Sunday, May 24, 2026

"PHÚC TƯỚNG" CỦA MỘT NGƯỜI ĐẾN TỪ ĐÂU?

Tài phú đến từ sự bố thí, sự tôn kính đến từ sự khiêm cung. Bất cứ phúc báo nào cũng đều có nguyên nhân tất yếu của nó. Một gương mặt tràn đầy phúc tướng phải đến từ những con người có tính cách thiện lương và nhân hậu.


Sau khi một người bước vào tuổi trung niên, ngoại hình xuất hiện phần lớn là do ảnh hưởng của tính cách hiện tại. Ngoại hình là sự phản ánh những suy nghĩ và hành vi lâu dài trên khuôn mặt, đồng thời nó cũng dự đoán vận mệnh tương lai của một người!

Những người có tính cách hung hăng thường có vẻ mặt dữ tợn; nhiều người có phẩm hạnh không được tốt thường có vẻ mặt cay nghiệt; hà khắc.

Đặc điểm khuôn mặt của một người không chỉ liên quan đến yếu tố di truyền từ cha mẹ mà mức độ xinh đẹp còn do thói quen mang lại từ kiếp trước. Nửa đầu cuộc đời của một người chịu sự ảnh hưởng của kiếp trước, nửa sau của cuộc đời phần lớn chịu sự ảnh hưởng của nửa đầu cuộc đời của kiếp này. Vì vậy, sau khi con người bước sang tuổi trung niên, họ phải có trách nhiệm với bộ mặt của chính mình.

Tấm lòng lương thiện, từ bi cũng là một yếu tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến ngoại hình. Những người có tâm hồn thiện lương thường toát ra một năng lượng tích cực từ trong ra ngoài, điều này khiến người khác muốn ngắm nhìn họ nhiều hơn và ngày càng thích tiếp xúc với họ.

Còn những người quá ích kỷ, xảo quyệt, tính toán thì khuôn mặt rất khó coi, thậm chí xấu xí. Ngay cả khi bạn may mắn được sinh ra với ngoại hình ưa nhìn thì một số điều kém hấp dẫn sẽ dần dần xuất hiện trên khuôn mặt của những người có tính cách không tốt, chẳng hạn như khuôn mặt của bạn không được thân thiện, chỉ là trông có vẻ “ưa nhìn” ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng nó sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn sau khi họ đã tiếp xúc nhiều.

(Ảnh minh họa: Internet)

Hãy tin rằng ngoại hình có thể dần thay đổi theo tính cách của mình. Vì vậy, bạn muốn đẹp về ngoại hình thì trước tiên cần phải đẹp về tâm hồn!

Ngoại hình của một người có đẹp không? Nó xuất phát từ trái tim của những người nhìn thấy nó.

1. Người sẵn sàng chịu thiệt rốt cuộc sẽ không chịu thiệt

Giữa bạn bè, chịu thiệt một chút tình bạn có thể bền lâu, giữa các thành viên trong gia đình, nhượng bộ nhiều một chút có thể khiến gia đình hòa thuận. Trong kinh doanh, cho đi nhiều hơn một chút có thể mang lại niềm tin vô giá… Những người sẵn sàng chịu tổn thất rốt cuộc sẽ không phải chịu tổn thất.

Người có thể chịu thiệt ắt là người nổi tiếng, người nổi tiếng đương nhiên sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn. Một người chỉ cần nắm bắt một hoặc hai cơ hội trong đời là đủ.

2. Tham lợi nhỏ sẽ mất nhiều hơn.

Để trở thành một con người, bạn nên sống thật trong sáng và không bao giờ tham lam những thứ rẻ tiền hay lợi lộc. Những người thích lợi dụng cuối cùng cũng không thể được lợi. Người ham rẻ khi nhặt được một cọng cỏ sẽ mất đi cả cánh rừng.

Bạn thấy đấy, có những người tỏ ra rất thông minh, họ đi vệ sinh ngay khi nhân viên đến thanh toán hóa đơn. Hoặc những người đi ăn chung mà không chi trả trong thời gian dài về cơ bản đó là người không có thành tích gì cả.


