Tuesday, May 26, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 4: MỸ, LIÊN XÔ, CHIẾN TRANH LẠNH VÀ NHỮNG MỎ DẦU NÓNG

Năng lượng đã trở thành công cụ ý thức hệ và kinh tế then chốt trong cuộc đối đầu Mỹ - Liên Xô thời Chiến tranh lạnh như thế nào?

Tổng bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev ôm hôn Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna năm 1979 - Ảnh: state.gov

Từ học thuyết Nixon đến học thuyết Carter

Vào giữa năm 1969 đã thấm đòn ở cuộc chiến tranh Việt Nam, chính quyền Nixon tuyên bố tương lai Mỹ sẽ kiềm chế không gửi quân đội ra nước ngoài nữa, mà thay vào đó sẽ cung cấp cho đồng minh "sự hỗ trợ để giúp họ tự giải quyết các vấn đề của chính mình". Học thuyết Nixon ra đời với mục tiêu nước Mỹ tránh được những Việt Nam tương lai.

Tuy có nguồn gốc từ chiến lược Việt Nam, học thuyết này cũng đã tác động sâu sắc đến chính sách Mỹ tại Trung Đông.

Đầu năm 1968, Anh thông báo rút các lực lượng quân sự còn lại của họ khỏi vịnh Ba Tư cuối năm 1971. Mỹ giờ chỉ còn đồng minh Iran để bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch này.

Phớt lờ cảnh báo từ phái bộ quân sự Mỹ tại Iran, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với Liên Xô kỷ nguyên Chiến tranh lạnh, chính quyền Nixon giữa năm 1972 quyết định trao cho vua Shah Iran "tấm séc khống" để mua bất kỳ hệ thống vũ khí nào của Mỹ, chỉ trừ vũ khí hạt nhân.

Iran và Saudi Arabia trở thành hai trụ cột sống còn của Mỹ ở Trung Đông, khi năng lượng trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất trong chính sách của Washington suốt những năm 1970 và 1980. Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 - 1974, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã cắt giảm sản lượng mạnh, dẫn đến giá dầu tăng gấp 4 lần.

Tiếp đó, đối mặt cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran, sự kiện Liên Xô can thiệp quân sự vào Afghanistan (đều vào năm 1979), và tình trạng phụ thuộc ngày càng tăng của Mỹ vào dầu nhập khẩu, chính quyền Carter đã kết luận "Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực Trung Đông, và Liên Xô trong so sánh tương quan thì không như vậy".

Để bảo vệ những lợi ích đó, Mỹ phải cải thiện "khả năng huy động quân sự nhanh chóng" và thiết lập sự hiện diện quân sự thường trực trong khu vực.

Ở Trung Đông, mục tiêu của Washington sẽ không phải là cân bằng quân sự với Liên Xô, mà là "một ưu thế quân sự rõ rệt". Triết thuyết của Carter, do đó chính là khởi nguồn cho hệ thống căn cứ quân sự dày đặc mà Mỹ đã kỳ công thiết lập qua nửa thế kỷ khắp khu vực quanh vịnh Ba Tư.

Ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna tháng 6-1979, Carter nói với nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev rằng một số khu vực trên thế giới như vịnh Ba Tư và bán đảo Ả Rập là nơi Mỹ và các đồng minh có "lợi ích sống còn tuyệt đối".

Ở những khu vực như vậy, điều thiết yếu là Liên Xô phải kiềm chế không đe dọa đến lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ.

Brezhnev đáp lại rằng Carter đừng đổ lỗi cho Liên Xô về những thay đổi đang diễn ra trên thế giới và phủ nhận cáo buộc Liên Xô đang tìm cách kiểm soát các quốc gia trong "cái gọi là khủng hoảng từ phía cung" (một khái niệm kinh tế thị trường không có chỗ đứng trong nền kinh tế kế hoạch hóa của Liên Xô). Ông cũng phản bác rằng toàn bộ học thuyết Carter chỉ là "một câu chuyện cổ tích".

Lính Mỹ trên xe tăng T-55 (do Liên Xô sản xuất) của Iraq trên cánh đồng dầu Kuwait đầu năm 1991 - Ảnh: Reddit

Liên Xô mạnh nhờ dầu và khó vì dầu

Brezhnev cũng phàn nàn về cách thức tùy tiện mà Mỹ tuyên bố những ngóc ngách xa xôi trên thế giới là lợi ích sống còn của họ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào diễn biến sau đó của cuộc Chiến tranh lạnh, lý lẽ Washington không phải là vô căn cứ.

Ở Liên Xô, thống kê ghi nhận sự sụt giảm sản lượng dầu diễn ra trước sự sụt giảm GDP. Một số học giả như Douglas B. Reynolds, thậm chí lập luận rằng Liên Xô tan rã không phải do cuộc chạy đua vũ trang trong Chiến tranh lạnh với chính quyền Reagan hay do quản lý kinh tế yếu kém, mà chính là bởi một cuộc khủng hoảng dầu mỏ.

Khi sản lượng dầu đạt đỉnh vào nửa sau những năm 1980 và chỉ có suy giảm kể từ đó, Liên Xô mất đi nguồn lực then chốt để duy trì hoạt động kinh tế và quân sự của một siêu cường. Riêng những con số đã đủ sức thuyết phục.

Sản lượng dầu của Liên Xô giảm tới 50% trong khoảng từ năm 1988 - 1995, từ 12 triệu xuống còn 7 triệu thùng/ngày. (Dưới thời ông Putin, sản lượng đã quay trở lại mức 10 triệu thùng). Khi dầu cạn kiệt, sự ổn định quốc gia cũng biến mất.

Như nhận định của kinh tế gia thời Liên Xô và thủ tướng Nga sau này Yegor Gaidar vào năm 2007: Sự sụp đổ của Liên Xô "[là] một bài học cho những ai xây dựng chính sách dựa trên giả định giá dầu sẽ duy trì ở mức cao vĩnh viễn".

Tất nhiên, câu chuyện về những thăng trầm của quốc gia gắn với dầu mỏ ở Nga, và Liên Xô dài hơn thế nhiều. Giống như Mỹ, Nga là quốc gia tiên phong về dầu mỏ toàn cầu trong thế kỷ 19.

Khi mà các doanh nhân Mỹ như John D. Rockefeller biến vàng đen của Pennsylvania thành vàng thật vào những năm 1870, anh em nhà Nobel người Thụy Điển (chính là dòng họ Nobel nổi tiếng với các giải thưởng cho khoa học) cũng bắt đầu cắm những chiếc vòi hút xuống các cánh đồng dầu ở Baku thuộc Azerbaijan.


Nhưng Liên Xô chỉ thực sự trở thành siêu cường dầu mỏ từ sau Thế chiến 2, khi nền kinh tế hậu chiến tăng tốc để chế tạo xe hơi, máy kéo, máy bay phản lực MIG và những thành phố mênh mông trên nền tảng dầu mỏ.

Liên Xô cũng đầu tư nguồn năng lượng dư thừa vào giáo dục, khoa học, y tế, các chương trình không gian, và cả một tổ hợp công nghiệp - quân sự khổng lồ.

Dầu mỏ đồng thời là nền tảng cho chính sách đối ngoại. Dầu giá rẻ giúp Matxcơva duy trì hệ thống liên minh ở Đông Âu và trên toàn thế giới, đồng thời chi trả cho nhiều mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu, bao gồm cả ngũ cốc thiết yếu.

Nguồn dầu mỏ dồi dào đã giúp Liên Xô vượt qua hai cú sốc giá dầu toàn cầu vào năm 1973 và 1981 không hề hấn gì, trong khi hầu hết phương Tây (bao gồm cả Mỹ) rơi vào suy thoái, nợ nần và phụ thuộc ngày càng nhiều vào dầu mỏ nước ngoài.

Nhưng giá dầu tăng vọt đồng thời cũng là một lời nguyền. Liên Xô bắt đầu chi tiêu thái quá, bán dầu để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng tiêu thụ dầu, và lãng phí một lượng khổng lồ dầu mỏ, nhân lực và đồng rúp trong nỗ lực vô vọng ở Afghanistan.

Trợ cấp cho nhu cầu năng lượng của các nước đồng minh Triều Tiên, Đông Âu và Cuba là một yếu tố khác phải nói đến. Những năm 1980, dân châu Âu thuộc đủ mọi thành phần đổ xô đến Đông Berlin để đón những chuyến bay rẻ nhất đến Ấn Độ, tất cả nhờ trợ cấp nhiên liệu từ Liên Xô.

Giữa những năm 1980, sản lượng dầu của Liên Xô đạt đỉnh ở mức 12 triệu thùng/ngày. Sau đó, sản lượng dầu bắt đầu giảm.

Thêm một đòn đau nữa giáng xuống khi vào năm 1985, Saudi Arabia quyết định tăng mạnh sản lượng để giành lại vị thế trên thị trường thế giới.

Thay vì bán dầu với giá cố định, giá cả giờ sẽ dựa trên giá sản phẩm tinh chế trên thị trường, trừ đi biên lợi nhuận cố định cho hãng lọc dầu. Hệ thống mới này ưu tiên khối lượng hơn giá cả, và dẫn đến sự sụp đổ của giá dầu thế giới vào năm 1986.

Khi nguồn thu ngoại tệ mạnh tiêu tan, kế hoạch cải cách của Chính phủ Liên Xô mới dưới quyền Mikhail Gorbachev (nắm quyền từ tháng 3-1985) đi vào ngõ cụt. Gorbachev đã hy vọng sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ để tài trợ cho quá trình hiện đại hóa công nghiệp và cải thiện mức sống, nhưng ông đã không thể tìm ra nguồn lực...

Ngay từ năm 1835, nhà tư tưởng lớn người Pháp Alexis de Tocqueville đã viết: "Một ngày nào đó, Nga và Mỹ theo một thiết kế bí mật của Thiên ý, sẽ nắm giữ trong tay họ mỗi bên một nửa vận mệnh của thế giới".

Những lời này có ý nghĩa tiên tri ở chỗ "thiết kế bí mật của Thiên ý" đó chính là vận may đặc biệt về dầu mỏ của hai siêu cường.

*****************

Vì sao Nga đã vũ khí hóa khí đốt hiệu quả hơn dầu mỏ trong cuộc đối đầu với châu Âu vì chiến tranh ở Ukraine?

>> Kỳ 5: Khí đốt - vũ khí và mục tiêu

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:
https://responsiblestatecraft.org/2022/05/31/how-the-nixon-doctrine-blew-up-the-persian-gulf-and-undermined-us-security/




Monday, May 25, 2026

NHỮNG ĐỘNG VẬT TỰ ĂN THỊT MÌNH

Thế giới tự nhiên vốn dĩ tàn nhẫn. Không có cách gì tránh được thực tế đó. Một số sinh vật khiến cho các sinh vật khác chịu đủ mọi cực hình khốc hại để có cái ăn và để sinh sản hay thậm chí chỉ là để chơi đùa.

Chú gấu đen Á châu này (Ursus thibetanus) có lẽ đã bị mất chân trong một lần sập bẫy

Nhiều loài trong thế giới động vật là những loài ăn thịt đồng loại để sinh tồn hay để giữ vị trí thống trị.

