Sunday, December 29, 2024

DÂN TỘC DUY NHẤT NÀO Ở TRUNG QUỐC NÓI TIẾNG VIỆT, ĂN NƯỚC MẮM, ĐÁNH ĐÀN BẦU?

Trải qua hơn 500 năm lịch sử, dân tộc Kinh tại Trung Quốc vẫn giữ những nét văn hóa truyền thống, dùng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp hằng ngày.

Dân tộc Kinh

Theo báo Dân Trí ngày 10/04/2023 có bài viết với tiêu đề: "Dân tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt, ăn nước mắm, đánh đàn bầu". Nội dung cụ thể:

"Yêu nhau cởi áo ối à trao nhau. Về nhà dối rằng cha dối mẹ a à a á a qua cầu, tình tình tình gió bay" - giọng hát hòa vào tiếng gảy đàn bầu cổ khiến chúng tôi không khỏi xúc động khi được nghe ở bên kia biên giới nước bạn.


Thấy khách đến nhà, bà Tô Tiết - người phụ nữ thuộc bộ tộc Kinh - thì tay bắt mặt mừng khoe: "Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây này!".

Dù đã 500 năm trôi qua, trong làng chài nhỏ Vạn Vĩ (thị trấn Giang Bình, TP Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nhiều người bà con như bà Tô Tiết vẫn dùng lời ca, tiếng hát để giữ gìn tiếng mẹ đẻ và văn hóa Việt Nam.

Bà Tô Tiết là một trong những người thuộc dân tộc Kinh còn nói sõi tiếng Việt (Ảnh: Diệp Bình).

Bộ tộc duy nhất ở Trung Quốc nói tiếng Việt

Cách cửa khẩu Móng Cái 30 km về hướng Bắc, thành phố Đông Hưng (Trung Quốc) hiện ra với những dãy nhà cao tầng, trung tâm thương mại sầm uất. Ở đây, vùng làng chài Tam Đảo là nơi sinh sống duy nhất của bộ tộc Kinh. Và hằng ngày họ vẫn dùng tiếng Việt giao tiếp, con em được giáo dục thông qua những cuốn sách giáo khoa bằng ngôn ngữ mẹ đẻ.

Theo gia phả ghi lại, vào thế kỷ thứ 17, một bộ phận người Việt từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đã sang Tam Đảo (Trung Quốc) định cư và hành nghề chài biển. Thời đó chữ quốc ngữ chưa ra đời nên tất cả sổ sách, chữ viết là chữ Nôm.

Ban đầu, vùng đất này có 3 thôn là Vạn Vĩ, Mu Đầu và Sơn Tâm, chưa đầy 100 người với 12 dòng họ: Tô, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Vũ, Bùi, Cao, Ngô, La, Cung, Khổng và Lương.

Dù 500 năm, nhiều cư dân ở Tam Đảo vẫn giữ gìn những nét văn hóa của quê hương Việt Nam (Ảnh: Lê Phong).

Sau này, nhờ sự bù đắp phù sa nên 3 hòn đảo đã hợp thành đất liền và phát triển thêm một số thôn xóm khác. Thế nhưng, cái tên Tam Đảo vẫn còn giữ nguyên vẹn. Đồng thời, bộ tộc có nguồn gốc Việt Nam được ghi nhận là tộc Kinh cùng 56 dân tộc khác của Trung Hoa.

Trải qua 500 năm, Tam Đảo hiện nay ước tính có gần 20.000 người gốc Việt thuộc thế hệ thứ 9-10. Mặc dù đã không còn mối liên hệ với gốc gác tại Việt Nam, thế nhưng họ vẫn luôn giữ gìn bản sắc, ngôn ngữ mẹ đẻ thông qua việc sử dụng hằng ngày.

Chiếc áo dài xuất hiện tại Trung Quốc (Ảnh: Lê Phong).

Nói tiếng Việt, biết đánh đàn bầu, ăn nước mắm

Dường như bỏ mặc thời gian, làng chài Vạn Vĩ hiện ra đầy đủ những nét bản địa với cây đa, bến nước, mái đình. Đặc biệt, ngay trước cổng làng, chính quyền địa phương đã cho xây dựng một bảo tàng, lưu giữ tất cả văn hóa của người Việt Nam để nhắc nhở cội nguồn cho con cháu bộ tộc Kinh.

Hình ảnh tranh vẽ rước kiệu, áo dài, điếu cày, chum vại, vó đánh cá, truyện Thạch Sanh hay những món đặc sản nước mắm, bún, miến, đồ khô tẩm ướp gia vị… khiến chúng tôi không khỏi xúc động.

Bảo tàng tại Tam Đảo nơi lưu giữ những văn hoa của người Việt (Ảnh: Diệp Bình).

Bước vào bên trong làng, thấy chúng tôi là khách phương xa, một cụ bà ngoài 80 đặt câu hỏi: "Người Việt Nam sang hả?". Nhận sự gật đầu, cụ nở nụ cười niềm nở. Dù chưa từng nghe qua địa danh TPHCM, nhưng biết tôi là người Việt gốc, cụ vẫn rất tự hào.