3. Trong tâm đầy đủ gọi là phú, được người khác cần đến thì gọi là quý.

4. Hạnh phúc không phải ở tính cách mà là một loại năng lực.

5. Cách tốt nhất để giải quyết những lo lắng của bạn là quên chúng đi.

6. Không tranh đấu là từ bi, không tranh cãi là trí tuệ, không nghe là thanh tịnh, không nhìn thấy là tự tại, tha thứ là giải thoát, hài lòng chính là buông bỏ.

7. Đừng để trái tim mình bị biến động, đừng bị mắc kẹt bởi cảm xúc, đừng sợ hãi về tương lai và đừng đắm chìm trong quá khứ.

8. Chỉ khi trân trọng số phận, chúng ta mới có thể tiếp tục nó.

Trên đường đời, chúng ta sẽ gặp rất nhiều người. Kỳ thực, có duyên chúng ta mới có thể gặp mặt. Hầu hết người thân của chúng ta đều là bạn bè ở kiếp trước, và hầu hết bạn bè của chúng ta ở kiếp này đều là họ hàng với ta từ kiếp trước, người gây rắc rối cho bạn chính là những người bạn đã làm tổn thương ở kiếp trước.

Vì vậy hãy nhớ! Hãy thiện đãi với những người thân bên cạnh bạn, quan tâm đến bạn bè xung quanh, khoan dung cho những người đã làm tổn thương bạn. Đây chính là nhân quả.

9. Con người sống ở thế gian này, nhiều lắm cũng chỉ là mấy mươi năm, đau khổ, truy cầu rốt cuộc có thể lưu lại điều gì? Danh lợi cũng là thoảng qua như mây khói, sinh không mang theo đến, chết không mang theo đi. Vì vậy hãy sống trong hiện tại, cười trong hiện tại và thấu hiểu trong hiện tại!

Đăng Dũng
Theo: vandieuhay

Saturday, May 23, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 2: CHIẾN TRANH THẾ GIỚI VÀ KỶ NGUYÊN DẦU MỎ

Trong cả Thế chiến 1 và 2, dầu mỏ vừa đóng vai trò động lực vừa là mục tiêu định hình cả cục diện chiến sự lẫn để lại hệ quả hết sức lâu dài với nhân loại.

Cuộc gặp gỡ định đoạt thế cuộc dầu mỏ giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud - Ảnh: History.com

Từ mục đích quân sự

Kỷ nguyên dầu mỏ có thể được coi là đã mở ra ngay trước Thế chiến 1 với tuyên bố trước nghị viện vào năm 1914 của Bộ trưởng hải quân Winston Churchill, người sau này trở thành vị thủ tướng huyền thoại lãnh đạo nước Anh trong Thế chiến 2: "Chúng ta không được phép phụ thuộc vào bất kỳ một phẩm cấp, một quy trình, một quốc gia, một lộ trình hay một mỏ dầu riêng biệt nào. Sự an toàn và chắc chắn của nguồn dầu nằm ở sự đa dạng và chỉ có đa dạng mà thôi".

Trước Thế chiến 1, dầu mỏ được sử dụng còn hạn chế với mục đích chủ yếu là thắp sáng. Năm 1914, than đá vẫn giữ ngôi vương, cung cấp tới 74% nguồn cung năng lượng cho thế giới, so với chỉ 5% dầu mỏ. Năm 1907, giá trị thương mại than đá Anh là hơn 52 tỉ bảng, trong khi tổng giá trị sản phẩm dầu mỏ xuất khẩu từ Mỹ mới khoảng 19 triệu bảng.

Suốt một thế kỷ trước cuộc chiến, ưu thế địa chính trị của Anh được đảm bảo bởi hạm đội tàu hơi nước và vào đầu thế kỷ 20 Anh là nước xuất khẩu năng lượng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, Thế chiến 1 đã gây đứt gãy nghiêm trọng với xu hướng này và mối lo về quyền tiếp cận dầu mỏ, như tuyên bố nổi tiếng của Churchill, trở thành chìa khóa cho những động lực địa chính trị đang thay đổi.

