Saturday, January 4, 2025

ĐỀ Ô GIANG ĐÌNH - ĐỖ MỤC


Đề Ô giang đình - Đỗ Mục

Thắng bại binh gia sự bất kỳ
Bao tu nhẫn sỉ thị nam nhi
Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
Quyển thổ trùng lai vị khả tri.


題烏江亭 - 杜牧

勝敗兵家事不期
包羞忍恥是男兒
江東子弟多才俊
捲土重來未可知


Đề đình sông Ô
(Dịch thơ: Lê Nguyễn Lưu)

Thua được nhà binh chuyện bất kỳ
Nén lòng hổ nhục mới nam nhi
Giang Đông nhân sĩ nhiều người giỏi
Cuốn đất lui về cũng có khi


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện



LỜI NGUYỀN PHONG THỦY KHIẾN NHÀ HỒ SỤP ĐỔ SAU 7 NĂM

Dù được khuyên ngăn, Hồ Quý Ly vẫn phớt lờ và làm theo ý mình. Cuối cùng, triều đại của ông sụp đổ trong thời gian ngắn ngủi như lời tiên tri.


Lời nguyền phong thủy khiến nhà Hồ sụp đổ sau 7 năm là gì?

Nhà Hồ là một trong những vương triều có những cải cách táo bạo, vượt thời đại. Chỉ tồn tại 7 năm nhưng nhà Hồ vẫn khiến hậu thế sau này tốn không biết bao nhiêu bút mực để bàn về mình. Khen có, chê có, tiếc nuối có, bài học có… Nhưng bên cạnh đó còn có một giai thoại liên quan đến phong thủy mà không phải ai cũng biết.

Nhà Hồ thành lập vào tháng 2/1400. Khi đó, đất nước rối ren, mâu thuẫn xã hội bị đẩy lên cao, triều đình nhà Trần xuống dốc trầm trọng. Lê Quý Ly là một ngoại thích nhưng dần nắm hết quyền hành, đã phế bỏ Trần Thiếu Đế rồi tự lên ngôi, lấy lại họ Hồ, lập ra nhà Hồ, đổi quốc hiệu thành Đại Ngu.

Chân dung Hồ Quý Ly

Khi chọn đất đóng đô, Hồ Quý Ly cho thầy phong thủy đi khắp nơi tìm đất đẹp, long mạch tốt. Sau thời gian nâng lên đặt xuống, ông quyết định chọn động An Tôn để xây kinh thành. Ngày nay, dấu tích thành nhà Hồ vẫn còn ở xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Nó là chứng tích lịch sử của triều đại ngắn nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Thầy phong thủy của Hồ Quý Ly cho rằng vùng đất này mang dáng dấp quả ấn của trời, có long mạch dài là con sông Mã, xung quanh có nhiều “tiểu long” như sông Âm, sông Lò, sông Luồng, sông Bưởi… cùng chầu vào long mạch chủ.

Bên ngoài vùng này có các dãy núi bao bọc hình vòng cung, bên trong lại có sông Mã, sông Bưởi lượn tròn như chiến hào. Trong cùng là khu đất nổi lên rõ rệt.


Tương truyền, Hồ Quý Ly tâm đắc về nơi này đến mức thốt lên: “Đất này là đất Thạch bàn long xà lục thập niên ký” (tạm dịch: Thế đất rồng chầu rắn cuộn vững như thạch bàn, có thể trụ được 60 năm).

Nhưng sau khi đến, Hồ Hán Thương – con trai thứ của Hồ Quý Ly lại cau mày phản đối. Hồ Hán Thương nhận ra điều không ổn và khuyên vua cha nên nghĩ lại. Hán Thương cho rằng đất này đúng là rồng chầu rắn cuộn nhưng đất còn non nên chỉ có thể gọi là “Long, xà ẩm thủy - Lục niên ký chủ” (tạm dịch: Nơi rồng, rắn uống nước, ở được trên dưới 6 năm).


Dù trẻ tuổi nhưng Hồ Hán Thương khi đó vốn đã nổi tiếng là am hiểu phong thủy. Nhiều đại quan cũng đồng quan điểm với con trai của vua, trong đó có Nguyễn Nhữ Thuyết. Ông đã viết thư can ngăn Hồ Quý Ly, khẳng định vùng An Tôn cuối nước đầu non, hợp với thời loạn chứ không hợp với trị quốc.

Cuối cùng, Hồ Quý Ly vẫn phớt lờ những lời can ngăn và quyết định xây thành nơi đây. Nào ngờ, lời nguyền phong thủy đích thực đã linh ứng, nhà Hồ tồn tại được 7 năm (từ 1400 đến 1407) rồi sụp đổ.

S.T (Theo Sở Hữu Trí Tuệ và Sáng Tạo)

"TRẠM S" CỦA TÌNH BÁO MỸ TRONG THẾ CHIẾN II NẰM Ở ĐÂU?

