Sunday, January 2, 2022

HƯƠNG VỊ MIỀN TÂY TRONG MÓN BÚN CÁ CHÂU ĐỐC

Mắm ruốc hòa với nước lèo tạo nên hương vị đặc trưng khó trộn lẫn cho món bún cá Châu Đốc.

Nhắc đến bún cá, người ta thường nhớ ngay đến món bún cá Châu Đốc trứ danh.

Nhắc đến bún cá, người ta thường nhớ ngay đến món bún cá Châu Đốc trứ danh. Chẳng ai biết xuất xứ của món ăn này, chỉ biết rằng bún cá là một món ăn rất được người dân miền Tây yêu thích. Có lẽ một phần cũng vì hình ảnh miền Tây thường gắn liền với sông nước, nhiều tôm cá nên các món ăn được chế biến từ cá luôn chiếm giữ một vai trò quan trọng trong văn hóa ẩm thực.

Miếng cá vàng ươm và có hương nghệ.

Mặc dù đất Sài Thành được mệnh danh là nơi tập trung đông đúc của các nền văn hóa ẩm thực khác nhau từ Bắc, Trung, Nam hội đủ về đây, tuy nhiên ở Sài Gòn, lại không có nhiều quán bún cá Châu Đốc. Để có thể thưởng thức món bún cá Châu Đốc đặc sắc của người miền Tây, bạn có thể đến góc đường Võ Thị Sáu và Hai Bà Trưng, để thưởng thức qua. Bún cá ở đây gần như giữ nguyên được hương vị đặc trưng của xứ Châu Đốc. Từ nước lèo, miếng cá cho đến rau ăn kèm cũng không có gì thay đổi.

Nấu bún cá khá là công phu và đòi hỏi sự tỉ mỉ của người nấu. Món bún cá ngon đòi hỏi phần nước lèo phải trong, có vị ngọt từ xương cá, đậm đà vị ruốc và quan trọng hơn nữa đó là không tanh mùi cá. Vì thế, nhất định phải chọn loại cá lóc còn tươi, sống, thì khi nấu, thịt cá mới ngon và ngọt.

Lợn quay góp phần tăng thêm sự phong phú cho món ăn.

Cá sau khi được luộc chính sẽ vớt ra, gỡ lấy phần thịt nạc và bỏ đi phần xương cá. Khâu này đòi hỏi một sự khéo tay và cẩn thận của người nấu, bởi nếu còn sót lại xương thì khi ăn sẽ rất dễ bị hóc xương cá. Phần nạc cá này sẽ được ướp gia vị cùng bột nghệ và xào sơ cho thấm gia vị.

Còn nước lèo, sẽ được nấu bằng nước luộc cá, sau đó cho thêm xương lợn vào để nước thêm ngọt. Sau đó, người bán hàng cho sả đập dập, nghệ tươi giã nhuyễn. Khi nêm nước dùng, gia vị không thể thiếu là mắm ruốc. Hòa mắm ruốc vào với nước lạnh, sau đó lấy phần nước trong để cho vào nồi nước lèo đang nấu để góp phần tạo nên hương vị đặc biệt cho món bún cá.

Rau ăn kèm cùng bún cá cũng rất phong phú và đa dạng như: rau muống bào, bắp chuối non, giá, rau nhút và bông điên điển.

Khi ăn, sẽ trụng bún qua nước sôi, rồi sau đó cho từng lát cá và thịt lợn quay (có nơi thì ăn cùng chả cá, tùy vào khẩu vị của từng nơi mà sẽ có những thay đổi khác nhau), cuối cùng là chan nước lèo vào vừa đủ ngập mặt bún.

Ngoài ra, khi ăn bún cá thì không thể thiếu một chén muối ớt và chanh

Rau ăn kèm cùng bún cá cũng rất phong phú và đa dạng như: rau muống bào, bắp chuối non, giá, rau nhút và bông điên điển. Bông điên điển là một loại bông đặc trưng chỉ có ở miền Tây và thường chỉ có vào mùa nước nổi. Ở Sài Gòn thỉnh thoảng mới thấy có bán loại bông này. Món bún cá khi ăn cùng bông điên điển thì mới có thể cảm nhận hết được cái sự ngon lành và hấp dẫn của nó.

Ngoài ra, khi ăn bún cá thì không thể thiếu một chén muối ớt và chanh. Đây cũng là một điểm khá là thú vị cho món bún cá.

Theo Thebox



VÌ SAO CÁC LÁ BÙA THƯỜNG DÙNG MỰC ĐỎ VẼ TRÊN GIẤY VÀNG?

Bùa chú là một trong những công cụ trừ tà phổ biến trong các tiểu Đạo bên Đạo gia. Hiện nay chúng ta cũng thường bắt gặp chúng, nhưng vì sao họ lại dùng chu sa (mực đỏ) để vẽ lên giấy vàng? Bài viết này sẽ cho bạn biết về văn hóa Đạo giáo này.

Các lá bùa thường dùng mực đỏ vẽ trên giấy vàng. (Ảnh: Aijai2)

Bùa chú còn được gọi là “Phù” hay “Phù triện”, có nguồn gốc từ nề n văn hóa phù thủy nguyên thủy. Chữ viết trên bùa chú là sử dụng các ký tự, chiêm tinh học và các ký hiệu khác, sau đó viết nó trên một số vật liệu đặc biệt.