Những động lực này gia tăng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên trong lịch sử vào năm 1917, điều sẽ còn lặp lại nhiều lần nữa trong tương lai như chính những gì chúng ta đang được trải nghiệm hiện nay.

Lượng dầu tiêu thụ ngày càng tăng do nhu cầu cho các quân đội ở châu Âu, trong khi các tuyến cung cấp thường xuyên bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công qua lại, nhất là do hoạt động tàu ngầm Đức, thứ vũ khí rất mới mẻ và lúc bấy giờ vô cùng khó đối phó. Dưới áp lực gay gắt, Mỹ, Anh và nhiều nước khác buộc phải hội nhập chặt chẽ hơn trong hoạt động cung ứng.

Căng thẳng địa chính trị cũng gia tăng ở Trung Đông vì cuộc săn lùng dầu mỏ khi Anh cố gắng giành quyền kiểm soát các mỏ dầu quan trọng ở Iraq. Hiệp ước Sykes-Picot ký năm 1916 giữa Anh và Pháp phân chia vùng Lưỡng Hà càng khuếch đại ý nghĩa địa chính trị của Trung Đông, dẫn đến căng thẳng gia tăng giữa các cường quốc sau chiến tranh.

Thay đổi rộng lớn về địa chính trị bắt nguồn từ những thách thức kỹ thuật - xã hội cụ thể về năng lượng, thực phẩm và đi lại của một thời kỳ nhảy vọt về nhiều mặt trong đời sống nhân loại.

Từ trước Thế chiến 1, ưu thế tàu chạy dầu đã được nhiều lực lượng hải quân trên thế giới nhận ra. Dầu có nhiệt lượng gấp đôi than đá, tức cần ít không gian lưu trữ hơn; hoạt động hậu cần tiếp liệu trên biển dễ dàng hơn; ít phụ thuộc vào các bến cảng hơn; giúp tàu thuyền linh hoạt hơn về tốc độ và cần ít nhân lực hơn.

Tàu chạy dầu phun khói ít hơn cũng đồng nghĩa với lợi thế lớn khi pháo kích mục tiêu ven bờ hay cần di chuyển bí mật. Trước và sau Thế chiến 1, tỉ lệ tàu chạy dầu của hải quân Anh tăng từ 5% lên hơn 40%. Hải quân Đức thậm chí chỉ còn toàn tàu chạy dầu vào cuối cuộc chiến.

Quan trọng không kém là những thay đổi trên bộ. Ô tô và xe tải động cơ đốt trong chỉ là phân khúc nhỏ trong hệ thống giao thông trước chiến tranh. Nhưng Anh và Mỹ đã sử dụng các phương tiện này ngày càng nhiều để tạo lợi thế chiến thuật về hậu cần, khi vận tải đường sắt gặp phải nhiều vấn đề nghiêm trọng.

Thế chiến 1 được coi là đỉnh cao của "kỷ nguyên đường sắt" phụ thuộc vào than đá nhưng từ sau đó, những chiếc xe chạy bằng xăng dầu cơ động hơn nhiều sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối so với các toa xe lửa cồng kềnh, dễ trúng đạn và hệ thống đường ray độc đạo.

Thực tế mới về "chiến tranh trên không" cũng xuất hiện. Máy bay, còn ở giai đoạn phôi thai, góp phần làm tăng nhu cầu về sản phẩm xăng dầu. Ở Anh, ngành công nghiệp máy bay tăng tốc sản lượng trong suốt cuộc chiến, từ khoảng 10 chiếc mỗi tháng vào đầu chiến tranh lên 122 chiếc vào năm 1917 và 2.688 chiếc vào năm 1918.