Tuy nhiên còn có một hành vi thậm chí còn cực đoan hơn cả ăn thịt đồng loại. Một số động vật đôi khi còn có thể ăn chính các bộ phận cơ thể chúng. Hành vi kỳ lạ này được gọi là ‘tự ăn thịt mình’.

Để thoát hiểm

Chúng tôi hỏi độc giả rằng họ có từng nghe qua các động vật tự ăn thịt mình hay không. “Tôi không nghĩ rằng loài nào đó có thể cố tình ăn thịt cơ thể mình để duy trì sự sống. Đó là sự thất bại nếu sự sinh tồn lại phụ thuộc vào hành vi tuyệt vọng như vậy,” Selina Tick Konkin nói. “Tuy nhiên rất nhiều loài có thể gặm chân hoặc đuôi của mình để thoát khỏi cái bẫy.”

Điều này là có thật và được ghi chép lại rất rõ ràng. Chó, gấu và khỉ thường xuyên được thấy đã gặm phần da, cơ, gân và xương của phần chân bị dính bẫy để thoát khỏi bẫy.

Một con hổ không may ở Công viên Quốc gia Tesso Nilo ở miền trung đảo Sumatra được ghi lại hình ảnh bị mất một móng chân trước vào năm 2007. Rõ ràng nó đã nhai đi phần móng đó để thoát bẫy.

Tuy nhiên, những trường hợp này không thuộc về “tự ăn thịt mình”. Những con vật kể trên không ăn bộ phận cơ thể mình mà chúng chỉ loại bỏ những bộ phận đó đi.

Mặc dù hành động tự ăn thịt cực đoan như vậy nhưng nó có lý do rõ ràng. Suy cho cùng, mất đi một phần chi vẫn tốt hơn là mất cả mạng sống.

Tuy nhiên, những loài khác ăn các bộ phận cơ thể mình với những lý do dường như là hoàn toàn không thể hiểu được.

Một phần của vòng đời

Ấu trùng hải tiêu (Salpa maxima) có 'xương sống' nhìn được rõ rệt

William T. Terrell qua Facebook đã kể cho chúng tôi nghe về một trường hợp như vậy: “Loài hải tiêu (sea squirt) tự ăn não mình và hành vi này nằm trong vòng đời của chúng.”

Hải tiêu lúc đầu đời là những ấu trùng bơi lội dưới biển. Chúng trông giống những con nòng nọc tí hon. Mỗi ấu trùng bám vào một phiến đá hoặc một bề mặt nào khác và sau đó chúng không bao giờ di chuyển nữa.

Cũng giống như loài sâu bướm sống trên cạn, hải tiêu cũng trải qua quá trình biến hình và trở nên khác biệt đến mức khó có thể nhận ra. Con trưởng thành trông giống như những chiếc túi nhỏ phồng lên và chúng sinh tồn bằng cách lọc tìm thức ăn từ môi trường nước xung quanh.

Cách duy trì sự sống khác nhau có nghĩa là giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng thành của hải tiêu có khác biệt rất lớn bên trong cơ thể.

“Cơ thể ấu trùng có cấu trúc đơn giản với một dây thần kinh chạy dọc sống lưng gần giống như xương sống ở những động vật phức tạp hơn,” ông John Bishop thuộc Hiệp hội Sinh học Biển, cho biết. “Ở mặt trước của dây thần kinh này là một hạch các ‘bọng túi não’ và các cơ quan cảm ứng ánh sáng và trọng lực giúp chúng tìm được nơi để chúng làm nhà.”

Hầu hết những đặc điểm cơ thể này sẽ mất đi khi chúng trưởng thành.

Hải tiêu khi trưởng thành (Polycarpa aurata) sẽ tự mất đi 'xương sống' của chúng

“Một khi đã bám được vào bề mặt nào đó, con trưởng thành sẽ không cần đến các cơ quan cảm ứng, dây thần kinh và ngay cả đuôi nữa, do đó chúng sẽ ăn những bộ phận này,” Bishop nói. “Các bọng não được biến thành hạch thần kinh với chức năng nhằm giúp con trưởng thành giờ đã bất động một chỗ tìm thức ăn.”

Như vậy, việc hải tiêu ăn các bộ phận cơ thể thật ra cũng không phải là ghê gớm gì cho lắm như khi thoáng nghe. Chúng không hẳn là "ăn" hay "tiêu hoá" phần não đơn giản của mình, mà là "tái sử dụng" phần này để tạo ra những bộ phận cơ thể khác có ích hơn.

Rắn ăn đuôi

Tuy nhiên có những loài khét tiếng với hành vi ăn chính chiếc đuôi của mình.

“Các loài rắn ăn thịt loài rắn khác sẽ lầm tưởng chiếc đuôi của mình là con rắn khác và chúng sẽ tự ăn chiếc đuôi đó,” John Allen Gordon-Levitt Gerlach, viết. “Có một từ Hy Lạp để gọi hành vi này: ‘ouroboros’ và nó tượng trưng cho chu kỳ sinh tử.”

Chú rắn hổ mang chúa này (Ophiophagus hannah) đang ăn thịt một con rắn cái, nhưng liệu một con rắn có tự ăn đuôi của mình không?

Một người khác bình luận trên Facebook rằng con rắn của ông đã ăn hơn phân nửa cơ thể của nó và do đó nó đã bị chết ngạt.

Liệu một số loài rắn có ngốc đến nỗi chúng tưởng lầm bản thân là thức ăn?

“Đa số các loài rắn sử dụng chức năng cảm ứng nhiệt để phát hiện con mồi. Do đó đuôi của chúng không thể khiến chúng chú ý được,” Sally South thuộc Bảo tàng Nam Úc ở Adelaide, nói.

"Tuy nhiên một số ít loài rắn lại dùng đuôi để thu hút con mồi bằng cách vẫy đuôi nhanh. Một số loài thậm chí vẫy đuôi khi chúng chỉ cảm thấy kích động. Rắn có bộ não nhỏ và chúng thiên về phản xạ hơn là tự chủ trong hành động. Do đó hành động vẫy đuôi này có thể khiến chúng chú ý và nghĩ rằng đó là ‘con mồi’."

Tương tự, James B. Murphy thuộc Bảo tàng Smithsonia về Lịch sử Tự nhiên ở Adelaide ở Washington DC từng có một con rắn đang lột da và bắt đầu ăn phần da lột khi nó vẫn còn nằm trên thân gần đoạn đuôi. “Nó tiếp tục nuốt cơ thể mình từ phần đuôi cho đến khi tôi can thiệp.”

Ăn nhau thai

Murphy có một kiến giải tại sao loài rắn lại làm như vậy. “Mùi của con mồi trên cơ thể chúng, nhất là những con rắn thường xiết con mồi, có thể khiến rắn lầm tưởng là chúng đang nuốt mồi,” ông giải thích.

Nói cách khác, mặc dù loài rắn có thể tìm cách tự ăn mình từ lần này đến lần khác nhưng hành động này không hề chủ ý.

Vậy còn những loài gần hơn với con người thì sao? Các loài động vật hữu nhũ có bao giờ tự ăn thịt bản thân không?

“Các động vật tiêu hóa các bộ phận cơ thể chúng rất thường xuyên do nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như thú mẹ (ví dụ như mèo) ăn nhau thai sau khi sinh con,” Charity Young viết trên Facebook.

Một con mèo nhà đang ăn nhau thai sau khi sinh con

Hành vi này là khá phổ biến. “Đa số các loài động vật hữu nhũ có nhau thai thường ăn nhau thai và nước ối của chúng trong khi sinh nở,” Cynthia W. Coyle ở Trường Y Feinberg thuộc Đại học Tây Bắc ở thành phố Chicago, bang Illinois, Hoa Kỳ, cho biết. “Có nhiều giả thiết giải thích tại sao điều này lại có ích cho chúng nhưng các giả thiết này không đúng với tất cả các loài.”

Mark Kristal thuộc Đại học Buffalo ở New York cho rằng hành động ăn nhau thai là để giúp giảm đau khi sinh nở.

Nghiên cứu của Kristal tập trung chủ yếu vào các loài gặm nhấm nhưng cũng tìm hiểu những loài có vú phức tạp hơn vốn đôi khi cũng ăn nhau thai.

Con người thì sao?

Trong một nghiên cứu hồi năm 2015, Coyle và đồng sự của bà đã tìm hiểu hành vi ăn nhau thai ở người và nhận thấy rằng đó là việc hiếm khi xảy ra. Đó cũng là một hiện tượng tương đối mới mặc dù một số bác sỹ và chuyên gia y tế khuyến khích hành động này như một điều tự nhiên và truyền thống.


“Chúng tôi không tìm thấy bất cứ tư liệu lịch sử nào được ghi chép lại trong các nền văn hóa khác nhau cho thấy người mẹ có hành động này,” Coyle cho biết. “Hành vi này dường như chỉ mới xuất hiện tương đối gần đây, chủ yếu trong nền văn hóa phương Tây.”

Bà cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy ăn nhau thai có ích về mặt sức khỏe cho con người.

“Những người cổ súy việc ăn nhau thai thường lấy dẫn chứng từ những nghiên cứu ở động vật để chứng minh cho lợi ích tương tự ở con người,” Coyle nói. “Tuy nhiên những lợi ích này, trong đó có việc ngăn ngừa trầm cảm và làm tăng sự chảy sữa và tăng cường năng lượng, chưa hề được nghiên cứu hay chứng minh ở động vật.”

Nếu Coyle đúng thì có nghĩa là hành vi ăn nhau thai ở người là những ví dụ hiếm hoi về việc động vật cố tình ăn một phần cơ thể mình. Tuy nhiên, khác với con báo bị mắc bẫy, có lẽ con người không có lý do cực kỳ hợp lý cho hành động này.

Rohan Mehra
BBC Earth
Link tiếng Anh:


XUẤT GIAO TẦM XUÂN - TÔ THỨC


Xuất giao tầm xuân

Đông phong vị khẳng nhập đông môn,
Tẩu mã hoàn tầm khứ tuế thôn.
Nhân tự thu hồng lai hữu tín,
Sự như xuân mộng liễu vô ngân.
Giang thành bạch tửu tam bôi nghiệm,
Dã lão thương nhan nhất tiếu ôn.
Dĩ ước niên niên vi thử hội,
Cố nhân bất dụng phú “Chiêu hồn”.

Năm Nguyên Phong thứ 5, bấy giờ tác giả vì vướng vào vụ án thơ Ô Đài, bị biếm về Hoàng Châu. Phan và Quách là Phan Ngạn và Quách Hưng Tôn làm nghề bán thuốc và rượu, là bạn mới của tác giả ở Hoàng Châu. Thành Nữ Vương tên thường gọi là thành Vĩnh An, cách Hoàng Châu về phía đông hơn 10 dặm.