Mục đích của bùa chú

Mục đích cơ bản của các Phù triệt trong Đạo giáo là triệu hồi quỷ thần, mượn sức mạnh của thần linh để đạt được hiệu quả chữa bệnh cầu an, trừ tà diệt họa. Một Phù triệt nhỏ chứa đựng rất nhiều thông tin như tên tuổi, ngoại hình, bùa chú … của các vị Thần tiên. Nó sử dụng ý niệm để câu thông giữa con người và Thần linh.

Khi viết chữ trong thời cổ đại thì cần một bộ ‘Văn phòng tứ bảo’ (bút, mực, giấy, nghiên), tương tự Đạo giáo cũng cần một bộ công cụ đặc biệt khi vẽ Phù triệt, trong đó quan trọng nhất là chu sa (mực đỏ) và giấy vàng.
 
Vì sao lại dùng chu sa?

Trong cuốn ‘Thần nông bản thảo kinh bách chủng lục’ có ghi: “Đan sa, vị cam vi hàn, chủ thân thể ngũ tạng bách bệnh, dưỡng tinh thần, an hồn phách, ích khí minh mục, sát tinh mị tà ác quỷ, cửu phục thông thần minh bất lão.” (Tạm dịch: Chu sa có vị ngọt hơi lạnh, trọng yếu đối với nhiều loại bệnh trong ngũ tạng của thân thể, nuôi dưỡng tinh thần, trấn an hồn phách, có ích cho khí huyết, giúp mắt sáng tỏ, giết chết ma quỷ tà linh. Dùng lâu thì sẽ có thể thông với Thần linh, không bị già đi.)

Hình vẽ Thiên sư Chung Quỳ bằng chu sa trên giấy vàng. (Ảnh: NTDTV)

Chu sa còn được gọi là Thần sa, đan sa hay xích đan. Nó là một viên thuốc màu đỏ, là một trong những nguyên liệu quan trọng nhất để đạo sĩ vẽ bùa và luyện đan. Trong Đạo gia, luyện đan từ lâu đã là một loại phương thức tu luyện. Trong cuốn ‘Thần nông tứ kinh’ có chép: “Thượng dược lệnh nhân thân an mệnh duyên, thăng vi thiên thần, ngao du thượng hạ…” (Tạm dịch: Thượng dược có thể khiến con người thân ổn định, mệnh kéo dài; thăng làm thiên Thần, ngao du trên dưới…) Thượng dược được nói đến ở đây là các nguyên liệu để luyện chế đan ví như: chu sa, vàng bạc, chư chi, ngũ ngọc, vân mẫu …

Cát Hồng vào triều Tấn trong cuốn ‘Bão phác tử’ có nói: “Chu sa vi kim, phục chi thăng tiên giả thượng sĩ dã”. (Tạm dịch: Chu sa là kim, người thượng sĩ (người có đạo đức cao) khi uống có thể thăng làm Tiên). Hơn nữa còn giới thiệu luyện chế đan dược cần: thủy ngân, lưu huỳnh, chu sa, phèn sống, hùng hoàng (khoáng vật có sắc vàng dùng làm thuốc, có thể giải độc), đá vân mẫu…

Trong các tác phẩm kinh điển của Đạo giáo có ghi lại nhiều câu chuyện truyền thuyết về việc uống chu sa để trở thành Tiên. Ví như Thần nhân Chủ Trụ, ông đã luyện chu sa cho huyện lệnh Chương Quân Minh, 3 năm sau luyện được Thần sa tuyết bay. Chương Quân Minh đã uống nó, 5 năm sau ông có thể bay lên và cùng Chủ Trụ rời đi; Thôi Văn Tử, người gốc Thái Sơn, hàng năm ông đều luyện đan dược bằng chu sa và ‘hoàng tinh tán’, cuối cùng đắc đạo thành tiên; Xích Phủ người vùng Ba Nhung giỏi dùng thủy ngân để tinh chế đan sa và ‘tiêu thạch’ (dạng khoáng vật của kali nitrat), sau đó uống chúng. 30 năm sau cải lão hoàn đồng, lông mọc ra có màu đỏ…

Chu sa là nguyên liệu quan trong trong việc đạo sĩ luyện đan. (Ảnh minh họa qua Sun News)

Chu sa không chỉ có thể dưỡng thần an phách, mà còn có thể giết chết tà khí yêu ma. Vì vậy dùng nó làm mực để viết lên những tấm bùa thì sẽ tăng khả năng trừ tà, tránh ác. Ngoài ra, chu sa là màu đỏ, thời xưa màu đỏ là biểu tượng xua đuổi tà ma và báo điềm lành. Nó hoàn toàn khác với cái gọi là họa đỏ của Đảng Cộng sản Trung Quốc thời hiện đại. Vì vậy, người xưa thường dán câu đối xuân màu đỏ trong ngày Tết. Chữ phúc màu đỏ có tác dụng trừ tà, tránh xui xẻo. Hơn nữa cách phát âm của từ ‘chu sa’ và ‘tru sát’ (giết chết) là giống nhau, cho nên nó còn có tác dụng chấn nhiếp và răn đe những yêu tinh hành ác kia.

Vì sao lại dùng giấy vàng?

