Friday, August 2, 2024

MINH TRANH - LÝ ĐOAN


MINH TRANH - LÝ ĐOAN

Minh tranh kim túc trụ,
Tố thủ ngọc phòng tiền.
Dục đắc Chu Lang cố,
Thời thời ngộ phất huyền.


鳴箏 - 李端

鳴箏金粟柱
素手玉房前
欲得周郎顧
時時誤拂弦


Gảy đàn tranh 
(Dịch thơ: Nguyễn Thị Bích Hải)

Gảy chiếc đàn tranh với phím vàng,
Nõn nà tay ngọc lướt dịu dàng.
Muốn được Chu Lang năng ngoảnh lại,
Mấy phen cố ý lỗi cung đàn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Đoan 李端 tự Chính Kỷ 正己, người đất Triệu, đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 5.

Nguồn: Thi Viện



KHOAI LANG LÀ THỰC PHẨM GẦN NHƯ HOÀN HẢO, ĂN ĐÚNG CÁCH CÀNG BỔ DƯỠNG HƠN

Khoai lang là quán quân trong 10 loại rau củ tốt nhất do Tổ chức Y tế Thế giới bình chọn, đồng thời nó cũng đứng đầu trong 20 loại rau củ chống ung thư do Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Quốc gia Nhật Bản công bố.

Khoai lang rất giàu chất dinh dưỡng, được biết đến như một loại thực phẩm trường thọ từ thời xa xưa. (Ảnh: Shutterstock)

Vì vậy, khoai lang được các chuyên gia dinh dưỡng gọi là thực phẩm sức khỏe cân bằng dinh dưỡng nhất. Vị ngọt của khoai lang được rất nhiều người yêu thích, nhưng cần ăn như thế nào để thực sự đạt được hiệu quả dưỡng sinh?

Khoai lang ở Đài Loan gọi là địa qua, cũng được gọi là cam thự, hồng thự, phiền thự, sơn dụ, phiên dụ, hồng điều, tuyến điều, bạch thự, kim thự, điềm thự, chu thự, chẩm thự, phiên cát, v.v. Nó là một loại cây hai lá mầm lâu năm phổ biến. Thịt khoai chủ yếu có màu trắng vàng, nhưng cũng có loại có màu tím.

Sách cổ Trung y ghi chép rất nhiều về khoai lang: vị ngọt dịu, không độc, thuộc về kinh tỳ, thận, công hiệu bổ trung hòa huyết; ích khí sinh dịch; làm dịu dạ dày; giảm táo bón.

“Bản thảo cương mục” ghi chép

“Người miền Nam khi ăn cơm, ngũ cốc và trái cây, hấp và nướng đều ngon… Người dân biển kéo dài tuổi thọ cũng là do ăn khoai lang thay vì ngũ cốc”. Trung y cho rằng khoai lang bổ chỗ hư, tăng khí lực, bồi bổ tỳ, vị và tăng cường thận âm.

“Cương mục sĩ di” ghi chép

[Khoai lang] bổ trung, hòa huyết, ấm vị, béo ngũ tạng. Những người có làn da trắng và thịt trắng, dùng sẽ lợi phổi và thúc đẩy dịch cơ thể. Khi nấu thêm một miếng gân bò khô, điều trung thì thêm gừng và chà là; (dùng cùng) hồng hoa, có thể điều hòa tỳ huyết.

Khoai lang tím. (Ảnh: Fotolia)

“Bản thảo cầu nguyên” ghi chép

Mát huyết hoạt huyết, dịu dạ dày, giảm táo bón, loại bỏ máu ứ và độc tố trong các cơ quan nội tạng, dãn huyết quản, cầm máu và khát nhiệt, thích hợp nhất cho phụ nữ mang thai. Ăn cùng cá, cá chuối hoa, có thể điều trung bổ hư.

“Kim thự truyện tập lục” ghi chép

“Kiết lỵ… nếu là do ẩm ướt và nóng bức, …hấp củ khoai này, nhai thường xuyên với Thược dược thang, hoặc trộn tinh bột khoai với mật ong mùa đông, có thể chữa khỏi.” Ngày nay, người ta thường dùng cách này như một phương pháp điều trị phụ trợ cho bệnh lỵ.

Ăn khoai lang vào buổi sáng là tốt nhất

Thông thường, việc ăn khoai lang vẫn nên kết hợp với lịch trình ngủ nghỉ và làm việc, tốt nhất nên ăn vào buổi sáng. Bởi từ 7h đến 9h là thời điểm tốt nhất để đường tiêu hóa hấp thụ chất dinh dưỡng. Quá trình trao đổi chất của cơ thể con người sẽ kém đi sau buổi trưa, đường trong khoai lang dễ tích tụ lại, từ đó tạo thành gánh nặng cho cơ thể.

Khoai lang là thực phẩm gần như hoàn hảo

Cô Dương Quỳnh Hoa, Giáo sư tại Khoa Thực phẩm và Dinh dưỡng của Đại học Shih Chien, cho biết khoai lang là “thực phẩm gần như hoàn hảo”, bởi vì nó có lượng calo thấp nhưng hàm lượng protein cao, đồng thời còn có carotene, đồng, vitamin C, E và một yếu tố đang càng ngày càng được coi trọng là lượng chất xơ cao.


Giới học thuật Đài Loan đã bắt đầu tiến hành thí nghiệm trên người về dinh dưỡng của khoai lang vào năm 2017. Nghiên cứu này do Đại học Shih Chien dẫn đầu, tổng cộng có 36 người trong độ tuổi 40-60 tham gia thí nghiệm. Họ ăn các món khoai lang liên tục trong 3 tháng, kết quả thí nghiệm đã được công bố vào cuối năm đó. Một người tham gia cho biết:

“Tôi đã giảm được 4 kg sau khi ăn trong 8 ngày”; một vị tướng về hưu không chỉ giảm cân mà tính tình cũng được cải thiện.

Ăn cả vỏ khoai lang là bổ dưỡng nhất

Nên ăn khoai lang cả vỏ và rửa sạch vỏ trước khi nấu. Ăn khoai lang cả vỏ là cách tốt nhất để hấp thụ chất dinh dưỡng. Do khoai lang được phun khá ít thuốc trừ sâu, vậy nên có thể mua khoai lang chất lượng tốt và nấu chín cả vỏ để hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng. Vỏ khoai lang rất giàu mucoprotein và các polysacarit khác, có thể làm giảm cholesterol trong máu, duy trì độ đàn hồi của mạch máu, ngăn ngừa các bệnh tim mạch như xơ cứng động mạch và tăng huyết áp, v.v.

