Thursday, November 21, 2019

TRI CHỈ (知止) - ĐẠO ĐỨC KINH (CHƯƠNG 44)



CHƯƠNG 44


TRI CHỈ
知 止


Hán văn:

名 與 身 孰 親, 身 與 貨 孰 多. 得 與 亡 孰 病. 是 故, 甚 愛 必 甚 費. 多 藏 必 厚 亡. 知 足 不 辱. 知 止 不 殆. 可 以 長 久.

Phiên âm:

1. Danh dữ thân thục thân, thân dữ hóa thục đa. Đắc dữ vong thục bệnh.

2. Thị cố, thậm ái tắc thậm phí. Đa tàng tất hậu  vong. Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi. Khả dĩ trường cửu.

Dịch xuôi:

1. Danh với thân cái nào quý hơn? Thân với của, cái nào trọng hơn? Được với mất, cái nào khổ hơn?

2. Cho nên, yêu nhiều ắt tổn nhiều. Chứa nhiều ắt mất nhiều. Biết đủ (an phận thủ thường), không nhục. Biết dừng không nguy. Có thể trường cửu.


Dịch thơ:

1. Tiếng với ta cái gì là quí?
Của với mình xét kỹ chi hơn?
Bắc cân hai lẽ mất còn,
Đằng nào khổ sở, tính toan cho rành.

2. Chắt chiu quá lại thành uổng phí,
Cóp nhặt nhiều ắt sẽ tay không,
Thảnh thơi, là có đủ dùng,
Ít ham, ít nhục, thung dung một đời.
Lòng khinh khoát, biết nơi dừng bước,
Thoát hiểm nguy lại được trường sinh.


BÌNH GIẢNG

Chương này Lão tử khuyên ta không nên tham danh, tham tài đến nỗi phải vong thân, vong mạng...

Tâm thần ta là vật chí quí, chí bảo của trời đất; ta đừng nên dại dột mà đem đổi chác lấy công danh, tiền bạc phù du hư ảo.

Lão tử khuyên ta hãy nên bắc cân xem thân ta, mạng ta là trọng; hay danh lợi là trọng. Được danh lợi mà mất tâm thần, hỏi đằng nào nguy hại hơn ?

Thế tức là «đắc dữ vong thục bệnh». «Đắc» đây nên hiểu là «đắc danh vọng», «đắc hóa tài», mà «vong» đây nên hiểu là «vong thân, vong mạng».

Giải như thế, ta thấy câu này có âm hưởng như câu thánh kinh: «Được lợi lãi cả thế gian mà lỗ vốn mất linh hồn nào được ích lợi gì?»

Nếu chúng ta chạy theo hóa tài, ham mê danh vọng, tâm thần ta ngày sẽ một bị hao tán, phí phao. Cái phí phao ấy mới thực là lớn lao vậy. (Thị cố thậm ái, tất thậm phí.) Mà cho dầu ta súc tích đến bao nhiêu chăng nữa chúng ta cũng sẽ khó lòng mà giữ được cho toàn.

Hà Thượng Công bình rằng: «Sống mà súc tích cho đầy kho lẫm; chết mà súc tích cho đầy quan quách, thì sống sẽ lo trộm cướp đánh đập phá phách, chết sẽ lo bị đào mồ, cuốc mả.» (Sinh đa tàng ư phủ khố, tử đa tàng ư khâu mộ; sinh hữu công kiếp chi ưu, tử hữu quật trủng thám cữu chi hoạn. 生多藏於府庫, 死多藏於丘墓. 生有攻劫之憂, 死有掘冢探柩之患.)

Cho nên biết an thường, thủ phận sẽ thoát được ra ngoài vòng cương tỏa của lợi danh, và sẽ tránh được nhiều điều tủi nhục. Biết an thường, thủ phận, bỏ lợi lộc công danh hư ảo, lo tu thân, luyện trí, tu tâm, hợp Đạo, rồi ra sẽ được cửu trường.

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
(khảo luận & bình dịch)

MÌ JOOK-SING (竹昇麵) - MÓN MÌ HIẾM GẶP NHẤT Ở TRUNG QUỐC

‘Món mì hiếm gặp nhất Trung Quốc’ thể hiện công phu và sự khéo léo của bàn tay người thợ

Những bát mì nóng hổi, đẹp mắt, những sợi mì vàng óng đã tạo nên món mì cổ truyền trứ danh nổi tiếng hiếm gặp nhất Trung Quốc.


Mì Jook-sing (竹昇麵 mì sào tre) là một trong những loại mì sợi cổ truyền của Trung Quốc. Món mì trứ danh này đặc biệt không phải ở nguyên liệu mà chính ở kỹ thuật nhào bột vô cùng độc đáo.

Ảnh: edition.cnn.com

Mì Jook-sing cũng sử dụng bột mì, trứng và nước để làm nguyên liệu nhào bột như những loại mì sợi phổ biến khác. Nhưng điểm khác biệt lại nằm ở công đoạn người ta cán mỏng khối bột nhào.

Ban đầu người ta sẽ rải bột trên một mặt phẳng và tạo một lòng sâu ở chính giữa. Tiếp đến trứng sẽ được cho vào rồi trộn bột bằng tay cho đến khi các nguyên liệu trở nên nhất quán. Thông thường họ sẽ dùng khoảng 50 quả trứng để làm mì và theo truyền thống thì chỉ trứng vịt mới được sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay người ta còn kết hợp cùng trứng gà để tăng thêm độ hấp dẫn về màu sắc và mùi vị. Bí quyết để tạo nên kết cấu mịn và mềm dai cho những sợi mì chính là phần lòng trắng nên nhiều hơn lòng đỏ trứng.

Ảnh: cnn.com

Ảnh: cnn.com

Tiếp đến, người thợ sẽ chuẩn bị một cây sào tre lớn dài khoảng 2m. Một đầu của cây sào được cố định và đặt lên trên khối bột nhào. Đầu còn lại sẽ được người thợ ngồi lên và dùng sức nặng của mình để nhún. Chuyển động của người thợ làm mì sẽ giống y hệt như đang chơi trò bập bênh. Cùng với nhịp nhún của người thợ, khối bột sẽ được làm phẳng và dẹt dần cho đến khi đạt yêu cầu.

