: Vietnamnet



Monday, September 2, 2024

HOẠN QUAN DUY NHẤT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC VÀ THẾ GIỚI ĐƯỢC TÔN LÀM HOÀNG ĐẾ DANH CHÍNH NGÔN THUẬN

Nhiều bộ phim truyền hình Trung Quốc thường chọn hoạn quan làm nhân vật phản diện với tính cách tiểu nhân, xảo quyệt, đặc biệt là luôn nuôi mộng trở thành hoàng đế nhưng cuối cùng thất bại. Tuy nhiên, lịch sử thực sự từng ghi nhận trường hợp hoạn quan trở thành hoàng đế một cách đường đường chính chính, tạo ra tiền lệ chưa từng có.

Tào Đằng – trường hợp hoạn quan được tôn làm vua duy nhất trong lịch sử Trung Quốc (ảnh từ phim truyền hình Trung Quốc)

Tào Đằng – ông nội của “gian hùng” Tào Tháo – là hoạn quan quyền lực duy nhất nhận được vinh dự nói trên. Tuy nhiên, các tài liệu lịch sử thời Hán lại ghi chép rất ít ỏi về nhân vật đặc biệt này.

Theo Tam Quốc Chí và Tục Hán thư, Tào Đằng là con trai thứ 3 của một nông dân tên Tào Tiết, quê ở nước Bái. Từ nhỏ, Tào Đằng đã trải qua “tịnh thân” và được đưa vào cung làm hoạn quan. Tục Hán thư ghi lại một câu chuyện nhỏ liên quan đến gia đình Tào Đằng như sau:

Có lần, hàng xóm của Tào Đằng bị mất một con lợn. Người này sang nhà Tào Đằng tìm, sau đó chỉ bừa vào một con lợn béo tốt trong chuồng và khăng khăng nhận là của mình. Cha Tào Đằng thấy vậy, chỉ lặng im không nói gì, mặc người ta dắt lợn về nhà. Đến ngày hôm sau, con lợn đi lạc của người hàng xóm tìm được đường về nhà. Người này xấu hổ mang trả lợn lại. Cha Tào Đằng vui vẻ nhận về.

Câu chuyện trên phần nào hé lộ gia đình của Tào Đằng chỉ thuộc tầng lớp nông dân bình thường. Việc ông phải “tịnh thân” vào cung nhiều khả năng là do sự túng quẫn, nghèo khó.

Bởi lẽ, ở thời nhà Hán, việc “tịnh thân” trở thành hoạn quan mất khả năng sinh nở bị cho là nỗi nhục của nam nhân. Có thể lấy trường hợp của sử gia nổi tiếng Tư Mã Thiên làm ví dụ. Thời nhà Thanh thì ngược lại, nhiều người phải chạy chọt, mong muốn con em trở thành hoạn quan trong cung để chóng giàu sang, đổi đời.

Nhà Hán đi đến diệt vong vì để hoạn quan lũng đoạn triều đình (ảnh từ phim truyền hình Trung Quốc)

Tào Đằng vào cung từ thời Hán An Đế (106 – 125) nhà Hán. Vì vậy, có thể xác định Tào Đằng sinh ra trong khoảng thời thời gian này. Theo Hán sử, Tào Đằng làm việc rất cẩn trọng, lại là người có tính trung thực, ham học hỏi nên sớm nổi bật trong đám hoạn quan.

Đặng Thái hậu – mẹ Hán An Đế – thấy Tào Đằng còn trẻ, trạc tuổi thái tử Lưu Bảo nên chọn ông làm người hầu hạ việc đèn sách cho thái tử. Lưu Bảo cũng rất thân thiết với người bạn mới này.

Năm 125, Hán An Đế mất, Lưu Bảo lên ngôi, lấy hiệu là Hán Thuận Đế. Nhớ công phò tá của Tào Đằng, Thuận Đế phong ông làm Trung thường thị - chức quan lớn bậc nhất trong số các hoạn quan thời nhà Hán.