Đón chúng tôi trước cửa nhà, cô Tô Tiết với giọng tiếng Việt sõi của mình đã khoe ngay với gia đình: "Người Việt Nam đây này. Người Kinh qua thăm người Kinh đây".

Cô Tiết chia sẻ, tổ tiên cô đã sang vùng biển này lập nghiệp được hơn 500 năm. Mặc dù từ đó chưa từng quay về Việt Nam tìm gốc gác, thế nhưng bằng việc cùng ba mẹ sử dụng tiếng Kinh nên bà đều có thể nghe và hiểu. Mãi đến đời con cháu hiện tại đã sinh sống với người Hán, nói tiếng phổ thông nên việc duy trì trở nên khó khăn.

Thế nhưng, dường như cái cảm giác thèm tiếng Việt khiến bà cứ tay bắt mặt mừng, hỏi đủ chuyện về phía bên kia biên giới.

"Hàng xóm ở đây chủ yếu là người Kinh, từ 12 đến 17 tuổi thì có thể nói tiếng Việt. Mặc dù đã không trở về quê hương, nhưng ai cũng có ý thức giữ nguyên văn hóa bản địa…" - bà Tiết nói.

Bà Tô Tiết gảy đàn bầu cổ chiêu đãi khách phương xa (Ảnh: Lê Phong).

Bên cạnh ngôn ngữ, tộc Kinh ở Trung Quốc vẫn giữ gìn đầy đủ văn hóa lễ Tết của Việt Nam. Đặc biệt với ngư dân, ngày 6/9 hàng năm luôn là lễ hội lớn nhất để người dân cầu mưa thuận gió hòa.

"Từ thời mẹ nằm trong đoàn văn nghệ làng, nên tôi đã tiếp xúc với đàn bầu cổ, sáo trúc, và hát các làn điệu dân tộc. Cứ vào ngày cầu Hải Long Vương tôi sẽ đảm nhiệm đàn hát. Ba đảo làm lễ ba ngày khác nhau, giúp dân làng đổ về đó chung vui và cầu may" - cô Tiết chia sẻ thêm.

Người dân vẫn dùng tiếng Việt để giao tiếp hằng ngày (Ảnh: Lê Phong).

Khung cảnh sống yên bình ở làng Vạn Vĩ (Ảnh: Lê Phong).

Chị Nương (hướng dẫn viên du lịch tại Trung Quốc) nói: "Tam Đảo hiện nay là nơi duy nhất còn sử dụng tiếng Việt. Thậm chí, trên các biển báo giao thông vẫn còn đề chữ quốc ngữ cho người dân sử dụng.

Ở đây lâu, mình đã gặp rất nhiều bà con Kinh. Họ rất tự hào dân tộc, mến khách và có lòng tự tôn lưu, giữ văn hóa cao".

Sau đó, theo báo Chất lượng và Cuộc sống ngày 3/10/2024 cũng có bài viết với tiêu đề: "Kỳ lạ bộ tộc duy nhất Trung Quốc dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp, ăn nước mắm, chơi đàn bầu". Nội dung như sau:

Tộc duy nhất nói tiếng Việt ở Trung Quốc

Cách cửa khẩu Móng Cái khoảng 30km về phía Bắc, thành phố Đông Hưng (Trung Quốc) ngày càng phát triển với những dãy nhà cao tầng và các trung tâm thương mại sầm uất. Tại đây, làng chài Tam Đảo là nơi duy nhất mà bộ tộc Kinh sinh sống. Hằng ngày, họ vẫn sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và con em được học qua những cuốn sách giáo khoa bằng ngôn ngữ mẹ đẻ.

Theo gia phả ghi lại từ thế kỷ 17, một bộ phận người Việt từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đã sang Tam Đảo (Trung Quốc) định cư và hành nghề đánh bắt hải sản. Thời đó, chữ quốc ngữ chưa ra đời nên mọi sổ sách, văn bản đều được ghi chép bằng chữ Nôm.

Bộ Kinh ở Trung Quốc còn lưu giữ nhiều nét đặc trưng trong văn hóa của người Việt. 

Ban đầu, khu vực này gồm ba thôn: Vạn Vĩ, Mu Đầu và Sơn Tâm với số dân chưa đến 100 người thuộc 12 dòng họ: Tô, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Vũ, Bùi, Cao, Ngô, La, Cung, Khổng và Lương.

Nhờ phù sa bồi đắp, ba hòn đảo sau này đã hợp thành đất liền và phát triển thêm nhiều thôn xóm khác, nhưng tên gọi Tam Đảo vẫn được giữ nguyên. Cộng đồng người gốc Việt này được ghi nhận là tộc Kinh, một trong 56 dân tộc của Trung Quốc.

Sau 500 năm, Tam Đảo hiện có gần 20.000 người gốc Việt thuộc thế hệ thứ 9-10. Mặc dù không còn mối liên hệ trực tiếp với quê hương, nhưng họ vẫn gìn giữ bản sắc và ngôn ngữ mẹ đẻ thông qua việc sử dụng hằng ngày.