Lời khuyên khi ăn khoai lang

Người bị nhiều acid dạ dày không nên ăn quá nhiều khoai lang, vì có thể gây trào ngược acid. Những người tỳ vị hư hàn không nên ăn sống loại củ quả này.


Thực phẩm không tương thích với khoai lang

Không nên ăn hồng và chuối cùng với khoai lang. Không nên ăn cà tím và khoai lang cùng lúc, có thể gây khó chịu cho dạ dày, trường hợp nặng có thể dẫn đến các bệnh như loét dạ dày, xuất huyết dạ dày, v.v.

Lâm Quý thực hiện / Toàn Phong thực hiện
Theo: Epoch Times

Thursday, August 1, 2024

TỪ HI THÁI HẬU: 3 LOẠI BẢO BỐI "BÍ MẬT" ĐẾN THÍCH KHÁCH CŨNG PHẢI SỢ

Dù không biết võ công, thế nhưng 3 đồ vật “hộ mạng” này cũng đủ để Từ Hi Thái hậu có thể hạ gục bất kỳ kẻ nào mang ý đồ hành thích mình chỉ trong chớp mắt.

Từ Hi Thái Hậu. Nguồn ảnh: ITN.

Trong lịch sử Trung Quốc, có một người phụ nữ từng nhiều lần buông rèm nhiếp chính, thậm chí đích thân lập Hoàng đế. Đó không ai khác chính là “Lão Phật gia” khét tiếng vương triều Đại Thanh – Từ Hi Thái hậu.

Bà thường bị xem như là một tội nhân dẫn tới sự diệt vong của vương triều Mãn Thanh. Từ Hi Thái hậu lúc sinh thời đã từng trở thành chủ đề dị nghị và thậm chí còn là mục tiêu ám sát của không ít người.

Vì gây thù chuốc oán với nhiều kẻ thù, vị Lão Phật gia này năm xưa luôn lo sợ có kẻ hành thích mình. Do đó bà đã huy động một số lượng Ngự lâm quân khổng lồ bảo vệ Tử Cấm Thành, cũng an bài không ít những đại nội thị vệ có võ công cao cường ngày đêm túc trực quanh tẩm cung của mình.

Thế nhưng không chỉ dừng lại ở đó, Từ Hi năm xưa lúc nào cũng mang theo bên mình những bảo bối “hộ mạng” hết sức bí mật. Và chỉ khi vị Tây Thái hậu đã buông tay trần thế, những thứ vũ khí phòng thân của bà mới vô tình được tiết lộ cho hậu thế.

Bảo bối thứ nhất: Chiếc gối có tính năng báo động

Trong cuốn hồi ký của nữ quan thân cận Từ Hi là Dụ Đức Linh, nhân vật này từng miêu tả tới một vật dụng phòng thân của Tây Thái hậu có tên gọi “cảnh chẩm” – chiếc gối có tính năng báo động.

Theo đó, “cảnh chẩm” dài khoảng 12 thước Anh, bên trong có ruột làm từ hoa khô, lá trà. Nhìn bên ngoài thì chiếc gối này không hề có điểm đặc biệt, thế nhưng điều bí mật lại nằm ở thiết kế đặc biệt của nó.

Gối “cảnh chẩm” có tính năng báo động. Nguồn: ITN

Cụ thể, bên trong chiếc gối báo động nói trên có thiết kế một khoảng trống với chu vi khoảng 2 inch. Chỉ cần nằm lên trên và áp tai vào đúng vị trí này thì có thể nghe rất rõ những âm thanh dù là nhỏ nhất ở xung quanh mình.

Nhờ vào tính năng đặc biệt nói trên, Từ Hi Thái Hậu ngay cả trong lúc ngủ cũng có thể phát hiện ra những động tĩnh bất thường, từ đó biết được liệu có ai đang có ý định tới gần bà hay không.

Cũng theo hồi ức của Đức Linh, một lần tranh thủ lúc Thái hậu không có ở đó, vị nữ quan này đã thử áp tai vào khoảng trống trên chiếc gối báo động để kiểm nghiệm. Và vị nữ quan này đã khẳng định rằng nó có công năng tương tự như một chiếc máy khuếch đại âm thanh.

Bảo bối thứ hai: Quạt ám khí

Bảo bối hộ mạng hữu dụng hàng đầu bên cạnh Từ Hi Thái hậu phải kể tới cây quạt ám khí mà bà thường mang theo bên mình.
Hình dáng của cây quạt này nhìn qua thì hết sức đơn giản, chỉ bao gồm hai phần là phần chuôi làm bằng gỗ tử và phần xương quạt được tạo hình bầu dục, bên trên gắn phủ một lớp lụa mỏng.

Quạt ám khí lợi hại của Từ Hi Thái Hậu. Nguồn ảnh: ITN.

Tuy nhiên trên thực tế thì phần chuôi của cây quạt nói trên đã được tỉ mẩn đục rỗng và thiết kế cơ quan ám khí. Một khi có thích khách, Từ Hi chỉ cần đưa quạt ra đúng phương hướng và ấn vào nút ở chuôi là hàng loạt mũi tên sẽ theo đó bay về phía kẻ địch.

Mặt khác, lớp lụa mỏng được phủ lên xương quạt cũng không làm từ vải lụa thông thường mà được chế tác từ một loại tơ tằm cực bền. Lớp vải này có vẻ ngoài mỏng manh nhưng lại có thể chắn được ám khí từ những kẻ hành thích, thậm chí dùng đao kiếm chém trực diện vài nhát cũng chưa chắc đã có thể xé rách.

Tương truyền rằng, cây quạt này do thái giám thân tín Lý Liên Anh dâng lên để lấy lòng Thái hậu. Giai thoại khác lại khẳng định đó vốn là món quà lấy lòng của Viên Thế Khải dành cho Từ Hi.

Mặc dù còn nhiều tranh cãi xoay quanh lai lịch của thứ vũ khí hộ mạng nói trên, thế nhưng đa số các ý kiến đều khẳng định cây quạt ám khí bên cạnh Từ Hi có giá tạo tác lên tới 3000 lượng bạc trắng và do một kỳ nhân làm vũ khí nổi tiếng kinh thành chế tạo ra.

Bảo bối thứ ba: Vũ khí bí mật tẩm mê hương

Mặc dù là thứ vũ khí phòng thân vô cùng hữu dụng, thế nhưng quạt ám khí chỉ có thể sử dụng vào ba tháng mùa hè, hơn nữa không phải lúc nào cũng tiện cầm trên tay.

