Tuesday, July 30, 2024

EINSTEIN LÀ THIÊN TÀI NHƯNG TẠI SAO NGƯỜI CON CỦA ÔNG LẠI TÂM THẦN?

Khi nói đến IQ, người ta nghĩ ngay đến Einstein, một nhà khoa học nổi tiếng với chỉ số IQ cao và có vô số thành tựu trong đời. Đến nay, tên của ông vẫn trở thành một thuật ngữ phổ biến đồng nghĩa với thiên tài.


Mặc dù Einstein là một thiên tài, nhưng ông bị bệnh tâm thần nhẹ. Đó là lý do tại sao chúng ta thường nói rằng ý tưởng của các thiên tài không phải là thứ mà người bình thường có thể hiểu được, họ sẽ bị coi là đang nghiên cứu một phát minh kỳ dị nào đó, nhất là khi họ luôn có những hành động khác với người thường.

Mileva Marik là vợ đầu của Einstein, một nữ nhà vật lý người Serbia và là bạn học của Einstein. Năm 1903, Einstein và Mileva kết hôn, thực ra trước khi kết hôn, họ có với nhau một cô con gái ngoài giá thú là Liesel Einstein, nhưng không may, Liesel đã chết vì bệnh ban đỏ vào năm trước khi em trai Hans của cô được sinh ra. Thật kỳ lạ, Einstein chưa bao giờ biết đến sự tồn tại của đứa trẻ chứ đừng nói đến việc gặp cô bé.

Vợ chồng Einstein

Einstein có 3 người con đẻ với người vợ đầu Mileva Marik bao gồm: Lieserl Maric (1902 – 1903), Hans Albert Einstein (1904 – 1973) và Eduard Einstein (1910 – 1965).

Năm 1904, người con thứ hai của Einstein, Hans Albert Einstein, được sinh ra ở Bern, Thụy Sĩ, dường như anh được thừa hưởng chỉ số IQ của Einstein. Mặc dù con trai Hans không giỏi bằng Einstein nhưng anh lại là người có uy tín trong lĩnh vực kỹ thuật thủy lực.

Ngoài ra, khi Hans 6 tuổi, con trai thứ hai của Einstein là Eduard ra đời. Nói về sự nhanh nhạy, khả năng tư duy thì Eduard cũng là người gần với bố nhất. Ngay từ nhỏ, Eduard đã bộc lộ tư chất thông minh và năng khiếu âm nhạc. Cậu bé tỏ ra đam mê với thơ ca, piano và tâm thần học. Vào năm 6 tuổi, Eduard đã đọc Shakespeare và sau này đọc hết tác phẩm của Kant, Schopenhauer, Platon.


Cậu bé ước mong lớn lên sẽ trở thành nhà tâm lý học lỗi lạc. Con trai út của Einstein tôn thờ Sigmund Freud - cha đẻ trường phái Phân tâm học nhiều đến mức treo chân dung của ông trong phòng ngủ. Điều duy nhất mà Albert Einstein luôn lo lắng cho cậu con trai này chính là thể chất yếu ớt. Từ bé, Eduard đã hay ốm vặt. Khi gia đình tổ chức đi chơi hay cắm trại, Eduard thường không được tham gia do sức khỏe không cho phép. Một lần viết cho đồng nghiệp, Albert Einstein nói: "Tôi đến tuyệt vọng vì tình trạng của nó."

Năm Eduard 20 tuổi, anh bị suy sụp tinh thần đột ngột. Edward người được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt cực độ, phải nhập viện tâm thần trong một thời gian dài. Đây quả thật là cú sốc trời giáng đối với Einstein bởi bản thân ông luôn đặt kỳ vọng rất lớn đối với cậu con trai út. Không thể chấp nhận sự thật chua xót, Einstein đổ lỗi rằng Eduard bị di truyền gene xấu từ nhà ngoại, không có cách nào cứu vãn được. Năm 1965, Eduard ở trong bệnh viện và qua đời ở tuổi 55.


Trên thực tế, nguyên nhân khiến Einstein có đứa con mắc bệnh tâm thần không phải là lời nguyền của Chúa đối với thiên tài, mà là do di truyền. Einstein là con đẻ của một cuộc hôn nhân cùng tộc, và vợ ông cũng mang gen gây bệnh, sự kết hợp của cả hai đã làm tăng rất nhiều xác suất sinh con bị bệnh. Ngoài ra, người vợ thứ hai của Einstein là Elsa, cũng là em họ của ông, điều này cho thấy sự phổ biến của các cuộc hôn nhân cùng quan hệ huyết thống trong cộng đồng người Do Thái.