Tháng 9/1939, Hải quân Mỹ đã bí mật dời chuyển một trạm nghe lén vô tuyến từ Fort Stevens (tiểu bang Oregon) đến Fort Ward trên đảo Bainbridge (hạt Kitsap), nơi cách thành phố Seattle chỉ vài dặm tính từ Puget Sound. Trạm vô tuyến này được đổi thành “Trạm S” và bắt đầu thu nhận các thông điệp Nhật Bản từ năm 1940.


Vào cuối Thế chiến II, Trạm S chuyên phục vụ thời Chiến tranh lạnh như can thiệp tin nhắn từ Nga và sau này là CHDCND Triều Tiên. Trạm S bị đóng cửa vào tháng 11/1953.

Trung tâm nghe lén

Khoảng tháng 5/1932, Hải quân Mỹ cho thành lập một trạm nghe lén vô tuyến đặt tại Fort Stevens (tiểu bang Oregon, nằm gần Astoria). Nhưng mãi đến năm 1938, trạm này mới khám phá ra những vấn đề tiếp nhận thông tin và áp lực buộc nó phải di dời. Sau khi khảo sát kỹ và quả quyết rằng không nơi nào khác ngoài đảo Bainbridge mới là địa điểm lý tưởng, thế là trạm nghe lén Fort Stevens tái dời đến hòn đảo này trong tháng 9/1939.

Đi vào hoạt động tại Fort Ward (nơi này được thành lập trong giai đoạn 1900-1903) như là Trung tâm hỗ trợ các hoạt động truyền thông (COMSUPACT). Những chiếc ăng ten hình thoi được dựng lên trên khu vực duyệt binh. Năm 1940, cơ sở này được tái đổi tên thành Trạm S trực thuộc Trung tâm hỗ trợ các hoạt động nhóm an ninh hải quân Mỹ (NSGA) và trực tiếp nghe lén mạng lưới vô tuyến Tokyo chuyển đến San Francisco, ghi nhận các thông điệp ngoại giao Nhật Bản được gửi đi bằng mã Morse tiếng Nhật.

Trạm phát vô tuyến hải quân ở Battle Point trên đảo Bainbridge.

Ngay từ đầu, Trạm S đã hoạt động rất bí mật, tránh khỏi sự ngờ vực của các cư dân địa phương và công luận. Được đặt trong khuôn viên của một trạm quân đội cũ với trung tâm tình báo vô tuyến đặt bên trong tòa nhà hậu cần quân đội cũ, tránh xa tai mắt của dân sở tại. Chính cơ chế bảo mật này đã giúp cho Fort Ward có nhiều không gian trống và không cần xây dựng mới bất kỳ cấu trúc nào, nhưng cũng đồng thời thu hút sự quan tâm từ bên ngoài để từ đó cần thiết mở cơ sở đánh chặn liên lạc vô tuyến. Chưa hết, trạm nghe lén Bainbridge còn có một hoạt động tình báo quan trọng khác, đó là Tìm hướng vô tuyến (RDF) để định vị và theo dõi chính xác các tàu địch. Bằng cách dùng tín hiệu vô tuyến thu được từ một số trạm nghe, RDF có thể nhận dạng chính xác địa điểm có tàu địch.

Để xác định hay nhận dạng vị trí có tàu lạ thì cần ít nhất 2 báo cáo của trạm RDF, nhưng cũng thêm một báo cáo thứ 3 để đảm bảo sự chính xác về địa điểm bị nghi ngờ. Trạm nghe lén Bainbridge hoạt động ở Mạng định hướng tần số cao Bờ Tây với tư cách là Trung tâm sơ đồ và điều khiển mạng, tổng hợp dữ liệu từ chính nó và các trạm RDF khác nhằm ghi lại nhật ký về những vị trí có tàu Nhật Bản. Dữ liệu này sau đó sẽ được gửi đến các Bộ chỉ huy hải quân Bờ Tây cùng trưởng phòng tác chiến hải quân ở Washington D.C.

Trường vô tuyến hải quân

Ngày 28/10/1940, Trường vô tuyến dự bị hải quân Mỹ được mở ở Fort Ward. Mỗi lớp học bao gồm 40 học viên, họ có khoảng 4 tháng được đào tạo về vận hành vô tuyến. Để có thể phục vụ cho các học viên này, toàn bộ 6 buồng giam trong nhà bảo vệ của pháo đài cũ đã bị dỡ bỏ và không gian được cải tạo lại thành một lớp học hoàn chỉnh. Thêm nữa, doanh trại của pháo đài cũng được tái tân trang để làm ký túc xá cho học viên. Các học viên sẽ học về mã Morse, đánh máy chữ, các hoạt động liên lạc hải quân, và nghề thủy thủ sơ cấp. Khi tốt nghiệp, những người vượt qua bài kiểm tra sẽ nhận được đánh giá xếp hạng thứ 3 của trạm vô tuyến để rồi họ được đứng chân vào hạm đội hay phải vào bờ. Ngôi trường này đã cung cấp sự bảo vệ hoàn hảo cho các hoạt động vô tuyến tuyệt mật trên khắp các khu vực diễu hành ở tòa nhà hậu cần quân đội cũ.