Thời kỳ Tào Đằng làm quan, nhà Hán trải qua rất nhiều biến động. Năm 144, Hán Thuận Đế mất, Thái tử Lưu Bỉnh được lập làm vua, lấy hiệu là Hán Xung Đế. Xung Đế lên ngôi khi chưa đầy 2 tuổi, vì vậy Lương Hoàng hậu (vợ Hán Thuận Đế) và anh trai bà là đại tướng quân Lương Ký nắm đại quyền trong tay.

Năm 145, Hán Xung Đế mắc bệnh qua đời, Lương Hoàng hậu và Lương Ký lập Hán Chất Đế mới 8 tuổi lên ngôi, tiếp tục thao túng quyền lực triều đình. Hán Chất Đế tuy tuổi nhỏ nhưng thông minh hơn người, đặc biệt lại rất ghét Lương Ký. Có lần Hán Chất Đế chỉ thẳng vào mặt Lương Ký mắng: “Ngươi là loại tướng quân ngang ngược”.

Lương Ký cho rằng Hán Chất Đế lớn lên chắc chắn sẽ hại mình, bèn cho người bỏ thuốc độc giết hoàng đế.

Tào Đằng phục vụ qua 5 đời vua Hán, can dự cả chuyện phế lập hoàng đế (ảnh từ phim truyền hình Trung Quốc)

Lúc này, hoàng tộc nhà Hán chỉ còn 2 nhân vật có thể chọn làm vua đó là Lưu Chí và Lưu Toán. Lưu Toán bản tính thông minh, ngay thẳng nên ban đầu được các đại thần, kể cả Tào Đằng nể phục, muốn lập làm hoàng đế. Tuy nhiên, khi Tào Đằng đến gặp, Lưu Toán thường xuyên tỏ thái độ khinh bỉ hoạn quan “nam chẳng ra nam, nữ chẳng ra nữ” nên ông đem lòng oán giận.

Trong khi đó, tướng quân Lương Ký lại muốn lập Lưu Chí – người có tư chất kém hơn – để dễ bề thao túng. Dưới áp lực từ các đại thần, Lương Ký còn đang loay hoay không biết lập ai lên ngôi thì Tào Đằng bàn:

“Tướng quân là ngoại thích mà quản lý việc triều đình, không thể tránh khỏi những sai sót. Lưu Toán là người thông minh, nếu lên ngôi thì chuyện tướng quân gặp nạn chỉ là sớm muộn. Chi bằng lập Lưu Chí lên ngôi, như vậy vừa có thể bảo vệ được mình lại tha hồ hưởng vinh hoa phú quý”.

Lương Ký nhận được sự ủng hộ của Tào Đằng – hoạn quan có thế lực nhất trong triều – nên càng hạ quyết tâm. Năm 132, Lưu Chí được Tào Đằng và Lương Ký phò tá lên ngôi, lấy hiệu là Hán Hoàn Đế, mở ra thời kỳ hoạn quan lũng đoạn triều Hán, dẫn đến họa binh đao Tam quốc phân tranh sau này.

Viên Thiệu từng có lần sỉ nhục Tào Đằng – ông nội Tào Tháo (ảnh từ phim truyền hình Trung Quốc)

Tào Đằng sau đó cũng được phong làm Phí Đình hầu. Một hoạn quan có thể được phong đến tước hầu là trường hợp đặc biệt hiếm trong lịch sử Trung Quốc. Tuy quyền cao chức trọng, Tào Đằng luôn tỏ ra là người cẩn thận, khiêm nhường. Ông nghiêm cấm họ hàng cậy quyền thế mình để tác oai tác quái như các hoạn quan khác.

Hán sử chép, Tào Đằng phục vụ qua 5 đời vua, trong hơn 30 năm không gây ra lỗi lầm gì đáng kể và nổi tiếng vì tính khiêm nhường.