Các nhà lịch sử cũng cho rằng những phương pháp điều trị tâm thần thời bấy giờ đã khiến bệnh tình Eduard ngày càng nặng. Hans Albert thì khẳng định em trai bị tổn thương vĩnh viễn về nhận thức và trí nhớ do liệu pháp sốc điện.

T.H (Theo THPL) / Theo: Dân Việt
Link tham khảo:



KHI BẠN KHÔNG THỂ BAO DUNG ĐƯỢC NGƯỜI KHÁC, HÃY ĐỌC CÂU CHUYỆN NÀY!

Ngày xưa có một ngọn núi, trên núi có một ngôi chùa, trong chùa có một chú tiểu. Chú tiểu này khá tự tin vào đầu óc, kiến ​​thức và trí tuệ của mình. Tất nhiên những người thông minh sẵn sàng giao tiếp với những người thông minh, đó quả thực là một điều rất hạnh phúc.


Khi gặp phải những huynh đệ kiến ​​thức nông cạn, tư duy lẫn lộn, ăn nói lúng túng, tiểu hòa thượng nọ thường nổi nóng, mất bình tĩnh, anh thường nói: “Sao anh mãi vẫn không hiểu? Đồ đầu heo”.

Sư phụ đã nhiều lần chỉ trích anh vì điều này, anh đã thừa nhận sai lầm của mình, nhưng khi gặp trường hợp tương tự, anh vẫn không khỏi mất bình tĩnh. Nhưng một ngày nọ, trải nghiệm lên núi kiếm củi đã khiến anh thay đổi thái độ.

Hôm nay củi lấy được rất nhiều, tiểu hòa thượng vì thế mà tâm trạng rất rui. Trên đường về anh bỏ củi xuống bên cạnh bờ suối, rồi uống nước rửa mặt. Lúc này, “Tiểu Cường” đã đến. Tiểu Cường là một con khỉ nhỏ trên núi, nó thường đến đây chơi, nó thường bắt gặp những chú tiểu lên núi kiếm củi.

Theo thời gian, họ trở thành những người bạn tốt của nhau. Tiểu hòa thượng muốn lau mặt bằng khăn mồ hôi sau khi rửa xong, nhưng thấy khăn mồ hôi còn vương trên đống củi đằng kia, thật sự rất mệt nên chỉ vào đống củi và ra hiệu cho Tiểu Cường lấy khăn mồ hôi giúp anh.

Tiểu Cường chạy tới, rút ​​một khúc củi, đưa cho tiểu hòa thượng. Tiểu hòa thượng cảm thấy rất thú vị, liền kêu Tiểu Cường nhận lấy, tiện tay làm hình vuông, nói: “Khăn mồ hôi, khăn mồ hôi“.Tiểu Cường lại đi, và thứ anh nhận lại là củi.

Tiểu hòa thượng càng cười càng vui vẻ, lần này lấy đá ném lên khăn mồ hôi, sau đó chỉ vào Tiểu Cường, “Thấy chưa? Lấy khăn mồ hôi đó“. Thời Tiểu Cường lại đi, thứ mà anh ta nhận lại vẫn chỉ là củi, Tiểu Cường mang vẻ mặt tự mãn, như thể nói: “Nhìn xem, tôi có khả năng như thế nào!”


Sau khi trở về, tiểu hòa thượng đã kể cho sư trụ trì nghe về điều thú vị này. Trụ trì liền hỏi anh: “Khi con nói chuyện với các huynh đệ, nếu họ không hiểu con liền mất bình tĩnh, nhưng tại sao đối với Tiểu Cường lại không giống như vậy, mà lại còn thấy thích thú?”, “Tiểu Cường nghe không hiểu là điều bình thường, bởi vì nó chỉ là một con khỉ. Nhưng các huynh đệ và những người khác là con người, vì vậy họ nên hiểu những gì con đang nói.”