Sau đó một bài luận ảnh toàn trang xuất hiện trên báo The Seattle Times đã hé lộ rằng trường vô tuyến là mục tiêu của hải quân Mỹ khi đặt trụ sở trên đảo Bainbridge. Năm 1941, thêm một thửa đất rộng 160 mẫu Anh (64,7 ha) được mua lại, thửa đất này nằm ở Tây và Nam của Fort Ward. Các đội xây dựng đã dựng lên 60 tòa nhà khung gỗ tạm thời, và những tòa nhà hiện có tại Fort Ward cũng đã được sửa đổi để sử dụng mới. Tòa nhà hành chính cũ đã trở thành nơi ở của chỉ huy Trạm S, ông B.C.Purrington (1896-1961). Tiệm bánh một thời đã trở thành nhà chứa máy phát điện. Bản thân tòa nhà hậu cần quân đội đã được sửa sang lại thành Trạm S.

Trạm tình báo tín hiệu S trên đảo Bainbridge.

Hoạt động trong chiến tranh

Tháng 11 và đầu tháng 12/1941, sự gia tăng các tin nhắn ngoại giao từ phía Nhật Bản được thu thập và lưu giữ tại Trạm S khiến nơi này tất bật đánh chặn các lưu lượng tin tức, và đạt đỉnh từ ngày 4/12/1941 đến 6/12/1941. Chỉ huy B.C.Purrington cũng ghi nhận đà tăng hoạt động tàu thuyền trong các báo cáo mật của Trạm S từ tháng 11 và 12/1941 của ông gửi cho Trưởng phòng tác chiến hải quân ở Washington, D.C. Hoạt động vô tuyến và tàu bè liên tục cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra.

Ngày 7/12/1941, Trạm S đánh chặn một tin nhắn từ Nhật Bản có nội dung đại loại ngừng việc đàm phán với Hoa Kỳ. Ngay lập tức Trạm S đã chuyển tiếp thông điệp quan trọng này về cho Washington, D.C. Đầu tháng 9/1941, các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Nhật Bản đã đi đến quyết định rằng Nhật phải tham chiến nếu như họ không thể đạt được nguồn vật tư thô và dầu mỏ thông qua các cuộc đàm phán.

Mỹ và các nước khác đã đóng băng tài sản của Nhật Bản cũng như ngăn chặn nước này tiếp cận với nguồn dầu thô. Trong lúc đó Nhật đang chiến đấu ở Trung Quốc và rất cần có dầu để duy trì chiến dịch của mình. Các nhà ngoại giao Nhật được chỉ thị đi đàm phán dù họ dự đoán rằng điều đó sẽ không thành công. Trong khi đó quân đội Thiên hoàng đang ráo riết chuẩn bị cho chiến tranh. Thông điệp bị trạm vô tuyến Bainbridge chặn được chính là tín hiệu khai mào chiến tranh. Tin nhắn bị chặn này cho thấy người Nhật tin chắc rằng không thể đạt được thỏa thuận dù có đàm phán gì đi chăng nữa.

Người Nhật bí mật di chuyển các lực lượng hải quân của họ đến tấn công Trân Châu Cảng ở Hawaii. Tokyo lên kế hoạch rằng đại sứ Nhật sẽ chuyển thông điệp lên Bộ Ngoại giao Mỹ vào lúc 1 giờ chiều ngày 7/12/1941, tức chỉ một thời gian ngắn trước khi bắt đầu đánh Trân Châu Cảng. Nhằm duy trì lợi thế gây ngạc nhiên, chính phủ Nhật không đưa ra lời tuyên chiến.

Việc gửi thông điệp bị trì hoãn, và bất chấp nhiều dấu hiệu khác nhau cho thấy chiến tranh có thể nổ ra, các quan chức tình báo Mỹ đã không lường trước cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng. Cho đến 1 giờ 20 phút chiều theo giờ Washington D.C vào ngày hôm sau, 8/12/1941, sau bài phát biểu trước quốc hội và toàn quốc, Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1882-1945) đã ra lời tuyên chiến với Nhật Bản. Lại nói tới Trạm S. Tới tháng 11/1942, Trạm S tiếp quản công tác tình báo vô tuyến của Canada.

Trong suốt Thế chiến II, một mạng lưới diệt tàu ngầm đã được giăng khắp Rich Passage (eo biển thủy triều ở Puget Sound). Tới tháng 9/1942, một trạm phát vô tuyến hải quân được xây dựng tại Battle Point, phía Bắc của Trạm S. Trạm Battle Point bao gồm một tòa nhà phát vô tuyến được đúc bê tông kiên cố, một tòa nhà hình xoắn ốc và 4 tòa tháp cao chót vót. Sau đó có một trụ tháp vô tuyến cao 243,8m được đựng thêm vào.

Các sĩ quan vô tuyến làm việc bên trong Trạm S.