Tên bài thơ này là "Chính nguyệt chấp nhật dữ Phan, Quách nhị sinh xuất giao tầm xuân, hốt ký khứ niên thị nhật đồng chí Nữ Vương thành tác thi, nãi hoạ tiền vận" (正月廿日與潘郭二生出郊尋春,忽記去年是日同至女王城作詩,乃和前韻)


出郊尋春

東風未肯入東門
走馬還尋去歲村
人似秋鴻來有信
事如春夢了無痕
江城白酒三杯釅
野老蒼顏一笑溫
已約年年為此會
故人不用賦招魂


Ra ngoài thành tìm xuân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Gió xuân vừa tới cửa Đông.. 
Thôn xưa xóm cũ, cất công ngựa tìm. 
Bóng nhạn tăm cá mong tin. 
Việc như xuân mộng im lìm bấy lâu. 
Giang Thành buông chén rượu sầu. 
Lão quê gầy yếu, cười đâu ấm lòng. 
Hàng năm hẹn ước lại mong. 
"Chiêu hồn" đừng mượn, lại đong thêm buồn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô.

Nguồn: Thi Viện



TIẾT KIỆM KHÔNG CHỈ LÀ GIỮ "TIỀN", MÀ LÀ GIỮ LẤY "PHẨM GIÁ" CỦA MỘT CON NGƯỜI

Trong xã hội hiện đại, rất nhiều người xem “tiết kiệm” là biểu hiện của sự thiếu thốn. Người ta thích nói về tận hưởng, tiêu dùng, hưởng thụ cuộc sống, còn sống giản dị thường bị Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào lịch sử, chúng ta sẽ nhận ra rằng: tiết kiệm chưa bao giờ chỉ là chuyện tiền bạc. Đó là một năng lực “kiểm soát dục vọng”, một biểu hiện của sự trưởng thành nội tâm và cũng là nền móng của phẩm đức con người.


Người xưa nói: “Tiết kiệm là gốc của đức hạnh, xa xỉ là đầu mối của tai họa.” Nghe qua tưởng như là lời giáo huấn đạo đức đơn thuần, nhưng thực ra lại rất phù hợp với những nghiên cứu tâm lý ngày nay.

Trong tâm lý học hiện đại có một khái niệm gọi là “sự trì hoãn thỏa mãn”, tức khả năng kiềm chế ham muốn tức thời để đổi lấy lợi ích lâu dài. Những người có năng lực này thường ổn định hơn về cảm xúc, tài chính, các mối quan hệ và cả sự nghiệp. Thí nghiệm nổi tiếng “kẹo marshmallow” của nhà tâm lý Walter Mischel từng cho thấy: những đứa trẻ biết chờ đợi để nhận phần thưởng lớn hơn khi trưởng thành thường có khả năng tự chủ, thành công và hạnh phúc hơn.

Thực chất, “tiết kiệm” trong văn hóa truyền thống chính là một dạng “trì hoãn dục vọng”. Không tiêu xài quá mức không phải vì không có tiền, mà vì hiểu rằng nếu con người cứ mãi chạy theo ham muốn, thì lòng sẽ ngày càng bất an.

Bởi dục vọng của con người có một đặc điểm rất lạ: nó không bao giờ biết đủ.

Khi còn nghèo, người ta nghĩ chỉ cần có tiền là hạnh phúc. Khi có tiền rồi lại muốn xe đẹp hơn, nhà lớn hơn, địa vị cao hơn. Có được thứ này rồi lại tiếp tục thấy thiếu thứ khác. Tâm lý học gọi đó là “vòng xoáy khoái lạc”, con người nhanh chóng quen với sự hưởng thụ và phải liên tục tăng mức hưởng thụ để cảm thấy thỏa mãn như cũ.

Chính vì vậy, nhiều người hiện nay tuy vật chất đầy đủ nhưng nội tâm lại ngày càng trống rỗng. Họ mua sắm để giải tỏa cảm xúc, tiêu tiền để khỏa lấp cô đơn, chạy theo hàng hiệu để tìm cảm giác được công nhận. Nhưng cảm giác ấy thường chỉ tồn tại rất ngắn. Sau đó là áp lực tài chính, sự lo âu và cảm giác hụt hẫng khó gọi thành tên.

Người xưa hiểu rất rõ điều này nên mới xem tiết chế dục vọng là một loại tu dưỡng.


Tư Mã Quang từng nói: người tiết kiệm thì ít dục vọng, mà người ít dục vọng thì dễ giữ được phẩm hạnh. Đây không phải lời nói mang tính giáo điều, mà là một quan sát rất sâu sắc về bản chất con người.

Khi ham muốn quá lớn, con người rất dễ đánh mất giới hạn đạo đức.

Có người vì muốn giàu nhanh mà lừa lọc. Có người vì muốn giữ thể diện mà vay nợ để sống sang chảnh. Có người vì muốn được người khác ngưỡng mộ mà bất chấp năng lực thật của bản thân. Rất nhiều bi kịch trong xã hội hôm nay thực chất không bắt đầu từ nghèo khó, mà bắt đầu từ lòng ham muốn vượt quá khả năng kiểm soát.

Ngày nay, mạng xã hội càng khiến điều đó trở nên nghiêm trọng hơn.

Con người liên tục nhìn thấy cuộc sống hào nhoáng của người khác: những chuyến du lịch sang trọng, xe đẹp, nhà lớn, quần áo đắt tiền. Từ đó sinh ra cảm giác thua kém và áp lực phải “sống bằng người ta”. Tâm lý học gọi đây là “so sánh xã hội”. Khi con người so sánh quá nhiều, họ rất dễ đánh mất sự hài lòng với cuộc sống hiện tại.

Vì thế, nhiều người không còn tiêu dùng vì nhu cầu thật nữa, mà tiêu dùng để chứng minh giá trị bản thân.

Nhưng giá trị thật của con người chưa bao giờ nằm ở những thứ họ khoác lên người.

Một người biết tiết chế chi tiêu, sống giản dị mà vẫn đàng hoàng, tử tế, thường có nội tâm rất vững vàng. Họ không cần dùng vật chất để che lấp cảm giác thiếu giá trị bên trong. Họ cũng không bị ngoại cảnh thao túng quá nhiều. Đây là điều mà tâm lý học hiện đại gọi là “động lực nội tại”, tức giá trị sống xuất phát từ bên trong chứ không phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác.

Bởi vậy, tiết kiệm không phải là sống khổ hạnh cực đoan, càng không phải bủn xỉn với bản thân và người khác. Tiết kiệm chân chính là biết cái gì đáng dùng, cái gì không cần thiết; biết quý trọng công sức lao động, biết trân trọng tài nguyên, biết sống có chừng mực.

Người thật sự có phẩm đức thường không hoang phí. Không phải họ không đủ khả năng hưởng thụ, mà vì họ hiểu mọi thứ đều có cái giá của nó.

Tiêu xài vô độ không chỉ làm cạn tiền bạc, mà còn làm con người mất đi khả năng chịu đựng, khả năng biết đủ và năng lực cảm nhận những niềm vui giản dị.

Một người quen hưởng thụ quá mức sẽ rất khó quay lại cuộc sống bình thường. Giống như lời của Trương Văn Tiết: Từ giản dị sang xa xỉ thì dễ, nhưng từ xa xỉ quay lại giản dị lại vô cùng khó khăn.

Đó cũng là lý do vì sao nhiều gia đình giàu có chỉ qua một hai thế hệ đã suy bại. Không phải vì họ thiếu tiền, mà vì con cháu quen hưởng thụ nhưng không còn năng lực chịu khổ, không hiểu giá trị của lao động và cũng không biết tiết chế ham muốn.

Tâm lý học hiện đại cũng chỉ ra rằng những người trưởng thành thật sự thường có khả năng sống tối giản hơn trong tâm hồn. Họ không cần quá nhiều thứ để cảm thấy hạnh phúc. Họ biết tập trung vào những điều có ý nghĩa lâu dài như sức khỏe, gia đình, nhân phẩm, sự bình an nội tâm và các mối quan hệ chân thành.

Ngược lại, khi con người quá lệ thuộc vào vật chất để tìm niềm vui, họ rất dễ rơi vào trạng thái bất an kéo dài. Vì vật chất luôn có thể mất đi, còn lòng tham thì không có điểm dừng.

Thật ra, điều quý giá nhất mà tiết kiệm mang lại không phải là tiền để dành, mà là sự tự do trong tâm hồn.


Một người không bị dục vọng lôi kéo sẽ sống nhẹ hơn, bình tĩnh hơn và ít bị hoàn cảnh thao túng hơn. Họ không phải đánh đổi đạo đức để duy trì lối sống vượt quá khả năng của mình. Họ cũng không cần sống trong áp lực phải hơn thua với người khác.

Trong một thời đại mà con người liên tục bị kích thích mua sắm, hưởng thụ và phô bày bản thân, thì biết sống tiết chế đã trở thành một năng lực rất đáng quý.

Bởi sau cùng, giàu có thật sự không nằm ở việc sở hữu bao nhiêu, mà nằm ở chỗ một người có thể kiểm soát được bao nhiêu ham muốn của chính mình.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 3: CÚ SỐC DẦU MỎ 1973 VÀ QUYỀN LỰC PETRODOLLAR

Trong dư âm Thế chiến 2, hệ thống Bretton Woods (1944) đã xác lập vị thế USD là đồng tiền neo giữ của thế giới được bảo chứng bằng vàng. Tuy nhiên đến năm 1971, Mỹ đối mặt thâm hụt thương mại ngày càng gia tăng và dự trữ vàng cạn kiệt.

Petrodollar - quyền lực toàn cầu của Mỹ - Ảnh: Reuters

Đô la bản vị dầu mỏ

Khi các quốc gia khác tìm cách đổi USD lấy số vàng mà Mỹ không có, Tổng thống Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi đô la sang vàng - động thái đe dọa quyền lực tối cao của đồng bạc xanh. Giải pháp cứu vãn tình thế của Mỹ đã mở ra một kỷ nguyên mới: thời đại đô la - dầu mỏ (petrodollar).

Giá dầu thế giới vốn đã tăng không ngừng vào đầu những năm 1970 - được dẫn dắt bởi Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) mà thành viên chủ chốt là Saudi Arabia.

Sự kiện châm ngòi cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng nhất lịch sử hiện đại là cuộc chiến tranh Ả Rập - Israel tháng 10-1973, khi OPEC tuyên bố cấm vận dầu mỏ khiến giá dầu đột ngột tăng gấp 4 lần từ 3 lên 12 đô la/thùng, nhằm trừng phạt Mỹ vì hậu thuẫn Israel trong cuộc chiến.

Sau vài tháng, sáng kiến chống Israel biến thành nỗ lực độc quyền hóa để nâng giá dầu lên cao nhất có thể với mục tiêu mới đơn giản là tối đa hóa lợi nhuận. Những đợt tăng giá tiếp theo thu hút sự tham gia rộng rãi hơn nhiều, bao gồm cả Iran lúc bấy giờ dưới quyền nhà cai trị thân Mỹ Shah Mohammad Reza Pahlavi.

Với Mỹ, cuộc khủng hoảng năng lượng trở thành nỗi ám ảnh không thể nào quên khi hình ảnh những đoàn xe dài đợi đổ xăng xuất hiện ở đất nước xe hơi đồng nghĩa với tự do. Năm 1974, một năm sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ, Mỹ và Saudi Arabia đạt được thỏa thuận bí mật (mới được công khai vào năm 2016) đảm bảo rằng dầu của Riyadh sẽ được định giá chỉ bằng USD. Đổi lại, Mỹ bảo đảm quân sự và cung cấp vũ khí cho Saudi Arabia.