Trụ trì nói: “Nên? Cái gì gọi là phải? Trước hết, khả năng hiểu biết bẩm sinh của mỗi người là khác nhau. Người hiểu biết tốt không có nghĩa là công sức của anh ta; người kém hiểu biết không phải lỗi của anh ta. Mỗi người sinh ra ở môi trường khác nhau, cũng không phải lỗi của người ấy, người được sinh ra ở hương môn thì cũng không phải là có công lao gì.

Kẻ sinh ra đã làm tôi tớ, hay là một tên đồ tể cũng không phải lỗi của anh ta. Ngay cả khi môi trường giống nhau, những người thầy bạn có thể gặp là khác nhau. Khi người ấy gặp được một vị Thiền sư tốt, hay gặp một kẻ chuyên rượu thịt thì cũng không phải là lỗi của anh ta. Giữa mọi người có sự khác biệt lớn như vậy, làm sao con có thể nói “mọi người phải nên… ”

Nghe xong, tiểu hòa thượng cúi đầu không nói nữa. Trụ trì nói tiếp: “Còn nữa, trời vô thường, nhân gian cũng vô thường, hôm nay anh ta kém hơn con, con có thể coi thường anh ta, nếu ngày mai anh ta tốt hơn con? Khi đó anh ta có thể lại coi thường con“, bạn cảm thấy thế nào?”.

Vị tiểu hòa thượng xấu hổ nói: “Sư phụ, con biết lỗi của mình rồi.” Sư trụ trì lắc đầu nói: “Không, thật ra, lỗi lớn nhất của con không phải là chuyện này”, tiểu hòa thượng mở to mắt hỏi: “Vậy thì lỗi của con ở đâu?“.

Vị sư trụ trì nói: “Lỗi là con không học cách nhìn bằng con mắt một người tu hành và suy nghĩ bằng trái tim của một vị Giác giả.” Tiểu hòa thượng đột nhiên cảm thấy mình hiểu ra điều gì đó, nên vội quỳ lạy và nói: “Sư phụ nhân từ, con xin Sư phụ chỉ dạy cho con!”.


Trụ trì cười nói: “Nghĩ kỹ lại, ngươi thực sụ cũng không hiểu được ý tứ. Tại sao lại chọc giận huynh đệ của ngươi, nhưng lại cười đùa với Tiểu Cường? Vì vậy, vấn đề không phải ở họ, mà là ở con. Con không nổi giận với Tiểu Cường, vì nó là con khỉ, và con thông minh hơn nó rất nhiều, vì vậy con có thể bao dung những lỗi lầm của nó, còn huynh đệ của con, họ đều là con người, chư vị cũng là con người, trí tuệ cũng ngang hàng họ nên chư vị không thể dung thứ cho những lỗi lầm của họ. Chư Phật thì sao, chư Phật nếu thấy những lỗi lầm của đệ tử thì Ngài có giận không? Chắc chắn sẽ không, bởi vì Trí tuệ của Ông là bao trùm tất cả”.

“Sai lầm lớn nhất của con là đã không cố gắng quan sát thế giới bằng con mắt của một vị Phật, đồng cảm với thế giới bằng lòng từ bi của Đức Phật và bao dung thế giới bằng trí tuệ của Đức Phật.”

Nguyệt Hòa
Theo Aboluowang

DU VIÊN BẤT TRỊ - DIỆP THIỆU ÔNG


Du viên bất trị - Diệp Thiệu Ông

Ưng liên kịch xỉ ấn thương đài,
Tiểu khấu sài phi cửu bất khai.
Xuân sắc mãn viên quan bất trú,
Nhất chi hồng hạnh xuất tường lai.


遊園不值 - 葉紹翁

應憐屐齒印蒼苔
小扣柴扉久不開
春色滿園關不住
一枝紅杏出墻來


Thăm vườn không gặp
(Dịch thơ: Điệp luyến hoa)

Xót thương rêu mướt dấu giày in,
Gọi cửa hồi lâu vẫn nín thinh.
Xuân sắc khắp vườn khôn cách giữ,
Vượt tường hồng hạnh cố vươn mình.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Diệp Thiệu Ông 葉紹翁 (1194-?), tự Tự Tông 嗣宗, hiệu Tĩnh Dật 靖逸, Long tuyền nhân thị 龍泉人氏, thi nhân đời Nam Tống.

Nguồn: Thi Viện



ĐIỂM LẠI NHỮNG THÍ NGHIỆM QUÂN SỰ KHÓ TIN CỦA MỸ TRONG THẾ KỶ 20

Dưới đây là một số thí nghiệm quân sự khó tin của Mỹ với những ý tưởng vô cùng lạ lùng trong thế kỷ 20.