Trạm S chuyên trách tình báo bị đánh chặn từ Thái Bình Dương về cho Bộ Tư lệnh hải quân số 13 đóng ở thành phố Seattle. Năm 1944 xuất hiện các nữ tình nguyện viên khẩn cấp đến làm việc tại Trạm S. Tháng 1/1945, một số nữ nhân viên tình nguyện khẩn cấp đã được huấn luyện rành rẽ cách dùng mã Morse tiếng Nhật đã lên đường làm việc ở các trạm nghe lén khác. Sau Thế chiến II, các mục tiêu nghe lén mới đã được lựa chọn. Năm 1946, Trường vô tuyến hải quân đã dạy mã tiếng Nga, và các tin nhắn Liên Xô đã bị nghe lén. Năm 1950, Trạm S bắt đầu đánh chặn thông điệp từ CHDCND Triều Tiên. Trường vô tuyến hải quân đã trở thành Trường kỹ thuật liên lạc hải quân Mỹ chuyên trách dạy học viên các kỹ năng vô tuyến ngay từ tháng 10/1951 cho đến khi trường này đóng cửa vào tháng 12/1953.

Trung tâm các hoạt động nhóm an ninh hải quân bị đình lại năm 1953 còn Trạm S được chuyển đến Marietta (tiểu bang Washington). Năm 1958, Hải quân Mỹ bỏ hoang đảo Bainbridge. Năm 1959, Cơ quan hành chính các dịch vụ công (GSA) đã tiến hành xử lý đất và nhà cửa trên đảo. Trạm Battle Point bị đóng cửa vào năm 1971 và thửa đất này biến thành quận Bainbridge Park. Năm 1972, chính quyền liên bang đã tháo bỏ 5 tòa tháp vô tuyến. Khu vực này ngày nay trở thành công viên Battle Point, còn bản thân nhà phát vô tuyến trước đây đã biến thành trung tâm thể dục thể thao. Năm 1978, Fort Ward đã được liệt kê trong Sổ đăng ký địa điểm lịch sử quốc gia Hoa Kỳ.

Văn Chương (Theo An Ninh Thế Giới)
Link tham khảo:

Friday, January 3, 2025

BÀI HÁT "THƯƠNG HẢI NHẤT THANH TIẾU" - HOÀNG TRIÊM

Tác phẩm võ hiệp Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung được dựng phim truyền hình rất nhiều lần, phim điện ảnh cũng có rất nhiều trích đoạn tạo thành nhiều cuốn phim rất ăn khách và mỗi bộ phim đều có nhạc chủ đề. Tôi thích nhất là bài hát "Thương Hải Nhất Thanh Tiếu" của Hoàng Triêm, bài hát nói lên được cái khí phách hào tình của một hiệp khách giang hồ.


Thương hải nhất thanh tiếu
Từ, khúc: Hoàng Triêm

Thương hải tiếu, thao thao lưỡng ngạn triều 
Phù trầm tùy lãng, ký kim triêu. 
Thương thiên tiếu, phân phân thế thượng triều 
Thùy phụ, thùy thắng xuất, thiên tri hiểu. 

Giang sơn tiếu, yên vũ dao 
Đào lãng đào tận hồng trần tục thế, tri đa thiểu? 
Thanh phong tiếu, cánh nhạ tịch liêu 
Hào tình hoàn thặng liễu nhất khâm vãn chiếu. 
Thương sinh tiếu, bất tái tịch liêu 
Hào tình nhưng tại si si tiếu tiếu. 


沧海一声笑
词,曲:黄霑 

沧海笑,滔滔两岸潮 
浮沉随浪,记今朝 
苍天笑,纷纷世上潮 
谁负谁胜出,天知晓 

江山笑,烟雨遥 
涛浪淘尽红尘俗世,知多少 
清风笑,竟惹寂寥 
豪情还剩了一襟晚照 
苍生笑,不再寂寥 
豪情仍在痴痴笑笑 


Biển xanh một tiếng cười

Biển xanh cười, dạt dào đôi bờ nước 
Nổi trôi theo sóng, chỉ nhớ sớm nay. 
Trời xanh cười, chuyện thế tục nhiễu nhương 
Ai thắng được, ai thua? Trời mới biết.

Núi sông cười, mưa phùn bay lất phất 
Sóng cả cuốn trôi bao nhiêu thế tục hồng trần? 
Gió xanh cười, mà thêm cô quạnh 
Hào tình chỉ một vạt nắng chiều còn đây. 
Chúng sinh cười, không cô liêu nữa 
Hào tình vẫn vậy, tiếng cười ngẩn ngơ.

Nguồn: Youtube



LÝ DO ÔNG TRUMP ĐỘT NGỘT "QUAY XE" VỚI TIKTOK

Trump muốn cấm TikTok hoạt động tại Mỹ. 4 năm sau, tổng thống đắc cử đang tìm cách trì hoãn quyết định tương tự của người tiền nhiệm.


Trong nhiệm kỳ đầu tiên vào năm 2020, ông Donald Trump chỉ trích TikTok - ứng dụng do Trung Quốc sáng lập - là mối đe dọa với an ninh quốc gia Mỹ. Khi chỉ còn chưa đầy một tháng nữa nhậm chức cho nhiệm kỳ 2, ông Trump lại gọi TikTok là “phương tiện độc đáo cho quyền tự do ngôn luận”.