Theo Sohu, có lần một thái thú gửi tặng cho Tào Đằng món lễ vật, sự việc bị quan Thứ sử Ích châu là Chủng Cảo phát giác. Chủng Cảo tố cáo Tào Đằng với Hoàn Đế, hoàng đế nghe xong phán rằng:

“Lễ vật là do người khác tự mang đến, không phải tội của Tào Đằng”.

Chủng Cảo thấy vậy lấy làm hậm hực. Tuy nhiên, Tào Đằng lại không để bụng về sự việc này, thậm chí còn nhiều lần khen ngợi tài năng của Chủng Cảo trước mặt Hoàn Đế. Chủng Cảo vì vậy được thăng tới chức Tư Đồ. Hành động của Tào Đằng khiến cả Chủng Cảo và nhiều quan lại khác kính phục. Chủng Cảo thường nói:

“Tôi có thể làm tới chức Tư Đồ, tất cả đều nhờ Tào Thường thị”.

Tào Đằng cũng kết thân và tiến cử nhiều người có tài với Hán Hoàn Đế. Ông được cả người trong và ngoài triều coi trọng và khâm phục về đạo đức.

Tuy nhiên, Tào Đằng cũng có lần bị người khác “réo tên”, bêu xấu. Theo Tam Quốc chí của sử gia Trần Thọ, trước khi khởi động chiến dịch Quan Độ, Viên Thiệu từng sai người viết hịch kể tội Tào Tháo, trong đó có nhắc tới người ông là Tào Đằng như sau:

“Ngày nay Tư không Tào Tháo, ông nội là Đằng vốn làm Trung thường thị, cùng với bọn Tả Quán - Từ Hoàng gây tai nghiệt, phóng túng hung ác, tàn ngược dân chúng”.

Sau khi Tào Đằng qua đời, triều đình nhà Hán không còn xuất hiện hoạn quan nào có đủ đức tính trung thành và khiêm nhường như ông. Con Tào Đằng là Tào Tung từng bỏ ra hàng xe tiền để mua lấy chức Thái úy.

Xét về mối quan hệ giữa Tào Đằng và Tào Tung, Tam Quốc chí chép: “Tào Tung là con Tào Đằng, làm đến Thái úy”. Tuy nhiên, báo điện tử Sohu dẫn ý kiến của một số sử gia cho rằng, Tào Tung chỉ là con nuôi của hoạn quan Tào Đằng mà thôi.

Dưới thời Hán Linh Đế (168 – 189), sự hoành hành của nhóm Thập Thường thị – những hoạn quan chuyên quyền, lũng loạn xã tắc – khiến triều đình đổ nát, phản loạn nổi lên ở khắp nơi. Vì vậy, thái độ của xã hội cuối nhà Hán đối với hoạn quan rất không tốt.

Lợi dụng điểm này, Viên Thiệu đã động chạm đến “nòi giống hoạn quan” của Tào Tháo và đánh đồng Tào Đằng với nhóm hoạn quan “phóng túng hung ác, tàn ngược dân chúng”.

Tào Tháo mở ra vương triều nhà Ngụy, Tào Đằng cũng được “thơm lây” (ảnh từ phim truyền hình Trung Quốc)

Dưới sự chuyên quyền, chèn ép hoàng đế của Tào Tháo, thế lực nhà Ngụy ngày càng lớn mạnh. Năm 220, Tào Phi – con trai Tào Tháo – soán ngôi nhà Hán, tự lập làm hoàng đế, mở ra triều đại nhà Ngụy. Tào Phi tôn Tào Tháo là Vũ Hoàng Đế. Tào Duệ – con Tào Phi – sau khi lên ngôi lại tôn hoạn quan Tào Đằng làm Cao Hoàng Đế.