Trong văn hóa cổ đại, “Ngũ hành” (mộc, hỏa, thổ, kim, thủy) và “Ngũ phương” (Đông, Nam, Tây, Bắc, Trung) và “Ngũ sắc” (xanh, đỏ, vàng, trắng, đen) có một mối liên hệ siêu hình. Vì vậy trong thời cổ đại, màu vàng đại biểu cho vùng đất ở trung tâm, và được coi là “màu ngay chính”, cũng là loại màu sắc mà đế vương hay dùng. Đồng thời màu vàng cũng có tác dụng trừ tà tránh nạn.

Trong cuốn ‘Yến kinh tuế thì ký’ có viết: “Mỗi khi đến phố Đoan Dương, có cửa hàng treo bán các tờ giấy nhỏ màu vàng, có đóng con dấu đỏ, hoặc vẽ hình Thiên sư Chung Quỳ, hoặc vẽ Ngũ độc bùa chú. Các nhân sĩ cùng tranh nhau mua, dán trên cửa để tránh ma hành ác”. Vào giờ ngọ (từ 11 giờ đến 13 giờ) dùng tấm bùa có vẽ hình Thiên sư Chung Quỳ hoặc tờ giấy vàng có đóng con dấu đỏ, dán lên trên cửa, có tác dụng trừ tà tránh ôn dịch. Vì vậy người ta cho rằng khi màu đỏ của chu sa kết hợp với màu vàng của giấy, nó sẽ làm cho lá bùa đạt hiệu quả trừ tà cao nhất.

Tử Vi / Theo: ntdvn



AI LÀ ÔNG TỔ CỦA NGÀNH DU LỊCH?

Bất kể ngành nghề gì cũng phải bắt đầu từ một người. Với du lịch hiện đại, đó là Thomas Cook. Nhờ Thomas Cook, trái đất dường như nhỏ lại…


Thomas Cook (22/11/1808 – 18/7/1892, người Anh) được lịch sử ngành du lịch vinh danh với tư cách là ông tổ của ngành lữ hành hiện đại, người sáng lập ra Thomas Cook Travel Inc – công ty du lịch lữ hành đầu tiên trên thế giới.

Không chỉ sáng lập ra Thomas Cook Travel Inc, ông còn có những sáng kiến làm thay đổi hoàn toàn cách thức con người đi du lịch.

Thomas Cook sinh năm 1808 ở miền Trung nước Anh. Công việc đầu tiên của Cook không liên quan gì đến du lịch. Ông là thợ làm vườn rồi thợ mộc.

Chân dung Thomas Cook

Năm 1841 ông mở một hoạt động kinh doanh mới và tổ chức chuyến đi cho 570 người tới dự một hội nghị của những người bài rượu trên một chiếc tàu được thuê từ Leicester tới Longborough dưới hình thức một tour hướng dẫn. Khoảng cách đoạn đường này là 35 km. Ông đã liên lạc với hãng tàu hoả để có giá vé giảm đặc biệt, cung cấp thực phẩm và nước uống trên tàu, tổ chức sắp xếp cho 570 người ở Longborough – khái niệm tour trọn gói mới xuất hiện, đó là những hoạt động thể hiện bản chất của ngành lữ hành hiện đại.

Toàn bộ những người đi du lịch ngày nay đều được hưởng những tiện ích này nhưng ở 180 năm trước, đó là điều thực sự đột phá.

Năm 1845, ông mở 1 hãng lữ hành ở Leicester. Doanh nghiệp này đã được coi là hãng lữ hành đầu tiên theo nghĩa hiện đại. Bí quyết kinh doanh của Cook là du lịch rẻ sẽ đẩy con người tránh xa các quán rượu rẻ tiền. Trong thời gian đầu, ông đã tổ chức một loạt các chuyến đi tới các điểm du lịch lý thú ở Anh và Scotland.


Năm 1851, ông đã tổ chức chuyến đi cho 165.000 du khách tới hội chợ thế giới tại Luân Đôn. Nhân sự kiện đó ông đã tuyên truyền ý tưởng tiết kiệm tiền cho mục đích du lịch và nghỉ ngơi.

Ông đã tổ chức các tour du lịch tới lục địa châu Âu, các tour du lịch văn hoá cho giới trẻ, các tour du lịch tắm biển tới các làng ven biển của Anh và kết hợp các dịch vụ khác nhau phục vụ cho các chuyến đi tới Luân Đôn và các làng mạc, các thành phố lý thú của Anh. Tiếp theo là tổ chức các chuyến du lịch đến các điểm du lịch trên lục địa như Thụy Sỹ (từ năm 1862, nhiều người đã nói: các chuyến du lịch do Cook tổ chức là một trong những lý do thúc đẩy sự phát triển du lịch nhanh chóng ở đất nước này), Italia và gần như tới tất cả các thủ đô của châu Âu, chủ yếu là tới Pari.

Sự nhạy bén của một nhà kinh doanh đại tài

Một ví dụ cho thấy sự nhạy bén trong kinh doanh của Cook là chỉ vài tháng sau khi cuộc nội chiến ở Mỹ kết thúc, năm 1865, Thomas Cook đã có sản phẩm độc đáo phục vụ du khách: tour tham quan các chiến trường nổi tiếng trong cuộc nội chiến.

Nhờ Thomas Cook, trái đất dường như nhỏ lại

Sáu năm sau, ông lại mở rộng thị trường này bằng cách tổ chức các chuyến du lịch trọn gói dành cho người có nhu cầu nhập cư đến Hoa Kỳ và Canada.