Dự án Iceworm là một chương trình thí nghiệm trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh của quân đội Mỹ năm 1958 nhằm giấu hàng trăm tên lửa dưới các chỏm băng của Greenland. Địa điểm bí mật này được cho là một nơi lý tưởng để tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào Liên Xô nếu chiến tranh xảy ra.


Dự án khởi đầu bằng việc xây dựng một căn cứ băng nguyên mẫu được gọi là Trại Thế kỷ (Camp Century). Công trình này gồm hệ thống các đường hầm được tạo thành từ băng cùng với thép và tuyết, bố trí thành các phòng thí nghiệm khoa học, 1 bệnh viện và là nơi sinh sống của hơn 200 người.


Dự án Iceworm là một điều kỳ diệu về kỹ thuật nhưng sự dịch chuyển của các khối băng đã làm gián đoạn sự thống nhất của cấu trúc khiến cho địa điểm này không phải một nơi an toàn bảo vệ các vũ khí hạt nhân. Dự án đã dừng lại vào năm 1966.


Dự án Pigeon: Nhà tâm lý học nổi tiếng B.F. Skinner đã nghĩ ra ý tưởng về một loại vũ khí mới trong Thế chiến II. Điều đáng nói hơn là quân đội Mỹ thực sự đã đầu tư cho thí nghiệm này với ý tưởng huấn luyện những chú chim bồ câu dẫn đường cho tên lửa để nhắm tới các mục tiêu của kẻ thù một cách chính xác hơn.


Nhà tâm lý học Skinner đã quan sát tầm nhìn xuất sắc, khả năng di chuyển linh động của chim bồ câu và tin rằng những điều này sẽ giúp ích cho thí nghiệm của ông. Ông đã huấn luyện những con chim bồ câu khoét vào một số hình ảnh được quyết định trước, chẳng hạn như tàu của kẻ thù rồi sau đó đặt chúng trong một khoang nhỏ với màn hình trình chiếu đường bay của tên lửa.


Nhận ra được các mục tiêu, chim bồ câu sẽ mổ vào những hình ảnh tương tự trên màn hình, dẫn tên lửa tới điểm đến của nó.


Điều đáng ngạc nhiên là những chú chim bồ câu đã chứng minh khả năng xuất sắc của chúng trong khi thí nghiệm của nhà khoa học Skinner nhận được sự tán dương của cả các nhà tâm lý học và các nhà vật lý học. Tuy nhiên, quân đội Mỹ sau đó cho rằng ý tưởng này quá kỳ quặc nên đã chấm dứt việc áp dụng vào thực tế.


Trong Thế chiến II, một nha sĩ tên là Lytle S. Adams đã liên lạc với Nhà Trắng để trình bày về ý tưởng bom dơi của ông giữa bối cảnh Mỹ đang tìm cách tấn công Nhật Bản.


Theo đó, khi các thiết bị gây cháy gắn trên những con dơi được kích hoạt, các thị trấn sẽ chìm trong lửa. Tuy nhiên, khi quân đội Mỹ thử nghiệm ý tưởng này, nó đã thất bại và họ vô tình đốt cháy Căn cứ Không quân của chính mình ở New Mexico.


Năm 1972, quân đội Mỹ nhận được thông tin rằng Liên Xô đang đầu tư hàng triệu USD vào những thí nghiệm ngoại cảm và điều khiển đồ vật bằng suy nghĩ. Không muốn bị bỏ lại phía sau, họ khởi động Dự án Star Gate.


Uri Geller đã dẫn đầu việc nghiên cứu này. Mặc dù ông được biết tới về khả năng có thể bẻ cong các vật thể kim loại bằng suy nghĩ nhưng quân đội quan tâm hơn đến khả năng đọc và thậm chí kiểm soát tâm trí người khác của ông.


Các nhà ngoại cảm sau đó đã được mời tới để đảm nhiệm vai trò "người quan sát từ xa". Họ nỗ lực sử dụng khả năng của mình để thu thập thông tin tình báo về kẻ thù. Họ đã tham gia vào vô số chiến dịch chống khủng bố và giúp lần theo dấu vết những kẻ bỏ trốn trong lòng nước Mỹ. Dù vậy, dự án Star Gate đã khép lại năm 1995 với những kết quả phức tạp.