Đánh đàn bầu, ăn nước mắm như người Việt

Dường như bỏ mặc thời gian, làng chài Vạn Vĩ hiện ra đầy đủ những nét bản địa với cây đa, bến nước, mái đình. Đặc biệt, ngay trước cổng làng, chính quyền địa phương đã xây dựng một bảo tàng nhằm lưu giữ toàn bộ văn hóa Việt Nam, nhắc nhở con cháu bộ tộc Kinh về cội nguồn của mình.

Những hình ảnh như tranh vẽ rước kiệu, áo dài, điếu cày, chum vại, vó đánh cá, truyện Thạch Sanh, hay những món đặc sản như nước mắm, bún, miến, đồ khô tẩm gia vị... đã trở thành một phần không thể thiếu trong tiềm thức của mỗi người dân làng chài.

Người dân tộc Kinh tại Trung Quốc chơi đàn bầu. 

Chia sẻ với phóng viên báo Dân Trí, cô Tô Tiết cho biết, tổ tiên cô đã đến vùng biển này lập nghiệp từ hơn 500 năm trước. Dù từ đó đến nay chưa từng trở về Việt Nam tìm lại cội nguồn, nhưng nhờ việc cùng cha mẹ sử dụng tiếng Kinh, cô vẫn có thể nghe và hiểu ngôn ngữ này. Tuy nhiên, đến đời con cháu hiện tại, việc sống chung với người Hán và sử dụng tiếng phổ thông đã khiến việc duy trì ngôn ngữ gốc trở nên khó khăn hơn.

"Hàng xóm ở đây chủ yếu là người Kinh, từ 12 đến 17 tuổi thì có thể nói tiếng Việt. Mặc dù không trở về quê hương, nhưng ai cũng có ý thức giữ gìn văn hóa bản địa…" - bà Tiết nói.

Bên cạnh ngôn ngữ, người Kinh ở Trung Quốc vẫn giữ gìn trọn vẹn văn hóa lễ Tết của Việt Nam. Đặc biệt với ngư dân, ngày 6/9 hằng năm là lễ hội lớn nhất, nơi họ cầu mong mưa thuận gió hòa.

"Từ khi còn nhỏ, do mẹ tham gia đoàn văn nghệ làng, tôi đã có cơ hội tiếp xúc với đàn bầu cổ, sáo trúc và hát các làn điệu dân tộc. Vào ngày lễ cầu Hải Long Vương, tôi thường đảm nhiệm việc đàn hát. Ba đảo tổ chức lễ vào ba ngày khác nhau, tạo cơ hội để người dân từ khắp nơi đổ về chung vui và cầu may",cô Tiết chia sẻ.

Chị Nương, hướng dẫn viên du lịch tại Trung Quốc, cho biết:

Nhiều người trẻ của bộ Kinh vẫn sử dụng và giữ gìn tiếng Việt. Ảnh: Internet

"Tam Đảo hiện nay là nơi duy nhất còn sử dụng tiếng Việt. Thậm chí, trên các biển báo giao thông vẫn có chữ quốc ngữ để phục vụ người dân.

Trong thời gian sống ở đây, tôi đã gặp rất nhiều bà con người Kinh. Họ rất tự hào về dân tộc, mến khách và luôn có ý thức cao trong việc lưu giữ và phát huy văn hóa".

T.T (Theo Sở Hữu Trí Tuệ)



Saturday, December 28, 2024

LOÀI NAM VIỆT ĐIỂU KHIẾN ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG VÀ DƯƠNG QUÝ PHI ĐAU XÓT

Anh vũ là một loài trân cầm của nước Nam Việt, chẳng những đẹp về mầu sắc, dùng để quan thưởng, lại còn thông tuệ biết nói tiếng người, nên được coi là một cống phẩm vừa quý báu vừa lạ kỳ.


Có một con chim anh vũ của Lĩnh Nam tiến cống từng khiến hai nhân vật nổi tiếng là Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi đau xót không thôi.

Theo sách “Hán Thư – Võ Đế Kỷ” của Ban Cố đời Hán, thì năm 121 trước Công Nguyên, vua nước Nam Việt (nhà Triệu), lúc đó mới lên ngôi được ba năm, vẫn giữ lệ triều cống của cha ông mình, cống cho vua Hán Võ Đế, một loại voi và một loại chim, mà Hán Thư chỉ ghi một cách gọi mộc mạc là “voi dễ bảo, và chim biết nói” (tuần tượng, năng ngôn điểu).

Sang đến đời Đông Hán, có Hứa Thận giải thích “năng ngôn điểu” chính là chim anh vũ. Đến đời Đường Thái Tông Lý Thế Dân, viên quan Bí Thư Thiếu Giám là Nhan Sư Cổ được lệnh khảo đính ngũ kinh văn tự, và chú thích sách “Hán Thư” của Ban Cố, giải thích voi dễ bảo (tuần tượng) là voi đã được nuôi thuần, và hiểu được ý người. Còn chim biết nói (năng ngôn điểu) là chim anh vũ.

(Tranh: Họa sĩ Ito Jakuchu, Public Domain)

Trong lời chú của sách Hán Thư còn dẫn sách “Nam châu dị vật chí” của Vạn Chấn, chẳng những kể rõ các loại chim anh vũ mà còn nói thêm là các nước phía nam đất Giao Châu là xứ sở của loài chim này.