Nhận xét này nằm trong bản tường trình ông Trump đệ lên Tòa án Tối cao Mỹ hôm 27/12, trong đó yêu cầu thẩm phán dừng lệnh cấm TikTok có hiệu lực vào tháng 1/2025 để ông có thể “đàm phán một nghị quyết” cứu nền tảng này.

Trước đó, một đạo luật được lưỡng đảng thông qua và Tổng thống Mỹ Joe Biden ký vào tháng 4 kêu gọi ByteDance - công ty mẹ của TikTok - hoặc bán ứng dụng cho một công ty ngoài Trung Quốc, hoặc bị cấm.

Nhà Trắng và Quốc hội lập luận quyền sở hữu của Trung Quốc gây rủi ro cho an ninh quốc gia vì lượng lớn dữ liệu nền tảng này sở hữu, cũng như khả năng Bắc Kinh dùng TikTok phát tán thông tin tuyên truyền.

Theo New York Times, ông Trump "chung thuyền" với ý kiến này, trước khi trở thành ngôi sao TikTok với 14,7 triệu người theo dõi.

Năm 2020: “Chúng ta sẽ cấm TikTok”

Ban đầu, ông Trump khó chịu với TikTok chủ yếu vì tức giận với cách Trung Quốc xử lý đại dịch Covid-19.

Vào tháng 7/2020, ông khẳng định Nhà Trắng đang cân nhắc lệnh cấm “vì những gì xảy ra với Trung Quốc và với loại virus này, những gì họ đã làm với đất nước này và với toàn thế giới thật đáng xấu hổ”.

Vài ngày sau đó, trên Không lực Một, ông Trump tiếp tục nói: “Về TikTok, chúng ta sẽ cấm tại Mỹ”.

So với 4 năm trước, ông Trump dường như đang mềm mỏng hơn với TikTok. Ảnh: Reuters.

Ngày 6/8/2020, ông Trump hành động. Một lệnh hành pháp được ban hành đã cảnh báo việc TikTok thu thập dữ liệu khổng lồ “có thể giúp Trung Quốc tiếp cận thông tin cá nhân và độc quyền của người Mỹ, theo dõi vị trí của các nhân viên và nhà thầu liên bang, xây dựng hồ sơ thông tin cá nhân để tống tiền và gián điệp doanh nghiệp".

"Những rủi ro là có thật", lệnh cho biết.

Tháng 9/2020, ông Trump chấp thuận một thỏa thuận cho phép hai công ty lớn của Mỹ là Oracle và Walmart nắm giữ cổ phần tại TikTok. Tuy nhiên, thỏa thuận này đã tạm gác lại sau khi Nhà Trắng chuyển giao cho chính quyền mới.

Một thẩm phán liên bang đã chặn nỗ lực cấm TikTok của ông Trump, cho rằng ông vượt quá thẩm quyền. Sau đó, ông Biden thu hồi lệnh vào năm 2021 khi Quốc hội Mỹ xem xét luật mới.

Năm 2024: “Người trẻ sẽ phát điên nếu không có” TikTok

Hồi tháng 3, ông Trump đột ngột thay đổi lập trường về TikTok, lên án phe đa số lưỡng đảng tại Quốc hội vì đã thúc đẩy một dự luật dựa trên đúng quan điểm của ông 4 năm trước.

Cú lật ngược này diễn ra vào cùng thời điểm tổng thống đắc cử gặp Jeff Yass - nhà tài trợ lớn của đảng Cộng hòa, người nắm đáng kể cổ phần của ByteDance.

Ông Trump tuyên bố hai người không thảo luận về ByteDance, song ông Yass là người hỗ trợ thành lập công ty thương mại Susquehanna International Group và là một trong những người ủng hộ lớn nhất của nhóm vận động hành lang chống thuế Club for Growth. Nhóm đã thuê Kellyanne Conway, cựu cố vấn cấp cao của ông Trump, vận động hành lang cho TikTok tại Washington.

Ông Trump nói vẫn coi TikTok là mối đe dọa an ninh quốc gia, nhưng giới trẻ "sẽ phát điên” nếu không có nền tảng này, đồng thời khẳng định chống lại TikTok sẽ có lợi cho "kẻ thù của người dân" Facebook.

Trong chiến dịch tranh cử 2024, TikTok trở thành phương tiện giúp ông Trump tiếp cận nhóm cử tri trẻ tuổi. Con trai út Barron cũng khuyến khích cha mình dựa vào TikTok để vận động những người trẻ tuổi.

Hồi tháng 9, ông Trump đăng một video lên Truth Social và tự hào đã lập kỷ lục trên TikTok. “Giờ đây tôi là ngôi sao lớn trên TikTok”, ông nói. “Chúng tôi sẽ không động tới TikTok nhưng phe kia thì có. Vì vậy, nếu bạn thích TikTok, hãy bỏ phiếu cho Trump”.