Việc quan sát trong bóng tối có vai trò vô cùng quan trọng trên chiến trường, vì thế, những chiếc kính có thể nhìn ban đêm là một phần không thể thiếu của những người lính. Tuy nhiên, Hải quân Mỹ muồn nâng cấp tầm nhìn trong bóng tối nên họ đã bắt chước khả năng thị giác của những loài vật ban đêm như gấu trúc Bắc Mỹ.


Gấu trúc Bắc Mỹ có các sắc tố trong mắt giúp chúng có thể nhìn thấy ánh sáng hồng ngoại mà vốn con người không thể thấy. Mục tiêu của dự án nhằm giúp những người lính có thể phát hiện các tín hiệu hồng ngoại, tạo điều kiện để truyền tải những thông tin bí mật. Tuy nhiên, ý tưởng này dường như không thu được thành quả khả quan.


Tàu sân bay thường là những con tàu lớn bởi chúng phải mang những chiến đấu cơ và các phương tiện khác nặng hàng tấn. Tuy nhiên, vào những năm 1930, quân đội Mỹ đã thử nghiệm tàu sân bay trên không.


Họ đã tạo ra 2 tàu sân bay như vậy, được gọi là USS Akron và USS Macon với chiều dài 244 mét và mỗi tàu mang được khoảng 5 chiến đấu cơ. Tuy nhiên, cuối cùng do cả 2 tàu sân bay này đều lao xuống đất nên thử nghiệm trên đã bị bỏ dở.

PV / Theo: VOV
Link tham khảo:






Monday, July 29, 2024

TẠI SAO CHIẾC HỘP PANDORA LẠI NỔI TIẾNG ĐẾN VẬY?

Trong dòng thời gian rộng lớn gồm những câu chuyện thần thoại được dệt nên qua nhiều nền văn hóa và thế kỷ, hiếm có câu chuyện nào nổi tiếng và được liên tưởng đến nhiều như câu chuyện về chiếc hộp Pandora—một câu chuyện vừa hấp dẫn vừa mang tính cảnh báo.


Câu chuyện của chúng ta bắt đầu với hành động táo bạo của một Titan, Prometheus, người đã thách thức các vị thần bằng cách ban tặng cho loài người một món quà - lửa. Hành động đặc biệt này đã mở đường cho nền văn minh, tiến bộ và giác ngộ của con người.

Để trả đũa lại sự thách thức này, Zeus, vị thần đứng đầu của các vị thần Hy Lạp, đã thực hiện một kế hoạch vô cùng xảo quyệt. Đó là sử dụng người phụ nữ đầu tiên, được làm ra từ đất sét - Pandora, người được tạo ra với vẻ đẹp của các thiên thần và được ban tặng những món quà từ mọi vị thần - trong số đó có cả sự tò mò.

Cô được gửi đến em trai của Prometheus, Epimetheus, như một món quà. Cùng với cô ấy là một chiếc pithos lớn - một chiếc bình Hy Lạp; chúng ta gọi nó là cái hộp vì một dịch giả thế kỷ 16 đã dịch nhầm.

Chiếc lọ này chứa đựng những điều bí ẩn chưa được kể, kèm theo một chỉ dẫn đơn giản từ các vị thần, đó là không bao giờ được mở nó ra. Tuy nhiên, như định mệnh (và các vị thần) đã sắp đặt, sự tò mò của Pandora đã khiến cô mở phong ấn chiếc pithos, giải phóng một loạt tai họa xuống thế giới. Pandora vội đậy bình lại và chỉ còn lại hy vọng nằm lại ở đáy bình với con người.


Bản chất phức tạp của sự tò mò

Thoạt nhìn, câu chuyện có vẻ giống như một lời khuyên răn thẳng thắn chống lại sự tò mò và thiếu cẩn trọng. Tuy nhiên, lịch sử loài người tràn ngập những trường hợp mà sự tò mò là chính là chìa khóa để mở ra những thành công to lớn. Đó cũng chính là động lực khám phá những điều chưa biết của chúng ta, từ vũ trụ rộng lớn phía trên đến các nguyên tử cực nhỏ, là biểu tượng cho bản chất vốn có của chúng ta. Nhưng, với mỗi bước tiến vào những điều chưa biết mà chúng ta bước đi, chúng ta lại phải đối mặt với chiếc hộp Pandora do chính mình tạo ra. Ví dụ, sự phân tách nguyên tử mang lại cả hứa hẹn về năng lượng vô biên lẫn bóng ma về sự hủy diệt hạt nhân.