Do đó để đảm bảo an toàn cho bản thân, Từ Hi đã không ngừng tìm kiếm một thứ bảo bối phòng thân khác. Và thành quả của công cuộc mày mò này là loại vũ khí bí mật có tẩm mê hương.

Cho tới ngày nay, hình dáng thực của loại vũ khí đặc biệt này vẫn là điều gây tranh cãi. Trong số những giai thoại có liên quan tới lai lịch của chúng thì hai câu chuyện dưới đây được lưu truyền phổ biến hơn cả.

Giai thoại thứ nhất khẳng định rằng, vũ khí tẩm mê hương mà Từ Hi luôn mang theo bên mình chính là bộ đồ bảo hộ móng được bà đeo ở ngón út và áp út của cả hai bàn tay.

Bí mật tẩm mê hương nằm dưới đồ bảo hộ móng tay của Từ Hi Thái Hậu. Nguồn ảnh: ITN.

Theo giai thoại này thì người sáng tạo nên loại vũ khí nói trên là một thị vệ có tên Lý Văn Trung. Năm xưa Từ Hi trong một lần xem các thị vệ đấu võ đã nhìn thấy người này sử dụng loại binh khí đeo trên ngón tay được làm từ thép tinh luyện và tẩm mê hương, nhờ đó mà hạ gục được đối thủ chỉ trong chớp mắt.

Sau đó, Từ Hi đã yêu cầu Lý Văn Trung đặc biệt chế tạo cho mình một bộ đồ bảo hộ móng có kèm thuốc mê để bà có thể mang bên mình phòng thân.

Tuy nhiên ngay khi vừa nhận được món đồ từ Lý thị vệ, Từ Hi đã dùng chính thứ vũ khí ấy để hạ thủ, sau đó lệnh cho các thái giám đem thi thể Lý Văn Trung vứt xuống một chiếc giếng trong hoàng cung để nhằm diệt khẩu.

Giai thoại khác về vũ khí tẩm thuốc mê của Thái hậu lại khẳng định, nhân vật sáng tạo ra món đồ này là một người giỏi tỷ võ tên là Kỳ Tân.

Điểm khác biệt nằm ở chỗ, thứ đồ mà Kỳ Tân dâng lên Thái hậu là công thức chế tạo mê hương. Từ Hi sau đó đã tẩm mê hương này lên một chiếc khăn tay và luôn mang theo bên mình, một khi gặp bất trắc liền phất khăn vào đối thủ nhằm khiến cho kẻ đó mất đi sự tỉnh táo.

Thế nhưng cũng tương tự như Lý Văn Trung, Kỳ Tân trong giai thoại nói trên cũng chịu chung kết cục bị Thái hậu và thân tín Lý Liên Anh giết ngay trong hoàng cung để diệt khẩu.

Nhìn lại cuộc đời của Từ Hi Thái hậu, không khó để nhận thấy ngay cả khi bị coi là nhân vật họa quốc ương dân, vị Lão Phật gia này vẫn có thể ngồi trên ngôi vị Nhiếp chính gần nửa thế kỷ và chỉ buông bỏ quyền lực khi qua đời vì bệnh tật ở tuổi 72.

Có lẽ, việc Tây Thái hậu có thể bảo toàn mạng sống trước hàng loạt thế lực ngày đêm lăm le lấy mạng bà không chỉ nhờ vào đội ngũ thị vệ đông đảo với thân thủ cao cường mà còn phải kể tới vai trò của những món bảo bối “hộ mệnh” nói trên.


Và chỉ tới khi Từ Hi buông tay trần thế, hậu thế mới có thể biết được sự tồn tại của những món đồ ấy thông qua lời kể của một vài nhân vật thân tín bên cạnh bà năm nào như Lý Liên Anh hay nữ quan Đức Linh .

Cũng nhờ đó mà người đời mới hiểu rằng, Từ Hi chẳng những có thủ đoạn thượng thừa trên vũ đài chính trị mà còn là một người luôn biết trù tính cho bản thân. Bởi một khi có những thứ vũ khí bí mật kia kề bên, thì những kẻ mang mưu đồ bất chính thậm chí chẳng có cơ hội tới gần bà chứ chưa nói tới việc ra tay hành thích.

Viên Minh biên tập.
An Nhiên / Theo: vandieuhay

TẠI SAO CHÚNG TA LẠI CÓ LÔNG MI?

Chúng ta cũng như nhiều loài động vật có vú và chim đều có lông mi tiến hóa kéo dài ra ngoài hốc mắt (động vật máu lạnh không có lông mi).

Lông mi có chức năng bảo vệ mắt khỏi những hạt độc hại trong không khí như bụi bẩn, vật thể li ti và cát. Chúng giúp ngăn chặn những hạt này rơi vào mắt. Lông mi cũng bảo vệ đôi mắt khỏi mồ hôi hay mưa rơi vào. Hình dáng của lông mi cong lên là cách tốt nhất để ngăn chặn những giọt nước thấm vào mắt. Tác dụng lớn nhất của nó là giúp mắt khỏi bị ánh sáng quá mạnh chiếu vào ánh sáng phát ra từ mặt trời. Nó có vai trò trong việc lọc ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào mắt của bạn, đồng thời ngăn bụi rơi vào mắt.
Nếu đôi mắt là cửa sổ tâm hồn thì hàng mi chính là tấm rèm che cửa sổ.

Tuy nhiên, thế gian thật bất công, rèm cửa sinh ra có dài có ngắn, có dày có thưa. Một số người có ít lông mi đến nỗi họ sẽ "buồn sâu sắc" rất lâu khi rụng một cái, một số người có lông mi dày do bản chất tự nhiên. Đôi mi đã gắn bó với chúng ta từ khi còn trong bụng mẹ, vậy chúng có công dụng gì? Các yếu tố di truyền có quyết định độ dày của lông mi của chúng ta không?

Trung bình, con người có 90 đến 150 lông mi ở mí mắt trên và khoảng 70 đến 80 lông mi ở mí mắt dưới. Lông mi có thành phần chủ yếu là 97% keratin và 3% độ ẩm.