Đường ống Big Inch, một trong những đường ống dầu mỏ đầu tiên ở Mỹ, đoạn đi qua Phoenixville, Pennsylvania năm 1943 - Ảnh: The Conversation

Tới tham vọng địa chính trị

Rất nhanh chóng, cuộc chiến thế giới tạo ra cơn cuồng dầu mỏ tác động sâu sắc lên quan hệ quốc tế hậu chiến. Những năm 1920 là giai đoạn đầy bất ổn với nguồn cung dầu toàn cầu.

Nước Anh lúc này nắm giữ 50% trữ lượng dầu được biết đến của thế giới qua các thuộc địa rộng mênh mông. Đòi hỏi phân chia "sòng phẳng" giữa các cường quốc sau đó dẫn tới Hiệp định "Lằn ranh đỏ" ký ở Achnacarry (Scotland) năm 1928 nhằm kiểm soát giá dầu toàn cầu và hình thành các liên minh độc quyền dầu mỏ.

Cùng với hiệp định này, liên doanh dầu mỏ "Bảy chị em" (Seven Sisters) ra đời. Qua đó, các công ty dầu mỏ lớn nhất thế giới đồng ý ngừng thăm dò độc lập trong lãnh thổ Đế quốc Ottoman cũ mà phối hợp với nhau để kiểm soát nguồn vàng đen, điều sẽ để lại những hệ lụy rất lâu dài.

Chiến lược độc lập dầu mỏ của Anh trong những năm giữa hai cuộc chiến khác biệt đáng kể so với Đức, điều cuối cùng đã tác động hệ trọng đến Thế chiến 2. Gượng dậy sau thất bại, Đức thiết lập ngành công nghiệp nhiên liệu tổng hợp để đáp ứng nhu cầu dầu ngày càng tăng khi họ tiếp tục công nghiệp hóa và tái vũ trang vào những năm 1930.

Quy trình thâm dụng năng lượng để sản xuất dầu tổng hợp từ than của Đức khiến tư tưởng mở rộng lãnh thổ để giành lấy các nguồn dầu thô trở thành yếu tố then chốt trong kế hoạch quân sự và chiến lược chiến tranh của chế độ quốc xã.

Ở Mỹ, sản xuất và tiêu thụ dầu tiếp tục tăng đều đặn với sự trỗi dậy của văn hóa xe hơi và tiêu dùng đại chúng. Lượng máy bay quân sự dư thừa từ Thế chiến 1 cũng có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển xã hội sau chiến tranh ở Mỹ: trong 10.000 chiếc máy bay dư thừa, một số được chuyển sang mục đích dân sự như chuyển phát thư.

Tuy nhiên phải đến Thế chiến 2, quá trình "xăng dầu hóa nông nghiệp" mới thực sự tăng tốc cùng với sự tăng tốc về xây dựng hạ tầng cao tốc liên bang, dẫn đến dầu mỏ trở thành một phần không thể tách rời "lối sống Mỹ".

Thế chiến 2 thậm chí có thể được gọi là cuộc xung đột do và về dầu mỏ. Lực lượng Mỹ ở châu Âu sử dụng lượng xăng trong Thế chiến 2 gấp 100 lần so với Thế chiến 1. Hai năm sau khi cuộc chiến nổ ra, vào năm 1941 nguồn cung dầu cho Anh bị cắt đứt do các cuộc tấn công của tàu ngầm Đức.

Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng cũng vào năm 1941 vì lệnh cấm vận dầu mỏ của Mỹ. Và một trong những nguyên nhân then chốt khiến Hitler xâm lược Liên Xô trong cùng năm là vì chính quyền Đức quốc xã muốn chiếm lấy nguồn dầu mỏ dồi dào ở vùng Kavkaz.
Trong suốt Thế chiến 2, Mỹ cũng bắt đầu chuyển hướng chú ý sang nỗ lực đảm bảo nguồn cung dầu cho tương lai. Năm 1944, nhà địa chất người Mỹ Everette Lee DeGoyler trở về từ Saudi Arabia và tuyên bố dầu mỏ khu vực này sẽ là "phần thưởng lớn nhất trong toàn bộ lịch sử".