Chim anh vũ bản tính thông minh, lại rất đẹp, nên trở thành một cống phẩm rất quý. Liên quan đến loài chim này có một câu chuyện thú vị được ghi lại như sau:

Khoảng những năm thịnh trị thời Đường Huyền Tông, Đường Huyền Tông rất yêu thích chim. Vị hoàng đế này gọi chim hoàng oanh là Kim y công tử. Trong thành Trường An có một con chim anh vũ phá được án lập công, Huyền Tông phong nó là Lục y sứ giả, giao cho hậu cung nuôi dưỡng.

Bấy giờ vùng Lĩnh Nam dâng chim anh vũ trắng rất đẹp, Huyền Tông và Quý Phi gọi nó là Tuyết y nương. Tuyết y nương ở trong cung rất được sủng ái, được đãi ngộ rất hậu, và cũng được huấn luyện lanh lợi, thuần thục, nhất là nói rất giỏi, nhân đó mà Huyền Tông rất yêu quý.

(Tranh: Họa sĩ Ito Jakuchu, Public Domain)

Huyền Tông ngâm tụng thơ của mấy các nhà thơ đương thời, sau khi ngâm qua mấy lần, Tuyết y nương đã có thể thuộc, nó đọc lên không nhầm. Dương Quý Phi dạy Tuyết y nương Tâm kinh, nó thuộc làu làu, ngày đêm không ngừng đọc kinh đó, tựa hồ cầu đảo cho Quý Phi.

Tuyết y nương dường như không rời Huyền Tông và Quý Phi nửa bước, ngày đêm hầu bên cạnh. Huyền Tông thường cùng Quý Phi và chư vương chơi cờ. Khi Huyền Tông sắp thua, thị tụng bèn hô Tuyết y nương, Tuyết y nương nghe mệnh lập tức nhảy lên bàn cờ, dùng chân đạp, xoè cánh ra múa, bàn cờ đành phải bắt đầu lại.

Nhưng một ngày kia, Tuyết y nương đang chơi trong sân điện, đột nhiên gặp phải chim ưng tập kích, sau một hồi quần thảo, Tuyết y nương đã mất. Huyền Tông và Quý Phi nhìn thấy thảm trạng của Tuyết y nương như thế, đau xót không thôi, tình cảm bi thương dâng tràn trong lòng. Tuyết y nương được an táng long trọng trong vườn, lập mộ trủng gọi đó là Anh Vũ trủng.


Trong văn chương cổ điển của Trung Hoa, người ta gọi chim Anh vũ là Nam Việt Điểu, sở dĩ gọi như vậy vì Nam Việt là nơi sinh sản của loài chim này, và vua Nam Việt đã công hiến cho vua nhà Hán.

Nhà thơ Trương Hỗ đời Đường, trong bài thơ “Anh Vũ”, có câu :

Tê tê Nam Việt điểu
Sắc lệ tư trầm dâm.

Theo: Trithucvn

TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN THỊ ĐIỆT TÔN TƯƠNG - HÀN DŨ


Tả thiên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương

Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên,
Tịch biếm Triều Châu lộ bát thiên.
Dục vị thánh minh trừ tệ sự,
Khẳng tương suy hủ tích tàn niên.
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại,
Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền.
Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý,
Hảo thu ngô cốt chướng giang biên.

Tương là Hàn Tương, cháu của tác giả. Truyền thuyết cho rằng Hàn Tương là một trong bát tiên. Liệt tiên truyện kể rằng nhân một bữa tiệc, Hàn Dũ muốn uống trà sen nhưng đang mùa đông nên chẳng tìm đâu ra sen. Hàn Tương lấy một mảnh lụa phủ lên chiếc lọ cắm hoa, phút chốc từ lọ nở ra mấy đoá sen, trên cánh có hai câu luận của bài thơ này. Hàn Dũ lúc bấy giờ không hiểu, mãi khi bị đày đến Lam Quan mới hiểu ra ý nghĩa.


左遷至藍關示姪孫湘

一封朝奏九重天
夕貶潮州路八千
欲為聖明除弊事
肯將衰朽惜殘年
雲橫秦嶺家何在
雪擁藍關馬不前
知汝遠來應有意
好收吾骨瘴江邊


Bị giáng chức đi xa, đến ải Lam dặn lại cháu Tương
(Dịch thơ: của Bùi Khánh Đản)

Sớm dân bản tấu vào cung khuyết,
Chiều đất Triều Châu bị biếm ra.
Muốn bỏ dị đoan cho đất nước,
Quản chi suy hũ tiếc thân già.
Mây ngang Tần Lĩnh, nhà đâu tá?
Tuyết phủ Lam Quan ngựa khó qua.
Hẳn cháu đến đây lòng đã định,
Chướng giang rồi nhặt nắm xương ta.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hàn Dũ 韓愈 (768-824) tự là Thoái Chi 退之, sinh quán ở Nam Dương nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Tổ phụ là người huyện Xương Lê nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê 韓昌黎. Ông sinh năm 768, mất năm 824 và do đó được xếp vào những tác gia của Trung Ðường. Mồ côi cha mẹ từ năm ba tuổi, thuở nhỏ ông có một cuộc sống rất cực khổ, sống chung với anh và khi anh chết thì ông được người chị dâu dưỡng dục cho đến khi thành tài. Tình cảm sâu đậm giữa ông và gia đình người anh sau này đã được ông kể lại trong bài Tế thập nhị lang văn bất hủ.