Tài khoản TikTok của ông Trump có 14,7 triệu người theo dõi.

Eric Wilson - chiến lược gia về kỹ thuật số của đảng Cộng hòa - nhận định ông Trump tận dụng thành công TikTok theo cách những nhà lập pháp khác không làm được.

“Nếu TikTok tồn tại, đảng Cộng hòa phải tìm ra cách vận động tranh cử và tiếp cận cử tri trên nền tảng này. Donald Trump chắc chắn sẽ tìm ra đường hướng làm chuyện đó”, ông Wilson nói.

Trong khi đó, Geoff Garin - chiến lược gia đảng Dân chủ - lưu ý ông Trump sẽ bất đồng quan điểm với nhiều đảng viên Cộng hòa vốn lo ngại về quyền sở hữu của Trung Quốc với ứng dụng này.

“Sự thay đổi chóng mặt của Trump dường như chỉ xoay quanh ảnh hưởng của một nhà tài trợ và phải miễn cưỡng từ bỏ lượng người theo dõi trên nền tảng này”, ông Garin nói, ám chỉ tới ông Yass. “Điều này xuất phát từ lợi ích cá nhân, không phải dựa trên nguyên tắc hay lợi ích quốc gia”.

Tháng 12/2024: Lệnh cấm sẽ tạo ra một “tiền lệ nguy hiểm”

Ông Trump hiện coi mình là vị cứu tinh của TikTok.

Theo một nguồn tin, ông Trump đã gặp các giám đốc điều hành của TikTok hôm 16/12 ở khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago. Cuộc gặp gỡ diễn ra cùng ngày công ty yêu cầu Tòa án Tối cao tạm thời chặn luật áp dụng vào ngày 19/1/2025. Theo người trong cuộc, trong cuộc gặp, TikTok đã nói ông Trump nên là người quyết định số phận của nền tảng này.

Bản tường trình gửi lên Tòa án Tối cao hôm 27/12 ghi: “Tổng thống Trump phản đối lệnh cấm TikTok tại Mỹ vào thời điểm này và tìm kiếm cách giải quyết vấn đề thông qua chính trị sau khi ông nhậm chức”.

Mặc dù không đưa ra lập trường về các lập luận pháp lý ủng hộ và phản đối luật, ông Trump gọi những tác động của Tu chính án thứ 1 với lệnh cấm TikTok là "toàn diện và đáng lo ngại". Trong khi đó, TikTok khẳng định luật đã vi phạm Tu chính án thứ 1 theo Hiến pháp Mỹ.


Bản tường trình cũng cảnh báo về "tiền lệ nguy hiểm trên toàn cầu" liên quan tới việc kiểm duyệt của chính phủ, “thực thi quyền lực đóng cửa toàn bộ một nền tảng truyền thông xã hội chủ yếu dựa trên lo ngại về những phát biểu không được ưa thích trên nền tảng đó".

Ông Trump nhậm chức vào ngày 20/1/2025, một ngày sau khi luật có hiệu lực. Tòa án Tối cao sẽ nghe các lập luận tại phiên họp đặc biệt vào ngày 10/1/2025.

Phương Linh / Theo: znews
Link tham khảo:



BÍ ẨN SINH VẬT ĐẦU RỒNG THÂN NGỰA TRONG HUYỀN THOẠI ĐẠI DIỆN CHO SỰ MAY MẮN

Trong khi phương Tây đã quen với hình tượng rồng và phượng trong thần thoại Trung Hoa, có nhiều sinh vật thú vị khác ít được nhắc đến. Một trong số đó là kỳ lân (Qilin).

Kỳ lân là sinh vật thần thoại có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Kỳ lân ở Trung Quốc được phác họa là sinh vật nửa rồng nửa thú. Trải qua nhiều thế kỷ, hình ảnh kỳ lân cũng có những thay đổi. Kỳ lân đôi khi được phác họa với hình tượng đầu rồng, thân hổ hoặc hươu và đuôi bò. Kỳ lân cũng có khi có vảy như cá, có lúc lại có ngọn lửa bao trùm khắp cơ thể. Nhìn chung, kỳ lân được cho là có đầu rồng và thân ngựa.

Một số truyền thuyết Trung Hoa mô tả kỳ lân có sừng. Do đó, kỳ lân còn được so sánh với unicorn - ngựa một sừng huyền thoại của phương Tây (cũng thường được dịch ra tiếng Việt là "kỳ lân"). Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, đây là hai sinh vật thần thoại riêng biệt.

Mặc dù kỳ lân có thể trông đáng sợ nhưng truyền thuyết mô tả nó là một sinh vật hiền lành và ôn hòa. Trong mô tả của Phật giáo, kỳ lân lựa chọn cách cưỡi mây để tránh gây hại, dù chỉ là một ngọn cỏ ở dưới đất, theo Ancient Origins.

Tượng kỳ lân ở Trung Quốc.

Trong một số câu chuyện, kỳ lân có khả năng hủy diệt và sở hữu nhiều sức mạnh siêu nhiên. Những khả năng này chỉ được bộc lộ khi cần thiết để bảo vệ những người vô tội.