Trong các cuộc họp bí mật ở kênh đào Suez giữa Roosevelt và Abdul Aziz ibn Saud, cha của Quốc vương Saudi hiện giờ và ông nội của vị Thái tử lừng danh đang cầm quyền Mohammed bin Salman, Mỹ đã khẳng định được quyền lực áp đảo với khu vực nhiều dầu mỏ nhất thế giới. Khoảnh khắc đó đóng vai trò then chốt định hình căn bản thương mại năng lượng và địa chính trị quốc tế như ngày nay.

****************

Khi các nước Ả Rập lần đầu tiên dùng dầu mỏ như một lệnh trừng phạt chính trị quy mô lớn. Trong nhiều hệ quả của cuộc khủng hoảng thì sự đổ vỡ của hệ thống đô la - bản vị vàng và sự ra đời của hệ thống đô la - bản vị dầu mỏ (petrodollar) có lẽ là quan trọng nhất.

>> Kỳ tới: Cú sốc dầu mỏ 1973 và quyền lực petrodollar

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:




SÁNG TÁC CỦA BEE GEES: NHỮNG PHIÊN BẢN HÒA ÂM MỚI

Không phải ngẫu nhiên mà tạp chí Rolling Stone từng mệnh danh nhóm Bee Gees là cỗ máy sản xuất hàng loạt bài hát ăn khách. Với hơn 250 triệu đĩa nhạc được bán trên thế giới, ban nhạc Bee Gees thành công không kém gì Elvis Presley, The Beatles hay Michael Jackson. Ngoài các bản ghi âm thành công, ba anh em nhà họ Gibb còn soạn nhạc và sản xuất đĩa hát cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác, trong đó có nhạc phẩm « Heartbreaker », với phần ghi âm của nam ca sĩ Pháp Christophe Willem.

Ban nhạc Bee Gees năm 2007. Từ trái sang phải : Maurice Gibb, Robin Gibb, Barry Gibb. © AP

Giai điệu "Heartbreaker" ban đầu được viết cho Dionne Warwick. Bản thân nữ ca sĩ cho biết cô không thích bài này cho lắm, nhưng cô vẫn tin tưởng vào kinh nghiệm sản xuất và tay nghề sáng tác của nhóm Bee Gees. Một sự chọn lựa đúng đắn, vì nhạc phẩm « Heartbreaker » (1982) trở thành bài hát ăn khách nhất của nữ danh ca người Mỹ. Trong tiếng Việt, bài này từng được Lưu Bích ghi âm, lời phóng tác « Chợt nhói con tim » là của tác giả Lan Anh.

Nhạc phẩm « Heartbreaker » do cả ba anh em Gibb đồng sáng tác và có giọng hát đệm của Barry Gibb trong phần điệp khúc. Bài hát này từng đạt hạng 10 trên danh sách Hot100 và vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Adult Contemporary của Billboard. Nhóm Bee Gees cũng có ghi âm một phiên bản riêng cho album phòng thu thứ 21 của mình (Still Waters/1997), nhưng mãi đến năm 2001, phiên bản của Bee Gees mới được phát hành trên băng đĩa.


Một thập niên trước đó, sau khi lập kỷ lục số bán với nhạc phim « Saturday Night Fever » (Cơn sốt đêm thứ Bảy), nhóm Bee Gees đã được nhiều đồng nghiệp mời hợp tác. Nhóm này đã viết giai điệu « Grease » cho Frankie Valli, giọng ca chính của bộ tứ The Four Seasons, giai điệu « Emotions » cho Samantha Sang (và được Beyoncé ghi âm lại thời cô là thành viên của nhóm Destiny's Child), bản nhạc Islands in the Stream (Hòn đảo giữa dòng nước ấm) ban đầu viết cho ông hoàng nhạc soul Marvin Gaye, nhưng rốt cuộc lại về tay nam danh ca country Kenny Rogers. Và dĩ nhiên tài năng sáng tác của Bee Gees càng được công nhận khi Bee Gees thực hiện nguyên một album cho thần tượng Barbara Streisand, trong đó có nhạc phẩm kinh điển « Woman in Love ». Trong tiếng Việt, bài này có nhiều lời phóng tác : « Khi nàng yêu » (đôi khi được ghi là Đi tìm tình yêu) của tác giả Anh Bằng. Lời thứ nhì là « Người đàn bà khi yêu » của tác giả Lê Kim Lực.