Ở trạng thái tự nhiên, lông mi sẽ không dài ra sau khi mọc đến một mức độ nhất định, và sẽ tự rụng. Nếu bạn tự nhổ lông mi, sẽ mất khoảng 7 đến 8 tuần để lông mi mọc lại, tuy nhiên việc nhổ lông mi liên tục có thể khiến nang lông mi bị tổn thương vĩnh viễn và lông mi không mọc được nữa. Lông mi cũng có chu kỳ phát triển, cứ khoảng 150 ngày thì lông mi của chúng ta sẽ rụng và mọc trở lại.

Số lượng lông mi ở mỗi người khác nhau tùy thuộc vào nhiều lý do bao gồm yếu tố di truyền, điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sức khỏe và cách duy trì cá nhân. Thanh thiếu niên sẽ có lông mi dài và đầy đặn hơn so với người trưởng thành. Thời gian tái sinh của chúng cũng ngắn hơn.


Chúng ta cũng như nhiều loài động vật có vú và chim đều có lông mi tiến hóa kéo dài ra ngoài hốc mắt (động vật máu lạnh không có lông mi), chức năng sinh lý chính của nó là bảo vệ đôi mắt quý giá.

Lạc đà, được mệnh danh là con tàu của sa mạc, chúng chủ yếu dựa vào lông mi dài và mi dày để chống lại gió, cát và nắng như thiêu đốt. Các chức năng quan trọng của lông mi con người bao gồm giảm sự bốc hơi nước trong mắt (theo ước tính có thể giảm đến 50% lượng nước bốc hơi). Cơ chế là đây: lông mi sẽ tạo thành một hàng rào chuyển hướng những luồng không khí đến mắt và giảm thiểu khả năng luồng không khí thổi trực tiếp vào mắt, vì vậy nó có thể ngăn chặn hiệu quả chứng khô mắt. Ngoài ra, lông mi còn có thể chặn sự kích thích trực tiếp của ánh nắng mặt trời đến nhãn cầu.

Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nhiều hội chứng bẩm sinh có thể kích thích sự phát triển của tóc, dẫn đến lông mi dài thêm. Ví dụ, hội chứng Cornelia de Lange và hội chứng Oliver-McFarlane có thể khiến bệnh nhân có lông mi cực dài.

Các đột biến trong gen FGF5 có thể gây ra lông mi dài bẩm sinh.( FGF là viết tắt của Fibroblast Growth Factor, là một loại protein ngăn không cho tóc mọc quá nhiều và FGF5 kiểm soát sự biểu hiện của gen tạo ra loại protein này).

Nếu gen FGF5 im lặng, lông dài sẽ mọc, bao gồm cả lông mi. Một số người thừa hưởng biểu hiện gen FGF5 thầm lặng từ cha mẹ của họ, và họ cũng sẽ mọc lông mi dài bẩm sinh. Nhưng những trường hợp này rất hiếm.

Lông mi còn thực hiện vai trò giống như râu mèo. Những sợi lông nhỏ bé sẽ có cảm giác khi bạn chạm vào, chúng sẽ cảm ứng và cảnh báo cho biết nếu có một mối nguy hiểm nào đó đang ở gần vùng mắt. Những mối nguy hiểm bao gồm những loại côn trùng, bụi và các mảnh vỡ có thể xâm nhập vào mắt. Mắt và mi mắt sẽ đóng lại để bảo vệ mắt khỏi những nguy hại khi có tác động bên ngoài. Nó làm việc như một lớp hàng rào bảo vệ đầu tiên.
Ngoài ra, một số bệnh nhân sẽ bị tác dụng phụ là làm dài lông mi sau khi dùng thuốc. Ví dụ, bệnh nhân tăng nhãn áp dùng Latanoprost, bệnh nhân ung thư phổi dùng Erlotinib, những loại thuốc này có thể kích thích tế bào nang lông, kéo dài chu kỳ phát triển của chúng, và có thể dẫn đến lông mi dài hơn.

Để làm cho lông mi mọc, người ta đã thử nhiều phương pháp khác nhau: dùng mascara, cấy mi, dung dịch thuốc mọc lông mi, thậm chí dùng thuốc.

Phụ nữ Ai Cập cổ đại bắt đầu bôi thuốc mỡ đen lên lông mi của họ từ năm 4000 sau Công nguyên để làm cho chúng bắt mắt hơn.

Mascara hiện đại có nguồn gốc từ năm 1913 được tạo ra từ bột than và dầu khoáng bằng cách trộn chúng với nhau.


Người ta phát hiện ra rằng thuốc prostaglandin để điều trị bệnh tăng nhãn áp có tác dụng phụ là thúc đẩy sự phát triển của các nang lông mi, làm cho lông mi dài và dày hơn, và loại thuốc này được phát triển đặc biệt để thúc đẩy sự phát triển của lông mi. Ví dụ, La Disi (Latisse), nó là hãng đầu tiên có thuốc mọc lông mi được FDA chấp thuận.

Các chuyên gia chỉ ra rằng prostaglandin là thành phần duy nhất có hiệu quả cho sự phát triển của lông mi. Thật không may, nhiều sản phẩm thúc đẩy sự phát triển lông mi dưới tên prostaglandin lại không bổ sung thêm prostaglandin.

Ngoài ra, nhiều bệnh nhân ở Mỹ đã đâm đơn kiện thuốc mọc lông mi, các loại thuốc có thêm chất prostaglandin dù có hiệu quả cũng nên thận trọng khi sử dụng.

Đức Khương / Theo: Trí Thức Trẻ

YẾN TỬ LÂU (燕子樓) VÀ LỜI TỰA CỦA BẠCH CƯ DỊ (白居易)


Trương Thượng thư ở Từ Châu (tức Trương Kiến Phong) có người con hát yêu tên Miến Miến, giỏi ca múa, phong tư trang nhã xinh đẹp. Tôi làm Hiệu thư lang, tới vùng Hoài Tứ, được Trương thượng thư mời ăn tiệc, lúc rượu say, ông gọi Miến Miến ra ca múa giúp vui. Tôi nhân đó làm bài thơ tặng:
 
贈關盼盼 - 白居易

鳳撥金翎砌,
檀槽后帶垂。
醉嬌無气力,
風裊牡丹枝。
 
Phụng bát kim linh thế,
Đàn tào hậu đới thuỳ.
Tuý kiều vô khí lực,
Phong niểu mẫu đơn chi.

Tặng Quan Miến Miến (Người dịch: mailang)

Lông vàng xếp cánh phượng,
Đàn dứt dây tơ chùng.
Say lả càng kiều diễm,
Mẫu đơn cành gió rung.