Tại sao lại là hy vọng?

Bất chấp những hỗn loạn tràn ngập từ chiếc hộp đã mở, sự hiện diện của hy vọng bên trong nó có lẽ là yếu tố bí ẩn và nâng cao tinh thần nhất của câu chuyện. Phải chăng việc để thêm niềm hy vọng vào bên trong là một hành động thương xót của các vị thần, đảm bảo rằng nhân loại sẽ luôn có thuốc xoa dịu những vết thương do những tai ương được thả ngày ấy gây ra? Hay nói theo một cách khác, điều đó mang lại cho con người khả năng chịu đựng và kiên trì, ngay cả khi đối mặt với nghịch cảnh quá lớn?

Hy vọng là người bạn đồng hành lâu đời của tinh thần con người, một yếu tố nội tại được dệt sâu vào cơ cấu sự tồn tại của chúng ta. Cho dù phải đối mặt với nghịch cảnh cá nhân, biến động xã hội hay những thách thức hiện sinh, niềm hy vọng vẫn đóng vai trò như chiếc la bàn dẫn chúng ta đi qua những hỗn loạn. Câu hỏi là, điều gì thúc đẩy chúng ta không ngừng tìm kiếm hy vọng?

Từ quan điểm tiến hóa, hy vọng có thể là một cơ chế sinh tồn. Tổ tiên thời tiền sử của chúng ta phải đối mặt với hàng loạt thách thức mỗi ngày – các mối đe dọa từ những kẻ săn mồi, nghịch cảnh về khí hậu và tình trạng thiếu lương thực thường xuyên. Trong một môi trường như vậy, những cá nhân nuôi dưỡng hy vọng và sự lạc quan có thể có xu hướng kiên trì, vượt qua ranh giới và giải quyết vấn đề tốt hơn là khuất phục trước sự tuyệt vọng. Hy vọng mang lại lợi thế thích ứng, thúc đẩy các cá nhân thích nghi, đổi mới và kiên trì.


Về mặt tâm lý, hy vọng đóng vai trò như một hàng rào bảo vệ chống lại cảm giác bất lực và tuyệt vọng. Niềm tin vào một tương lai tươi sáng hơn hoặc vào tiềm năng thay đổi tích cực giúp các cá nhân có thể đương đầu với những nghịch cảnh hiện tại. Hy vọng cung cấp một điểm neo tâm lý, đảm bảo rằng bất chấp những khó khăn hiện tại, vẫn có niềm tin sâu sắc vào tiềm năng cứu chuộc, phục hồi và cải thiện.

Pandora trong thời hiện đại

Vượt qua nguồn gốc cổ xưa của nó, di sản của chiếc hộp Pandora vẫn luôn hiện diện trong nền văn hóa đương đại. Cụm từ "mở chiếc hộp Pandora" đã được củng cố trong từ vựng hiện đại của chúng ta, một phép ẩn dụ sống động cho những hành động dẫn đến những hậu quả không lường trước được và thường không thể khắc phục được.

Văn hóa đại chúng tràn ngập tiếng vang của chiếc hộp Pandora. Phim ảnh, sách và bài hát thường dựa trên mô típ của nó, đóng khung những tình huống khó xử hiện đại trong khuôn mẫu cổ xưa của nó.

Trong thời đại công nghệ phát triển của chúng ta, chiếc hộp Pandora có thể sẽ xuất hiện dưới dạng ứng dụng, những phần mềm hay trí tuệ nhân tạo rất có thể là chiếc hộp Pandora thời hiện đại của chúng ta, chứa đầy những điều kỳ diệu và thảm họa tiềm ẩn.


Điều khiến câu chuyện về chiếc hộp Pandora gây được tiếng vang lớn trên toàn cầu là sự miêu tả rõ ràng về những điểm yếu và sức mạnh của con người. Nó ghi lại hành trình tìm kiếm kiến thức vô tận của chúng ta, những cạm bẫy không thể tránh khỏi đi kèm với nó và tinh thần hy vọng bất diệt đã giúp chúng ta vượt qua ngay cả những giờ phút đen tối nhất. Ở Pandora, chúng ta nhìn thấy những hình ảnh phản chiếu của chính mình—được thúc đẩy bởi mong muốn biết và khám phá vô tận, thậm chí có nguy cơ gặp phải những hậu quả không lường trước được. Chiếc hộp đóng vai trò như một biểu tượng mạnh mẽ về bản chất giống như con dao hai lưỡi của sự khám phá.