Nhà nước quân chủ Saudi vốn nắm quyền lực tuyệt đối về cả kinh tế lẫn chính trị, tái đầu tư thu nhập từ dầu mỏ vào trái phiếu kho bạc Mỹ và các khoản đầu tư ở Mỹ. Thỏa thuận này đặt nền móng cho hệ thống petrodollar gắn chặt hàng hóa được giao dịch nhiều nhất thế giới (dầu mỏ) với đồng USD.

Cuối những năm 1970, hầu hết các nước OPEC đã theo chân Saudi trong chương trình "đổi dầu lấy đô la" này. Lượng petrodollar dư thừa được đổ vào các ngân hàng phương Tây và giấy tờ có giá (nợ) của Mỹ.

Các nước có dầu mỏ giờ có chủ quyền lớn hơn với nguồn tài nguyên quốc gia so với thời thuộc địa để xây dựng những nhà nước phúc lợi hào phóng, và để giới cầm quyền chi tiêu cho những viễn tượng chính trị, xã hội, quân sự, biến vùng sa mạc Trung Đông thành những đại đô thị xa hoa bậc nhất thế giới.

Đổi lại, Mỹ có tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho các hoạt động cả công khai lẫn bí mật vô cùng tốn kém khi họ cạnh tranh gay gắt với Liên Xô suốt thời Chiến tranh lạnh.

Những hệ lụy dài hạn là rất sâu sắc: đồng đô la trở thành loại tiền tệ mặc định cho thương mại dầu mỏ và do đó là thương mại toàn cầu nói chung, thúc đẩy vị thế tiền tệ dự trữ của nó và cho phép Mỹ duy trì ưu thế kinh tế và quân sự "gần như một lẽ đương nhiên". Trật tự petrodollar này cơ bản được duy trì nguyên vẹn cho đến nay.

Cảnh tượng xếp hàng đổ xăng ở Maryland tháng 2-1974 - Ảnh: History.com

Không chỉ mặt trái

Hệ thống petrodollar đồng nghĩa trên thực tế Mỹ có thể mở máy in tiền thoải mái để tài trợ cho chi tiêu quân sự, hạ tầng, xã hội… mà không sợ gây lạm phát phi mã, vì lượng đô la dư thừa được hấp thụ ở nước ngoài để thanh toán các nhu cầu thương mại và dự trữ. Đặc quyền độc nhất vô nhị này trở thành nguyên nhân gốc rễ của nhiều động lực địa chính trị và kinh tế lớn của kỷ nguyên hiện đại.

Mỹ sử dụng sức mạnh kinh tế, công nghệ và cả quân sự để thiết lập hệ thống petrodollar. Rồi họ lại sử dụng hệ thống petrodollar đó để dập tắt các thách thức với trật tự "hòa bình kiểu Mỹ" (Pax Americana).

Trong Chiến tranh lạnh, các phong trào dân tộc chủ nghĩa dân tộc Ả Rập và xã hội chủ nghĩa ở Trung Đông luôn bị coi là mối đe dọa với "lợi ích kinh tế sống còn" của Mỹ.

Các chế độ không đủ thân Mỹ trong khu vực đứng trước nguy cơ bị lật đổ, từ Gamal Abdel Nasser của Ai Cập đến Mohammad Mossadegh ở Iran. Các nhà lãnh đạo cố gắng bỏ qua hệ thống petrodollar là cá biệt và thường không có kết cục tốt đẹp.

Saddam Hussein (Iraq) chuyển sang bán dầu bằng đồng euro vào năm 2000. Gaddafi (Libya) từng đề xuất một loại tiền tệ châu Phi được bảo chứng bằng vàng. Không sa đà vào thuyết âm mưu và cần khẳng định còn nhiều yếu tố khác tác động đến những cuộc xung đột đó, thông điệp vẫn rất rõ ràng: Mỹ khó dung thứ cho những thách thức với sự thống trị của đồng USD trên thị trường dầu mỏ.

Các liên minh của Mỹ trong khu vực càng phản ánh rõ địa chính trị của petrodollar. Vai trò đồng minh chủ chốt của Israel ở Trung Đông được Washington tài trợ mạnh mẽ: Từ năm 1960 đến nay, Mỹ cung cấp cho Israel hơn 250 tỉ đô la viện trợ.

Từ năm 2022, Quốc hội Mỹ đã phê duyệt hơn 175 tỉ đô la viện trợ cho Ukraine. Trong cuộc chiến với Iran, kiểm toán chi phí sơ bộ cho tuần lễ đầu tiên là hơn 11 tỉ đô la. Mức chi tiêu như vậy là không tưởng với hầu hết các quốc gia, nếu họ không có trong tay đồng tiền dự trữ toàn cầu.

Hệ thống petrodollar còn tài trợ cho mạng lưới hàng trăm căn cứ quân sự, hàng loạt hiệp ước, cam kết ủy nhiệm khắp thế giới và cả vũ khí kinh tế khi Washington cần tưởng thưởng đồng minh hay trừng phạt đối thủ. Kết quả là bối cảnh địa chính trị nơi quyền tối cao quân sự và tiền tệ của Mỹ củng cố lẫn nhau.

Nhưng hệ thống petrodollar không chỉ có tiêu cực, nhất là khi ta tìm cách trả lời câu hỏi: Có hệ thống nào tốt hơn để thay thế nó không? Khi dầu mỏ - đầu vào quan trọng nhất của mọi nền kinh tế - được định giá thống nhất bằng USD, các quốc gia không phải tốn chi phí chuyển đổi tiền tệ nhiều lần. Các doanh nghiệp và chính phủ trên có thể lập kế hoạch ngân sách và năng lượng dài hạn dựa trên một đơn vị tiền tệ ổn định và phổ biến nhất.

Lợi ích thứ hai của hệ thống là nó tạo ra thanh khoản và kéo theo là hoạt động thương mại và đầu tư ở mức độ chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Số tiền khổng lồ mà các nước xuất khẩu dầu thu qua hệ thống ngân hàng Mỹ và phương Tây được đầu tư và cho vay lại để tài trợ cho các dự án hạ tầng và phát triển ở nhiều quốc gia, bao gồm cả các nước đang phát triển.

Dòng tiền petrodollar còn tạo ra một thị trường tài chính toàn cầu sâu rộng, mở rộng thương mại, đóng góp vào nhiều nền kinh tế trở nên hùng mạnh nhờ chính sách hướng xuất khẩu, đặc biệt là ở Đông Á.

Cuối cùng, trong nhiều thập niên USD đóng vai trò mỏ neo giúp ngăn sự sụp đổ dây chuyền của các đồng tiền nhỏ hơn khi có biến động địa chính trị lớn nhờ vào niềm tin USD luôn có giá trị sử dụng, ít nhất là để mua năng lượng.

Tình trạng tranh giành tài nguyên trực tiếp vì vậy đã đỡ gay gắt hơn. Một hệ thống giao dịch thống nhất, dù bị một siêu cường thao túng, vẫn ít tàn khốc hơn những cuộc chiến tranh để chiếm đóng các mỏ dầu như thời Thế chiến 1 và 2.

Tình hình chỉ trở nên nghiêm trọng khi Mỹ lạm dụng đặc quyền của họ, còn các cường quốc khác nổi lên thách thức đặc quyền đó như Liên Xô đã muốn vậy vào thời Chiến tranh lạnh.

Saudi Arabia, trụ cột của hệ thống petrodollar, hiện đang tích cực tìm cách tái cân bằng mối quan hệ giữa các siêu cường, đáng chú ý nhất là thông qua một thỏa thuận gần đây về hoán đổi tiền tệ quy mô lớn với Trung Quốc.

Vào năm 2013, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trở thành nước nhập khẩu dầu thô số 1 thế giới và kể từ đó đã đàm phán với Saudi để thực hiện giao dịch bằng nhân dân tệ. Tuy nhiên trong tương lai gần, hệ thống petrodollar vẫn chưa có đối thủ nào thực sự.

********************

Năng lượng trở thành công cụ ý thức hệ và kiềm chế kinh tế như thế nào trong cuộc đối đầu Xô - Mỹ.

>> Kỳ tới: Chiến tranh lạnh và những mỏ dầu nóng

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:



Sunday, May 24, 2026

10 CHỐN KINH ĐÔ XƯA Ở TRUNG HOA

Với hàng ngàn năm lịch sử, Trung Quốc tự hào có rất nhiều thủ đô cổ xưa. Mỗi cố đô có câu chuyện và tinh thần riêng. Các di tích cổ xưa lịch sử và sự quyến rũ hiện đại của các thành phố đều đáng để khám phá. Dưới đây là danh sách 10 thủ đô cổ xưa ở Trung Quốc, hiện nay đều là những địa điểm du lịch nổi tiếng.


Bắc Kinh

Bắc Kinh có lịch sử lâu dài và phong phú, truy nguyên từ cách nay 3.000 năm, Bắc Kinh là thủ đô của nước Kế rồi nước Yên trong hàng thế kỷ. Các triều đại phong kiến dưới thời nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh đều chọn Bắc Kinh làm thủ đô. Ngày nay, rất nhiều di tích lịch sử và văn hóa ở Bắc Kinh đã được lưu giữ tốt như cung điện hoàng gia và nhà dân, bao gồm cả những khu phố cổ.

Các triều đại phong kiến dưới thời nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh đều chọn Bắc Kinh làm thủ đô

Đến với Bắc Kinh, quý khách sẽ đươc khám phá vẻ đẹp hòa hợp giữa nét cổ kính của thành phố hơn 700 năm tuổi và sự hiện đại của đô thị loại một trên thế giới. Tử Cấm Thành, Quảng trường Thiên An Môn là những điểm đến luôn nằm trong danh sách phải đến khi ghé thăm Bắc Kinh.

Nam Kinh

Đền Khổng Tử Nam Kinh trở thành thủ đô lần đầu tiên vào năm 229 sau Công nguyên, trong thời kỳ Tam Quốc. Nam Kinh từng là kinh đô của nhà Đông Ngô, Tề, Lương, Trần, Đông Tấn và nhà Tống. Đây là một thành phố có bề dày lịch sử và văn hóa nổi tiếng Trung Quốc với đền thờ Khổng giáo, Minh Hiếu Lăng, Tường thành Nam Kinh, Lăng mộ của Tôn Trung Sơn….

Nam Kinh từng là kinh đô của nhà Đông Ngô, Tề, Lương, Trần, Đông Tấn và nhà Tống

Nam Kinh nổi tiếng là một di sản văn hóa nhưng cũng là một thành phố năng động, trẻ trung. Đến với phố Nam Kinh, du khách sẽ được trải nghiệm nhịp sống tràn đầy năng lượng trên con phố thương mại nổi tiếng nhất Thượng Hải, cùng khu mua sắm dành cho người đi bộ với hàng loạt lựa chọn từ hạng sang tới truyền thống.

Tây An

Nổi tiếng với khu vực di tích lịch sử có giá trị như lăng mộ Tần Thủy Hoàng với đội quân đất nung, Tây An cũng là 1 trong 5 thủ đô vĩ đại, được nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đóng đô nhất (cùng với Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh và Bắc Kinh).