Một lần vui rồi chia tay, từ đó về sau tuyệt không biết gì về nàng cả. Đến nay đã mười hai năm, hôm trước quan Tư huân Viên ngoại lang Trương Trọng Tố tự Hội Chi (con Trương Kiến Phong) thăm tôi, nhân ngâm ba bài thơ Yến Tử lâu, lời lẽ dịu dàng đẹp đẽ, hỏi ra thì là thơ của Miến Miến. Hội Chi làm Tùng sự ở Vũ Ninh nhiều năm, biết rõ chuyện Miến Miến, kể rằng Trương thương thư đã chết, phủ đệ cũ ở Bành Thành có một ngôi lầu nhỏ gọi là Yến Tử lâu. Miến Miến nhớ lòng yêu dấu của ông ngày trước nên không lấy chồng, về ở lầu ấy hơn mười năm, nay vẫn còn sống. Thơ Miến Miến như sau:
 
燕子樓 三首 - 關盼盼
 
樓上殘燈伴曉霜
獨眠人起合歡床
相思一夜情多少
地角天涯不是長
北邙松柏鎖愁煙
燕子樓中思悄然
自埋劍履歌塵散
紅袖香消已十年
適看鴻雁岳陽回
又睹玄禽逼社來
瑤瑟玉簫無意緒
任從蛛網任從灰
 
Lầu thượng tàn đăng, bạn hiểu sương
Độc miên nhân khởi hợp hoan sàng
Tương tư nhất dạ tình đa thiểu
Địa giác thiên giai bất thị trường
Bắc khâu tùng bách tỏa sầu yên
Yến Tử lâu nhân tứ tiêu nhiên
Tự mai kiếm lý ca trần tán
Hồng tụ hương tiêu thập nhất niên
Thích khan hồng nhạn Lạc Dương hồi
Hựu đổ huyền cầm bức xã lai
Dao sắt ngọc tiêu vô ý tự
Nhiệm tòng thù võng nhiệm tòng khôi
 
Yến Tử Lâu tam thủ (Người dịch: Nguyễn Phước Hậu)
 
Đèn tàn lầu vắng bạn cùng sương
Giấc ngủ cô đơn trọn chiếc giường
Thao thức một đêm nhiều ít nhớ
Chân trời góc đất cận bên đường
Bắc Mang tùng bách tỏa sương sầu
Xơ xác nhớ về Yến Tử lâu
Ca khúc trần ai chôn với kiếm
Mười năm tay áo nhạt hương màu.
Lúc ngắm nhạn hồng trở Lạc Dương
Gần ngày bức xã thấy chim đen.
Đàn cầm tiêu ngọc như vô ý
Đành để bụi mờ mạng nhện vương.


Tôi yêu thích ý thơ mới lạ, bèn họa lại như sau:
 
燕子樓 - 白居易

滿窗明月滿簾霜,
被冷燈殘拂臥床。
燕子樓中霜月夜,
秋來祗為一人長。
鈿暈羅衫色似煙,
幾迴欲著即潸然。
自從不舞霓裳曲,
疊在空箱十二年。
今春有客洛陽迴,
曾到尚書墳上來。
見說白楊堪作柱,
爭教紅粉不成灰。
 
Mãn sàng minh nguyệt mãn liêm sương,
Bị lãnh đăng tàn phất ngoạ sàng.
Yến Tử lâu trung sương nguyệt dạ,
Thu lai chi vị nhất nhân trường.
Điền vựng la sam sắc tự yên,
Kỷ hồi dục trước tức san nhiên.
Tự tòng bất vũ Nghê thường khúc,
Điệp tại không tương thập nhị niên.
Kim xuân hữu khách lạc dương hồi,
Tằng đáo thượng thư phần thượng lai.
Kiến thuyết bạch dương kham tác trụ,
Tranh giao hồng phấn bất thành hôi.

Lầu Yến tử (người dịch: Nguyễn Phước Hậu)

Phòng vắng đầy tràn ánh nguyệt sương,
Đèn tàn lạnh lẽo ngập chăn giường.
Một đêm Yến Tử lầu sương quạnh
Thu đến người xa nặng nhớ thương.
Nữ trang, áo lụa khói màu phai
Muốn thử bao lần, mắt mủi cay.
Tự định Nghê thường không múa nữa
Mười hai năm xếp chất rương hoài.
Lạc Dương khách lại buổi xuân nầy
Từng viếng thượng thư nấm mộ đây.
Nghe kể bạch dương không trụ nổi
Dặn hồng phấn chẳng hóa tro bay.


Lại tặng nàng một bài thơ tứ tuyệt như sau (bài Cảm cố Trương bộc dịch chư kỹ):
 
感故張仆射諸妓 - 白居易

黃金不惜買蛾眉,
揀得如花只一枝。
歌舞教成心力盡,
一朝身死不相隨。
 
Hoàng kim bất tích mãi nga my,
Giản đắc như hoa chỉ nhất chi.
Ca vũ giáo thành tâm lực tận,
Nhất triêu thân tử bất tương tuỳ.

Cảm người kỹ nữ của ông Trương bộc xạ 
(Người dịch: Hoàng Tạo)

Mua gái mày xanh chẳng tiếc vàng,
Như hoa khéo chọn mấy cô nàng.
Dạy cho múa hát bao công sức,
Một sớm về âm chẳng kẻ màng!


Sau Trọng Tố đem bài thơ của tôi đưa Miến Miến xem, nàng đọc đi đọc lại, khóc nói "Từ Trương công mất, thiếp không phải không dám chết, nhưng lại sợ trăm năm sau, người đời cho rằng công chuộng sắc đẹp nên có thê thiếp chết theo, lại làm nhơ đức tốt của công, đành gượng mà thôi". Bèn làm bài Họa Bạch công như sau:
 
獨宿空樓斂恨眉,
身如春后致殘枝。
舍人不解人深意,
諷道泉台不去隨。
 
Độc túc không lâu liễm hận my,
Thân như xuân hậu trí tàn chi.
Xá nhân bất giải nhân thâm ý,
Phúng đạo tuyền đài bất khứ tuỳ.

Dịch thơ:

Mua gái mài xanh hẳng tiếc vàng,
Như hoa khéo chọn mấy cô nàng.
Dạy cho múa hát bao công sức,
Một sớm về âm chẳng kẻ màng!

Bài tựa của Bạch Cư Dị tới đây là hết. Nhưng theo Trường Khánh tập, sau khi được thơ của họ Bạch, Miến Miến bắt đầu nhịn ăn, mười ngày sau thì chết. Nhưng lại ngâm thơ rằng:
 
兒童不識沖天物,
漫把青泥汙雪毫。
 
Nhi đồng bất thức xung thiên vật,
Mạn bả thanh nê ô tuyết mao.