Phần Lưu Diệp truyện trong Tam Quốc chí chép lời bình luận của Tào Duệ về Tào Đằng như sau:

“Trước kia Cao hoàng đế hoà mục với người, nhún nhường sửa đức, hành động sáng suốt, thế nên được trời đất cho hưởng phúc lớn, khi mất vẫn để lại cái vẻ vang cho con cháu về sau. Sáng suốt là ở chỗ nhìn xa, sao cho tiếng khen còn truyền mãi”.

Năm 266, Tư Mã Viêm lật đồ triều Ngụy, lên ngôi hoàng đế, thành lập nhà Tây Tấn. Tây Tấn chủ trương giữ nguyên các đế hiệu của vương triều Ngụy và công nhận tư cách hoàng đế của Tào Đằng. Các triều đại sau của Trung Quốc cũng làm điều tương tự.

Như vậy, Tào Đằng danh chính ngôn thuận trở thành 1 trong 5 hoàng đế của nhà Ngụy. Ông là hoạn quan duy nhất trong lịch sử Trung Quốc và thế giới đạt được danh hiệu chí tôn này.

Theo: Vương Nam – tổng hợp (Dân Việt)

NHỮNG MÓN ĂN TỪ HOA ĐỘC ĐÁO CỦA VIỆT NAM

Không chỉ phô sắc vẻ đẹp, nhiều loài hoa còn hóa thân vào ẩm thực, tạo nên những món ăn tinh tế và bổ dưỡng. Nhờ vậy mà ẩm thực Việt vốn đã giàu bản sắc, nay lại trở nên vô cùng phong phú và mang đậm nét tinh túy.


Hoa dùng để chế biến trong các món ăn của Việt Nam có rất nhiều loài, tùy vào khu vực địa lý và tập quán canh tác của từng vùng miền. Hoa nuôi trồng, hoa mọc dại, hoa có ở khắp ba miền Bắc Trung Nam. Miền Bắc gọi bằng hoa, miền Trung, miền Nam gọi bằng bông. Hoa súng, hoa thiên lý, hoa bí, hoa mướp, hoa chuối, bông hẹ, bông điên điển, bông so đũa, bông sầu đâu...

Dưới đây là một số loại hoa/bông phổ biến trong ẩm thực Việt Nam:

Hoa ban Tây Bắc

Ở vùng núi Tây Bắc, vào mỗi dịp tháng 2, 3, hoa ban thi nhau nở trắng rừng. Người phụ nữ thường hái hoa đem bán ở chợ như một thứ rau sạch hay mang về nhà chế biến thành những món ăn độc đáo. Với sự sáng tạo, khéo léo của con người, đã có nhiều món ăn từ hoa ban được sáng tạo rất hấp dẫn.

Để có những món ăn từ hoa ban phải qua rất nhiều công đoạn. Hoa ban sau khi hái về nhặt lấy cánh và nhụy hoa đem rửa nhẹ rồi chần qua nước nóng, sau đó mới chế biến thành nhiều món ăn khác nhau.

Nộm hoa ban cũng là một món ăn truyền thống của người Tây Bắc.

Hoa ban có thể dùng làm nộm rau, nộm giềng hay măng nộm hoa ban đều rất ngon và lôi cuốn. Ngoài ra, hoa ban còn có thể vò nát trộn thịt băm, nhồi cá, gà nướng…làm thành món ăn ngon và rất hấp dẫn thực khách.

Với món xôi (thường được gọi là ban đồ), người ta thường chọn những bông hoa mới nở, rửa sạch, sau đó cho vào chõ đồ xôi đã chín. Ban đồ khi ăn được chấm kèm với chẩm chéo (một gia vị truyền thống của dân tộc Thái). Lá và hoa ban có vị bùi, ngọt, thoang thoảng mùi thơm dịu, hòa quyện vào mùi nếp thơm quả là một trải nghiệm cực kì thú vị.

Nộm hoa ban không giống nộm vùng miền khác, thường có lạc, chanh và vị chua. Gia vị trộn nộm hoa ban "chuẩn" nhất thiết phải là loại tương ủ lên men của dân tộc Thái và giềng giã nhỏ. Với cách chế biến cầu kì, nộm hoa ban thường được làm khi nhà có khách quý.