Sau khi viết các bản hit cho Dionne Warwick và Barbra Streisand, Diana Ross là người tiếp theo trên danh sách của Barry, Robin và Maurice Gibb. Bài hát « Chain Reaction » 1985 (Phản ứng dây chuyền) lấy cảm hứng từ các nhịp điệu Motown, thời kỳ Diana Ross là giọng ca chính của nhóm The Supremes. Trả lời phỏng vấn của Jon Kutner và Spencer Leigh, đồng tác giả quyển sách « 1000 UK #1 hits » (Một ngàn bản nhac số 1 Vương quốc Anh), Barry Gibb cho biết là Diana Ross đã hưởng ứng bài hát này môt cách nhiệt tình, vì giai điệu tôn vinh thời kỳ hoàng kim của Tamla Motown. Trong số những bài ghi âm mới, có phiên bản rất mộc của nhóm Moon Loungers.


Trong số các bản cover gần đây của nhóm Bee Gees, có phần ghi âm đáng chú ý của giọng ca baryton trữ tình (lirico baritone) của nam ca sĩ người Anh Michael Ball. Thành danh kể từ năm 1987 trên sân khấu West End trong hai tác phẩm « Les Misérables » (Những người khốn khổ) và « The Phantom of the Opera » (Bóng ma trong nhà hát), anh đã hai lần đoạt giải thưởng cao qúy của làng nhạc kịch Anh, giải Laurence Olivier dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất (2008 & 2013).

Trong ba thập niên sự nghiệp ca hát và đóng phim, Michal Ball đã ghi âm hơn 30 album đủ loại. Những năm gần đây mở ra giai đoạn thành công thứ nhì khi Michael Ball hoà quyện tiếng hát của minh với giọng ca tenor Alfie Boe. Từ năm 2016 đến năm 2023, hai danh ca này đã cùng thu thanh 5 album trong loạt đĩa nhạc theo chủ đề « Together » (Bên nhau).

Click để nghe "To Love Somebody" - Michael Ball

Michael Ball diễn đạt khá trội các sáng tác của Bee Gees, chẳng hạn như bản nhạc «Immortality» viết cho Celine Dion, hay là một trong những giai điệu quen thuộc nhất của nhóm này là bài « To Love Somebody », xứng đáng vừa tầm với phiên bản crooner của Michael Bolton. Nhóm Bee Gees đã từng được tôn vinh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll Hall of Fame vào năm 1997, trở thành một trong những nhóm ăn khách nhất mọi thời đại : ba nhạc sĩ kỳ tài soạn giai điệu lọt tai, với thời gian sống mãi.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt



LỊCH SỬ THĂNG TRẦM VÀ ĐẦY BI KỊCH CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Nếu một lần đến tỉnh An Giang (đồng bằng sông Cửu Long) có thể bạn sẽ ngạc nhiên về cách thờ Phật của một số gia đình ở đây. Theo đạo Phật nhưng họ không thờ tượng hay tranh vẽ mà thay vào đó là một tấm gỗ sơn màu đỏ đậm, đặt trang trọng ở giữa bàn thờ.

Quang cảnh làm lễ của các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại Hội Quán PGHH, Santa Ana, California, Mỹ. Ảnh: hoahao.org.

Nếu chịu khó để ý, bạn sẽ thấy những người mặc áo nâu, tóc búi cao, thờ cúng hết sức tối giản tại nhà – không gõ mõ tụng kinh mà chỉ cúng Phật bằng hoa, nhang đèn và nước lã.

Đó là những tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo (từ đây viết tắt là “PGHH”). Một tôn giáo dựa trên nền tảng của đạo Phật nhưng cách hành đạo lại hoàn toàn khác biệt với các pháp môn khác.