Nguồn: Thi Viện
Link tham khảo:



CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC THUỘC CHƯƠNG TRÌNH "STAR WARS"

20 nhà khoa học đã chết sau quá trình làm việc trong dự án Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) của cựu Tổng thống Ronald Reagan.

20 nhà khoa học trong dự án Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) đã chết một cách bí ẩn. (Ảnh qua Pinterest)

Những cái chết này xảy ra rất gần nhau và nhắm vào những người từng làm việc trong cùng một dự án. Phải chăng chúng chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?

Trong quá khứ thông tin về các sự kiện quan trọng đã từng bị giật tít để gây sốc cho người đọc, hoặc đôi khi chúng bị bác bỏ như những âm mưu giả dối. Tuy nhiên những âm mưu này được cho là có nhiều điều khuất tất hơn so với những gì chúng ta thấy bề mặt. Một ví dụ điển hình là số phận của các nhà khoa học từng làm việc cho công ty Anh GEC-Marconi vào giữa những năm 1982-1988.

Tất cả họ đã phải nhận lấy cái chết sau quá trình làm việc trong dự án Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) của cựu Tổng thống Ronald Reagan.

Dự án này còn có một tên gọi khác là “Star Wars” (Chiến tranh Giữa Các Vì sao), một chương trình nghiên cứu do Tổng thống Ronald Reagan đề xuất lần đầu tiên vào năm 1983, với mục đích phát triển hệ thống phòng chống tên lửa không gian.

Lý do mà cố tổng thống muốn xây dựng SDI là vì tại thời điểm đó Hoa Kỳ và Liên Xô đã lún sâu trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Ông cảm thấy rằng SDI sẽ giúp Hoa Kỳ chống lại một cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Liên Xô, thông qua việc ngăn chặn sự tiếp cận của tên lửa khi chúng được phóng trong không khí, theo tờ Atomic Archive.

Tuy nhiên để chương trình thành công, nó cần phải được trang bị một số công nghệ tiên tiến chưa từng được nghiên cứu, hoặc phát triển trước đây. Theo tài liệu ghi chép, toàn bộ công việc chi tiết trong dự án đã được tiến hành nhiều năm, nhưng cuối cùng chương trình đã bị chính quyền đình chỉ do nhận thấy có quá nhiều sự phức tạp trong việc phát triển các loại công nghệ cần thiết.

Tại thời điểm dự án được khởi động, công ty GEC-Marconi, một công ty quốc phòng Anh đã tham gia vào dự án SDI. Kết quả là sau đó 20 nhà khoa học được công ty đưa vào làm việc cho chương trình SDI đã chết. Tất cả họ đều chết ngay sau khi khám phá ra những điều quan trọng, hoặc khi họ sắp rời khỏi công ty và chuyển sang một công việc khác tốt hơn. Theo đó, những trường hợp tử vong được ghi nhận trong khoảng thời gian 1982 và 1985, nhưng phần lớn những cái chết này xảy ra nhiều nhất từ giữa tháng 8/1986 đến tháng 10/1988.

Cựu Tổng thống Ronald Reagan và logo dự án Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI). (Ảnh qua thevintagenews.com)

Cũng theo các ghi chép tử vong chi tiết, toàn bộ những cái chết đó đều có nguyên nhân rõ ràng và tưởng chừng như rất đỗi tự nhiên. Điển hình như ông Frank Jennings, kỹ sư vũ khí điện tử 60 tuổi chết vì căn bệnh đau tim vào tháng 6/1987. Hay trường hợp của ông Victor Moore qua đời vì lý do sử dụng thuốc quá liều. Sau đó tòa án đã phán quyết cái kết này là một vụ tự tử.

Trong số những cái chết được ghi nhận trong 2 năm đó, hầu như nguyên nhân gây ra cái chết đều giống nhau là tự tử hoặc tai nạn. Đây là điều vô cùng kỳ lạ. Nhất là khi có rất nhiều điểm giống nhau về cách thức tử vong. Cụ thể, một nhà khoa học đã lái chiếc xe của mình chạy băng ra khỏi cây cầu và rơi xuống sông tử nạn. Một nhà khoa học khác vô ý té ngã từ cửa sổ của căn phòng khách sạn chết ngay tại chỗ. Năm người kế tiếp tử vong vì bị ngộ độc khí Cacbon monoxit trong xe hơi, hoặc nhà để xe của mình. Hai trường hợp tử vong được ghi nhận là do sự cố nghẹt đường hô hấp trong một “thí nghiệm tình dục”. Duy nhất chỉ có hai trong số các ca tử vong không thể giải thích được.