Tây An cũng là 1 trong 5 thủ đô vĩ đại, được nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đóng đô nhất

Tây An từng là kinh đô của 13 triều đại. Trong số đó có nhà Hán, Tùy và nhà Đường. Đây là một nơi phát sinh quan trọng của nền văn minh Trung Quốc và có các di tích lịch sử được bảo tồn khá tốt. Hiện nay, Tây An là thành phố lớn nhất và phát triển nhất trong khu vực miền Trung đến Đông Bắc và xếp thứ 10 trong các thành phố lớn nhất Trung Quốc.

Lạc Dương

Lạc Dương từng là một trong 10 kinh đô Trung Hoa xưa của 13 triều đại Trung Quốc trong hơn 1500 năm. Trong số đó có nhà Đông Chu, Đông Hán và triều đại Bắc Ngụy. Đó là thành phố duy nhất được gọi là Shendu (thủ đô của Chúa) trong lịch sử Trung Quốc. Lạc Dương là thành phố nơi Đạo giáo, Nho giáo phát triển mạnh mẽ và Phật giáo lần đầu tiên được truyền vào Trung Quốc.

Lạc Dương là thành phố nơi Đạo giáo, Nho giáo phát triển mạnh mẽ

Hàng Châu

Hàng Châu từng được chọn làm kinh đô của nhà Ngô Việt (907-978) và Nam Tống (1127-1279). Nhà du hành nổi tiếng Marco Polo đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp của Hàng Châu và ca ngợi thành phố này là thành phố đáng chú ý nhất trên thế giới. Non nước hữu tình, phong cảnh nên thơ, thành phố Hàng Châu tựa như một bức tranh thủy mặc trầm tĩnh, vừa mang vẻ đài ác kiêu sa của bậc danh môn khuê nữ, vừa ẩn chứa nét kiều diễm mềm mỏng của dân nữ xứ Giang Nam.

Non nước hữu tình, phong cảnh nên thơ, thành phố Hàng Châu tựa như một bức tranh thủy mặc trầm tĩnh

Một câu nói cũ của người Trung Quốc về Hàng Châu là thiên đường không chỉ có trên bầu trời, còn có ở Tô Châu và Hàng Châu ở Trung Quốc.

An Dương

Nằm ở phía bắc của tỉnh Hà Nam, là một trong những nơi được nhiều triều đại chọn làm kinh đô nhất. Trong hơn 3000 năm lịch sử, An Dương là một trong những cái nôi của nền văn minh Trung Quốc và từng là thủ đô dưới thời kỳ nhà Thương vào thế kỷ 14 trước Công nguyên.

Trong hơn 3000 năm lịch sử, An Dương là một trong những cái nôi của nền văn minh Trung Quốc

Khai Phong

Khai Phong Nằm trên bờ sông Hoàng Hà, Khai Phong là một thành phố lớn với số dân 5 triệu người. Đây được được coi là thành phố thư pháp vì nhiều phong cách thư pháp được phát triển tại nơi này. Từng là thủ đô của bảy triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Quốc như Ngụỵ, Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu, Bắc Tống, Kim.

Thanh Minh thượng hà đồ

Với lịch sử hơn 2700 năm, Khai Phong là một trong những nơi sinh ra nền văn hóa Trung Quốc. Sự thịnh vượng của Khai Phong cổ đại được thể hiện sinh động trong một bức tranh cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc Thanh Minh thượng hà đồ.

Trịnh Châu

Trịnh Châu, thủ phủ của tỉnh Hà Nam, cũng là thủ đô của triều đại nhà Thương. Di tích đã ghi lại nền văn minh Trung Quốc vào thời kỳ giữa của nhà Thương. Đây là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng của Trung Quốc đón tiếp nhiều khách du lịch mỗi năm.

Trịnh Châu, thủ phủ của tỉnh Hà Nam, cũng là thủ đô của triều đại nhà Thương

Đại Đồng

Nằm ở phía bắc tỉnh Sơn Tây, Đại Đồng là một trong những thủ đô lịch sử của Trung Quốc. Đại Đồng, còn được gọi là thành phố trên mây hay thành phố Phượng hoàng, là thủ đô trong triều đại Bắc Ngụy trước khi chuyển đến Lạc Dương vào năm 493.

Với lịch sử gần 2400 năm, Đại Đồng từng là thủ phủ từ thời nhà Bắc Ngụy (386-534) cho tới năm 494

Đây từng là một trong những thành phố trung tâm của Bắc Trung Quốc thời cổ đại. Với lịch sử 2300 năm, Đại Đồng thúc đẩy truyền thông và phát triển văn hóa Phật giáo và hội nhập quốc gia Trung Quốc. Tác phẩm điêu khắc của Đại Đồng được xếp hạng hàng đầu tại Trung Quốc. Với lịch sử gần 2400 năm, Đại Đồng từng là thủ phủ từ thời nhà Bắc Ngụy (386-534) cho tới năm 494. Nơi này cũng đóng vai trò quan trọng trong triều đại nhà Liêu (916 – 1125) và nhà Tấn (1115 – 1234).

Hàm Dương

Giáp ranh thành phố thủ phủ của tỉnh, Tây An, Hàm Dương là một trong những kinh đô cổ đại nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Nơi này được chọn làm kinh đô của nhà Tần trong thời kỳ Chiến quốc. Tần Thủy Hoàng - vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tần có công thống nhất 6 tiểu quốc thành một nước Trung Hoa duy nhất - đã chuyển kinh đô về đây vào năm 250 trước công nguyên.


Theo: VYC Travel

HẠC XUNG THIÊN (LẬT THỦY TRƯỜNG THỌ HƯƠNG TÁC) - CHU BANG NGẠN


Hạc xung thiên
(Lật Thuỷ trường thọ hương tác)

Mai vũ tễ,
Thử phong hoà,
Cao liễu loạn thiền đa.
Tiểu viên đài tạ viễn trì ba,
Ngư hí động tân hà.

Bạc sa trù,
Khinh vũ phiến,
Chẩm lãnh điệm lương thâm viện.
Thử thì tình tự thử thì thiên,
Vô sự tiểu thần tiên.


鶴沖天
(溧水長壽鄉作)

梅雨霽,
暑風和,
高柳亂蟬多。
小園臺榭遠池波,
魚戲動新荷。

薄紗廚,
輕羽扇,
枕冷簟涼深院。
此時情緒此時天,
無事小神仙。


Hạc xung thiên
(Làm ở Lật Thuỷ nơi sống lâu)
(Dịch thơ: Nguyễn Đương Tịnh)

Mưa dầm tạnh
Gió hạ nồng
Ve liễu rộn tiếng đồng
Vườn xinh lầu đẹp hồ rung sóng
Cá nhảy động sen mòng

Màn the mỏng
Nhẹ quạt lông
Nằm chiếu trúc nhà mênh mông
Lúc thì ta định, khi trời định
Chẳng gì cũng tiên ông


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Bang Ngạn 周邦彥 (1057-1121) tự Mỹ Thành 美成, hiệu Thanh Chân cư sĩ 清真居士, người Tiền Đường (nay thuộc Hàng huyện, Triết Giang). Ông từng làm quan tri huyện tri phủ, song con đường hoạn nạn, thăng trầm bất định. Ông rành âm nhạc, có thể tự làm nhạc phú, từ vận của ông thanh thoát, tác phẩm có tập Thanh Chân từ, tức Phiến Ngọc thù.

Nguồn: Thi Viện

"PHÚC TƯỚNG" CỦA MỘT NGƯỜI ĐẾN TỪ ĐÂU?

Tài phú đến từ sự bố thí, sự tôn kính đến từ sự khiêm cung. Bất cứ phúc báo nào cũng đều có nguyên nhân tất yếu của nó. Một gương mặt tràn đầy phúc tướng phải đến từ những con người có tính cách thiện lương và nhân hậu.


Sau khi một người bước vào tuổi trung niên, ngoại hình xuất hiện phần lớn là do ảnh hưởng của tính cách hiện tại. Ngoại hình là sự phản ánh những suy nghĩ và hành vi lâu dài trên khuôn mặt, đồng thời nó cũng dự đoán vận mệnh tương lai của một người!

Những người có tính cách hung hăng thường có vẻ mặt dữ tợn; nhiều người có phẩm hạnh không được tốt thường có vẻ mặt cay nghiệt; hà khắc.

Đặc điểm khuôn mặt của một người không chỉ liên quan đến yếu tố di truyền từ cha mẹ mà mức độ xinh đẹp còn do thói quen mang lại từ kiếp trước. Nửa đầu cuộc đời của một người chịu sự ảnh hưởng của kiếp trước, nửa sau của cuộc đời phần lớn chịu sự ảnh hưởng của nửa đầu cuộc đời của kiếp này. Vì vậy, sau khi con người bước sang tuổi trung niên, họ phải có trách nhiệm với bộ mặt của chính mình.

Tấm lòng lương thiện, từ bi cũng là một yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến ngoại hình. Những người có tâm hồn thiện lương thường toát ra một năng lượng tích cực từ trong ra ngoài, điều này khiến người khác muốn ngắm nhìn họ nhiều hơn và ngày càng thích tiếp xúc với họ.

Còn những người quá ích kỷ, xảo quyệt, tính toán thì khuôn mặt rất khó coi, thậm chí xấu xí. Ngay cả khi bạn may mắn được sinh ra với ngoại hình ưa nhìn thì một số điều kém hấp dẫn sẽ dần dần xuất hiện trên khuôn mặt của những người có tính cách không tốt, chẳng hạn như khuôn mặt của bạn không được thân thiện, chỉ là trông có vẻ “ưa nhìn” ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng nó sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn sau khi họ đã tiếp xúc nhiều.

(Ảnh minh họa: Internet)

Hãy tin rằng ngoại hình có thể dần thay đổi theo tính cách của mình. Vì vậy, bạn muốn đẹp về ngoại hình thì trước tiên cần phải đẹp về tâm hồn!

Ngoại hình của một người có đẹp không? Nó xuất phát từ trái tim của những người nhìn thấy nó.

1. Người sẵn sàng chịu thiệt rốt cuộc sẽ không chịu thiệt

Giữa bạn bè, chịu thiệt một chút tình bạn có thể bền lâu, giữa các thành viên trong gia đình, nhượng bộ nhiều một chút có thể khiến gia đình hòa thuận. Trong kinh doanh, cho đi nhiều hơn một chút có thể mang lại niềm tin vô giá… Những người sẵn sàng chịu tổn thất rốt cuộc sẽ không phải chịu tổn thất.

Người có thể chịu thiệt ắt là người nổi tiếng, người nổi tiếng đương nhiên sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn. Một người chỉ cần nắm bắt một hoặc hai cơ hội trong đời là đủ.

2. Tham lợi nhỏ sẽ mất nhiều hơn.

Để trở thành một con người, bạn nên sống thật trong sáng và không bao giờ tham lam những thứ rẻ tiền hay lợi lộc. Những người thích lợi dụng cuối cùng cũng không thể được lợi. Người ham rẻ khi nhặt được một cọng cỏ sẽ mất đi cả cánh rừng.

Bạn thấy đấy, có những người tỏ ra rất thông minh, họ đi vệ sinh ngay khi nhân viên đến thanh toán hóa đơn. Hoặc những người đi ăn chung mà không chi trả trong thời gian dài về cơ bản đó là người không có thành tích gì cả.