(Trẻ con chẳng biết loài bay bổng, 
Cứ lấy bùn xanh trát cánh lông).


Hai bài thơ của Bạch Cư Dị đã giết Miến Miến, nhưng trên thực tế, đây cũng không phải là một vụ án mạng Đường thi. Phải đâu họ Bạch không hiểu tâm sự Miến Miến ? Câu cuối trong bài Yến Tử lâu thi cho thấy ông biết nàng không có cớ chết theo Trương Kiến Phong và bài thơ tặng đóng vai một người thương xót họ Trương mà kết án đám con hát bạc tình kia chính là nhằm tạo lý do cho nàng hoàn thành sở nguyện. Và dĩ nhiên Miến Miến cũng hiểu cái ý tứ sâu xa ấy, nên trong bài Họa Bạch công, nàng đã tỏ lòng biết ơn ông bằng cách nhắc lại lời thơ "mẫu đơn" mười hai năm trước. Và chính là nhờ biết Bạch Cư Dị hiểu được tâm sự của mình, nên nàng mới ngạo nghễ nói với người đời rằng vì bị họ Bạch bôi nhọ nên nàng phải chết bằng hai câu thơ trước khi nhắm mắt. Tự ví mình bằng loài én "xung thiên" bị trẻ con trát bùn lên cánh trắng - Bạch Cư Dị có hiệu là Lạc Thiên. Nàng quy trách nhiệm cái chêt của mình về ông, nghĩa là cho người sống chứ không phải về Trương Kiến Phong, để dập hết những đàm tiếu của người sau đối với người chồng mà nàng yêu thương kính trọng. Mới biết cái tâm tình tài tứ, độ lượng tri giao của hạng danh sĩ kỳ nữ, loại người tầm thường có dễ mà theo được đâu!

Chú thích:

Quan Miến Miến còn có tên là Quan Phán Phán, là một danh kỹ đất Từ Châu đời nhà Đường, khoãng niên hiệu Trinh Nguyên và Nguyên Hòa (785-820) được Thượng Thư Trương Kiến Phong nạp làm thiếp.

Nguồn: Thi Viện

5 CÂU NÓI KINH ĐIỂN TRONG "TÂY DU KÝ" HÀM CHỨA ĐẠO LÝ SÂU SẮC

Tác phẩm “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân được viết vào thế kỷ 16, giữa thời nhà Minh. Đây là một trong “Tứ đại kiệt tác” của Trung Quốc, nó được biết đến như một cuốn tiểu thuyết về Thần Phật và yêu ma trong thời cổ đại.


Ngoài ra, một số người cho rằng đây là cuốn sách ghi lại quá trình tu luyện của Đường Tăng và các đệ tử của ông là Tôn Ngộ Không, Chu Bát Giới, Sa Tăng cùng với Bạch Long Mã, đến Tây phương để bái Phật thỉnh kinh, cho nên cuốn sách thuộc về sách tu luyện.

Công sức sáng tạo của Ngô Thừa Ân thực sự khiến người ta khâm phục, bởi vì ông đã mô tả nhiều cảnh và tình huống xuất hiện trong thế giới không có thật. Trí tưởng tượng của ông thật phi thường, có lẽ, chính là ông Trời muốn dùng ngòi bút của ông truyền đạt đạo lý: “Thiện ác, đúng sai”, “Yêu ma tuyệt đối không bao giờ cao hơn chính Đạo”, “Nếu biết giữ cái tâm bất biến không lay động như thuở ban đầu thì lấy kinh tất thành”.

Vì “Tây du ký” chứa đầy những đạo lý kinh điển sâu sắc và những câu chuyện sống động không bị lặp lại, cuốn hút với nhiều tình tiết gay gắt nên cuốn sách rất đáng để đọc lại hàng năm. Hãy cùng nhau xem qua một vài câu nói kinh điển trong đó.

1. Trên đời không việc gì khó, chỉ sợ người không có lòng quyết tâm

Nguyên gốc của câu nói là: “Thế thượng vô nan sự, chỉ phạ hữu tâm nhân”. Câu này hẳn là khiến người ta cảm khái nhất, chắc hẳn rất nhiều người có thể ngộ sâu sắc; vì dù sao thì ai cũng từng có trải nghiệm khó chịu khi không đạt được điều mình muốn.

Câu này xuất phát từ chương thứ 2 trong Tây Du Ký: “Phép nhiệm nhờ thầy truyền bí thuật, Tài cao về xứ giết yêu ma”. Trong đoạn đối thoại khi Bồ Đề Tổ Sư dạy Ngộ Không phép cân đẩu vân, Ngộ Không nói: “Phép này khó lắm, khó lắm”. Tổ Sư nói: “Trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ không có lòng quyết tâm”.

Cái khó của rất nhiều việc nằm ở chỗ có thể kiên trì đến cùng hay không, bởi vì bỏ cuộc giữa chừng thì quá dễ dàng. Nếu thực sự muốn nói rằng, không có gì trên đời là không thể làm được, thì không gì khác hơn là dựa vào sự kiên trì và quyết tâm vững chắc để từng bước vượt qua khó khăn và đi đến cùng.

Thử nghĩ xem, trong cuộc đời bạn, bạn đã theo đuổi điều gì một cách nghiêm túc và không ngừng nghỉ chưa? Nếu câu trả lời là không, thì chẳng phải thật đáng tiếc khi sống một cuộc đời mà không có kinh nghiệm về sự kiên trì đến cùng hay sao? Rất nhiều những kinh nghiệm trong cuộc sống, rất nhiều những điều khắc cốt ghi tâm, những ý nghĩa nhân sinh đều là từ sự thực hành kiên trì đúc kết lại.

2. Người không có ý hại hổ, thì hổ cũng không hại người

Nguyên gốc của câu này là: “Nhân một thương hổ tâm, hổ một thương nhân nghĩa”. Câu nói có nghĩa là: “Người không có ý hại hổ thì hổ cũng không hại người”. Câu này cũng được dịch là “Người chẳng dốc lòng giết cọp, cọp sao nỡ tâm ăn thịt người”.

Câu nói này đến từ chương thứ 16 trong Tây Du Ký: “Chùa Quan Âm, thầy tu tham báu vật. Núi Hắc Phong, yêu quái trộm Cà sa”, câu nói xuất phát từ miệng của Ngộ Không khi bị Sư Phụ trách Ngộ Không có thần thông như vậy sao không giữ lại cả chùa mà chỉ giữ mình cái phòng của Sư Phụ nằm ngủ.