Đó là vào tháng 10/1986, ông Ashad Sharif được cho là lái xe đến một công viên công cộng, buộc sợi dây ni lông quanh cổ vào một cái cây lớn. Sau đó ông phóng xe đi với tốc độ nhanh bất ngờ khiến cho đầu bị đứt lìa ra.

Trường hợp thứ 2 là vào tháng 4 năm sau, nhà khoa học Shani Warren bị chết vì đuối nước trong khu vực có mực nước chỉ cao 0,4m. Khi đó, bà Warren bị trói chặt cả hai tay phía sau lưng và hai chân. Trên cổ bà vẫn còn nguyên sợi dây thòng lọng được dùng để thắt cổ. Nhiều người cho rằng nhà khoa học này đã tự mình làm những điều đó, rồi mang đôi giày cao gót 10cm xuống khu vực hồ để tự tử. Nhận định đó đã khiến các điều tra viên tuyên bố cái chết của bà không phải một vụ mưu sát và bản án vẫn để mở cho đến ngày nay.


Tuy nhiên có một điều trùng hợp là khu vực hồ bơi mà bà Warren được tìm thấy rất gần với địa điểm một nhà khoa học khác đã rơi khỏi chiếc cầu trên con đường sắt và chết trong cùng một ngày. Liệu rằng đó có phải âm mưu của chính phủ? Thực tế chúng ta không thể biết được, nhưng rất khó để tin rằng hàng loạt cái kết đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Những cái chết rất gần nhau và nhắm vào những người từng làm việc trong cùng một dự án.

Hơn nữa nhiều sự cố xảy ra trong những hoàn cảnh vô cùng kỳ lạ hoặc bí ẩn. Đôi khi chúng có mối liên quan mật thiết về vị trí địa lý, thời gian và nguyên nhân tử vong. Vậy rốt cuộc những nhà khoa học này đã bị các “diễn viên” của ngành công nghiệp quốc phòng và chính phủ sát hại? Hay họ bắt buộc phải tìm đến cái chết vì những điều mà họ được biết khiến họ cảm thấy không thể sống tiếp? Đây vẫn luôn là một bí ẩn.

Theo: Tinh Hoa
Link tham khao:





3 LOÀI THỰC VẬT "CỔ TÍCH" VÀ "CỰ BÁ" TRONG LÀNG SINH TỒN THẾ GIỚI

Là những sinh vật kỳ lạ và cực kỳ quý hiếm, ba loài thực vật này còn khiến cả thế giới ngỡ ngàng về khả năng sinh tồn 'quái gở' của chúng.


"Đèn lồng cổ tích" Nhật Bản: Thực vật không lấy năng lượng từ quá trình quang hợp mà sống nhờ nấm

Đại diện của chi Thismia cực kỳ hiếm và thường bị đe dọa tuyệt chủng. Điều này cũng áp dụng cho loài liên quan Thismia rodwayi, có nguồn gốc từ Úc. Thực vật thuộc chi Thismia là những sinh vật kỳ lạ: 'Chúng không cần chất diệp lục mà đáp ứng nhu cầu năng lượng với sự trợ giúp của nấm'. Trong số khoảng 90 loài được mô tả, phần lớn được coi là có nguy cơ tuyệt chủng cao hoặc đã tuyệt chủng.

Cho đến nay, người ta chỉ biết đến một mẫu vật duy nhất của loài Thismia kobensis, được tìm thấy gần thành phố Kobe vào tháng 6 năm 1992. Bất chấp nhiều thập kỷ tìm kiếm tích cực ở khu vực xung quanh địa điểm phát hiện, không có thêm đại diện nào được tìm thấy và Thismia kobensis được coi là đã tuyệt chủng.

Là loài thực vật có kích thước nhỏ và chứa nhiều màu sắc, khiến nhiều người cảm giác loài cây này được thắp sáng từ bên trong, nên Thismia kobensis còn có biệt danh là cây "đèn lồng cổ tích". T. kobensis mọc dưới lòng đất và chỉ trồi lên bề mặt trong thời gian ngắn dưới dạng những bông hoa phức tạp giống chiếc đèn lồng. Do thiếu diệp lục, loài thực vật bí ẩn này không thể quang hợp, thay vào đó, nó ký sinh trên nấm để lấy một phần hoặc toàn bộ dưỡng chất cần thiết.

Thismia kobensis

Mặc dù có hoa sặc sỡ nhưng Thismia rất khó quan sát: Chúng mọc ở tầng rừng và những bông hoa nhỏ của chúng thường bị tán lá che khuất. Tuy nhiên, việc thiếu ánh sáng không phải là vấn đề đối với cây vì chúng không quang hợp mà lấy chất dinh dưỡng từ các loại nấm đặc biệt. Tuy nhiên, theo nghiên cứu, việc phụ thuộc vào nấm này cũng có thể gây tử vong cho Thismia. Nấm phản ứng nhạy cảm với lượng chất dinh dưỡng dư thừa trong đất và thích rừng nguyên sinh, nơi có nhiều nguy cơ hơn bao giờ hết.