Hoa tam giác mạch

Hoa tam giác mạch có nhiều ở Lào Cai, Cao Bằng và đặc biệt là Hà Giang. Ở mảnh đất địa đầu phía Bắc của Việt Nam, cứ vào cuối thu, lúc trời bắt đầu chuyển lạnh, đó cũng là thời gian để loài tam giác mạch hẹn hò trổ hoa.

Say mê với những sắc hoa muôn hồng nghìn tía, ít ai biết rằng, hạt của hoa có thể dùng làm nguyên liệu chế biến món ăn. Vào cuối mùa, người dân thu hoạch hạt tam giác mạch đem phơi khô, một phần dùng ủ tạo thành loại men hồng mi nổi tiếng, một phần có thể xay bột làm thành món bánh tam giác mạch nổi tiếng.

Bánh tam giác mạch ngon cần được làm tỉ mỉ, cẩn thận.

Từ những hạt tam giác mạch nhỏ hơn hạt đậu, người dân xay thành thứ bột thật mịn màng, sau đó cho bột hòa lẫn với nước lã thành bột dẻo, rồi cho vào khuôn truyền thống đúc thành từng miếng bánh tròn xoe. Nghe qua có vẻ dễ làm, nhưng xay bột tam giác mạch rất khó, phải là những hạt tam giác mạch được phơi khô một tuần lễ dưới nắng thì mới dễ xay. Người ta xay hạt tam giác mạch bằng tay nên phải xay rất kĩ mới cho ra thứ bột mịn, làm bánh không bị sạn khi ăn.

Bánh tam giác mạch thoáng vị bùi bùi, phảng phất chút hăng hăng đặc trưng của cây rừng. Những sắc tím nổi trên nền bánh như gợi nhớ về một mùa hoa ngọt ngào. Chỉ có những ai đã từng đến Hà Giang, và gặp người dân bản địa mới có cơ hội dùng qua loại bánh tam giác mạch hiền hòa này.

Hoa thiên lý

Hoa thiên lý từ lâu là món ăn đã được "biến tấu" thành nhiều món dùng trong bữa cơm gia đình và cả trong nhà hàng. Giữa cái nắng hè oi bức, nếu được thưởng thức các món ngon từ hoa thiên lý, đó sẽ là một cảm giác thú vị không gì sáng bằng.

Hoa thiên lý xào với thịt bò là món ăn quen thuộc trong mâm cơm người Việt.

Người chế biến chọn ra những chùm hoa lớn. Sau khi rửa sạch, ngâm nước thì đem tỉa cụm nhỏ, vừa miệng rồi chế biến nhiều món ăn như canh hoa thiên lý nấu xương, thịt băm hay nấu cua. Ngoài ra, hoa thiên lý xào thịt bò hay dùng chung với các món lẩu cũng rất đặc sắc. Không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng, loại hoa này còn mang tác dụng giải nhiệt, giúp ngon giấc.

Hoa chuối

Hoa chuối là loài dân dã, gần gũi trong tâm thức người Việt. Hoa chuối đồng bằng có màu tím, được sinh ra để gắn với những món ăn bình dị mà không kém phần ngon miệng.

Món nộm hoa chuối dân dã.

Phổ biến nhất có lẽ phải kể tới nộm hoa chuối ở miền Bắc, còn miền Nam lại gọi là gỏi bắp chuối. Món nộm là sự tổng hòa của đủ vị chua, cay, ngọt, mặn, với vị hơi chát của hoa chuối, hòa cùng cái giòn béo của tai heo, bùi nhậy của lạc, thanh mát của rau thơm.

Ngoài ra, hoa chuối còn được tận dụng trong các món ăn gia đình như canh hoa chuối, bún bung, hoa chuối hầm chân giò… hoặc làm rau ăn kèm đều rất ngon.