Mang đến một triết lý thực hành Phật giáo đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh nghèo khó của quần chúng, chỉ một thời gian ngắn khi lập đạo, vị giáo chủ có xuất thân bình thường của PGHH đã làm nức lòng hàng vạn dân miền Tây.

Tín đồ của PGHH không xuống tóc như các pháp môn khác của nhà Phật. Họ cũng không có đền chùa lộng lẫy, uy nga mà khuyên tín đồ tu hành tại nhà, thờ cúng đơn giản, siêng năng làm từ thiện, đơn giản hóa ma chay hiếu hỷ và sống có trách nhiệm với đất nước.

Bản đồ 13 tỉnh miền Tây hiện nay. Đường phân chia tỉnh An Giang có bốn cạnh rõ rệt nên thường được gọi là tứ giác Long Xuyên (tên thành phố ngày nay), có đường biên giới giáp với Campuchia, giao với các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang và Cần Thơ. Ảnh: Gocnhin.net.

Huỳnh Phú Sổ – một Muhammad của miền Tây

Như chúng ta đã biết, đầu thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn đã nhượng lại toàn bộ phần đất Nam Kỳ cho người Pháp cai trị. Ở vùng đất phía Tây, hầu hết người dân Nam Bộ làm ruộng nhưng phải thuê đất đai đắt đỏ của giới điền chủ khiến dân chúng chịu nhiều cực khổ [1]. Người dân chịu cảnh đói nghèo trong sự áp bức của nền chính trị ưu tiên giai cấp địa chủ do người Pháp lập ra.

Nhiều phong trào nông dân chống Pháp liên tục diễn ra ở vùng đất kênh rạch chằng chịt này. Chính quyền Pháp đã thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ các hoạt động dân sự.

Các tôn giáo thường được sinh ra trong những sự kiện có phần ly kỳ, huyền bí nhưng lại thuyết phục được số đông người dân.

Năm 1940, ở vùng Châu Đốc, người Pháp bắt đầu chú ý đến một người thanh niên bất thường, tuyên bố thành lập PGHH ngay tại nhà và trở thành giáo chủ khi mới 19 tuổi. “Tín đồ đến từ khắp nơi” và những thân hào hàng đầu cũng trở thành môn đồ. [2]

Người thanh niên đó là Huỳnh Phú Sổ, được mô tả là có dáng người thanh mảnh, gương mặt sáng sủa, ăn nói lưu loát.

Trong một bài diễn văn do chính Huỳnh Phú Sổ viết năm 1942 được tông đồ lưu truyền cho đến ngày nay, người thanh niên này nói chính anh đã trải qua nhiều kiếp cứu rỗi nhân dân, kiếp này tiếp tục được Phật cử xuống để “cứu độ chúng sanh”.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình PGHH.

Ban trị sự Trung ương PGHH ghi nhận Huỳnh Phú Sổ lập ra PGHH sau chuyến đi cùng gia đình đến vùng Bảy Núi, thuộc tỉnh An Giang ngày nay, được nhiều người cho là khu vực linh thiêng và cũng là nơi khai sinh ra pháp môn Bửu Sơn Kỳ Hương.

Theo Sấm Giảng, diễn đạt theo lối văn vần gồm hàng trăm câu do Huỳnh Phú Sổ viết, Huỳnh Giáo chủ khẳng định ông là người kế nghiệp của phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Vì vậy, tôn chỉ “học Phật, tu nhân” và nền tảng “Tứ Đại Trọng Ân” (Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo (tức là Phật Pháp Tăng), ân đồng bào và nhân loại) của phái Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành giá trị cốt lõi của PGHH.

Trong giao tiếp, Huỳnh Phú Sổ diễn giải mọi thứ dung dị, dễ hiểu nên đạo của ông dễ đi vào lòng quần chúng.