Mối quan hệ phức tạp giữa thực vật, nấm và cây cối khiến việc nhân giống nhân tạo Thismia trở nên rất khó khăn, nhưng theo các nhà nghiên cứu, việc tìm hiểu thêm về các loài thực vật quý hiếm vẫn rất đáng giá. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng việc phát hiện lại Thismia kobensis có thể tạo động lực cho việc bảo vệ rừng địa phương.

'Cây thích nhào lộn' măng tây vân sam

Nếu bạn đi dạo trong rừng vào đầu Hè thỉnh thoảng vô tình nhìn thấy một loài thực vật kỳ lạ trong đám rêu: thân cây nhợt nhạt, cong cong như chiếc gậy chống, với những bông hoa nhợt nhạt ốm yếu. Thứ mọc ở đó là măng tây vân sam, một loại cây kỳ lạ là trọng tâm của một trong 25 bài tiểu luận trong cuốn sách của nhà sinh vật học người Thụy Sĩ Ewald Weber. Măng tây vân sam nhạt ký sinh các loại nấm sống cộng sinh với cây và nhận carbohydrate từ chúng để đổi lấy nước và muối dinh dưỡng.

Do thiếu chất diệp lục nên măng tây vân sam chỉ có thể tồn tại dưới dạng ký sinh trùng

Đối với thực vật, loài thực sự điều khiển hệ sinh thái trái đất với tư cách là nhà sản xuất chính, đó là một bước tiến lớn từ "tự nuôi dưỡng đến tiêu thụ chất hữu cơ từ các sinh vật khác". Và khi làm như vậy, măng tây vân sam cũng "chọn" một "chiến lược" đặc biệt thông minh. Nó không trực tiếp ký sinh trên cây, vì nếu chết thì cũng coi như xong, thay vào đó, nó tập trung vào nấm rễ, loài có mạng lưới ngầm kết nối nhiều cây với nhau.

Cây không thể chết Welwitschia mirabilis

Bộ gen của loài thực vật sa mạc Welwitschia mirabilis đã được giải mã. Điều này cung cấp nhiều ý tưởng về cách thực vật có thể chống chọi với khủng hoảng khí hậu.

Sự tồn tại của nhiều loài thích nghi với môi trường khô hạn từ lâu đã chứng minh rằng sa mạc Namibia hoàn toàn không phải là một nơi thù địch và thiếu sự sống. Nhưng tên của một loại cây đã mê hoặc nhiều nhà khoa học nhờ khả năng thích nghi cực lớn của nó, có thể được hiểu gần như theo nghĩa đen: "Tweeblaarkanniedood" được gọi là Welwitschia mirabilis ở Namibia – tiếng Nam Phi có nghĩa là "hai chiếc lá không thể chết". Để sinh tồn, loài nào cũng cần nước và thức ăn. Tuy nhiên, với Welwitschia Mirabilis, chỉ cần khoảng 8 ml nước là đủ cho cả năm. Một phần nhỏ nước này đến từ mưa, phần khác là từ sương

Người ta cho rằng loài cây có hạt thuộc bộ Gnetales đã được tìm thấy trên trái đất ít nhất 112 triệu năm. Nó phát triển đặc hữu ở sa mạc Namib ở miền Nam châu Phi và được phát hiện vào năm 1859 bởi nhà thực vật học người Áo Friedrich Welwitsch. Kể từ đó, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu loài cây kỳ diệu này, có thể sống tới vài trăm năm nhưng suốt cuộc đời nó chỉ có hai chiếc lá xòe ra mọi hướng.

Welwitschia mirabilis

Welwitschia là một loài thực vật hạt trần quý hiếm. Thực vật hạt trần là một loại thực vật không tạo ra hạt trong quả mà dễ dàng được tìm thấy trên bề mặt thực vật, trên lá hoặc đầu thân cây.

Welwitschia mirabilis bao gồm hai lá lớn vĩnh viễn cùng với gốc thân và rễ. Những chiếc lá này rộng và có màu xanh nhạt. Khi những chiếc lá dày phát triển, chúng sẽ chia thành nhiều đoạn. Điều này tạo cho cây có vẻ ngoài giống như có nhiều lá.

Trước khi Welwitschia phân chia thành nhiều rễ mỏng, rễ sâu của cây sẽ đâm xuống lòng đất với độ sâu 1,5 mét, thậm chí hơn. Người ta tin rằng rễ cái của Welwitschia mirabilis phải tiếp cận được nguồn nước sâu do vùng Namib nhận được rất ít mưa. Rễ cái được biết là có khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và nước từ đất. Thân của Welwitschia rỗng và ngắn, có tán gỗ không phân nhánh.

San San (faz.net, spektrum, deutschlandfunk,)



Friday, December 27, 2024

KHÁM PHÁ ĐÔN HOÀNG - HÒN ĐẢO XANH CÔ ĐƠN GIỮA SA MẠC KHÔ CẰN

Nằm trên con đường tơ lụa, Đôn Hoàng là điểm giao thương quan trọng bậc nhất giữa phương đông và phương tây. Trung Quốc đang đổ hàng tỷ USD để làm sống lại con đường nổi tiếng này.


Nguyệt Nha Tuyền có tuổi đời ước tính khoảng 2.000 năm tuổi, phần nhiều đã bị tàn phá do sa mạc hóa. Trong nhiều thế kỷ, nơi đây được ví như hồ nước trên sa mạc, hay khuôn miệng kiều diễm của một người đàn bà đẹp do có hình bán nguyệt.


