Sanh nhằm thạnh thế, Chương như rồng gặp mây, tha hồ bay nhẩy thỏa tang bồng. Tánh Chương lại lạc quan, phóng khoáng, nên thơ ông thênh thênh tự tại, luôn tìm được niềm vui ngay trong nỗi ưu phiền.
Chỗ thành công nhứt trong thơ ông, là nắm bắt được những cảm xúc chân thực của tình người. Tiêu biểu là hai bài “Hồi hương ngẫu thư”.
Trong hai bài nầy thì Bài một để lại ấn tượng sâu đậm, được tán thưởng hơn hết.
Tới nỗi nó vô luôn sách giáo khoa môn Văn (không rõ lớp mấy, chỉ biết sách cấp Hai) của Việt Nam ta. Mà ở xứ mình, thơ được đưa vô giáo khoa thư là kể như tiêu; chúng thả cửa phá cho tanh bành, đách còn ra đám ôn.
Bài “Hồi hương ngẫu thư” theo đó cũng được đám biên soạn giáo khoa lèo lái, nhồi nhét đủ kiểu chúng có thể tưởng tượng ra.
Mà thôi, bỏ qua tụi đó. Nói thêm một hồi nóng máu mất hay. Cứ bàn luôn vô bài cho đã cái nư!
* * *
《回鄉偶書》HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ
少小離家老大回 Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
鄉音無改鬓毛衰 Hương âm vô cải, mấn mao tồi
兒童相見不相識 Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
笑問客從何處來 Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
NGẪU HỨNG LÚC VỀ QUÊ
Ra đi từ nhỏ, tới già đầu mới về,
Giọng quê không đổi, nhưng tóc đã rụng xơ xác.
Đứa nhỏ gặp mình, không quen biết
Cười hỏi: Ông khách xứ nào tới đây?
Toàn bài tuôn một hơi đúng điệu ngẫu hứng. Giọng thơ chơn chất, giản dị, bao nhiêu ý tứ cứ lộ hết ra, tưởng khỏi phải nói gì thêm.
* * *
Vậy mà nhờ ơn đám soạn giáo khoa, lại thành ra có chỗ cần bàn.
Trước hết là “giọng quê”. Nói về cái giọng, người mình ai từng đọc thơ Đynh Trầm Ca hẳn không quên mấy câu nầy:
Quán cóc
bốn thằng
ngồi như mê
Có ai vừa nhắc
chuyện ngoài quê
Ai ca giọng Quảng
nghe thương thế
Bốn cốc hoài hương chảy ngược về
Chỉ vẳng nghe giọng quê thôi, đã đủ làm người xa xứ (không cứ dân Quảng Nôm) bồi hồi.
Thành thử câu “Hương âm vô cải, mấn mao tồi” (Giọng quê không đổi, dù tóc đã thưa), mới được cho là chất chứa buồn khổ lâm ly của đời người, lại trộn thêm tự hào quê hương chất ngất: Tuy trái đất xoay vần, đầu mình thành hai thứ tóc; nhưng hay quá là hay, vẫn còn giữ được giọng quê.
Tức là nhờ “tình yêu quê hương” mà giữ được giọng xưa, chưa tới nỗi mất gốc.
Nhưng thiệt ra, xa xứ lâu năm mà giữ được giọng quê, nào giờ chỉ có dân Bắc-năm-tư: Họ bỏ phiếu bằng chân, dọn nguyên làng vô Nam, rồi tụ lại quây quần sống chung thành giáo xứ, nhờ vậy vẫn giữ được giọng ngoài quê. Còn như mình ên trà trộn xứ người, đố ai khỏi lai giọng?
Vậy hổng lẽ ông thần nước mặn Hạ Tri Chương nói dóc?
Thưa rằng, ổng có dóc đâu, tại dân mình bàn láo thì có!
Bởi hai chữ “hương âm”, mình cứ đinh ninh đó là “giọng quê”, nhưng với dân Tàu lại mang nghĩa khác: Là thổ ngữ.
Nước Tàu minh mông, do nhiều xứ hợp thành. Mỗi xứ đều có thổ ngữ riêng. Như Hạ Tri Chương quê ở Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, nên thổ ngữ là tiếng Ngô Việt.
Chương băm sáu tuổi đậu Trạng nguyên, từ đó làm quan, đi biền biệt một lèo tuốt Trường An, tới tám sáu tuổi mới cáo lão huờn hương.
Suốt năm chục năm hòa mình trong đám quan lại triều đình, ông buộc phải nói toàn tiếng Quan thoại, chẳng có dịp nào được nói tiếng quê mình.