Tham khảo: Scienceabc
Đức Khương / Theo: ĐSPL
Link tham khảo:

CON VẸT CẦU CỨU NHÀ SƯ, NHÀ SƯ ĐÃ "THỨC TỈNH" NÓ BẰNG MỘT CÂU NÓI

Trong “Lục Đạo Luân Hồi”, có rất nhiều người chuyển sinh thành động vật, nhưng cũng có động vật chuyển sinh con người, điều này có có quan hệ mật thiết đến những gì bạn đã làm trong kiếp trước. Mà tương lai của một người được an bài theo tất cả những gì anh ta đã làm trước đây, vì vậy một số người nói rằng cuộc sống của một người đã được an bài ngay khi vừa mới sinh ra, xem ra cũng là có đạo lý.

Ảnh minh họa. Nguồn: soundofhope

Nằm mơ thấy chú chó chết

Có một ngôi đền ở phía tây huyện Vũ Lăng được gọi là “Túc Viên Viện”. Nhà sư trụ trì của ngôi đền đã nuôi một con chó trong nhiều thập kỷ. Một đêm nọ, nhà sư mơ thấy con chó nói: “Nhờ lòng tốt của ông đã nhận nuôi tôi trong nhiều năm, hôm nay tôi sẽ đầu thai làm con trai trong nhà của Titou Duweng, vì vậy tôi đặc biệt đến đây để từ biệt”. Tại thời điểm này, nhà sư đột nhiên thức dậy từ giấc mơ của mình, nhưng ông đã không quan tâm.

Đến rạng sáng, một người phục vụ đến báo rằng con chó đã chết, và nhà sư đã hoảng sợ vì điều này, nên ông đã đi đến nhà Titou. Ông chủ nhà họ Đỗ đi tới cửa nghênh đón, và hỏi: “Sao nhà sư đến sớm như vậy?” Sau đó mời nhà sư vào nhà và ngồi xuống. Nhà sư hỏi: “Đêm qua gia đình thí chủ phải chăng có niềm vui con cháu?”. Ông Đỗ trả lời rằng con dâu đã hạ sinh một bé trai đêm qua và sau đó hỏi nhà sư làm thế nào lại biết. Nhà sư vì thế liền kể giấc mơ của mình, ông Đỗ cũng cảm thấy phi thường kinh ngạc, bởi vậy ông hứa sẽ cho đứa trẻ đi tu khi lớn lên.

Một đêm nọ, nhà sư mơ thấy con chó nói: “Nhờ lòng tốt của ông đã nhận nuôi tôi trong nhiều năm, hôm nay tôi sẽ đầu thai làm con trai trong nhà của Titou Duweng, vì vậy tôi đặc biệt đến đây để từ biệt”. Nguồn: soundofhope

Con vẹt nhà họ Mã

Vào một ngày tháng 4 năm Tống Hiếu Tông thứ 15 (1188) năm Mã Thành Trung, người sống ở Kinh Nam (nay là Kinh Châu, Hồ Bắc) làm khách thì bất ngờ có một vị trưởng lão ngoại tên Thọ Phố từ một ngôi chùa đến thăm hỏi. Mã Thành Trung nói chuyện với nhà sư rất lâu, sau đó đi đến thư phòng để ấy kinh thư. Lúc này, một con vẹt bị nhốt trong lồng chim bỗng nhiên nói với Thọ Phố : “Thiền sư, hy vọng ngài phát tâm từ bi, xin cứu giúp”.

Thọ Phố liền hỏi: “Ngươi có chuyện gì vậy?”. Con vẹt nói: “Tôi đã bị nhốt trong lồng chim trong ba năm và không có cơ hội để được giải thoát.” Tăng nhân Thọ Phố liền nói: “Tiểu súc sinh, ai dạy ngươi có thể nói chuyện chứ!”. Nghe Thọ Phố nói như vậy, con vẹt thoáng cái hiểu, từ nay về sau không bao giờ lên tiếng nói chuyện nữa, giống như là cổ họng bị vật gì làm nghẹn lại.