Ảnh: theloophk.com

Trông có vẻ khá đơn giản nhưng cách làm này lại đòi hỏi nhiều công sức và sự khéo léo, nhịp nhàng của người thợ. Thông thường công đoạn này sẽ mất khoảng 30-40 phút. Nếu như muốn cán một khối bột thành 100 phần ăn thì người ta cần phải nhún nhảy đến gần 2 giờ đồng hồ.

Nhờ lực ép từ gậy tre sẽ làm tăng gluten trong bột, từng sợi mì Jook-sing sẽ mềm hơn và ẩm hơn so với mì sản xuất bằng máy móc. Tuy nhiên, món ăn cổ truyền này người Trung Quốc, mà cụ thể hơn là vùng Quảng Đông đang có nguy cơ biến mất hoàn toàn khi giới trẻ không có hứng thú trong việc duy trì truyền thống và phương pháp làm mì bằng máy cho năng suất vượt trội hơn.

Ảnh: explore.traveloka.com

Hiện nay, chỉ còn lại một vài cửa tiệm ít ỏi chuyên về mì Jook-sing ở Hồng Kông, Ma Cao và Quảng Đông. Cũng chính vì lý do đó mà mì Jook-sing còn được gọi là “món mì hiếm gặp nhất Trung Quốc”. Nếu có cơ hội bạn đừng bỏ qua món mì độc đáo này nhé.

Lê Nam
Link tham khảo:


Wednesday, November 20, 2019

DỄ THƯƠNG DỄ SỢ

Hồi những năm 1970 – 1980 ở Sài Gòn thịnh hành câu nói cửa miệng: dễ thương, dễ sợ… nhất là trong giới trẻ học sinh, sinh viên.


Không hay ca ngợi bằng những tính từ như đẹp, sang trọng, quý phái… mà người Sài Gòn hay khen ai đó (thường là phụ nữ), một việc làm nào đó là “dễ thương”. Dễ thương, là thấy có cảm tình, quý mến, dễ chịu qua dung nhan, cư xử, hành vi, ngôn ngữ. Phụ nữ ở tuổi nào tầng lớp nào cũng có thể là người “dễ thương”. Thường nghe mấy bạn trai trò chuyện “nhỏ đó dễ thương” khi nói về cô bạn hàng xóm hay cùng lớp, mấy ông hay nói “chị đó, cô đó dễ thương” khi nói về đồng nghiệp, bạn bè… Phụ nữ thượng lưu cũng muốn được khen dễ thương, vì ngoài sự sang trọng còn là sự duyên dáng, ý nhị.

Nhưng đừng tưởng khen người ta “dễ thương” là có thể “thương dễ”, tán tỉnh sàm sỡ, coi vậy chớ “thương không dễ” đâu nha. Ngược với “dễ thương” là “dễ ghét” hay “thấy ghét” nhưng có khi không phải là “ghét” thiệt!

Nếu “dễ thương” là… dễ thương thiệt thì “dễ sợ” không hẳn là “sợ”, nhất là khi được các cô gái nói ra với ngữ điệu kéo dài chữ “dễ” và nhấn vào âm “s” của chữ “sợ” thì không có gì… dễ thương bằng. “Dễ sợ” là ngạc nhiên, trầm trồ, khi lại là chê trách, khi là câu trả lời vô thưởng vô phạt khi nghe câu chuyện nào đó. “Dễ sợ” là sự bày tỏ thái độ trước sự việc, hiện tượng, câu chuyện chứ ít dùng với người như một tính từ.

Vậy nhưng người Sài Gòn lại hay nói ghép thành “dễ thương dễ sợ”! Đó là dễ thương lắm á, đến nỗi không chỉ bày tỏ sự cảm mến mà còn thán phục, ngưỡng mộ. Mà cũng chỉ thấy những nàng trẻ trung duyên dáng được “đánh giá” là dễ thương dễ sợ, chớ có chồng con rồi, nếu được ai khen câu này – nhất là mấy ông chồng – thì chắc là phần “dễ sợ” nhiều hơn.

Lần đầu nghe thấy hai từ “dễ thương”, “dễ sợ” tôi đã kết ngay. Có lẽ ít có từ nào thể hiện sự hồn hậu của người Sài Gòn phổ biến như thế: là nhẹ nhàng khen ngợi và không nặng nề chê bai… Tuy có phần “cảm tính” nhưng lịch sự, thật lòng, không “khẳng quyết” nên người được khen là “dễ thương” không bối rối hay ngượng ngùng, người hay hành vi “dễ sợ” cũng không buồn, đôi khi còn vui vui vì nhận ra sự “tán thưởng” ngầm trong đó. Ai không đồng tình cũng không cần phản bác, dễ thương hay dễ sợ chỉ hơn bình thường chút thôi, đôi khi là trong một khoảnh khắc một ngữ cảnh nhất định, đâu cần phải tranh cãi. Người Sài Gòn, người miền Tây vẫn cởi mở như thế và từ đó luôn nhận thấy xung quanh có nhiều điều “dễ thương dễ sợ”.

*********


Như nhiều người đã biết, ngôn ngữ là một trong những thành tố văn hóa quan trọng nhất vì nó là biểu hiện trực quan của thái độ, cảm xúc con người, đời sống xã hội và sắc thái văn hóa địa phương. Cùng với ngữ điệu, ngôn ngữ thể hiện sự phong phú và tinh tế của tình cảm, những mối quan hệ của con người và phần nào cả lịch sử một cộng đồng, nhất là ở những đô thị lớn.