Nghĩ mà coi, cảnh ông về lại Hàng Châu, được xổ tá lả thứ tiếng Ngô Việt xí xô xí xào cho hả sau chừng đó năm. Hỏi trong đời còn gì đã điếu bằng?
Còn “vô cải” đây nghĩa là “không quên”, chớ hổng phải “không đổi”[*].
Nên “hương âm vô cải” chính là “chưa quên, còn nói được tiếng mẹ đẻ”.
Tóm lại, đó là câu thơ sướng tê người, làm gì còn chỗ chứa nỗi buồn nào? Lại càng hổng huỡn tự hào quần què quần cụt gì đâu!
* * *
Kế đó là câu kết. Chú nhóc kia mắc gì chưa nói đã cười?
Chỗ nầy phải ngó qua tánh cách Hạ Tri Chương.
“Đường thư Văn uyển” chép: “Tri Chương tánh tình phóng khoáng, ưa cà rỡn, được nhiều người yêu mến”. Cả “Đường tài tử truyện” cũng thuật tương tợ. Đỗ Phủ còn tả kỹ hơn, trong “Ẩm trung Bát tiên ca” 飲中八仙歌:
知章騎馬似乘船 Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền
眼花落井水底眠 Nhãn hoa lạc tỉnh thủy đề miên
(Hạ Tri Chương cỡi ngựa cứ lắc lư như ngồi xuồng,
Lỡ hoa mắt lọt giếng cũng ngủ tỉnh bơ dưới đó).
Để kể thêm chuyện nầy, đặng biết Hạ Tri Chương phóng túng chịu chơi cỡ nào:
Năm Thiên Bảo nguyên niên (742), Lý Bạch tới Trường An. Bữa đó tình cờ y cụng trán Hạ Tri Chương. Chương vốn hâm mộ Bạch từ lâu, một hai đòi được nghe thơ. Bạch khoái chí ngâm luôn “Thục đạo nan”, làm Chương tròn mắt kinh ngạc: “Coi bộ anh hổng phải loài người, mà là thứ tiên thánh hạ phàm!”
Xong hai đứa kéo vô quán. Nhậu đã đời rồi, mới biết chẳng ai đem theo tiền. Hạ Tri Chương cởi luôn con rùa vàng ở thắt lưng đưa chủ quán đặng thế chân.
Rùa vàng đó là tín vật vua ban cho trọng thần. Vậy mà cha nội tháo ra đưa nhẹ te, oai còn hơn ngày nay đảng viên cầm thẻ đảng!
Chỗ đáng nói là, năm đó Lý Bạch mới bốn mốt, còn Hạ Tri Chương đã tám tư, tức là muốn đẻ tía Bạch còn được. Đã vậy một bên đường đường Quang lộc Đại phu tòng nhứt phẩm, còn bên kia chỉ thư sinh tay trắng.
Trở lại với chú nhóc trong “Hồi hương ngẫu thư”. Thời đó con nít thấy người lạ, thường là giơ đòn gánh thủ thế, hoặc nhát hơn, còn suỵt chó ngăn ngừa từ xa. Lấy đâu ra đứa nhỏ đã chẳng đề phòng thì chớ, còn tươi cười hỏi thăm nầy nọ?
Nếu đã biết tánh lão ngoan đồng kia, ắt sẽ đoán ra. Là khứa lão đã chọc cười thằng nhóc, khiến đôi bên vừa gặp liền bạn bè.
Vị đại quan cáo lão được vua ân cần làm thơ chúc mừng, có thái tử dẫn theo bá quan đưa tiễn. Vậy mà về quê cà rỡn với con nít. Hỏi đó là câu thơ vui hay buồn?
Một đời vẫy vùng phỉ chí, có gì làm buồn được Hạ Tri Chương?
Về quê chưa đầy năm thì ông mất, coi như thỏa nguyện…
_________
[*] Lấy thí dụ cho rõ hơn. Như Luận ngữ có câu:
“Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành; tam niên VÔ CẢI ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hề” 父在觀其志,父沒觀其行;三年無改於父之道,可謂孝矣。Nghĩa là: Khi tía mình còn thì quan sát chí hướng ổng; chừng tía mất thì suy xét cách ổng hành sự. Ít nhứt ba năm sau khi tía mất, vẫn KHÔNG QUÊN lời ổng dạy, mới là có hiếu.
Quan sát chí hướng, suy xét cách hành xử của tía là để coi có gì đáng noi theo không; còn con số “ba năm” là cách nói gọn, tương đương quãng thời gian để tang cha, đồng nghĩa với “suốt đời”.
Lê Vĩnh Húy
Theo: saigonthapcam