Vì kỳ lân được cho là một sinh vật nhân từ nên sự xuất hiện của nó được coi là một dấu hiệu tốt lành. Người Trung Quốc cổ đại tin rằng, kỳ lân chỉ xuất hiện dưới thời của một minh quân hoặc khi một nhà hiền triết lỗi lạc chào đời.

Truyền thuyết về kỳ lân xuất hiện lần đầu trong cuốn Tả Truyện (Xuân Thu Tả thị truyện) - tác phẩm sớm nhất của Trung Quốc viết về lịch sử giai đoạn năm 722 TCN đến năm 468 TCN. Kỳ lân khi đó được cho là đã xuất hiện, báo hiệu Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN) chào đời.

Những câu chuyện về kỳ lân cũng được lưu truyền rộng rãi vào thời nhà Hán. Người Trung Quốc khi đó tin rằng sinh vật huyền thoại này là hậu duệ đời thứ tư của loài rồng trong truyền thuyết.

Tượng kỳ lân thời Hoàng đế Trung Hoa Càn Long.

Vì kỳ lân gắn liền với những ý nghĩa cao cả nên các hoàng đế Trung Hoa luôn muốn hình tượng kỳ lân xuất hiện trong triều đại. Trong triều đại nhà Minh, hình tượng kỳ lân càng phổ biến rộng rãi.

Năm 1414, hạm đội của nhà thám hiểm Trịnh Hòa quay trở về Trung Quốc sau chuyến hành trình tới Đông Phi, đem theo vô số sản vật, trong đó có hươu cao cổ.

Minh Thành Tổ Chu Đệ đã ví hươu cao cổ với kỳ lân, coi đây là dấu hiệu của điềm lành. Kỳ lân kể từ đó xuất hiện trong vô số các tác phẩm nghệ thuật thời nhà Minh.

Vào thời nhà Minh, triều đình thậm chí còn thêu kỳ lân lên áo choàng của các sĩ quan quân đội ưu tú, lấy họ làm tấm gương cho những người khác noi theo.

Kỳ lân cũng được nhắc đến nhiều lần khác trong lịch sử Trung Quốc. Cuốn Sử Ký của tác giả Tư Mã Thiên kể câu chuyện Hán Vũ Đế (156–87 TCN) bắt được một con kỳ lân. Vào thời nhà Thanh (1636–1912), kỳ lân cũng được cho là xuất hiện.

Trên phương diện văn hóa, kỳ lân nằm trong Tứ Linh - bốn loài linh thú có ảnh hưởng trong thần thoại Trung Hoa - tượng trưng cho sự cát tường và điềm tốt lành. Tứ Linh gồm Long (rồng), Lân (kỳ lân), Quy (rùa) và Phượng (phượng hoàng).

Tượng đồng kỳ lân ở Nhật Bản.

"Kỳ lân xuất hiện đem đến một giai đoạn thịnh vượng" là câu nói cổ xưa Trung Quốc, thể hiện niềm tin vào sinh vật có khả năng đem đến vận may, ngăn chặn tai họa.

Ngày nay, kỳ lân vẫn là biểu tượng của sự sang trọng và thành công, được thể hiện trong các vật trang trí như tranh vẽ lễ hội mùa xuân, tranh thêu và chạm khắc ngọc bích treo trên cửa phòng khách.

Nhật Bản và Hàn Quốc là hai quốc gia ở Đông Á cũng có quan niệm về kỳ lân do ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa. Kỳ lân ở Nhật Bản vẫn giữ nguyên đầu rồng, nhưng thân trông giống hươu.

Ở Hàn Quốc, kỳ lân lại giống ngựa hơn cả. Truyền thuyết kể rằng, Cao Chu Mông, vị vua thành lập vương quốc Cao Câu Ly, từng cưỡi trên một con kỳ lân giống như chiến mã trong các cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi trên bán đảo Triều Tiên.

Theo: Nhật Minh - Tổng hợp (Tri thức & Cuộc sống)

Thursday, January 2, 2025

HỘP ĐEN MÁY BAY LÀ GÌ?

Hộp đen là một máy ghi tự động mà các máy bay khi bay đều phải có. Nó cho phép phát hiện được nguyên nhân trong trường hợp gặp tai nạn.

Một hộp đen của máy bay.

Tại sao cần tìm hộp đen máy bay sau mỗi vụ tai nạn?

Hộp đen - thực chất không phải để nói về màu sắc của chiếc hộp. Thiết bị này thực chất có màu da cam, màu sắc này được dùng để các đội cứu hộ có thể tìm thấy được dễ dàng hơn.

Nó thực chất dùng để chỉ 2 thiết bị nhỏ, đó là máy ghi âm buồng lái (CVR) và máy ghi dữ liệu chuyến bay (FDR), hoạt động liên tục và sử dụng điện từ động cơ của vật chủ. Ngoài ra, chũng cũng có sẵn nguồn nuôi phụ để đảm bảo duy trì hoạt động phát tín hiệu khi tách khỏi máy bay.