Ngày mới vô Sài Gòn, khi ra chợ tôi rất ngạc nhiên khi nghe cách chào hỏi: cậu, dì, con, cháu… những xưng hô thân tộc bên mẹ chiếm ưu thế ở chợ – một xã hội thu nhỏ. Lối xưng hô này nay chỉ còn trong vài chợ nhỏ lâu đời, nơi mà người bán người mua đều quen thuộc nhau đến vài mươi năm, thậm chí còn là bà con lối xóm. Cùng với “cậu dì con cháu” là “mua giúp, mua giùm”. “Tiền trao cháo múc” vẫn coi là vui vẻ giúp nhau, quan hệ người mua người bán là dịch vụ đấy nhưng thân thiện và tình nghĩa. Không mua bán được thì “lần sau nhớ ghé mua giúp nghen” như một câu chào dễ thương.

Nhà tôi trong một hẻm nhỏ ở vùng Phú Nhuận gần sân bay Tân Sơn Nhứt, xung quanh toàn biệt thự và lối xóm là những gia đình công chức, phu nhân của tướng tá quan chức và các cô chiêu cậu ấm. Người Nam có người Bắc di cư 1954 cũng có, kín cổng cao tường ít khi gặp mặt nhưng khi nhìn thấy nhau luôn chào hỏi niềm nở. Người bán hàng rong mỗi ngày qua đây cũng thành người quen của xóm, bữa nào có thiếu dư chút đỉnh tiền bạc không sao. Đặc biệt cách trả giá của mấy dì mấy cô rất nhẹ nhàng, không chê bai hàng hóa xấu đẹp hay miệt thị người bán đắt rẻ, được giá thì mua không thì thôi… Cứ lựa hàng tính tiền, bữa nào giá cả lên xuống thì nói trước, còn cho thêm nắm hành trái ớt… Việc chi tiêu tốn kém hơn dường như làm cả người bán cũng thấy xót xa chớ không chỉ người mua, ấy là hồi những ngày khó khăn thập niên 70, 80 của thế kỷ trước.

*********


Hồi đó ra đường vẫy chiếc xích lô, bác tài không đi được thì xin lỗi mà khách cũng cám ơn. Cám ơn là câu cửa miệng của cả người bán người mua. Gặp người lạ muốn hỏi thăm thì xin lỗi trước, được việc xong là cám ơn liền… Một nụ cười đáp trả như nói “không có chi” mang lại sự vui lòng cho cả hai bên. Cám ơn xin lỗi từ mọi giọng nói Bắc Trung Nam, từ khu biệt thự sang trọng tới xóm nhà lá, từ trường học đến công sở…

Cho tới giờ, dù mất đi nhiều ngôn ngữ thịnh hành hồi cuối thế kỷ trước nhưng cũng may nhiều người Sài Gòn còn giữ được thói quen “cám ơn” và “xin lỗi” – mừng nhất là thói quen này ở con nít và người trẻ. Đi ngoài đường nhắc nhau gạt chân chống, tắt đèn xinhan, cuốn sợi dây cột đồ… rồi chạy tuốt, người được nhắc vẫn nói với theo câu “cám ơn” dù mặt mũi ai cũng bịt kín mít chẳng biết xưng hô thế nào cho đúng.

Hồi đó ở Sài Gòn có đám đánh lộn chửi nhau không? Có chớ! Trong hẻm, trong chợ, ở quán nhậu… Bình thường xưng hô ông tui, lúc “cao trào” thì chửi thề và “mày, tao” với nhau, khi gọi “mày tao” với người lớn tuổi hơn là hỗn hào nhất rồi. Giận mấy thì giận cũng chỉ ngang hàng “bình đẳng”, không trèo leo đòi làm “ông bà cha mẹ” ai. Chắc vậy nên oánh nhau chửi lộn xong thì cũng… thôi, không để bụng thù dai.

*********


Hồi đó ở Sài Gòn nghe giọng Sài Gòn, giọng miền Tây nhiều, giọng Bắc giọng Trung cũng không ít, nhưng tất cả đều mang âm sắc nhẹ nhàng, âm lượng vừa đủ, lịch sự. Ngữ điệu cũng vậy, dễ nghe, dường như ai đến thành phố này giọng nói cũng “lai” một chút để có thể tiếp xúc với nhau một cách thân thiện dễ dàng. Những giọng nói như vậy tiếc là Sài Gòn nay ngày càng ít đi. Khi xem những bộ phim về Sài Gòn “hồi đó” thấy ngôn ngữ trong phim như của một nơi xa lạ, hổng phải Sài Gòn như bây giờ…

Ngôn ngữ bây giờ phong phú và “đáo để” hơn trước, nhiều tính từ trực diện mạnh bạo, tiếng lóng, sự ám chỉ, liên tưởng cũng nhiều, âm sắc cao hơn, tốc độ nhanh hơn và âm lượng thì hiếm nơi nào chỉ vừa đủ nghe… Người đi xa mà nghe TV hay đọc “báo mạng” thì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Thật ra đây cũng là một quy luật của văn hóa: Cộng đồng dân cư thế nào thì ngôn ngữ như thế: sự phong phú, phức tạp, biến đổi dân cư quá nhanh, tâm thức và vị thế của các nhóm dân cư cũng thể hiện bằng và qua ngôn ngữ.

Có cảm giác như ngôn ngữ Sài Gòn không chỉ thay đổi theo cộng đồng dân cư thành phố mà còn thay đổi do tốc độ cuộc sống: thời thong thả tản bộ, thời của những chiếc xe đạp mini, xe Solex hay xe máy Honda đã thay thế bằng xe máy phân khối lớn và xe hơi, âm thanh máy quay đĩa và dàn Akai đã thay thế bằng âm thanh của Video và loa thùng karaoke “kẹo kéo”… Những tiếng nói “dễ thương” cứ bị khuất chìm dười những thanh âm “dễ sợ” của một thành phố ngày càng xô bồ nhộn nhạo…

Vẫn biết cuộc đời dâu bể mà sao cứ nhớ thương hoài về Sài Gòn “dễ thương dễ sợ” ngày xưa…

Sài Gòn, tháng 1.2019
Tạp bút, Nguyễn Thị Hậu

FAKE NEWS Ở MỸ TINH VI NHƯ THẾ NÀO?