3. Trong tâm đầy đủ gọi là phú, được người khác cần đến thì gọi là quý.

4. Hạnh phúc không phải ở tính cách mà là một loại năng lực.

5. Cách tốt nhất để giải quyết những lo lắng của bạn là quên chúng đi.

6. Không tranh đấu là từ bi, không tranh cãi là trí tuệ, không nghe là thanh tịnh, không nhìn thấy là tự tại, tha thứ là giải thoát, hài lòng chính là buông bỏ.

7. Đừng để trái tim mình bị biến động, đừng bị mắc kẹt bởi cảm xúc, đừng sợ hãi về tương lai và đừng đắm chìm trong quá khứ.

8. Chỉ khi trân trọng số phận, chúng ta mới có thể tiếp tục nó.

Trên đường đời, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người. Kỳ thực, có duyên chúng ta mới có thể gặp mặt. Hầu hết người thân của chúng ta đều là bạn bè ở kiếp trước, và hầu hết bạn bè của chúng ta ở kiếp này đều là họ hàng với ta từ kiếp trước, người gây rắc rối cho bạn chính là những người bạn đã làm tổn thương ở kiếp trước.

Vì vậy hãy nhớ! Hãy thiện đãi với những người thân bên cạnh bạn, quan tâm đến bạn bè xung quanh, khoan dung cho những người đã làm tổn thương bạn. Đây chính là nhân quả.

9. Con người sống ở thế gian này, nhiều lắm cũng chỉ là mấy mươi năm, đau khổ, truy cầu rốt cuộc có thể lưu lại điều gì? Danh lợi cũng là thoảng qua như mây khói, sinh không mang theo đến, chết không mang theo đi. Vì vậy hãy sống trong hiện tại, cười trong hiện tại và thấu hiểu trong hiện tại!

Đăng Dũng
Theo: vandieuhay

Saturday, May 23, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 2: CHIẾN TRANH THẾ GIỚI VÀ KỶ NGUYÊN DẦU MỎ

Trong cả Thế chiến 1 và 2, dầu mỏ vừa đóng vai trò động lực vừa là mục tiêu định hình cả cục diện chiến sự lẫn để lại hệ quả hết sức lâu dài với nhân loại.

Cuộc gặp gỡ định đoạt thế cuộc dầu mỏ giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud - Ảnh: History.com

Từ mục đích quân sự

Kỷ nguyên dầu mỏ có thể được coi là đã mở ra ngay trước Thế chiến 1 với tuyên bố trước nghị viện vào năm 1914 của Bộ trưởng hải quân Winston Churchill, người sau này trở thành vị thủ tướng huyền thoại lãnh đạo nước Anh trong Thế chiến 2: "Chúng ta không được phép phụ thuộc vào bất kỳ một phẩm cấp, một quy trình, một quốc gia, một lộ trình hay một mỏ dầu riêng biệt nào. Sự an toàn và chắc chắn của nguồn dầu nằm ở sự đa dạng và chỉ có đa dạng mà thôi".

Trước Thế chiến 1, dầu mỏ được sử dụng còn hạn chế với mục đích chủ yếu là thắp sáng. Năm 1914, than đá vẫn giữ ngôi vương, cung cấp tới 74% nguồn cung năng lượng cho thế giới, so với chỉ 5% dầu mỏ. Năm 1907, giá trị thương mại than đá Anh là hơn 52 tỉ bảng, trong khi tổng giá trị sản phẩm dầu mỏ xuất khẩu từ Mỹ mới khoảng 19 triệu bảng.

Suốt một thế kỷ trước cuộc chiến, ưu thế địa chính trị của Anh được đảm bảo bởi hạm đội tàu hơi nước và vào đầu thế kỷ 20 Anh là nước xuất khẩu năng lượng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, Thế chiến 1 đã gây đứt gãy nghiêm trọng với xu hướng này và mối lo về quyền tiếp cận dầu mỏ, như tuyên bố nổi tiếng của Churchill, trở thành chìa khóa cho những động lực địa chính trị đang thay đổi.

Những động lực này gia tăng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên trong lịch sử vào năm 1917, điều sẽ còn lặp lại nhiều lần nữa trong tương lai như chính những gì chúng ta đang được trải nghiệm hiện nay.

Lượng dầu tiêu thụ ngày càng tăng do nhu cầu cho các quân đội ở châu Âu, trong khi các tuyến cung cấp thường xuyên bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công qua lại, nhất là do hoạt động tàu ngầm Đức, thứ vũ khí rất mới mẻ và lúc bấy giờ vô cùng khó đối phó. Dưới áp lực gay gắt, Mỹ, Anh và nhiều nước khác buộc phải hội nhập chặt chẽ hơn trong hoạt động cung ứng.

Căng thẳng địa chính trị cũng gia tăng ở Trung Đông vì cuộc săn lùng dầu mỏ khi Anh cố gắng giành quyền kiểm soát các mỏ dầu quan trọng ở Iraq. Hiệp ước Sykes-Picot ký năm 1916 giữa Anh và Pháp phân chia vùng Lưỡng Hà càng khuếch đại ý nghĩa địa chính trị của Trung Đông, dẫn đến căng thẳng gia tăng giữa các cường quốc sau chiến tranh.

Thay đổi rộng lớn về địa chính trị bắt nguồn từ những thách thức kỹ thuật - xã hội cụ thể về năng lượng, thực phẩm và đi lại của một thời kỳ nhảy vọt về nhiều mặt trong đời sống nhân loại.

Từ trước Thế chiến 1, ưu thế tàu chạy dầu đã được nhiều lực lượng hải quân trên thế giới nhận ra. Dầu có nhiệt lượng gấp đôi than đá, tức cần ít không gian lưu trữ hơn; hoạt động hậu cần tiếp liệu trên biển dễ dàng hơn; ít phụ thuộc vào các bến cảng hơn; giúp tàu thuyền linh hoạt hơn về tốc độ và cần ít nhân lực hơn.

Tàu chạy dầu phun khói ít hơn cũng đồng nghĩa với lợi thế lớn khi pháo kích mục tiêu ven bờ hay cần di chuyển bí mật. Trước và sau Thế chiến 1, tỉ lệ tàu chạy dầu của hải quân Anh tăng từ 5% lên hơn 40%. Hải quân Đức thậm chí chỉ còn toàn tàu chạy dầu vào cuối cuộc chiến.

Quan trọng không kém là những thay đổi trên bộ. Ô tô và xe tải động cơ đốt trong chỉ là phân khúc nhỏ trong hệ thống giao thông trước chiến tranh. Nhưng Anh và Mỹ đã sử dụng các phương tiện này ngày càng nhiều để tạo lợi thế chiến thuật về hậu cần, khi vận tải đường sắt gặp phải nhiều vấn đề nghiêm trọng.

Thế chiến 1 được coi là đỉnh cao của "kỷ nguyên đường sắt" phụ thuộc vào than đá nhưng từ sau đó, những chiếc xe chạy bằng xăng dầu cơ động hơn nhiều sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối so với các toa xe lửa cồng kềnh, dễ trúng đạn và hệ thống đường ray độc đạo.

Thực tế mới về "chiến tranh trên không" cũng xuất hiện. Máy bay, còn ở giai đoạn phôi thai, góp phần làm tăng nhu cầu về sản phẩm xăng dầu. Ở Anh, ngành công nghiệp máy bay tăng tốc sản lượng trong suốt cuộc chiến, từ khoảng 10 chiếc mỗi tháng vào đầu chiến tranh lên 122 chiếc vào năm 1917 và 2.688 chiếc vào năm 1918.

Đường ống Big Inch, một trong những đường ống dầu mỏ đầu tiên ở Mỹ, đoạn đi qua Phoenixville, Pennsylvania năm 1943 - Ảnh: The Conversation

Tới tham vọng địa chính trị

Rất nhanh chóng, cuộc chiến thế giới tạo ra cơn cuồng dầu mỏ tác động sâu sắc lên quan hệ quốc tế hậu chiến. Những năm 1920 là giai đoạn đầy bất ổn với nguồn cung dầu toàn cầu.

Nước Anh lúc này nắm giữ 50% trữ lượng dầu được biết đến của thế giới qua các thuộc địa rộng mênh mông. Đòi hỏi phân chia "sòng phẳng" giữa các cường quốc sau đó dẫn tới Hiệp định "Lằn ranh đỏ" ký ở Achnacarry (Scotland) năm 1928 nhằm kiểm soát giá dầu toàn cầu và hình thành các liên minh độc quyền dầu mỏ.

Cùng với hiệp định này, liên doanh dầu mỏ "Bảy chị em" (Seven Sisters) ra đời. Qua đó, các công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới đồng ý ngừng thăm dò độc lập trong lãnh thổ Đế quốc Ottoman cũ mà phối hợp với nhau để kiểm soát nguồn vàng đen, điều sẽ để lại những hệ lụy rất lâu dài.

Chiến lược độc lập dầu mỏ của Anh trong những năm giữa hai cuộc chiến khác biệt đáng kể so với Đức, điều cuối cùng đã tác động hệ trọng đến Thế chiến 2. Gượng dậy sau thất bại, Đức thiết lập ngành công nghiệp nhiên liệu tổng hợp để đáp ứng nhu cầu dầu ngày càng tăng khi họ tiếp tục công nghiệp hóa và tái vũ trang vào những năm 1930.

Quy trình thâm dụng năng lượng để sản xuất dầu tổng hợp từ than của Đức khiến tư tưởng mở rộng lãnh thổ để giành lấy các nguồn dầu thô trở thành yếu tố then chốt trong kế hoạch quân sự và chiến lược chiến tranh của chế độ quốc xã.

Ở Mỹ, sản xuất và tiêu thụ dầu tiếp tục tăng đều đặn với sự trỗi dậy của văn hóa xe hơi và tiêu dùng đại chúng. Lượng máy bay quân sự dư thừa từ Thế chiến 1 cũng có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển xã hội sau chiến tranh ở Mỹ: trong 10.000 chiếc máy bay dư thừa, một số được chuyển sang mục đích dân sự như chuyển phát thư.

Tuy nhiên phải đến Thế chiến 2, quá trình "xăng dầu hóa nông nghiệp" mới thực sự tăng tốc cùng với sự tăng tốc về xây dựng hạ tầng cao tốc liên bang, dẫn đến dầu mỏ trở thành một phần không thể tách rời "lối sống Mỹ".

Thế chiến 2 thậm chí có thể được gọi là cuộc xung đột do và về dầu mỏ. Lực lượng Mỹ ở châu Âu sử dụng lượng xăng trong Thế chiến 2 gấp 100 lần so với Thế chiến 1. Hai năm sau khi cuộc chiến nổ ra, vào năm 1941 nguồn cung dầu cho Anh bị cắt đứt do các cuộc tấn công của tàu ngầm Đức.

Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng cũng vào năm 1941 vì lệnh cấm vận dầu mỏ của Mỹ. Và một trong những nguyên nhân then chốt khiến Hitler xâm lược Liên Xô trong cùng năm là vì chính quyền Đức quốc xã muốn chiếm lấy nguồn dầu mỏ dồi dào ở vùng Kavkaz.
Trong suốt Thế chiến 2, Mỹ cũng bắt đầu chuyển hướng chú ý sang nỗ lực đảm bảo nguồn cung dầu cho tương lai. Năm 1944, nhà địa chất người Mỹ Everette Lee DeGoyler trở về từ Saudi Arabia và tuyên bố dầu mỏ khu vực này sẽ là "phần thưởng lớn nhất trong toàn bộ lịch sử".