Như vậy vài tháng sau, Mã Thành Trung chê con vẹt không nói lời nào, vì vậy liền thả nó ra. Con vẹt sau khi được tự do liền bay thẳng đến bên cạnh Tăng nhân Thọ Phố, kêu ríu rít để tỏ lòng cảm ơn ông. Thọ Phố cảnh báo: “Sau này, tốt nhất ngươi nên bay vào rừng sâu để tránh rơi vào cạm bẫy và gặp xui xẻo”. Sau đó con vẹt lại cầu Thọ Phổ chỉ giáo, Thọ Phố liền bảo nó niệm phật hiệu “A di đà phật”. Ngay sau đó, con vẹt bay đi.

Con vẹt sau khi được tự do liền bay thẳng đến bên cạnh Tăng nhân Thọ Phố, kêu ríu rít để tỏ lòng cảm ơn ông. Nguồn: soundofhope

Qua hơn tám năm, đến tháng 11 năm Tống Ninh Tông Khánh Nguyên thứ hai (1196), Thọ Phố vân du đến Đào Nguyên (nay là Thường Đức, Hồ Nam), và tạm trú trong một ngôi nhà tranh của Vương gia. Một ngày nọ, Thọ Phổ nhìn thấy một đứa trẻ đến cảm ơn ông trong giấc mơ của mình. Thọ Phố hỏi đứa bé: “Ngươi là ai?” Đứa trẻ nói: “Tôi là con vẹt của gia đình Mã Thành Trung trong quá khứ! Nhờ sự chỉ dạy của ngài, đã giúp tôi có thể chuyển sinh làm người. Hiện giờ tôi đang ở ngõ tây của Tiêu Nhị gia, đầu thai làm một nam nhi.”

Thọ Phố liền hỏi hắn: “Ta muốn đến thăm ngươi, vậy thì lấy cái gì làm bằng chứng!”. Đứa trẻ nói: “Vẫn còn lông vũ dưới sườn trái của đệ tử ạ!” Ngày hôm sau, Thọ Phố liền đến thăm nhà Tiêu Nhị ở ngõ tây. Gọi cậu bé lại và nhìn kỹ, quả nhiên có dấu vết của lông chim dưới xương sườn bên trái, đúng là giống như lời đứa trẻ trong mộng đã nói.

Như đã nói: Con người là hiếm. Mà động vật có thể được nghe Phật pháp, đắc được thân người thì quả thực là phi thường may mắn!

Tài liệu tham khảo:
[Minh] Giải Tấn chủ biên: “Vĩnh Nhạc đại điển” quyển 131.139
[Nam Tống] Hồng Mại: Di Kiên Chí Bổ Quyển 4


Văn Tư Mẫn / Theo: soundofhope

HƯƠNG THẦM - PHAN THỊ THANH NHÀN


Hương Thầm
Phan Thị Thanh Nhàn

Cửa sổ hai nhà cuối phố
Không hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.

Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm
Bên ấy có người ngày mai ra trận.

Họ ngồi im không biết nói năng chi
Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi
Nào ai đã một lần dám nói?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối
Anh không dám xin,
cô gái chẳng dám trao
Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao
Không giấu được cứ bay dịu nhẹ.

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ
Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.
(Anh vô tình anh chẳng biết điều
Tôi đã đến với anh rồi đấy...)

Rồi theo từng hơi thở của anh
Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực
Anh lên đường
hương sẽ theo đi khắp

Họ chia tay
vẫn chẳng nói điều gì
Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

PHAN THỊ THANH NHÀN
Tập thơ Nghiêng về anh (NXB Hội Nhà văn, 1992)

Bài thơ đã được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Phan Thị Thanh Nhàn sinh ngày 9/8/1943 tại Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà làm thơ từ sớm, đầu những năm 1960 đã có thơ đăng báo. Năm 1969, bài thơ Hương thầm của bà đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Bà là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành hội trong giai đoạn 2001-2005. Ngoài làm thơ, bà còn viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi. Phan Thị Thanh Nhàn kết hôn với nhà thơ Thi Nhị và người bạn đời của bà đã mất năm 1979, hiện bà đang sống cùng con gái duy nhất tại Hà Nội.

Nguồn: Thi Viện

Hương Thầm (Nhạc sĩ: Vũ Hoàng - Ca sĩ: Thanh Tuyền)