Fake News – Tin giả – không phải là một từ phổ biến gần 2 năm trước, nhưng nay nó được xem là cơn ác mộng của bất kỳ một hãng truyền thông nào. Donald Trump không phải là người “phát minh” ra từ này, nhưng ông đã biến nó trở thành từ vựng hàng ngày của hàng triệu người không chỉ tại Mỹ mà còn toàn thế giới. Vậy Fake News là gì và nó được tạo thành như thế nào?

Bỏ qua những sai sót mang tính kỹ thuật trong quá trình sản xuất tin tức, chẳng hạn phóng viên Brian Russo của ABC News bị đình chỉ vì đưa tin sai về chiến dịch tranh cử của ông Trump, Fake News tại Mỹ được tổ chức rất tinh vi. Đó là một chiến thuật truyền thông của phe tả (vốn đông hơn nhiều) chống lại những người cánh hữu, giữa những người ủng hộ chính sách xã hội chủ nghĩa của Đảng Dân chủ và những người muốn bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ để duy trì một chính phủ giới hạn, bảo đảm quyền tự do cá nhân của Đảng Cộng hòa bảo thủ, trong đó ông Trump là trung tâm.


Bạn có thể phản đối rằng Fox News cũng là kênh truyền thông cánh hữu và còn trang cực hữu như Breitbart thì sao? Breitbart quá nhỏ và tổng cộng độc giả của các trang cánh tả như ABC, CBS, NBC, MSNBC và CNN lớn hơn tới 10 lần số độc giả của Fox News.

Điểm qua một số nhân vật chủ chốt trong các tờ báo chuyên đưa tin chống Trump và đường lối Cộng hòa bảo thủ của ông: Phóng viên trưởng của ABC là cựu phát ngôn viên Nhà Trắng dưới thời Bill Clinton; chủ tịch CBS News David Rhodes, anh em của cựu nhân viên của ông Obama. Công ty Comcast sở hữu NBC được điều hành bởi một nhà quyên góp mạnh tay cho Đảng Dân chủ. Điều tương tự cũng đúng với giới lãnh đạo tại CBS và Time Warner, công ty sở hữu CNN.

Chỉ có 7% phóng viên tại Mỹ nhận là thành viên Đảng Cộng hòa. Trong khi phần lớn trang tin cấm nhân viên của mình ủng hộ tiền cho các ứng viên Tổng thống, 96% những phóng viên, nhà báo có đóng góp đều quyên tiền cho Hillary Clinton, theo thống kê từ Trung tâm Liêm chính Công (Center for Public Integrity).

Những người này nói rằng bất chấp việc họ đều là thành viên Đảng Dân chủ, họ có thể đưa tin khách quan và trung lập. Các nghiên cứu tâm lý cho rằng khi con người thường xuyên tiếp xúc với những người có quan điểm tương đồng với mình, người này sẽ bị ảnh hưởng bởi tâm lý đám đông, sẽ thiên vị và mất khả năng nhìn sự kiện một cách rõ ràng.

Không phải nói rằng các nhà báo ủng hộ Đảng Dân chủ đều nói dối, mà sự thiên vị đảng phái của họ khiến việc họ đưa tin và viết bài bị thiên lệch. Nhà văn Andrew Klavan đã phác thảo ba quy tắc mà phần lớn các hãng truyền thông lớn của Mỹ đã bẻ lệch bất kỳ câu chuyện nào để chống lại những người không có cùng quan điểm chính trị với họ.


Bất cứ khi nào một sự kiện xảy ra phù hợp với thiên kiến của những người theo cánh tả, sự kiện đó được coi như đại diện của chân lý. Nhưng nếu sự kiện này trái ngược với những gì cánh tả tin tưởng, nó sẽ chỉ được mô tả là một sự kiện riêng lẻ, và nếu ai đó cố tình hiểu theo nghĩa khác thì sẽ bị coi là kích động thù hằn.

Ví dụ như một cảnh sát da trắng bắn chết một nghi phạm da đen. Vì việc này phù hợp với tuyên truyền về sự phân biệt chủng tộc đang tồn tại ở Mỹ, truyền thông cánh tả lập tức coi đây là đại diện chung cho sự kỳ thị người da đen trong cảnh sát Mỹ. Họ tự làm việc này bất chấp các nghiên cứu thực tế rằng cảnh sát Mỹ bắn chết nghi phạm da trắng nhiều hơn nghi phạm da đen và tỷ lệ tội phạm của những người da đen cao hơn gấp nhiều lần so với người da trắng. Ngược lại, khi một người Hồi giáo cực đoan đánh bom liều chết và có người đủ dũng cảm để chỉ ra rằng đây là hành động khủng bố Hồi giáo như hàng trăm vụ tấn công xảy ra hàng ngày trên khắp thế giới, người này sẽ bị gán nhãn là kỳ thị tôn giáo và “bài Hồi giáo”.

Tâm lý nạn nhân là một con bài đầy quyền lực mà truyền thông cánh tả sử dụng để đạt được mục tiêu chính trị. Điều tương tự cũng đúng với cộng đồng người Mỹ La-tinh, người thiểu số bản địa, cộng đồng LGBT (chỉ chung những người đồng tính luyến ái nam, nữ, song tính và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới) và đặc biệt là người nghèo.


Khi có một vụ bê bối đối với các chính trị gia cánh hữu, họ đưa tin về câu chuyện bê bối đó.

Nhưng nếu đối tượng là các chính trị gia cánh tả, thì câu chuyện xoay trở lại thành: Ai đã tiết lộ những thông tin này một cách phi pháp?

Ví dụ, khi truyền thông muốn dấy lên sự nghi ngờ về việc ông Donald Trump thông đồng với Nga, họ tự do trích dẫn các nguồn tin giấu tên từ các quan chức vốn không được pháp luật cho phép tiết lộ. Nhưng khi Nghị sĩ Devin Nunes tuyên bố ông có thông tin rằng chính quyền Obama có thể đã sử dụng cơ quan tình báo sai mục đích nhằm chống lại ông Trump, câu chuyện trên các báo ngay lập tức trở thành: “Ông Nunes đã có được thông tin này như thế nào và ông ta làm vậy có hợp pháp hay không?”