Trong các cuộc họp bí mật ở kênh đào Suez giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud, cha của Quốc vương Saudi hiện giờ và ông nội của vị Thái tử lừng danh đang cầm quyền Mohammed bin Salman, Mỹ đã khẳng định được quyền lực áp đảo với khu vực nhiều dầu mỏ nhất thế giới. Khoảnh khắc đó đóng vai trò then chốt định hình căn bản thương mại năng lượng và địa chính trị quốc tế như ngày nay.

****************

Khi các nước Ả Rập lần đầu tiên dùng dầu mỏ như một lệnh trừng phạt chính trị quy mô lớn. Trong nhiều hệ quả của cuộc khủng hoảng thì sự đổ vỡ của hệ thống đô la - bản vị vàng và sự ra đời của hệ thống đô la - bản vị dầu mỏ (petrodollar) có lẽ là quan trọng nhất.

>> Kỳ tới: Cú sốc dầu mỏ 1973 và quyền lực petrodollar

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:




SÁNG TÁC CỦA BEE GEES: NHỮNG PHIÊN BẢN HÒA ÂM MỚI

Không phải ngẫu nhiên mà tạp chí Rolling Stone từng mệnh danh nhóm Bee Gees là cỗ máy sản xuất hàng loạt bài hát ăn khách. Với hơn 250 triệu đĩa nhạc được bán trên thế giới, ban nhạc Bee Gees thành công không kém gì Elvis Presley, The Beatles hay Michael Jackson. Ngoài các bản ghi âm thành công, ba anh em nhà họ Gibb còn soạn nhạc và sản xuất đĩa hát cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác, trong đó có nhạc phẩm « Heartbreaker », với phần ghi âm của nam ca sĩ Pháp Christophe Willem.

Ban nhạc Bee Gees năm 2007. Từ trái sang phải : Maurice Gibb, Robin Gibb, Barry Gibb. © AP

Giai điệu "Heartbreaker" ban đầu được viết cho Dionne Warwick. Bản thân nữ ca sĩ cho biết cô không thích bài này cho lắm, nhưng cô vẫn tin tưởng vào kinh nghiệm sản xuất và tay nghề sáng tác của nhóm Bee Gees. Một sự chọn lựa đúng đắn, vì nhạc phẩm « Heartbreaker » (1982) trở thành bài hát ăn khách nhất của nữ danh ca người Mỹ. Trong tiếng Việt, bài này từng được Lưu Bích ghi âm, lời phóng tác « Chợt nhói con tim » là của tác giả Lan Anh.

Nhạc phẩm « Heartbreaker » do cả ba anh em Gibb đồng sáng tác và có giọng hát đệm của Barry Gibb trong phần điệp khúc. Bài hát này từng đạt hạng 10 trên danh sách Hot100 và vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Adult Contemporary của Billboard. Nhóm Bee Gees cũng có ghi âm một phiên bản riêng cho album phòng thu thứ 21 của mình (Still Waters/1997), nhưng mãi đến năm 2001, phiên bản của Bee Gees mới được phát hành trên băng đĩa.


Một thập niên trước đó, sau khi lập kỷ lục số bán với nhạc phim « Saturday Night Fever » (Cơn sốt đêm thứ Bảy), nhóm Bee Gees đã được nhiều đồng nghiệp mời hợp tác. Nhóm này đã viết giai điệu « Grease » cho Frankie Valli, giọng ca chính của bộ tứ The Four Seasons, giai điệu « Emotions » cho Samantha Sang (và được Beyoncé ghi âm lại thời cô là thành viên của nhóm Destiny's Child), bản nhạc Islands in the Stream (Hòn đảo giữa dòng nước ấm) ban đầu viết cho ông hoàng nhạc soul Marvin Gaye, nhưng rốt cuộc lại về tay nam danh ca country Kenny Rogers. Và dĩ nhiên tài năng sáng tác của Bee Gees càng được công nhận khi Bee Gees thực hiện nguyên một album cho thần tượng Barbara Streisand, trong đó có nhạc phẩm kinh điển « Woman in Love ». Trong tiếng Việt, bài này có nhiều lời phóng tác : « Khi nàng yêu » (đôi khi được ghi là Đi tìm tình yêu) của tác giả Anh Bằng. Lời thứ nhì là « Người đàn bà khi yêu » của tác giả Lê Kim Lực.

Sau khi viết các bản hit cho Dionne Warwick và Barbra Streisand, Diana Ross là người tiếp theo trên danh sách của Barry, Robin và Maurice Gibb. Bài hát « Chain Reaction » 1985 (Phản ứng dây chuyền) lấy cảm hứng từ các nhịp điệu Motown, thời kỳ Diana Ross là giọng ca chính của nhóm The Supremes. Trả lời phỏng vấn của Jon Kutner và Spencer Leigh, đồng tác giả quyển sách « 1000 UK #1 hits » (Một ngàn bản nhac số 1 Vương quốc Anh), Barry Gibb cho biết là Diana Ross đã hưởng ứng bài hát này môt cách nhiệt tình, vì giai điệu tôn vinh thời kỳ hoàng kim của Tamla Motown. Trong số những bài ghi âm mới, có phiên bản rất mộc của nhóm Moon Loungers.


Trong số các bản cover gần đây của nhóm Bee Gees, có phần ghi âm đáng chú ý của giọng ca baryton trữ tình (lirico baritone) của nam ca sĩ người Anh Michael Ball. Thành danh kể từ năm 1987 trên sân khấu West End trong hai tác phẩm « Les Misérables » (Những người khốn khổ) và « The Phantom of the Opera » (Bóng ma trong nhà hát), anh đã hai lần đoạt giải thưởng cao qúy của làng nhạc kịch Anh, giải Laurence Olivier dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất (2008 & 2013).

Trong ba thập niên sự nghiệp ca hát và đóng phim, Michal Ball đã ghi âm hơn 30 album đủ loại. Những năm gần đây mở ra giai đoạn thành công thứ nhì khi Michael Ball hoà quyện tiếng hát của minh với giọng ca tenor Alfie Boe. Từ năm 2016 đến năm 2023, hai danh ca này đã cùng thu thanh 5 album trong loạt đĩa nhạc theo chủ đề « Together » (Bên nhau).

Click để nghe "To Love Somebody" - Michael Ball

Michael Ball diễn đạt khá trội các sáng tác của Bee Gees, chẳng hạn như bản nhạc «Immortality» viết cho Celine Dion, hay là một trong những giai điệu quen thuộc nhất của nhóm này là bài « To Love Somebody », xứng đáng vừa tầm với phiên bản crooner của Michael Bolton. Nhóm Bee Gees đã từng được tôn vinh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll Hall of Fame vào năm 1997, trở thành một trong những nhóm ăn khách nhất mọi thời đại : ba nhạc sĩ kỳ tài soạn giai điệu lọt tai, với thời gian sống mãi.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt



LỊCH SỬ THĂNG TRẦM VÀ ĐẦY BI KỊCH CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Nếu một lần đến tỉnh An Giang (đồng bằng sông Cửu Long) có thể bạn sẽ ngạc nhiên về cách thờ Phật của một số gia đình ở đây. Theo đạo Phật nhưng họ không thờ tượng hay tranh vẽ mà thay vào đó là một tấm gỗ sơn màu đỏ đậm, đặt trang trọng ở giữa bàn thờ.

Quang cảnh làm lễ của các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại Hội Quán PGHH, Santa Ana, California, Mỹ. Ảnh: hoahao.org.

Nếu chịu khó để ý, bạn sẽ thấy những người mặc áo nâu, tóc búi cao, thờ cúng hết sức tối giản tại nhà – không gõ mõ tụng kinh mà chỉ cúng Phật bằng hoa, nhang đèn và nước lã.

Đó là những tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo (từ đây viết tắt là “PGHH”). Một tôn giáo dựa trên nền tảng của đạo Phật nhưng cách hành đạo lại hoàn toàn khác biệt với các pháp môn khác.

Mang đến một triết lý thực hành Phật giáo đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh nghèo khó của quần chúng, chỉ một thời gian ngắn khi lập đạo, vị giáo chủ có xuất thân bình thường của PGHH đã làm nức lòng hàng vạn dân miền Tây.

Tín đồ của PGHH không xuống tóc như các pháp môn khác của nhà Phật. Họ cũng không có đền chùa lộng lẫy, uy nga mà khuyên tín đồ tu hành tại nhà, thờ cúng đơn giản, siêng năng làm từ thiện, đơn giản hóa ma chay hiếu hỷ và sống có trách nhiệm với đất nước.

Bản đồ 13 tỉnh miền Tây hiện nay. Đường phân chia tỉnh An Giang có bốn cạnh rõ rệt nên thường được gọi là tứ giác Long Xuyên (tên thành phố ngày nay), có đường biên giới giáp với Campuchia, giao với các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang và Cần Thơ. Ảnh: Gocnhin.net.

Huỳnh Phú Sổ – một Muhammad của miền Tây

Như chúng ta đã biết, đầu thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn đã nhượng lại toàn bộ phần đất Nam Kỳ cho người Pháp cai trị. Ở vùng đất phía Tây, hầu hết người dân Nam Bộ làm ruộng nhưng phải thuê đất đai đắt đỏ của giới điền chủ khiến dân chúng chịu nhiều cực khổ [1]. Người dân chịu cảnh đói nghèo trong sự áp bức của nền chính trị ưu tiên giai cấp địa chủ do người Pháp lập ra.

Nhiều phong trào nông dân chống Pháp liên tục diễn ra ở vùng đất kênh rạch chằng chịt này. Chính quyền Pháp đã thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ các hoạt động dân sự.

Các tôn giáo thường được sinh ra trong những sự kiện có phần ly kỳ, huyền bí nhưng lại thuyết phục được số đông người dân.

Năm 1940, ở vùng Châu Đốc, người Pháp bắt đầu chú ý đến một người thanh niên bất thường, tuyên bố thành lập PGHH ngay tại nhà và trở thành giáo chủ khi mới 19 tuổi. “Tín đồ đến từ khắp nơi” và những thân hào hàng đầu cũng trở thành môn đồ. [2]

Người thanh niên đó là Huỳnh Phú Sổ, được mô tả là có dáng người thanh mảnh, gương mặt sáng sủa, ăn nói lưu loát.

Trong một bài diễn văn do chính Huỳnh Phú Sổ viết năm 1942 được tông đồ lưu truyền cho đến ngày nay, người thanh niên này nói chính anh đã trải qua nhiều kiếp cứu rỗi nhân dân, kiếp này tiếp tục được Phật cử xuống để “cứu độ chúng sanh”.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình PGHH.

Ban trị sự Trung ương PGHH ghi nhận Huỳnh Phú Sổ lập ra PGHH sau chuyến đi cùng gia đình đến vùng Bảy Núi, thuộc tỉnh An Giang ngày nay, được nhiều người cho là khu vực linh thiêng và cũng là nơi khai sinh ra pháp môn Bửu Sơn Kỳ Hương.