Ngộ Không nói: “Ðể con kể lại cho sư phụ nghe. Lời sư phụ nói quả đúng lắm. Sư cụ trụ trì quyết phóng hỏa đốt cho thầy trò ta chết, để lấy áo Cà sa. Nếu con không biết thì thầy trò ta đã bị thiêu chết rồi. Con thấy họ có tâm ác, nên đã không chữa lửa, lại cho thêm một trận gió”.

Sư Phụ hỏi: “Lửa cháy thì tưới nước, cho gió làm gì?”

Ngộ Không nói: “Người xưa dạy rằng, người không có ý hại hổ, thì hổ cũng không hại người. Nếu họ không phóng hỏa đốt chùa, thì con không tự nhiên làm gió”.

Thông thường, khi thấy người gặp nạn, chúng ta sẽ sinh lòng thương cảm. Đó là tâm lý thường tình ai cũng dễ dàng làm được. Nhưng nếu thấy người khác tốt hơn mình, những suy nghĩ chân thực trong lòng sẽ ra sao? Thực ra chỉ có bản thân mình mới thấu tỏ.


3. Một ngày làm thầy, cả đời làm cha

Nguyên gốc của câu này là: “Nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ”. Câu nói này đến từ chương thứ 31 và chương thứ 72 trong Tây Du Ký.

Trong chương 31: “Trư Bát Giới nói khích, Hầu vương Tôn Hành Giả mưu trừ yêu quái”. Khi Tôn Ngộ Không bị Sư Phụ đuổi đi, sau đó Sư Phụ bị yêu quái bắt đi, Chu Bát Giới đã đi tìm Ngộ Không để cứu Sư Phụ.

Ngộ Không nói: “Ta chấp ngươi chạy trước ba ngày, ta theo bắt lại lập tức. Chạy đâu cũng không khỏi, chuyện chi nói thiệt cho mau?”

Bát Giới lúng túng thuật chuyện lại. Rồi nói rằng: “Chính là Bạch Long Mã giục tôi đi tìm sư huynh. Nó nói: huynh là người quân tử biết nhân nghĩa, không để ý đến chuyện cũ, chắc chắn sẽ cứu được sư phụ. Vậy xin sư huynh niệm tình “một ngày làm thầy, cả đời làm cha” đi cứu cho toàn tính mạng”.

Và đoạn, Hoàng Bào lão quái nói: “Ngươi đúng là mặt dày mày dạn, không có chí khí trượng phu. Bị sư phụ đuổi đi rồi, còn dám quay lại”.

Ngộ Không đáp rằng: “Nhà ngươi đúng là đồ yêu quái, nên không thông lễ nghĩa. Một ngày làm thầy, cả đời làm cha. Nay ngươi bắt thầy ta, lẽ nào ta có thể làm ngơ mà không cứu. Mi đã bắt Sư phụ và sư đệ ta, sao còn dám chửi mắng sau lưng ta?”

Ở chương 72: “Ðộng Bàn Tơ, Thất Tinh bắt sãi Suối Trạt Cấu, Bát Giới khuấy yêu”.

Tôn Ngộ Không cười mà nói: “Các đệ nghe sư phụ nói kìa. Thầy muốn ăn cơm để chúng con đi hóa duyên xin ăn. Tục ngữ có câu: “Một ngày làm thầy, cả đời làm cha” sao lại có đạo lý đồ đệ ngồi chơi để thầy đi xin cơm?”.

Ý nghĩa của câu này rất đơn giản, bởi vì đạo lý tất cả nằm trong câu nói. Câu này không chỉ người xưa nói, mà ngay cả người hiện đại cũng nói. Người xưa nói rằng: “Thầy dù chỉ dạy mình một ngày, cả đời phải coi như cha”, lời này là ẩn dụ cho ý nghĩa của sự tôn trọng đối với người thầy.

4. Có gió thì có sóng, không có thủy triều nước tự phẳng

Nguyên gốc của câu nói là: “Hữu phong phương khởi lãng, vô triều thủy tự bình”. Câu nói ở chương 75 trong Tây Du Ký: “Ngộ Không khoan bửu bình, Chúa động nhốt Đại Thánh”:

Ngộ không nói: “Hữu phong phương khởi lãng, vô triều thủy tự bình. Ngươi không chọc giận ta, ta không có cớ gì tìm đến các ngươi. Chỉ vì chúng bay kết bè kết đảng, tìm cách ăn thịt sư phụ ta nên ta mới tới đây tính nợ”.

Câu nói này được sử dụng như một phép ẩn dụ: mỗi điều xảy đến trong đường đời chúng ta đều có nguyên nhân; cho dù bất kể vấn đề gì nảy sinh, chúng đều có nguồn gốc của chúng, thay vì tự nhiên xuất hiện và không có lý do.


5. Bát tiên cùng nhau vượt biển, mỗi người tự triển hiện thần thông

Nguyên gốc của câu nói là: “Bát tiên đồng quá hải, độc tự hiển thần thông”. Câu nói ở chương 81 trong Tây Du Ký: “Chùa Trấn Hải Ngộ Không diệt quỷ, rừng Hắc Tùng ba đệ tìm thầy”.

Tôn Hành Giả nói: “Ðể ta kể sơ qua cho các ngươi nghe. Ta từng hàng yêu diệt quái, lên trời đại náo thiên cung… Đây đúng là Bát tiên đồng quá hải, độc tự hiển thần thông. Các thiên binh thiên tướng trên trời cũng nể sợ đôi phần. Để ta đi bắt yêu tinh về đây các vị chắc mới tin lời lão Tôn”.

Đây là câu nói kinh điển trong dân gian. “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” (tám vị tiên vượt biển, triển hiện thần thông). “Bát tiên”, đó là: Hán Chung Ly, Trương Quả Lão, Hàn Tương Tử, Lý Thiết Quải, Tào Quốc Cữu, Lã Động Tân, Lam Thái Hòa, và Hà Tiên Cô. Mỗi vị tiên nhân đều có một đặc điểm khác nhau.

Câu nói “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” là một ẩn dụ để nói rằng mỗi người phải dựa vào khả năng của chính mình để đạt được mục đích mà mình muốn đạt được.

Bảo Châu biên dịch / Theo: vandieuhay

CỔ NHÂN KHUYÊN "NGHÈO KHÔNG ĐỘNG TAM NGHỆ, GIÀU KHÔNG GẦN TAM NHÂN": TAM NGHỆ, TAM NHÂN LÀ GÌ?