Năm 1865, ông rời Luân Đôn và ít lâu sau ông đã bố trí cho con trai là John Mason Cook vào làm trong doanh nghiệp của mình. Từ đó hãng lữ hành của ông mang tên "Th.Cook & Son".

"Hổ phụ sinh hổ tử"

Thomas Cook may mắn khi có được một người con trai tài giỏi không kém cha. Sau khi con trai của ông là John Mason Cook tiếp quản và đổi tên doanh nghiệp là "Thomas Cook & Son", công ty này đã có những bước phát triển vượt bậc về doanh thu cũng như lấn sân vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác.

Năm 1869, với khả năng kinh doanh nhạy bén và khôn khéo, John Mason Cook tổ chức các tour đầu tiên đến Palestin và Ai Cập. Các sản phẩm của Th.Cook & Son ngày càng đa dạng: đi thuyền buồm trên sông Nil, đi lạc đà xuyên sa mạc, cưỡi voi săn hổ ở Ấn Độ, chinh phục Himalaya, tour vòng quanh thế giới… Năm 1871, công ty của Thomas Cook đã có 120 chi nhánh khắp nước Anh và ở gần như tất cả các thành phố lớn của châu Âu, Bắc Mỹ, Cận Đông Nam và Đông Nam Á, và Úc.

Năm 1872, "Cook" đã tổ chức tour du lịch đầu tiên vòng quanh thế giới (kết qủa là mang lại tiếng tăm lớn cho cuốn sách của Jules Verne "80 ngày vòng quanh thế giới".

Với Thomas Cook & Son, không có một nơi nào trên thế giới bạn không thể đi tới

Người đầu tiên nghĩ ra nhiều loại hình dịch vụ đến giờ vẫn còn nguyên giá trị

Hậu thế nghiêng mình thán phục Thomas Cook, bởi ông là người đầu tiên nghĩ ra rất nhiều loại hình dịch vụ chính của ngành lữ hành, mà đến tận ngày nay các loại hình này vẫn còn hoạt động và sinh lời một cách hiệu quả.

Thomas Cook là người đã phát minh ra giá vé đoàn, tour du lịch trọn gói (package), tiết kiệm tiền cho mục đích du lịch, vé đường sắt quốc tế, hoá đơn khách sạn đầu tiên...

Không chỉ là nhà du lịch, ông còn là một nhà báo. Mỗi khi đến đâu đó, ông lại viết bài gửi về cho một số tờ báo ở Anh, mô tả cách đi lại, tìm kiếm phương tiện, chỗ ăn nghỉ sao cho vừa tiết kiệm, lại vừa đảm bảo chất lượng. Một số tờ đã đặt ông viết bài miêu tả cảnh đẹp trên đường.

Hãng hàng không mang tên ông tổ ngành du lịch hiện đại nhưng cũng vì sự mở rộng này mà tập đoàn tỷ đô lún sâu vào nợ nần

Ông đưa vào các cuốn sách của mình những thông tin giới thiệu hàng loạt dịch vụ hấp dẫn trong các chuyến hành trình để khách hàng có thể tham khảo, tìm hiểu và lựa chọn. Cuốn "Excursionist" là sự kết hợp các bài viết về các chuyến đi và các yếu tố của 1 catologue (bản liệt kê) giành cho khách hàng của mình.

Đến nay, dù không còn thuộc quyền sở hữu của gia đình Thomas Cook nhưng công ty du lịch nổi tiếng thế giới này vẫn giữ nguyên tên Thomas Cook như một sự vinh danh cho người sáng lập.

John Mason đã từng nói: "Với Thomas Cook & Son, không có một nơi nào trên thế giới bạn không thể đi tới". Và nhờ sự tiên phong của Thomas Cook, ngành du lịch đã sang trang mới, trở thành ngành công nghiệp không khói, thành nguồn thu, thành hướng phát triển chính của không biết bao vùng lãnh thổ. Nhờ Thomas Cook, những vùng đất xa lạ trở nên gần gũi hơn với du khách. Nhờ Thomas Cook, trái đất dường như nhỏ lại…

Đón đọc tiếp kỳ sau: Sự xụp đổ của gã khổng lồ Thomas Cook và bài học kinh nghiệm

T.Nguyên (Nguồn: gconnect.edu.vn)
Link tham khảo:



5 THỨC QUÀ ĂN CHƠI Ở PHỐ NGƯỜI HOA

Đặt chân đến chợ Phùng Hưng ở quận 5, du khách như lạc vào thiên đường ẩm thực của người Hoa với nhiều món bánh mặn, ngọt thơm ngon.

Bánh hẹ được làm từ bột gạo và lá hẹ cắt khúc, bánh có hình tròn dẹp hoặc vuông. Người Hoa lấy bột gạo pha nước sôi, dùng tay nhồi cho đến khi bột dẻo, dai và mịn, lá hẹ cắt khúc, trộn chung với bột gạo đem hấp chín. Khi ăn thì chiên giòn bánh trên chảo nóng. Ngày nay nhiều người biến tấu bánh với phần nhân củ cải, củ sắn thái sợi với thịt nạc. Ảnh: Yến Nhi


Một số xe bánh người Hoa bán bánh hẹ chiên kèm trứng gà, củ cải muối cắt hạt lựu, tỏi và hành lá. Khi ăn, thực khách chấm bánh với nước mắm giấm ớt pha sẵn, thêm ít đu đủ bào ngâm chua, ăn giòn và rất thơm. Để chiếc bánh hẹ thêm bắt mắt, một số hàng trộn màu củ dền để bánh có sắc hồng tươi tắn hơn. Tuy nhiên, bản gốc vẫn là màu trắng của bột gạo và xanh lá của hẹ. Ảnh: Yến Nhi