Hộp đen ghi lại hoạt động của tất cả các máy bay từ khi bắt đầu cất cánh. Nó cung cấp các chỉ dẫn về sự di chuyển về tốc độ, về độ cao của máy bay,... Mỗi thông tin hiện lên dưới dạng đường lỗ trong một dải kim loại mỏng. Thiết bị ghi này được đặt chắc chắn trong một chiếc hộp để chống va đập, rất kín và không bắt lửa. Trong trường hợp tai nạn nó vẫn được bảo vệ nguyên vẹn. Ngoài ra hộp đen còn được trang bị một hệ thống dẫn cho phép xác định vị trí của nó ngay cả khi ở dưới nước.

Thiết bị ghi âm trong buông lái của phi công và hộp đen giúp xác định được nguyên nhân tai nạn, ngay cả khi chuyến bay không còn một ai sống sót và giúp tăng độ an toàn của máy bay.

Khi máy bay đâm xuống biển hay sông hồ, thiết bị báo tín hiệu sẽ gửi đi sóng siêu âm. Thông thường hộp đen có thể chịu được nhiệt độ cao tới 1.100 dộ C trong 30 phút liên tục và ngdưới độ sâu lên tới 6.100m trong 30 ngày.


Vị trí đặt hộp đen. (Ảnh: BBC)

Mỗi thiết bị báo tín hiệu có khả năng phát các sóng siêu âm mỗi giây một lần và liên tục trong khoảng thời gian này. Đây chính là thời gian các đội tìm kiếm hộp đen phải tận dụng nhằm xác định ra chúng, trước khi mất hoàn toàn khả năng tìm kiếm.

Sau mỗi tai nạn máy bay, nó là thứ được quan tâm nhiều nhất, thậm chí không kém gì việc cứu hộ các nạn nhân hay giải quyết hậu quả.

Tại sao lại như vậy?

Đơn giản là bởi tai nạn dù sao cũng đã xảy ra, nhưng nếu tìm được hộp đen, người ta có thể tìm ra nguyên nhân, khắc phục những điểm thiếu xót và phòng chống những tai nạn có thể xảy ra sau này.

Khi tìm thấy hộp đen, các điều tra viên sẽ phải phân tích các bản ghi. Quá trình này có thể sẽ mất hai hoặc ba ngày tuỳ vào độ dài của chuyển bay cũng như độ phức tạp trong bảo mật. Hiện nay mới chỉ vài quốc gia trên thế giới có trình độ công nghệ để thực hiện việc này, gồm Mỹ, Canada, Australia, Anh và Pháp.

Ngày này, với trình độ khoa học phát triển, mạng truyền thông qua sóng vệ tinh hoàn toàn có thể thu nhận và lưu trữ dữ liệu của hầu hết các chuyến bay trên khắp thế giới. Nhưng tại sao họ không làm vậy, để rồi lại phải đau đầu tìm kiếm chiếc hộp đen bé nhỏ và chỉ có thể sống sót trong 30 ngày kia?

Thực chất công nghệ này đã được triển khai trên hàng trăm máy bay trên khắp thế giới. Tuy vậy, con số này vẫn là quá nhỏ so với mạng lưới máy bay và đường bay trên khắp toàn cầu.

"Mổ" hộp đen.

Hầu hết các hãng hàng không vẫn duy trì sử dụng hộp đen là bởi chi phí nâng cấp quá cao. Theo một nghiên cứu từ năm 2002, mỗi hàng hàng không Mỹ có thể sẽ phải bỏ ra thêm khoảng 300 triệu USD mỗi năm để duy trì mạng lưới truyền tải dữ liệu toàn cầu này. Trong khi đó, số vụ tai nạn xảy ra đối với mỗi hàng là không nhiều, và nếu có thì chi phí khắc phục cũng nhẹ nhàng hơn rất nhiều so với chi phí duy trì mạng lưới đắt đỏ trên.

Khả năng của hộp đen thực chất cũng chỉ phát huy sau khi máy bay gặp nạn. Còn nếu mọi thứ diễn ra ổn định, có lẽ người ta cũng chẳng cần biết hộp đen là gì.

"Ông tổ" của chiếc hộp đen là David Ronald de Mey Warren, một tiến sỹ người Úc.

Được biết, một vụ tai nạn máy bay năm 1934 đã làm cha của Warren thiệt mạng, khi ông mới chỉ 9 tuổi.

Từ khi xảy ra thảm kịch ấy tới thập niên 1950, ông đã dày công nghiên cứu, chế tạo một thiết bị ghi lại dữ liệu hành trình bay để hỗ trợ điều tra mọi thông tin khi có vấn đề bất trắc phát sinh, giảm nguy cơ lặp lại tai nạn về sau.

Năm 1956, sản phẩm chính thức ra mắt, nhưng tới tận 5 năm sau mới dần thu hút sự chú ý của công chúng và được áp dụng rộng rãi. Đó chính là chiếc "hộp đen" còn được sử dụng rộng rãi tới nay.

Theo: Khoa Học