Trong mắt người xưa, ai ai trong đời cũng cần có những bài học đáng quý trong đối nhân xử thế.


Khi thời thế thay đổi, những câu nói của người xưa có thể không nhất thiết áp dụng cho cuộc sống thời hiện đại. Dẫu vậy, nhiều tục ngữ, thành ngữ - vốn là sự kết tinh của trí tuệ cuộc sống của người xưa - về cơ bản đều hướng con người đến cách đối nhân xử thế sao cho thuận tình, hợp ý.

Câu tục ngữ "Nghèo không động tam nghệ, giàu không gần tam nhân" của người Trung Quốc xưa có ý nghĩa khuyên bảo điều gì? Tam nghệ và tam nhân này là ai?

Giải nghĩa vế 1: Người nghèo không động tam nghệ

Trong quan niệm của người Trung Quốc xưa, "tam nghệ" ý chỉ những công việc mạo hiểm, không phù hợp với gia cảnh, thậm chí là những việc phạm pháp.

Cụ thể, tam nghệ ở đây là gì?

1/ Những việc mạo hiểm

Thông thường, khi một người sợ nghèo, anh ta sẽ cố nghĩ ra cách kiếm tiền. Nếu nghe ai nói rằng anh ta có thể kiếm tiền bằng việc đánh bạc, anh ta sẽ đi đánh bạc vì nghĩ rằng trò đỏ-đen có thể giúp anh ta đổi đời.

Rồi lại có người bảo anh ta rằng, phải vay mượn để đầu tư vào việc buôn bán, kinh doanh thì mới có thể phất lên được. Thấy có vẻ hợp lý, anh ta lại cố gắng chạy vạy khắp nơi để bỏ vốn vào lĩnh vực mà anh ta thực sự không am hiểm.

Cứ vậy, cái vòng luẩn quẩn của thất bại và nghèo đói bủa vây lấy anh ta.

Ảnh minh họa.

Bởi vậy, người xưa khuyên không nên động vào 'nghệ' này là bởi vì nếu không trang bị đủ kiến thức và kinh nghiệm để làm việc thì hà cớ gì lại dấn thân vào mạo hiểm như thế. Trước khi làm bất cứ việc gì, dù là người nghèo hay người giàu thì cũng đều phải học hỏi, nắm kiến thức về công việc đó thật vững rồi hãy nghĩ đến việc làm giàu.

Trong trường hợp không 'thành công' thì cũng 'thành nhân'. Thất bại này sẽ là bài học cho thành công ngày sau.

2/ Những việc phạm pháp

"Bần cùng sinh đạo tặc" vốn là lời cảnh báo rõ ràng nhất về việc khi bị cái nghèo đói bủa vây, một người sẵn sàng làm liều để có được tiền bạc. Điều này hoàn toàn sai trái. Vì những việc làm sai trái như trộm cắp, cướp giật này sẽ không chỉ gây tổn thất lớn cho bản thân mà còn ảnh hưởng đến gia đình rất lớn.

Bởi vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng không nên 'nhắm mắt làm liều' vì một phút bốc đồng trỗi dậy.

Để thoát cái nghèo chỉ có cách làm việc thật chăm chỉ, tỉ mỉ. Đồng tiền những ngày đầu sẽ rất khó kiếm nhưng một khi chuyên cần, chúng ta sẽ được bù đắp.

Nghèo không đáng sợ, lười biếng mới đáng sợ.

3/ Những việc hèn hạ

Những chuyện hèn hạ, gây hại cho người khác - trong mắt người xưa đó là 'tiểu nhân'. Tất nhiên, 'tiểu nhân' không thiếu trong xã hội dù họ xuất phát trong gia đình giàu có hay bần nông.

Tuy vậy, dù hoàn cảnh có thể nào thì cũng không được vì lợi ích cá nhân mà làm những chuyện hại người như lừa lọc, gian dối, hãm hại...

"Đói cho sạch, rách cho thơm" chính là lời răn dạy chúng ta dù có nghèo khó, thiếu thốn tiền bạc đến mấy thì cũng tuyệt đối giữ mình đúng chuẩn mực.

Giải nghĩa vế 2: Giàu không gần tam nhân

'Tam nhân' trong vế thứ hai của câu tục ngữ này là gì?

1/ Kẻ hám lợi danh

Khi một người giàu có, sẽ có rất nhiều người tiếp cận anh ta hòng đạt được những mục đích có lợi cho cá nhân của họ. Bởi vậy, đây là lúc chúng ta cần tỉnh táo để nhìn người thật chuẩn, xem ai muốn lợi dụng, ai mới là bạn thực sự.

Ảnh minh họa.

Việc tránh xa, không giao thiệp với kẻ xấu, kẻ hám lợi danh là cách một người bảo vệ thanh danh và tài sản của họ trước mọi âm mưu phá hoại, ghen ghét.

2/ Kẻ thù

Kẻ thù vốn nuôi lòng hận thù, nếu chúng ta giàu mà người kia vẫn nghèo cùng cực thì sẽ dễ kích động họ có những hành động gây tổn hại đến gia sản, tinh thần và sức khỏe của chúng ta.

"Thà hóa giải còn hơn tạo ra kẻ thù". Sẽ là tốt nhất nếu sau khi trở nên giàu có, bạn có thể sử dụng của cải và lòng tốt để giải quyết những mối bất bình trong quá khứ và tháo gỡ nút thắt giữa bạn và kẻ thù.

Mặt khác, chúng ta cũng có thể chủ động tránh xa, không giao thiệp với những người vốn sẵn lòng ghen ghét và hãm hại chúng ta.

3/ Tệ nạn

Có một số người, khi tiền bạc, của cải đuề huề, thay vì tiếp tục chăm chỉ làm ăn, tu tâm và tích đức, họ lại sa đà vào các thú vui không lành mạnh trên đời.

Ảnh minh họa.

Có người ham vui cờ bạc, có người ham vui tửu sắc, bởi thế mà khiến khuynh gia bại sản, gia đình ly tán, con cái lìa xa cha mẹ.

Tất cả những ham vui không lành mạnh này chính là kẻ thù của gia đình. Bởi vậy, kể cả lúc nghèo khó hay giàu có, chỉ cần chúng ta một lòng chung thủy, chăm chỉ làm việc thì mới có được hạnh phúc, phú quý, trường thọ.

Trang Ly / Theo: soha