Hoa cúc vàng (kim cúc)

Hoa cúc vàng thường được chưng trong những ngày lễ hoặc rằm. Đây là loại hoa khá phổ biến và có giá rất rẻ nên nếu dùng để chế biến món ăn cũng rất tốt. Đông y cho rằng, hoa cúc có vị đắng – cay, tính ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sung viêm, đau nhức, mắt đỏ, đau đầu chóng mặt.

Chè hoa cúc.

Hoa cúc thường được chưng với đường phèn ăn như chè hoặc nấu canh, làm súp ăn cũng rất lạ vị. Món ăn độc đáo này sẽ giúp bạn phòng được chứng cảm cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mũ, huyết áp cao, viêm gan…

Hoa hiên (hoa kim châm)

Mang vẻ đẹp bình dị nhưng hoa hiên có chứa nhiều protein, chất béo, tinh bột, vitamin A, vitamin C… rất có lợi cho sức khỏe. Hoa hiên vừa được trồng để làm cảnh, vừa để làm nguyên liệu trong nấu nướng.

Hoa hiên xào nghêu là một món không chỉ ngon mà còn rất bổ dưỡng.

Ở nước ta, hoa hiên được trồng nhiều ở những khu vực có khí hậu mát mẻ, ẩm ướt như Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt… Hoa hiên dùng để ăn sẽ có vị ngọt, thanh nhiệt, tiêu đờm, cầm máu, sáng mắt, an thai… Hoa thường được nấu chung với thịt gà, ăn kèm với các loại rau lẩu hay nấu chung với lươn đều ngon miệng. Lấy bột hoa hiên cho một ít vào nồi canh cá hay canh cua sẽ làm tăng mùi vị thơm ngon và bổ dưỡng cho món ăn hơn.

Ngoài hoa, lá thì rễ của hoa hiên cũng được sử dụng khá phổ biến để làm thuốc. Rễ hoa hiên có vị ngọt, tính mát, lợi thủy nên được sử dụng để làm thuốc giảm đau, chữa sốt, viêm gan, vàng da, viêm tai giữa, đau răng…

Hoa sen

Trong khi những loại hoa khác có thể chế biến thành các món ăn dân dã, thì hoa sen chỉ thích hợp với món ăn tinh tế, vương giả. Hầu hết các bộ phận của cây sen như hạt sen, nhụy sen, tim sen, củ sen hay ngó sen đều ăn được.

Chè hạt sen long nhãn rất thơm ngon, bổ dưỡng.

Hoa sen có sẵn vị ngọt, lại lành tính rất tốt cho sức khỏe. Có một món ngon từ hoa sen thuộc hàng cao lương mĩ vị chốn cung đình là vịt hấp hoa sen. Bên cạnh đó, rất nhiều món ăn có sự kết hợp của hương sen như cơm sen, nộm sen hay chè sen… tất cả đều mang hương vị đặc trưng của ẩm thực Việt Nam.

Bông súng

Bông súng có rất nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào có ao hồ, kênh rạch là nơi đó có bông súng. Bông súng rất đẹp, thường có hai loài: Súng sen trồng làm cảnh, bông to, màu tím đỏ, rất đẹp.

Súng dại, bông màu trắng hoặc tím. Nhụy bông súng màu vàng, cả hoa và nhụy đều có thể ăn được, nhưng người ta chỉ ăn phần cuống (cọng) vì thế cứ gọi luôn là bông súng. Bông súng tước vỏ, cắt khúc hai đốt ngón tay, làm rau sống cho móm lẩu mắm; trộn gỏi với bồn bồn, thịt ba dọi và tôm bóc nõn; nấu canh chua với cá đồng; ngâm giấm làm dưa… món nào cũng tuyệt hảo cả.