Ngoài ốc đảo, ở đây còn có một trảng cát khổng lồ được gọi là Minh Sa, nghĩa là “cát hát”. Người ta đồn rằng tiếng hát của cát ở sa mạc Gobi là để ám ảnh các thương nhân trên con đường tơ lụa.


Gobi là sa mạc lớn nhất châu Á. Người Trung Quốc thường gọi đó là Biển Vô Tận. Là một thị trấn ốc đảo, Đôn Hoàng như một hòn đảo xanh cô đơn giữa chốn khô cằn gió cát. Tuy nhiên, sa mạc Gobi có địa hình rất đa dạng tùy theo khí hậu từng vùng.


Truyền thuyết kể rằng, có một nhà sư khất thực tên là Le Zun. Một đêm vào năm 366 sau Công nguyên, nhà sư nhìn thấy hàng ngàn đức Phật tỏa sáng trên bầu trời Minh Sa. Sau đó, ông làm một ngôi đền với bức tượng Phật bằng vàng ở vách núi bên sông. Sau này, một nhà sư khác có pháp danh Fa Liang đến thăm Đôn Hoàng và tạo một chiếc hang thứ 2. Trong vòng vài thập kỷ, 70 hang động đã được chạm khắc ở Mạc Cao.


Trải qua 1.000 năm, các nghệ sĩ đã tạo ra hơn 700 ngôi đền trong hang với 45.000 m2 các bức bích họa. Đây là di sản được UNESCO bảo vệ và thu hút rất nhiều khách du lịch.


Sự tiến bộ về kiến trúc của các hang Mạc Cao phản ánh ảnh hưởng từ Trung Quốc và các khu vực phía tây. Nhiều hang được cải tạo vào các triều đại sau này.


Đối với các nhà sư Mạc Cao, nghệ thuật thị giác có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền các học thuyết tôn giáo. Để tạo ra những bức bích họa này, người ta phải đổ 3 lớp thạch cao lên một bức tường bằng phẳng để vẽ.


Hiện có khoảng 2.415 bức tượng còn tồn tại ở Đôn Hoàng, nhiều bức được khôi phục từ triều Thanh. Trong các triều đại trước, mặt sau các bức tượng được gắn vào tường, đầu được làm riêng, sau đó đặt lên thân. Đến thời nhà Đường, các bức tượng mới được hoàn toàn tách ra.


Trong thời Đường, có 2 bức tượng Phật khổng lồ được xây dựng tại đây, phản ánh sức mạnh và sự tự tôn của đế chế bấy giờ.


Hang từ thời Đường được coi là đỉnh cao ở Mạc Cao. Không giống như các bức tượng từ các triều đại trước, những bức tượng tách rời của thời này có thể được chiêm ngưỡng từ mọi phía. Màu sắc rực rỡ và các chi tiết sắc nét từ trang phục của tượng cũng phản ánh cuộc sống sung túc của các nhà sư thời bấy giờ.

Theo: Zing News



ĐỀ PHÁ SƠN TỰ HẬU THIỀN VIỆN - THƯỜNG KIẾN


Đề Phá Sơn tự hậu thiền viện

Thanh thần nhập cổ tự,
Sơ nhật chiếu cao lâm.
Khúc kính thông u xứ,
Thiền phòng hoa mộc thâm.
Sơn quang duyệt điểu tính,
Đàm ảnh không nhân tâm.
Vạn lại thử câu tịch,
Duy văn chung khánh âm.

Chùa Phá Sơn tức chùa Phúc Hưng, ở huyện Thường Thục, tỉnh Giang Tô.


題破山寺後禪院

清晨入古寺
初日照高林
曲徑通幽處
禪房花木深
山光悅鳥性
潭影空人心
萬籟此俱寂
惟聞鐘磬音


Đề thiền viện sau chùa Phá Sơn
(Dịch thơ: Hải Đà)

Dừng chân trước cổng chùa xưa
Cây cao, nắng sớm đong đưa lá cành
Đường nghiêng dốc vắng quanh quanh
Xum xuê hoa cỏ ngát xanh cửa thiền
Núi quang cảnh đẹp vờn chim
Hồ trong, nước phẳng, lòng yên tịnh nhàn
Cảnh trời im lặng vắng hoang
Xa nghe rền rĩ tiếng chuông vọng về.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thường Kiến 常建 (708-765) là thi nhân đời Đường, không rõ tự hiệu, người Hình Châu sau chuyển tới Trường An. Ông đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 15 (727) nhưng quan trên không vừa ý nên ông ngao du sơn thuỷ, sau chuyển nhà ẩn cư tại bến Ngạc (tương truyền nay ở núi Hoàng Hạc ở Vũ Xương, Hồ Bắc) một thời gian. Trong năm Thiên Bảo, ông từng nhậm Hu Dị uý. Văn thơ ông còn lại không nhiều, trong đó có bài Đề Phá Sơn tự hậu thiền viện trứ danh.

Nguồn: Thi Viện