Bánh lá liễu còn được gọi là bánh trái đào, là món ăn vặt quen thuộc của người Triều Châu (người Tiều). Vỏ bánh được làm từ bột há cảo, bên trong bánh có nhân gạo nếp, tôm khô, thịt, củ cải muối và hành, rất giống xôi mặn. Bánh có màu hồng tía giống trái đào nên còn được xem là biểu tượng cho sự may mắn và trường thọ. Người Tiều cũng thường mua bánh lá liễu cúng trong ngày giỗ. Ảnh: Ru Lu Chen


Bánh bao của người Hoa có nhiều loại dùng nóng hoặc nguội. Bánh bao nóng có 3 loại nhân là cadé, xá xíu, kim sa, được hấp nóng, vỏ bánh mềm và thơm, có thể ăn cùng há cảo. Trong ảnh là bánh bao cadé với phần nhân mịn béo, thơm ngậy mùi trứng gà và sữa. Giá mỗi cái từ 10.000 đồng. Ảnh: Yến Nhi


Bánh bao thường đã được hấp chín, để nguội, có nhân ngọt với đậu xanh, dừa, khoai môn, cadé. Trên mặt loại bánh bao này có in hình chữ Phúc với ý nghĩa cầu mong điều tốt lành, may mắn. Ngoài ra, người Hoa cũng có thêm loại bánh bao không nhân được làm từ bột mì, đường cát, khoai lang hấp chín ăn cùng thịt heo quay. Ảnh: Mr. True


Bánh củ cải được xem là món ăn may mắn đầu năm của người Triều Châu. Bánh làm từ bột nếp, củ cải trắng là chính. Người làm bánh bào củ cải thành sợi, vắt nước, xào sơ rồi trộn với bột, tùy theo khẩu vị có thể thêm tôm khô, nấm đông cô, ngũ vị hương, lạp xưởng rồi đem hấp chín. Bánh đạt chuẩn có mặt bóng, bột mịn, mềm và thơm, ăn lạ miệng hơn khi chiên. Ảnh: Hoàng Nhi


Bánh bột thoạt nhìn khá giống với bánh đúc khi ăn kèm với nước mắm pha chua ngọt. Điểm khác biệt đó là bánh làm từ bột gạo, không có thịt và mộc nhĩ. Chút lá quế và giá trụng ăn cùng giúp thực khách đỡ ngán hơn. Bánh bột thường bán vào buổi xế chiều như món ăn vặt nhưng vẫn có thể khiến nhiều người có cảm giác no vì thành phần chính là bột. Mỗi suất ăn có giá 15.000 đồng. Ảnh: Di Vỹ

Huỳnh Nhi - Yến Nhi / Theo: Vnexpress



Saturday, January 1, 2022

NHỮNG MÓN QUÀ VÔ GIÁ

Có những món quà bạn không cần phải mua nhưng lại vô cùng ý nghĩa và có giá trị lớn lao khi bạn trao tặng cho bạn bè, người thân và cho cả chính bạn


Món quà của Sự Lắng Nghe. Hãy thật sự lắng nghe, chia sẻ những nỗi đau, tâm sự vui buồn cùng người khác. Hãy lắng nghe không chỉ bằng đôi tai mà bằng tất cả tấm lòng.

Món quà của Sự Quan Tâm. Hãy dành thời gian để quan tâm đến người thân, bạn bè đồng nghiệp, xem những vấn đề của họ như là của chính bạn. Hãy để mọi người cảm nhận tình cảm của bạn qua những hành động bạn thể hiện hàng ngày.

Món quà từ Những Nụ Cười. Nụ cười là một ngôn ngữ không lời nhưng có khả năng lan tỏa sức mạnh đến người khác nhanh nhất. Một nụ cười làm niềm vui nhân đôi, làm nỗi buồn trở nên nhẹ bỗng. Hãy trao tặng nụ cười cho tất cả những người xung quanh.

Món quà của Những Lời Khen Tặng. Những câu nói giản đơn nhưng chân thành như “Hôm nay trông bạn thật rạng rỡ!”, “ Bạn làm việc đó thật tốt”, hay “Bữa ăn hôm nay thật tuyệt vời!”… sẽ tạo thêm niềm vui và phấn chấn cho người khác.


Món quà của Sự Sáng Tạo. Mỗi ngày hãy thực hiện một điều bất ngờ nho nhỏ cho bạn bè và gia đình. Chắc chắn bạn cũng sẽ nhận được những điều bất ngờ thú vị từ họ.

Món quà của Sự Tĩnh Lặng. Là những khoảnh khắc bạn thực sự chỉ muốn yên lặng một mình. Hãy trân trọng thời khắc quý báu này và trao món quà của sự tĩnh lặng cho người khác đúng lúc.

Món quà của Sự Tri Ân. Những lời đơn giản nhất để bày tỏ lòng biết ơn đối với sự quan tâm, chia sẻ của người khác chính là “Chào bạn!” và “Cảm ơn” cùng nụ cười chân thành…


Khi bạn trao tặng những món quà này cho những người bạn quan tâm, cùng với một chiếc nơ đẹp chính là tấm chân tình của bạn, chắc chắn chúng sẽ trở thành những món quà vô giá, cho người nhận và cả cho người trao tặng!