Ngày xuân người Bắc thường kiêng ăn mắm, nhưng người Nam thì không vì thế bông súng rất đắc dụng trong các món mắn đậ đà. Bông súng thân thuộc làm nên câu ca: “Miền tây nước lũ tràn đồng/Canh chua bông súng nấu xong chờ chàng”.

Bông so đũa

Ở phía Nam, ta dễ dàng bắt gặp các món ăn từ bông so đũa. So đũa là loài hoa trắng xóa hoặc tím, thường chỉ nở từ tháng 10 đến tháng 12 vừa có thể làm cây cảnh, nhưng lại vừa có giá trị dinh dưỡng rất cao.

Canh chua cá rô nấu bông so đũa.

Bông so đũa có vị hơi đắng nhưng lạ miệng. Vào mùa so đũa, người ta thường hái những bông tươi từ sáng sớm, nhặt bỏ cuống và vị đắng, bỏ đài, sau đó rửa nhẹ rồi chế biến thành những món canh chua cá rô, canh chua với khế, cá lóc, cá linh, tôm sống hoặc làm lẩu chua cùng một số loài ra khác đều rất ngon.

Đơn giản hơn, người ta thường luộc bông so đũa chấm với nước mắm kho quẹt hoặc luộc chung với các loài rau khác ăn giải nhiệt trong mùa hè oi bức. Đây cũng là món khoái khẩu của nhiều người.

Bông điên điển

Ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, mùa nước nổi cũng là mùa của những bông điên điển nở rộ. Bông nở xanh tươi, rợp bóng cả bờ sông, bờ rạch… tạo nên một khung cảnh sông nước hữu tình và thơ mộng.

Bông điên điển nấu cá linh.

Bông điên điển là một món ăn mang đậm hương vị miền quê, được coi là đặc sản sông nước miền Tây. Hiếm có loài hoa nào vừa có thể để ngắm và vừa có thể ăn như bông điên điển. Người ta thường nấu điên điển thành các món ăn ngon như gỏi chua bông điên điển, điên điển xào tép, nộm bông điên điển… Nhưng ngon nhất phải kể đến món canh chua bông điên điển nấu cá linh.

Chỉ duy nhất ở miền Tây mới có thể thưởng thức được cái món ngon độc đáo này. Vẫn công thức canh chua lâu nay, nhưng người dân nơi đây khéo léo cho thêm bông điên điển tạo nên một mùi vị vô cùng hấp dẫn và lạ lùng. Cái chua chua của me, cái ngọt của cá và cái thơm của bông điên điển có thể làm dịu mát đi cơ thể giữa cái nóng trưa hè oi bức.

Người dân miền Tây còn có món mắm cá linh muối ăn kèm bông điên điển. Mắm cá linh muốn ngon nhất định phải ăn kèm với bông điên điển và các loại cá tươi vừa mới bắt lên. Như vậy mới có thể cảm nhận được hết hương vị giản dị nhưng không kém phần quyến rũ của món ngon này.

Bông sầu đâu

Nếu điên điển đại trà bao nhiêu thì bông sầu đâu lại hiểm bấy nhiêu. Cây sầu đâu có nhiều ở vùng Thất sơn, Châu Đốc, An Giang. Sầu đâu thân gỗ, cao to, lá giống xoan ở ngoài Bắc.

Gỏi khô sặc lá sầu đâu.

Bông sầu đâu màu trắng, ra hoa vào mùa xuân, mọc thành từng chùm nhỏ, dùng làm gỏi (miền Bắc gọi là mộm). Bông và lá non, rửa sạch, trần sơ qua nước nóng, trộn đều với khô cá sặc, hoặc cá lóc nướng, xé nhỏ. Thêm chút rau thơm, hành tây, xoài ương thái sợi, nêm nếm vừa ăn. Gỏi sầu đâu nhận nhận đắng, nhưng ngọt hậu và rất bắt mồi.