Theo Sấm Giảng, diễn đạt theo lối văn vần gồm hàng trăm câu do Huỳnh Phú Sổ viết, Huỳnh Giáo chủ khẳng định ông là người kế nghiệp của phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Vì vậy, tôn chỉ “học Phật, tu nhân” và nền tảng “Tứ Đại Trọng Ân” (Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo (tức là Phật Pháp Tăng), ân đồng bào và nhân loại) của phái Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành giá trị cốt lõi của PGHH.

Trong giao tiếp, Huỳnh Phú Sổ diễn giải mọi thứ dung dị, dễ hiểu nên đạo của ông dễ đi vào lòng quần chúng.

Bài viết “Tôn chỉ hành đạo” là một tài liệu do Huỳnh Phú Sổ viết năm 1945, chỉ trong tầm mười trang giấy, đã khái quát triết lý của đạo và hướng dẫn dân chúng cách sống một cuộc đời tốt đẹp theo quan điểm của ông.

Triết lý của PGHH đã thu hút được những người nông dân cùng cực, nghèo khổ khi mở ra cho họ một cuộc sống tốt đẹp, thực hành đạo Phật ngay trong điều kiện thiếu thốn.

“Tu vô vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Rán (gắng) giữ gìn luân lý tam cang,
Tròn đức hạnh mới là báu quí.”

(trích “Kệ dân của người khùng”)

Hơn nữa, triết lý của PGHH dung hòa được cuộc sống cá nhân, gia đình và trách nhiệm với dân tộc qua nền tảng “Tứ Ân” khiến người dân càng thấy sự hợp lý để trở thành tín đồ.

“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô!”

(Lời của Huỳnh Phú Sổ)

Quan niệm “Tứ Ân” đã đưa Phật Giáo Hòa Hảo nhập thế, vừa gần gũi vừa phù hợp với điều kiện thiếu thốn lúc bấy giờ.

Ngoài khả năng hùng biện, tín đồ PGHH còn truyền tai nhau về tài chữa bệnh hiếm có của Huỳnh Phú Sổ, xem ông là một nhà tiên tri và một người tranh đấu cho nền độc lập của đất nước.

Đấu tranh cho nền độc lập của quốc gia

Năm 1942, Huỳnh Phú Sổ được người Nhật can thiệp để đưa về Sài Gòn tạm lánh sau thời gian bị người Pháp quản chế gắt gao từ năm 1940. Tại Sài Gòn, ông âm thầm liên kết với tín đồ vận động cho nền độc lập của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với tôn chỉ của đạo và bối cảnh lúc bấy giờ.

Năm 1944, Phật Giáo Hòa Hảo thành lập một lực lượng bán quân sự có tên Bảo An Đoàn nhằm bảo vệ an toàn cho các làng của tín đồ Hòa Hảo ở khu vực miền Tây.

Các chiến sĩ của Phật giáo Hoà Hảo luyện tập võ nghệ vào tháng 7/1948. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Với thân thế của Huỳnh Phú Sổ và số lượng giáo dân đông đảo, PGHH có tiếng nói đáng kể đối với phong trào vận động độc lập ở miền Nam. Nhằm tạo tiếng nói chính trị đối với xã hội, năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với một số trí thức thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng – gọi tắt là đảng Dân Xã.

Thời gian đầu, ngoài liên kết với các tổ chức tôn giáo, chính trị khác, PGHH còn liên kết với Việt Minh để vận động độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, không lâu sau đó lại xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa hai lực lượng này.

Cũng từ mâu thuẫn này dẫn đến sự mất tích bí ẩn của Huỳnh Phú Sổ. Ngày 16/4/1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích trong một cuộc họp dàn xếp giữa xung đột giữa Việt Minh và PGHH tại vùng Đồng Tháp Mười. Đến nay, lịch sử vẫn chưa làm rõ về vụ mất tích này.

Theo một bài báo của tác giả Nguyễn Văn Trần đăng trên tờ báo hải ngoại Việt Báo Online năm 2016, tác giả đã trích một bức thư liên quan đến PGHH và Huỳnh Phú Sổ được lưu trữ của Trung tâm Lưu Trữ quốc gia IV của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước của Bộ Nội Vụ hiện nay, xác nhận vào ngày 17/4/1947, Uỷ ban Hành chánh Long Xuyên của Việt Minh đang giam giữ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không nói rõ họ đã làm gì sau đó.

Đối với tín đồ PGHH, ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích đến nay được tín đồ gọi là “ngày đức Thầy vắng mặt” hay “Ngày đức Thầy thọ nạn”.

Theo tác giả Nguyễn Long Thành Nam – người từng hoạt động tích cực trong PGHH và làm việc cho chính phủ Đệ Nhị Cộng hoà, mối hiềm khích giữa PGHH và Việt Minh ngày càng gia tăng sau vụ Huỳnh Phú Sổ mất tích. Một số thành viên của PGHH quay sang hợp tác với Pháp để chống Việt Minh. Theo ông, khoảng thời gian từ năm 1947 đến 1955, PGHH đã hình thành một lực lượng quân sự tương đối bề thế vì được sự hỗ trợ của người Pháp. Cũng chính vấn đề này mà tiếp đến PGHH đối diện sự trấn áp mạnh mẽ của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm thống nhất về quân sự.

Sau thời kỳ phân biệt đối xử với các giáo phái của Ngô Đình Diệm, PGHH được củng cố và phát triển dưới thời Đệ nhị Cộng hoà (1967 – 1975). Lúc này, những người phải đi lưu vong vì bị đàn áp dưới thời Ngô Đình Diệm như Nguyễn Long Thành Nam trở về nước để phục hồi PGHH. Cũng trong thời gian này, PGHH phân chia thành hai phái: phái mới do Lương Trọng Tường và phái cũ Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Đến năm 1972, xuất hiện một phái khác do Lê Quang Liêm tách ra từ phái cũ. Tuy chia tách nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của PGHH.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình Phật giáo Hoà Hảo.

Đến năm 1975, ngoài các hoạt động tôn giáo thuần tuý rất phát triển, các nhóm PGHH còn điều hành sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện.

Tuy nhiên, sau biến cố 30/4/1975, bức tranh tôn giáo sôi nổi ở miền Nam trở nên u tối dưới quyền lực của phe thắng cuộc.

Bức tranh đen tối sau biến cố 30/4

Kể từ ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích, tín đồ PGHH đã quyết liệt chống Việt Minh cho nên tình hình hoạt động của đạo này bị cấm hoàn toàn sau ngày 30/4/1975.

Tác giả Nguyễn Long Thành Nam đã dẫn một bài báo đăng trên tờ Sài Gòn Giải Phóng ngày 9/8/1975 để nói về chính sách của chính quyền sau biến cố 30/4 đối với PGHH.

Phần trích nguyên văn của bài báo đã gọi những lãnh đạo của PGHH Lương Trọng Tường và Huỳnh Văn Nhiệm là “phản đạo, phản nhân dân, phản cách mạng”. Bài báo đó còn mô tả về một cuộc họp kéo dài ba ngày của các cấp trị sự PGHH ở huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ và kết thúc bằng cuộc mít tinh tuyên bố giải tán Ban trị sự, Ban chấp hành Dân Xã Đảng, các tổ chuyên môn của PGHH cũng như các tổ công tác xã hội,… để người dân không còn tụ họp nữa.

Tác giả này cũng dẫn một bài báo khác dịch sang tiếng Việt từ Thời báo Los Angeles (đăng vào năm 1978) ghi rằng các lãnh tụ Hòa Hảo hay tín đồ có tham gia chính trị đều bị đưa đi các trại cải tạo.

Tháng 12/1998, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo và tín ngưỡng, ông Abdelfattah Amor đã công bố báo cáo của mình sau chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 10/1998.

Trong báo cáo này, báo cáo viên nói mình không thể gặp tín đồ của PGHH dù là gặp chính thức hay riêng tư. Nguồn tin không phải của nhà nước gửi cho ông nói rằng sau biến cố 30/4/1975, chính quyền đã cho đóng cửa toàn bộ hơn 3,500 ngôi chùa của PGHH và khoảng hơn 5,000 nơi thờ cúng, tổ sinh hoạt xã hội và văn hóa PGHH.

Ông kết luận các tổ chức tôn giáo (Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Hồi Giáo) không thể thành lập và hoạt động độc lập với chính quyền. Sự tồn tại của các tổ chức tôn giáo có đăng ký tại thời điểm đó mang tính công cụ nhằm quản lý xã hội hơn là thực thi quyền tự do tôn giáo của người dân.

Đến năm 1999, PGHH cơ bản chia thành hai phái. Một phái được chính quyền cấp giấy phép hoạt động là Giáo hội PGHH, có trụ sở tại An Hòa Tự đặt tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nhiều tín đồ PGHH không tham gia phái này vì cho rằng ban trị sự bị chính quyền điều khiển, không hoạt động đúng với tôn chỉ của đạo.

Phái còn lại không được chính quyền công nhận là PGHH “chính thống”, có trụ sở tại Tổ đình PGHH cách An Hòa Tự chưa đến 3 km. Những hoạt động của tín đồ PGHH độc lập đều bị ngăn cấm.

Tháng 8/1999, trang tin hải ngoại Việt Báo Online đưa tin về một cuộc tranh cãi giữa hai phái PGHH ở tỉnh An Giang. Vụ việc liên quan đến việc Giáo hội PGHH là tổ chức tôn giáo được chính quyền công nhận, có thể tổ chức những buổi lễ công khai nhưng họ lại không tổ chức “ngày đức Thầy thọ nạn” và đọc bài giảng trong các ngày lễ.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo Bùi Văn Trung trong phiên tòa sơ thẩm ngày 9/2/2018 tại TAND tỉnh An Giang. Ông Trung bị tuyên án sáu năm tù giam cùng 5 tín đồ PGHH khác bị phạt tù giam từ 2 đến 6 năm cùng vì tội gây rối trật tự nơi công cộng. Ảnh: RFA.

Năm 2014, Việt Nam tiếp tục mời báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc tới làm việc để đánh giá về tình hình tự do tôn giáo. Báo cáo của báo viên đặc biệt tiếp tục cho thấy tình hình đàn áp tín đồ PGHH độc lập không thay đổi đáng kể. Tín đồ PGHH độc lập vẫn bị cản trở tự do, theo dõi, bắt bớ, đánh đập và bị tù đày.

Hằng năm, Báo cáo về Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam luôn luôn đề cập đến những vụ sách nhiễu của chính quyền đối với tín đồ PGHH độc lập và giới hạn hoạt động của PGHH nói chung. Bản báo cáo năm 2012 ghi nhận chính phủ chỉ cho phép xuất bản 5/10 cuốn giáo lý của PGHH và không cho phép đọc các bài viết của Huỳnh Phú Sổ nơi công cộng. Ngoài các cáo buộc về đàn áp tín đồ PGHH độc lập, Bản báo cáo năm 2018 ghi nhận rằng chính quyền vẫn tiếp tục cấm tín đồ PGHH kỷ niệm các ngày lễ liên quan đến cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

Tài liệu tham khảo:

[1] Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ, trang 227.
[2] Về nguồn gốc lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo, Pascal Bourdeaux, Đặng Thế Đại dịch.

Trần Phương
Theo: luatkhoa.com