(Sưu tầm trên mạng)

Ý NGHĨA THIỆN ÁC NÀO ẨN SAU KẾT THÚC TRUYỆN TẤM CÁM VÀ THẠCH SANH

Cô Tấm và Thạch Sanh là hai nhân vật rất nổi tiếng trong kho tàng cổ tích Việt Nam, câu chuyện về họ cũng có nhiều nét tương đồng và để lại cho hậu thế một số lời giáo huấn ý nghĩa. Tuy nhiên, kết cục của hai câu chuyện này tuy giống nhau trên bề mặt nhưng nội hàm Thiện ác lại khác biệt một trời một vực…

Trong cổ tích có sự xuất hiện của Thần Tiên, cái Thiện và cái Ác đồng thời tồn tại. (Ảnh qua baophapluat.vn)

“Tại sao rất nhiều người yêu thích truyện cổ tích?” – Khi câu hỏi này khảo sát qua 100 người thì hai ý kiến được nhiều người đồng tình nhất là “Vì cổ tích có sự xuất hiện của Thần Tiên” “Vì trong cổ tích Thiện và Ác đồng thời tồn tại”. Cũng tức là điều khiến người ta say mê là những câu chuyện về Thần Tiên và phép lạ, điều người ta tin tưởng tin tưởng là quy luật thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo.

Tấm Cám và Thạch Sanh là hai câu chuyện cổ tích điển hình cho quy luật này: Cả hai truyện đều có sự xuất hiện của phép màu, các vị Tiên Phật (người Việt xưa gọi Phật là Bụt) giúp đỡ người lương thiện, sự xung đột giữa thiện và ác rất mạnh mẽ, cuối cùng kẻ làm điều xấu không thoát khỏi quả báo.

Cuộc đời của cô Tấm và Thạch Sanh có nhiều nét tương đồng: cùng mất cha mẹ, cùng có bản tính lương thiện chân thành, từ nhỏ đã chịu nhiều cực khổ, Tấm bị Cám và dì ghẻ hiếp đáp, còn Thạch Sanh thì bị người anh em kết nghĩa Lý Thông và mẹ của y hãm hại, nhưng khi hai nhân vật này thật sự gặp nguy hiểm thì sẽ có Tiên Phật giúp đỡ. Ở kết truyện họ đều tìm được hạnh phúc viên mãn cho mình sau muôn ngàn cay đắng, còn kẻ làm hại họ phải nhận lấy ác báo tương xứng.

Trên bề mặt thì là vậy, nhưng nội hàm Thiện ác của kết truyện lại khác biệt nhau một trời một vực: Nếu Thạch Sanh từ đầu đến cuối vẫn giữ được bản tính thuần chân và lương thiện của mình, thì cô Tấm hiền dịu ngày nào sau nhiều biến cố của cuộc đời đã thật sự bị “ma tính hóa” và có hành vi trả thù vô cùng tàn độc.

Sự khác nhau của hai kết truyện

Sau nhiều lần bị mẹ kế và Cám hãm hại, Tấm được tái sinh và trở về bên nhà vua. Lúc này, Tấm nấu vạc dầu sôi và lừa Cám nhảy vào với lời dụ dỗ rằng điều đó sẽ giúp Cám xinh đẹp hơn, kết quả Cám bị nấu chết. Không dừng lại ở đó, Tấm tiếp tục “làm mắm” Cám và gửi về cho mẹ kế, khiến bà ta kinh hãi và uất ức mà chết. Sau này, có lẽ vì cảm thấy chi tiết “làm mắm” của Tấm quá đáng sợ nên người ta đã lược bỏ đi, chỉ kể đến đoạn Cám chết trong chảo dầu và người mẹ kế vì xót con nên cũng chết theo. Dẫu vậy, hành vi trả thù của Tấm vẫn bị đánh giá là tàn nhẫn.

Sau khi được tái sinh, việc Tấm trả thù mẹ con Cám được đánh giá là quá tàn nhẫn. (Ảnh qua download.vn)

Trái ngược hẳn với Tấm, Thạch Sanh không trả thù và cũng không hề đem lòng oán hận mẹ con người anh em kết nghĩa Lý Thông, dù chàng đã nhiều lần bị họ đẩy vào chỗ chết. Khi nhà vua giao toàn quyền xử tội hai mẹ con nhà này cho Thạch Sanh, chàng đã nói: “Dù sao thì đó vẫn là mẹ nuôi và anh kết nghĩa của tôi”, sau đó chàng tha cho họ về quê. Nhưng họ không may mắn đến vậy, dọc đường họ bị sét đánh chết và hóa kiếp thành bọ hung.

Kẻ ác cuối cùng phải nhận ác báo, kết thúc này là đúng với quy luật nhân quả, không có gì để phản bác. Tuy nhiên Thạch Sanh không đánh mất bản tính của mình, người vong ân nhưng chàng không bội nghĩa, lấy đức báo oán, tha thứ cho lỗi lầm của mẹ con Lý Thông. Tất nhiên Lý Thông là kẻ đại gian ác nên cuối cùng không thoát khỏi Thiên lý bị Trời trừng phạt, bị đọa làm sinh vật hèn mọn, đây đều là y tự mình chuốc lấy chứ không phải Thạch Sanh trả thù, chàng từ đầu đến cuối vẫn là người quân tử chân chính dùng Thiện đối đãi với người khác.