Bông hẹ

Gắn với những bông ở Đồng bằng sông Cửu Long không thể không kể đến bông hẹ. Lá hẹ ăn sống. Hoa hẹ mà xào với lòng mề gà, hoặc tim, gan, huyết heo thì nhớ làm nhiều nhiều, kẻo ăn một, đòi ăn hai. Canh hẹ nấu với nghêu sò, đậu hũ có tác dụng giải nhiệt, chị em ăn đẹp da. Bông hẹ ở Nam Bộ không hăng như hẹ miền Bắc, vì thế câu thành ngữ "rành rành như nấu canh hẹ" là không đúng với vùng đất này.


Bông bí vàng

Chế biến lẩu mắm hay lẩu nấm thì không thể thiếu món bông bí dân dã miền Tây này. Bông bí còn được dùng để nấu canh, xào tỏi, đặc biệt món thịt nhồi bông bí cũng hết sức lạ miệng. Thơm ngon nhưng bông bí cũng không kém phần bổ dưỡng. Trong thành phần của bông bí có rất nhiều chất dinh dưỡng như canxi, sắt, magie, kali, photpho cùng nhiều vitamin.

Bông được cắt cả cuống, thường là các bông bí đực. Khi cắt hoa bí về, người ta thường bỏ nhụy bên trong vì đắng, sau đó dùng luộc, xào hấp hay nấu canh với tôm khô, canh ngao, canh hến, canh cua hoặc xào chung cùng với thịt bò, thịt lợn. Đơn giản nhất là đem luộc. Bông bí chỉ cần luộc qua trong nồi nước sôi là đủ chín, vớt ra để nguội, vắt bớt nước, chấm cùng với nước kho thịt hay nước kho cá đều rất tuyệt.

Canh bông bí nhồi thịt.

Những món ăn từ bông bí có tác dụng chống lão hóa, kháng ung thư do có nhiều beta carotene. Đây là chất chống oxy hóa tế bào, giúp loại bỏ các gốc tự do có nguy cơ dẫn đến ung thư. Chất này khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch. Ngoài ra, bông bí còn hỗ trợ phòng bệnh tim mạch, huyết áp cao, tốt cho phụ nữ mang thai, ngừa bệnh loãng xương, tăng cường thị lực…

Bông mướp

Đã kể đến bông bí, không thể quên bông mướp. Bông mướp khi nở màu vàng rực. Dân câu lành nghề thường hay dùng để mắc cùng với mồi dụ mấy con ếch cụ “thành tinh”. Bị trêu ngươi, ếch nhảy ra vồ mồi, thế là chui… vào chảo.

Bông mướp xào tỏi.

Bông mướp chúm chím hàm tiếu, cùng với nụ mướp xào lòng gà thì hết chê bởi vị đăc trưng bùi bùi, ngậy ngậy. Hoa mướp dễ tính, nấu với thứ gì cũng được. Xào với tép đồng nhỏ, át mùi tanh; với da và dạ dày ếch hết nhớt, ăn dòn váng tai…

Ngày xưa hoa mướp là thức ăn của ngươi nghèo, dễ kiếm, mọc đầy hàng rào. Hàng xóm muốn ăn, chỉ cần dóng tiếng xin là hái thoải mái. Bây giờ nụ hoa mướp là đặc sản. Một đĩa nụ mướp chừng ba gắp có giá hai ba chục ngàn như chơi.

Bông lục bình

Nếu có dịp về các tỉnh miền Tây bạn sẽ được thưởng thức món bông lục bình xào tỏi vô cùng thơm ngon và đậm đà. Phần bông của lục bình có vị giòn ngọt, thanh mát rất dễ bắt cơm và đỡ ngán.

Canh chua cá ngát bông lục bình.

Theo Đông y, bông lục bình có vị hơi ngọt, tính mát có tác dụng lợi tiểu, giải độc, trừ phong nhiệt. Nếu bạn có vấn đề về các chứng ho hen, ho gió thì chỉ cần chưng bông lục bình với đường phèn ăn là thấy ngay công dụng tức thời.

C.M (tổng hợp)