Đưa tin các cuộc bê bối sao cho có lợi cho cánh tả và bất lợi cho cánh hữu, đó là Fake News.


Cường điệu hóa những người cực đoan cánh hữu trong khi bỏ qua sự cực đoan của cánh tả.

Một sự kiện Fake News lớn nhất gần đây là khi truyền thông hùa nhau miệt thị các thành viên Đảng Trà (những người bảo thủ trong Đảng Cộng Hòa) là kỳ thị chủng tộc, trong khi tất cả những gì họ muốn là giảm thuế và giảm chi tiêu chính phủ. Phóng viên đã gán cho những người biểu tình của Đảng Trà những cái tên xấu xa nhất, viết về các cuộc tụ họp đa phần đều ôn hòa của họ là bạo lực, thù hằn và ghét bỏ người nghèo. Khi có thành viên nào đó của Đảng Trà có phát ngôn không chính xác, họ liền chộp lại và nói rằng phong trào này không đáng tin và đã bị vấy bẩn.

Trong khi đó, những phong trào chủ nghĩa xã hội bạo lực, đập phá tài sản nhà nước cũng như của người khác, bài Do Thái được tổ chức dưới cái tên Chiếm Phố Wall thì lại được ca ngợi là một sự phát triển xã hội quan trọng trong thời đại chúng ta. Cho đến khi những người biểu tình này biến mất sạch, để lại hàng đống rác và những mảnh vỡ sau các cuộc đập phá, thì báo chí lại im bặt.

Những thành viên ôn hòa của Đảng Trà muốn chính phủ phải làm theo Hiến pháp, họ được mô tả là những kẻ quá khích; còn những kẻ chiếm phố Wall đòi chính phủ phải mở rộng trợ cấp theo mô hình chủ nghĩa xã hội thì được gọi là anh hùng. Đây là cách truyền thông tạo ra Fake News.


Biên tập viên trang Newsweek Evan Thomas từng bị chỉ trích khi tạp chí của ông kết tội các cầu thủ bóng vợt của Đại học Duke tội hiếp dâm một phụ nữ da đen, một sự việc mà sau đã được chứng minh là sai vì nó không xảy ra. Thomas đã bảo vệ tờ báo của mình rằng, “xu hướng (phụ nữ da đen bị đàn ông da trắng hãm hại) trong câu chuyện là đúng, chỉ có sự kiện là sai”.

Nhiều hãng truyền thông lớn ở Mỹ gần như luôn tìm được cách đưa “xu hướng cánh tả” của họ ra công chúng, bất chấp thực tế có đúng hay không. Điều này gọi là sự xác nhận thiên kiến, là thiên vị và đó là Fake News.

Minh Trí/Theo Trithucvn

NIKKO TOSHOGU, ĐỀN THỜ NGUY NGA NHẤT XỨ PHÙ TANG

Ngôi đền 400 năm tuổi thờ tướng quân Tokugawa nằm giữa rặng thông cao vút tại thành phố Nikko (cách Tokyo 2 giờ tàu), tỉnh Tochigi, ẩn chứa bí ẩn về thời kỳ Mạc phủ.


Nói đến Nikko, người hiểu lịch sử Nhật Bản liền nghĩ ngay đến Nikko Toshogu, một đền đài nguy nga nhất của xứ Phù Tang được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 1999.


Đường vào đền Nikko Toshogu vắt ngang con sông Daiya, với cây cầu Thần gỗ cong (Shin kyo) sơn son đẹp mắt, giống như cầu Thê Húc ở Hồ Gươm, Hà Nội. Đây là một trong 3 cây cầu đẹp nhất Nhật Bản.


Nikko được ví như viên đá quý, bởi vẻ đẹp tự nhiên và vẻ đẹp kiến trúc Nhật Bản. Kiến trúc điện thờ vô cùng sắc sảo. Các nhà sử học ước lượng rằng để hoàn tất kiến trúc đền thờ Toshogu tốn khoảng 40 tỷ yen vào thời điểm ngày nay (8.547 tỷ đồng).


Đền chùa Nikko là tên gọi chung của quần thể đền, chùa cổ nổi tiếng ở thành phố Nikko, tỉnh Tochigi. Dân địa phương thường gọi quần thể này là "hai đền một chùa", bởi quần thể gồm hai đền thờ Thần đạo Nikko Tosho-gu (đền Futarasan) và một ngôi chùa Phật giáo là chùa Rinno. 5 kiến trúc của đền Nikko Toshogu đã được Nhật Bản xếp vào hàng quốc bảo, và ba kiến trúc khác là tài sản văn hóa trọng yếu.


Lăng mộ đền thờ của tướng quân Tokugawa được thiết kế tạo ra được một không gian rất trang nghiêm. Lối vào cổng chính rộng rãi, đường trải đá nhỏ màu xám, những rặng thông cao vút tạo ra một không gian uy nghi, thanh tịnh.


Đại lộ những cây tuyết tùng được trồng xếp hàng dài ngay ngắn nằm ở hai bên vệ đường, được gọi là Sugi.


Sau khi tướng quân Tokugawa Ieyasu chết năm 1616, Masatsuna Matsudaira đã xây dựng đền Nikko Toshogu, và ông bắt đầu trồng cây tuyết tùng Nhật Bản dọc theo con đường chính dẫn đến Nikko. Người ta ước tính có khoảng 200.000 cây tuyết tùng được trồng trong dịp này. Số lượng cây giảm đi rất nhiều và hiện nay chỉ còn 13.000 cây.


Ðông Chiêu Cung - Toshogu - là tên gọi của đền thờ tướng quân Shogun Tokugawa Ieyasu - Ðức Xuyên Gia khang. Ông mất vào năm 1616 và con trai ông đã chọn Nikko làm nơi xây dựng đền thờ.