Còn Tấm thì khác hẳn, ban đầu vốn là một cô gái đức hạnh dịu dàng chịu thương chịu khó, cũng luôn bao dung với em gái và mẹ kế. Tuy nhiên sau khi liên tiếp bị hại, cô liền sinh ra tâm oán hận và trả thù bằng cách thức cực kỳ tàn nhẫn. Việc mẹ con Cám liên tục hành ác với Tấm là điều rất đáng giận, nhưng mà tác giả dân gian quả thật đã sai khi để Tấm trả thù như vậy, điều này khiến cô đã không còn là chính mình nữa rồi, hình tượng nàng Tấm đức hạnh dịu dàng ban đầu cũng hoàn toàn sụp đổ.

Tôi nhớ ngày còn học Ngữ Văn lớp 10, khi đọc truyện Tấm Cám, giáo viên đã nói rằng: “Mẹ con Cám nhất định phải bị trừng phạt, vì hai người này làm chuyện ác tới cùng mà không biết hối cải.” Điều này thì đúng, nhưng ai trừng phạt? Cô Tấm chăng? Để một người lương thiện thay đổi bản thân làm kẻ ác hơn để rồi đi trừng phạt kẻ ác? Lấy ác trị ác, như vậy thì có thể diệt trừ được một vài kẻ hành ác, nhưng sự độc ác thì cứ mãi lưu truyền và càng ngày càng lớn mạnh!

Đừng nói Tấm là một cô gái rất mực ngoan hiền, ngay cả một người bình thường có đủ sân si oán hận cũng không thể tự nhiên nghĩ ra cách thức trả thù nhẫn tâm tới như vậy được. Bất quá cũng chỉ là kể ra sự thật với nhà vua, để vua theo luật pháp mà trị tội họ. Nếu chưa đủ thì vẫn còn đó Thiên lý, có thể cho mẹ con Cám có kết cục bị sét đánh chết và hóa kiếp thành động vật như mẹ con Lý Thông. Vậy mà ở đây lại để cho Tấm chuyển hướng tà ác mà trừng phạt Cám.

Chúng ta biết rằng việc đun vạc dầu sôi và ném kẻ ác vào nấu là hành vi của quỷ trong địa ngục, Tấm cũng làm vậy thì thử hỏi cái gọi là “người lương thiện” kia có khác gì quỷ trong địa ngục đâu? Còn chuyện lấy thịt con làm mắm cho mẹ ăn lại càng hiểm ác hơn nữa, thậm chí còn độc địa hơn cả ma quỷ, đó có còn là hành vi thông thường của con người không? Ngay cả mẹ con Cám cũng không làm ra chuyện như vậy được, vậy mà Tấm có thể làm, chính là đã ác hơn cả kẻ ác rồi!

Cả hai truyện cổ Thạch Sanh và Tấm Cám đều để lại cho chúng ta bài học về quy luật thiện ác hữu báo mà xưa nay nhân loại tin tưởng. Nhưng mà, nếu Thạch Sanh là câu chuyện về một người quân tử chân chính lấy đức báo oán, thì Tấm Cám lại có quá nhiều yếu tố phản diện, oán hận, thậm chí là tà ác ẩn giấu bên trong, nói trắng ra không phải là một “bài học tốt” dành cho trẻ nhỏ.
 
Thạch Sanh là một người tu Đạo, còn cô Tấm thì không

Thạch Sanh chính là hiện thân của một người tu Đạo chân chính, còn Tấm sau gian khổ đã phần nào bị ma tính hóa, không còn giữa được bản tính ban đầu. (Ảnh qua Trithuc.vn)

Ở một góc độ cao hơn mà xét, trong quá khứ có cách nói về người “không tu Đạo mà đã ở trong Đạo”. Kiểu người này không xuất gia, cũng không biết tu hành là gì, nhưng bản tính rất lương thiện và nhẫn nại bao dung, họ cả đời chịu khổ mà không oán trách người khác, chỉ làm Thiện mà không làm ác. Thực tế dù họ không hề tu nhưng vẫn có Thần Phật đang quản họ, đang bảo hộ họ, dù họ không tu nhưng tiêu chuẩn tâm tính của họ đã đạt đến cảnh giới cần có của một người tu hành, và họ thậm chí có cơ hội đắc Đạo.

Cả Thạch Sanh và cô Tấm ban đầu đều đạt được tiêu chuẩn này: từ nhỏ đã chịu khổ, bản tính chân chất hiền lành và bao dung. Họ đều được Thần Phật bảo hộ: Thạch Sanh có Thiên Tướng hạ phàm truyền dạy cho các phép thần thông để chiến đấu với chằn tinh và đại bàng, lại được Long Vương tặng cho cây đàn thần để giải khuây trong ngục. Còn Tấm mỗi khi gặp chuyện không tự vượt qua được đều có Bụt (Phật Đà) hiện thân giúp đỡ, khi gặp nạn thì đều có phép màu giúp cô tái sinh. Cho thấy lúc ban đầu cả hai người đều “không tu Đạo mà đã ở trong Đạo”.

Chúng ta biết rằng cả tôn giáo phương Đông và phương Tây đều dạy về lòng khoan dung và sự tha thứ. Người phương Tây cho rằng “không thể yêu kẻ thù thì không vào được nước Chúa”, người phương Đông có cách nói “muốn đắc Đạo thì phải buông bỏ thù hận”,… Cách diễn đạt tuy khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa là muốn dạy người ta buông bỏ oán hận, phải bao dung cả với kẻ thù của mình, đó mới là tiêu chuẩn của một người tu hành.

Từ lý này mà xét, cuối cùng chỉ có Thạch Sanh mới là một người tu Đạo chân chính. Còn cô Tấm sau khi chịu nhiều “bất công” đã bắt đầu “đấu tranh” bằng thủ đoạn còn ghê gớm hơn cả kẻ ác. Có thể nói bao nhiêu công đức mà Tấm dày công tích lũy được nhờ tấm lòng lương thiện bao dung trước đây đều đã bị việc hành ác với mẹ con Cám ở phút cuối hủy hoại sạch sẽ rồi. Người tu hành liên tiếp chịu khổ, nhưng đến bước cuối cùng đột nhiên sinh tâm oán hận và trả thù thì không cách gì đắc Đạo.

Tuy xuất phát điểm cả hai người đều được Thần Phật bảo hộ và săn sóc, nhưng rốt cuộc chỉ có Thạch Sanh mới đạt được “không tu Đạo mà đã ở trong Đạo” một cách chân chính.

Thế Di / Theo: Tinh Hoa

ẨM THỰC VIỆT: SỰ THẬT THÚ VỊ SAU NHỮNG CÂU ĐỒNG DAO ĂN UỐNG MÀ AI CŨNG THUỘC

Đã bao giờ bạn thắc mắc rằng vì sao "Con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi chưa"? Đi tìm lời giải thôi nào!


Hẳn ai trong chúng ta cũng thuộc nằm lòng câu đồng dao "Con gà cục tác lá chanh. Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi. Con chó khóc đứng khóc ngồi. Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng"... hay như câu đối vè "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/Cây nêu tràng…”.

Tưởng đâu chỉ là những câu nói dân gian có vần điệu dễ thuộc dễ nhớ nhưng đó lại là kho tàng kiến thức ẩm thực được ông bà đúc kết từ xa xưa.

Từ thịt gà phải có lá chanh…


Sự kết hợp giữa thịt gà và lá chanh có lẽ đã thành chân lý khó mà chối cãi được. Tính hợp lý của nó trước tiên phải kể đến sự ngon miệng khi ăn cùng nhau, tiếp đến là sự hòa hợp về màu sắc khi màu xanh của lá chanh kết hợp với màu vàng của thịt gà sẽ tạo được sự bắt mắt theo quy luật phối màu trong nghệ thuật.


Nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao không ăn thịt gà với lá bưởi hay lá cam, những cây cùng họ với cây chanh? Mấu chốt chính là lượng tinh dầu đáng kể có trong lá chanh. Với thành phần chủ yếu là các chất hóa học có dạng vòng từ phenol nên tinh dầu chanh có mùi thơm rất dễ chịu, có nhiều tác dụng tích cực đến sức khỏe và tinh thần của người sử dụng.

Như vậy, ông bà ta đã biết được rằng ngoài ăn ngon, lá chanh còn giúp tăng cường sức khỏe từ rất lâu trước đây rồi đấy.

… tới thịt lợn mỡ "sánh đôi" cùng dưa hành


Trước đây, khi kinh tế còn khó khăn, phải đợi đến Tết thì trong nhà mới có thịt lợn trên bàn ăn. Và thật thiếu sót nếu thiếu đi dưa hành hay củ kiệu muối chua ăn kèm. Sự kết hợp này không chỉ tuân thủ luật âm dương ngũ hành trong ẩm thực Việt Nam mà dưới góc nhìn khoa học, rất nhiều lợi ích cho sức khỏe cũng đã được chỉ ra.


Cụ thể, những thực phẩm lên men như dưa hành muối chua có nhiều lợi khuẩn sẽ tác dụng trực tiếp tới quá trình tiêu hóa trong đường ruột. Qua đó giúp người ăn không gặp các vấn đề về đường ruột sau nhiều ngày ăn nạp nhiều thức ăn dầu mỡ.

Một số chất khác tốt cho sức khỏe có trong củ hành có thể kể đến như chất sulfur làm gia tăng lượng cholesterol tốt giúp "dọn dẹp" các mảnh vữa bám ở thành mạch máu, hạn chế bệnh tim mạch. Hay flavonoid quercetin được giới khoa học chứng minh là chống ung thư.

Và còn có câu “Rau cải nấu với cá rô/ Gừng thêm một lát, cho cô giữ chồng”


Không chỉ ngon miệng và hao cơm, canh cải cá rô còn là một vị thuốc. Cải thường dùng để nấu cá rô là loại cải bẹ, có vị hơi ngăm đắng có tác dụng thông khí, làm khoan khoái vùng ngực, hông, điều hòa thận khí, trừ đờm, ra mồ hôi.


Thông thường khi nấu canh cải cá rô, người ta thường cho thêm lát gừng để chống tanh, làm tăng hương vị món ăn. Gừng này giúp tiêu thực, làm ấm tỳ vị ra mồ hôi, giải cảm, giải nhiệt, chống nôn... Tóm lại rằng món canh cải cá rô không chỉ là bát canh suông mà còn là một bát thuốc có tác dụng bổ khí huyết, ích tỳ vị, tiêu thực, làm ra mồ hôi, giải độc.

Theo VTC News