Hơn 4 triệu người thợ làm trong trong 1 năm rưỡi để hoàn thiện cụm đền thờ có kiến trúc vô cùng sắc sảo này.


Tổ hợp kiến trúc là điểm tuyệt vời trong số các tuyệt tác kiến trúc Nhật Bản thể hiện lối trang trí sang trọng và tinh tế.


Kiến trúc đền thờ Toshogu để lại cho người sau cả một kho tàng về triết lý nhân sinh. Các hình ảnh khỉ đã được nhân cách hóa mô tả về đời sống con người.


Một trong số đó có bức đặc biệt nhất khắc 3 chú khỉ, có tên từng chú khỉ là Kikazaru (bịt tai), Mizaru (bịt mắt) và Iwazaru (bịt miệng). Ba chú khỉ với vẻ mặt ngộ nghĩnh là hình tượng người Nhật Bản biểu đạt triết lý nhà Phật dạy rằng không nghe điều bậy, không nhìn điều bậy, không nói điều bậy. Bức khắc này của nghệ nhân Hidari Jingoro nổi tiếng từ thế kỉ 17.


Hiện đền cũng là nơi những gia đình quyền quý tổ chức lễ thành hôn.


Hàng năm đền thờ tướng quân Tokugawa - nơi được mệnh danh là ”Di Hòa Viên” của Nhật Bản, thu hút hàng trăm ngàn lượt khách du lịch.

Hằng Nguyễn
Theo Zing


Tuesday, November 19, 2019

CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ ĐẠI LỘ NGUYỄN HUỆ


Trên con đường này các nhân vật lịch sử – văn hóa, kinh tế – tài chính đã để lại dấu vết, từ thương gia giàu có Wang Tai, Speidel; các nhà nhiếp ảnh đầu tiên của Sài Gòn Émile Gsell, George Planté, Pun Lun (Tân Luân), các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Nguyễn An Khương, Cường Để; hoàng tử Miến Điện Myingun, nhà văn hóa Phạm Quỳnh…

Đại lộ Charner – Nguyễn Huệ, chốn cực phẩm phong lưu

Năm 1887, kinh Chợ Vải, từ sông Sài Gòn chạy lên khu vực đường Lê Lợi hiện nay, được lấp trở thành một đại lộ lớn mà người Pháp gọi là Boulevard Charner, gồm con kinh lấp và hai con đường dọc hai bờ kinh, đường Charner bên trái kinh và đường Rigault de Genouilly bên phải kinh. Đại lộ Charner (nay là đường Nguyễn Huệ) trở thành đường rộng nhất Sài Gòn, nơi diễn ra các lễ hội lớn, có nhiều cửa hàng và trụ sở các công ty, các di tích văn hóa lịch sử không kém đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi).


Đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ) – Đường Charner, sau đổi là Nguyễn Huệ

Chỉ trong vài chục năm sau khi lấp kinh, đại lộ Charner trở thành nơi buôn bán phồn thịnh. Phạm Quỳnh khi đi thăm Nam kỳ vào năm 1918 đã có nói về con đường Charner và Catinat phồn hoa phát đạt như sau: “Các cửa hàng lớn, hàng tây, hàng ta (phần nhiều người Bắc kỳ), hàng Chà (phần nhiều người Bombay bên Ấn Độ), hàng khách, chen nhau xin xít. Lại thêm có mấy nhà khách sạn lớn, nhà chớp bóng, nhà hát Tây, nên chiều chiều cứ từ năm giờ trở đi kẻ đi người lại như nước chảy. Người sang trọng, kẻ thượng lưu, tất mỗi buổi phải dạo qua đường Catinat một lượt mới là nền. Những trai thanh gái lịch đất Sài Gòn lấy đấy làm chốn cực phẩm phong lưu. Trên đường thì xe hơi không biết mấy trăm mấy chục mà kể, tiến lên êm như ru, như vô số những làn sóng tự ngoài xa đưa lại, rạt cả bên bờ nhà “Đại lục khách sạn” (Hôtel Continental)” (Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam kỳ, 1918).

Trước năm 1975, đại lộ Nguyễn Huệ rất sầm uất và đầy màu sắc. Là nơi tập trung nhiều nhà hàng, khách sạn, tụ điểm ăn chơi của giới thượng lưu và …

Bài biên khảo này ghi lại những nơi, các địa chỉ có dấu vết của các tiệm, cơ sở, cảnh quan và con người đã để lại ký ức trong người Sài Gòn qua các năm từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Cảnh quan và kiến trúc con đường Charner thay đổi nhiều và biến dạng rất nhanh chóng so với các con đường nổi tiếng khác ở trung tâm Sài Gòn.

Ngày nay ta còn có thể thấy lại một vài cảnh quan của kinh Chợ Vải, hai con đường dọc kinh (đường Charner và Rigault de Genouilly) và nhà cửa, hàng quán trước năm 1887 là nhờ những hình ảnh cực kỳ quý hiếm của nhà nhiếp ảnh tiên phong ở Nam kỳ, ông Émile Gsell, đã chụp và may mắn còn tồn tại.

Chiêu Nam Lầu trên đại lộ Charner

Đầu và Cuối đại lộ Charner – Nguyễn Huệ.

Theo hồi ký Nguyễn An Ninh: Tôi chỉ làm cơn gió thổi của Nguyễn Thị Minh, con gái ông Nguyễn An Ninh: “Từ cái ngày cả gia đình rời Tân An lên Sài Gòn, ông bà nội tôi mướn hai căn phố liền nhau ở đường Kinh Lấp nay là đường Nguyễn Huệ… Hai bên bờ kênh nhà cửa san sát, phố xá nhộn nhịp, dưới bến thì ghe thuyền tấp nập đến tận khuya. Thật là nơi thuận tiện giao thông, nhất là đường sông.

Hai căn phố ông bà nội tôi mướn nằm bên trái nhà Xã Tây. Lúc đầu ông bà tôi lập khách sạn cho thuê phòng trọ và mở thử tiệm may vì bà nội và bà cô tôi may rất khéo. Sau này ba má tôi quen thân với ông Diệp Văn Kỳ mới nghe ông nói: “Nghe tiếng bà Chiêu Nam Lầu may khéo nên vua Thành Thái trước khi đi đày sang đảo Réunion đã đến may cả chục áo dài gấm””. Số 49 đường Charner là tiệm may của ông Nguyễn An Khương, thân phụ ông Nguyễn An Ninh. Nơi đây sau đó trở thành tiệm ăn và trên lầu là khách sạn Chiêu Nam Lầu. “Mục đích của Chiêu Nam Lầu là nơi chiêu hiền đãi sĩ của người Việt Nam, nơi gặp gỡ của anh hùng hào kiệt ba miền, nơi tá túc của những nhà ái quốc Bắc Trung lưu lạc vào Nam” (Nguyễn An Ninh: Tôi chỉ làm cơn gió thổi).

Chính tại Chiêu Nam Lầu mà hoàng tử Miến Điện Myingun đang lưu vong tại Sài Gòn đã thân quen với gia đình Nguyễn An Khương. Cô của Nguyễn An Ninh có học cách làm dầu cù là Miến Điện; sau này Nguyễn An Ninh có lúc phải đi bán dạo dầu cù là để kiếm sống và che giấu hoạt động cách mạng của mình.


Đường hoa Nguyễn Huệ là tên gọi của đường Nguyễn Huệ được trang hoàng vào mỗi dịp Tết Nguyên Đán, dành cho khách đi bộ thưởng ngoạn, bắt đầu từ tết Giáp Thân năm 2004.

Phố đi bộ Nguyễn Huệ

Một câu chuyện ít ai biết mà bà Nguyễn Thị Minh có kể lại trong hồi ký của bà là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để đang trú ngụ tại Chiêu Nam Lầu từng suýt bị cảnh sát mật vụ Pháp bắt khi đang nằm ngủ.

Chiêu Nam Lầu cũng là nơi cụ Phan Châu Trinh khi từ Pháp trở về nước đã cư ngụ cho đến khi mất vào ngày 24/3/1926. Đám tang Phan Châu Trinh từ đây đi đến nghĩa địa Gò Công (gần Tân Sơn Nhất ngày nay) là một đám tang khổng lồ, báo chí Pháp gọi ngày diễn ra đám tang đó là ngày Việt Nam thức tỉnh. (Theo Báo Thanh Niên)

Lịch sử đường Nguyễn Huệ

Nếu làm một chuyến đi về quá khứ, chúng ta sẽ khám phá được rất nhiều điều thú vị và bất ngờ trong lịch sử hình thành đường Nguyễn Huệ ở Sài Gòn.

Hằng năm, cứ mỗi dịp Tết đến, đường Nguyễn Huệ, một trong những con đường đẹp nhất của Sài Gòn, nằm trải dài từ trước trụ sở Ủy ban Nhân dân thành phố [Tòa Đô chính (sảnh) trước năm 1975, Dinh Xã Tây Dinh Đốc Lý thời thuộc Pháp – DCVOnline] đến Bến Bạch Đằng, với nhiều tòa nhà cao tầng và những trung tâm thương mại mua bán sầm uất, biến thành một đường hoa rực rỡ, thu hút rất nhiều khách viếng thăm, và trở thành một địa chỉ quen thuộc cho những vị khách du xuân.

Dinh Xã Tây. Nguồn- Albert Kahn

Nếu làm một chuyến đi về quá khứ, chúng ta sẽ khám phá được rất nhiều điều thú vị và bất ngờ trong lịch sử hình thành con đường này.

Kênh Chợ Vải (Kênh Lớn) và đường Charner nhìn từ phía sông Sài Gòn vào phía tòa Thị chính (lúc này chưa xây) và cũng chưa thấy có Nhà thờ Đức Bà (khởi công 1877, hoàn thành 1880). Nguồn: .flickr.com/manhhai

Khởi thủy đường Nguyễn Huệ là 1 con kênh dẫn vào thành Gia Định (còn gọi Thành Bát Quái 1790-1835). Người Pháp gọi là Kênh Grand, người Việt gọi là Kênh Chợ Vải.


Dãy nhà phố trên dường Charner. Hai con đường hai bên Kinh Lớn: một chạy xuống phía bờ sông Sài Gòn, qua phía trước Chợ Cũ là rue Rigault de Genouilly (bên trái), đường từ phía sông chạy lên là rue Charner (bên phải). Khi Kinh Lớn bị lấp vào năm 1887 thì hai con đường được nhập lại thành Boulevard Charner tức là ĐL Nguyễn Huệ sau này. flickr.com/manhhai

Dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner (đường bên phải trong ảnh), hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly.

Cuối Kênh Chợ Vải nhìn ra sông Sài Gồn. Nguồn: OntheNet

Ảnh này chụp cuối Kênh Chợ Vải, chúng ta có thể thấy có 1 cây cầu để nối hai bờ kênh, xa xa là Bến Nhà Rồng.

Bên phía đường Canton chúng ta có thể thấy một ngôi chợ. Chợ đã hình thành từ trước khi người Pháp chiếm Sài Gòn, nằm cạnh bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.

Các nhà lồng chợ Charner, được xây dựng vào năm 1860 và là ngôi chợ đầu tiên của Sàigòn. Hàng hóa thực phẩm cung cấp cho chợ này bằng con kênh đào chạy qua phía trước chợ gọi là Kênh lớn, vị trí nằm ngay giữa đường Nguyễn Huệ ngày nay. Con đường bên phải chợ là Rue Vannier, ngày nay là đường Ngô Đức Kế, đường bên trái là Rue Phủ Kiệt, nay là Hải Triều. Đường phía sau chợ là Rue Georges Guynemer (còn có tên khác trước đó là rue d’Adran), sau này là Võ Di Nguy và sau 1975 là Hồ Tùng Mậu. Nguồn: flickr.com/manhhai

Vào năm 1887, người Pháp cho lấp con kênh và sát nhập hai con đường ở hai bờ lại làm một thành đại lộ Charner. Dân bản xứ gọi nôm là đường Kinh Lấp. Trong ảnh chúng ta thấy cha ông đang trải nhựa cho con đường mới hết sức cực nhọc bằng phương tiện thủ công.


Lấp Kinh Chợ Vải xây đại lộ Charner / Nguyễn Huệ. Nguồn: flickr.com/manhhai

Chợ Bến Thành cũ, hướng nhìn ra đường Kinh Lấp – Charner.

Sinh hoạt ở chợ Charner. Nguồn: Poujade de Ladevèze

Phía trước mặt chợ Bến Thành cũ nhìn ra đường Kinh Lấp – Charner. Có thể đoán ảnh này được chụp khoảng năm 1909-1914, vì ở phía xa ta đã thấy tòa nhà Dinh Xã Tây – nay là UBND TPHCM. Năm 1914 chợ không còn nằm vị trí này.

VIETNAM – COCHINCHINE – SAÏGON – Près du Marché đường bên phải là rue Vannier, sau này là Ngô Đức Kế. Chữ viết tay trên hình ghi ngày 21 Avril 1908. Nguồn flickr.com/manhhai

Con đường bên hông chợ Bến Thành cũ, nay là đường Ngô Đức Kế . Chợ được dời về vị trí hiện nay vào năm 1914. Vị trí chợ cũ nay là tòa nhà Bitexco và kho bạc.

Saigon ca.1900 – Execution on Charner Blvd in front of the Justice de Paix. Xử tử hình bằng máy chém phía trước Tòa Hòa Giải trên đường Charner (Nguyễn Huệ), ngay chỗ trụ đồng hồ ngày nay – Photo taken around the turn of the Century on the Grande Place in Saigon and shows an execution with a Berger guillotine. Nguồn: flickr.com/manhhai

Ít ai ngờ rằng vị trí tháp đồng hồ trước cao ốc Sunwah trên đường Nguyễn Huệ ngày nay từng là pháp trường của người Pháp.



Bò kéo xe qua đường Charner, Saigon 1948. Nguồn: LIFE


… đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ) và Bonnard (Lê Lợi), 1931

Đại lộ Charner – Kinh Lấp nhìn về hướng sông Sài Gòn, tòa nhà ta thấy bên phải ngày nay vẫn còn, đó chính là thương xá Tax.


ĐL Charner nhìn ra sông Sài Gòn. Nguồn: flickr.com/manhahai

Ludovic Crespin – Saigon đầu thập niên 1920: Rond point entre le boulevard Charner et le boulevard Bonnard. Vòng xoay giữa đại lộ Nguyễn Huệ (Charner) và đại lộ Lê Lợi (Bonnard). Giữa vòng xoay là vòng bệ nơi chiều thứ bảy, có đoàn nhạc chơi nhạc giao hưởng hay quân nhạc chơi kèn giải trí cho dân chúng. Người Việt gọi ngã tư này là ngã tư “Bồn Kèn”. Để ý xe buýt chở khách giữa hình và trên đầu xe có biển quảng cáo coiffre-art “Le Gaulois”. Bên phải hình là “auto-hall” nơi bán các loại xe hơi (kể cả xe hãng Citroen) và garage xe. Đối diện với “auto-hall”, bên kia đường là nhà hàng Pancrazi (5). Đằng xa phía trái hình là tòa thị sảnh.
Ludovic Crespin – Saigon đầu thập niên 1920: Place de l’hôtel de ville, boulevard Bonnard, boulevard Charner. Quảng trường tòa đô chính, góc đại lộ Bonnard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ). Chính giữa đường Lê Lợi là công viên, và có tượng của Francis Garnier nhìn về phía nhà hát thành phố. Bên phải hình là tiệm “Auto-Hall” bán các loại xe hơi. Bên trái hình là nhà hàng Pancrazi mở đến tối khuya (5). Những người kéo xe, phía phải hình, đang nhìn về phía người chụp ảnh (Crespin).

Một hướng nhìn khác của Đại lộ Charner về phía Dinh Xã Tây. Tiếc là công viên nhỏ ở trong hình ngày nay đã không còn nữa.

Vào thập niên 50, Đại Lộ Charner – Nguyễn Huệ là một trong những con đường đẹp nhất của Hòn Ngọc Viễn Đông – Sài Gòn. Trên không ảnh chúng ta có thể thấy đàng xa là hai tháp chuông của nhà thờ Đức Bà.

Sinh hoạt trên ĐL Charner / Nguyễn Huệ

Saigon 1882 – CAFE RESTAURANT DE MARSEILLE – Quai de Commerce (bến Bạch Đằng ngày nay). Nguồn: flickr.com/manhhai

Chợ Tết trên ĐL Charner.



Gánh nước. Saigon – boulevard Charner. Đây là đường Bến Chương Dương, đoạn gần cầu Mống (thấy mờ mờ ở phía bên phải ảnh), nhưng trên postcard ghi là ĐL Charner.



Kiosque hoa trên ĐL Nguyễn Huệ. Nguồn: delcampe.net.

ĐL Charner với những kiosqe bán hoa. Nguồn: flickr.com/manhhai.com

Quán cơm trưa trên đường Nguyễn Huệ (1966). Nguồn: vietnamese.org.au/

Taxi, xích lô máy ở góc Lê Lợi/Nguyễn Huệ Sài Gòn. Nguồn: vietnamese.org.au/


Chợ hoa Nguyễn Huệ.

Chợ hoa Nguyễn Huệ (circa 1966-7). Nguồn: flickr.com

Trước năm 1975, đại lộ Nguyễn Huệ thật sầm uất và đầy màu sắc.

Trải qua hơn 200 năm hình thành và phát triển, đại lộ Nguyễn Huệ đã biến đổi từng bước theo thời cuộc và cho đến ngày nay nó vẫn là con đường đẹp bậc nhất của Sài Gòn hoa lệ.

Theo 8saigon