Bài viết “Tôn chỉ hành đạo” là một tài liệu do Huỳnh Phú Sổ viết năm 1945, chỉ trong tầm mười trang giấy, đã khái quát triết lý của đạo và hướng dẫn dân chúng cách sống một cuộc đời tốt đẹp theo quan điểm của ông.

Triết lý của PGHH đã thu hút được những người nông dân cùng cực, nghèo khổ khi mở ra cho họ một cuộc sống tốt đẹp, thực hành đạo Phật ngay trong điều kiện thiếu thốn.

“Tu vô vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Rán (gắng) giữ gìn luân lý tam cang,
Tròn đức hạnh mới là báu quí.”

(trích “Kệ dân của người khùng”)

Hơn nữa, triết lý của PGHH dung hòa được cuộc sống cá nhân, gia đình và trách nhiệm với dân tộc qua nền tảng “Tứ Ân” khiến người dân càng thấy sự hợp lý để trở thành tín đồ.

“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô!”

(Lời của Huỳnh Phú Sổ)

Quan niệm “Tứ Ân” đã đưa Phật Giáo Hòa Hảo nhập thế, vừa gần gũi vừa phù hợp với điều kiện thiếu thốn lúc bấy giờ.

Ngoài khả năng hùng biện, tín đồ PGHH còn truyền tai nhau về tài chữa bệnh hiếm có của Huỳnh Phú Sổ, xem ông là một nhà tiên tri và một người tranh đấu cho nền độc lập của đất nước.

Đấu tranh cho nền độc lập của quốc gia

Năm 1942, Huỳnh Phú Sổ được người Nhật can thiệp để đưa về Sài Gòn tạm lánh sau thời gian bị người Pháp quản chế gắt gao từ năm 1940. Tại Sài Gòn, ông âm thầm liên kết với tín đồ vận động cho nền độc lập của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với tôn chỉ của đạo và bối cảnh lúc bấy giờ.

Năm 1944, Phật Giáo Hòa Hảo thành lập một lực lượng bán quân sự có tên Bảo An Đoàn nhằm bảo vệ an toàn cho các làng của tín đồ Hòa Hảo ở khu vực miền Tây.

Các chiến sĩ của Phật giáo Hoà Hảo luyện tập võ nghệ vào tháng 7/1948. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Với thân thế của Huỳnh Phú Sổ và số lượng giáo dân đông đảo, PGHH có tiếng nói đáng kể đối với phong trào vận động độc lập ở miền Nam. Nhằm tạo tiếng nói chính trị đối với xã hội, năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với một số trí thức thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng – gọi tắt là đảng Dân Xã.

Thời gian đầu, ngoài liên kết với các tổ chức tôn giáo, chính trị khác, PGHH còn liên kết với Việt Minh để vận động độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, không lâu sau đó lại xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa hai lực lượng này.

Cũng từ mâu thuẫn này dẫn đến sự mất tích bí ẩn của Huỳnh Phú Sổ. Ngày 16/4/1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích trong một cuộc họp dàn xếp giữa xung đột giữa Việt Minh và PGHH tại vùng Đồng Tháp Mười. Đến nay, lịch sử vẫn chưa làm rõ về vụ mất tích này.

Theo một bài báo của tác giả Nguyễn Văn Trần đăng trên tờ báo hải ngoại Việt Báo Online năm 2016, tác giả đã trích một bức thư liên quan đến PGHH và Huỳnh Phú Sổ được lưu trữ của Trung tâm Lưu Trữ quốc gia IV của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước của Bộ Nội Vụ hiện nay, xác nhận vào ngày 17/4/1947, Uỷ ban Hành chánh Long Xuyên của Việt Minh đang giam giữ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không nói rõ họ đã làm gì sau đó.

Đối với tín đồ PGHH, ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích đến nay được tín đồ gọi là “ngày đức Thầy vắng mặt” hay “Ngày đức Thầy thọ nạn”.

Theo tác giả Nguyễn Long Thành Nam – người từng hoạt động tích cực trong PGHH và làm việc cho chính phủ Đệ Nhị Cộng hoà, mối hiềm khích giữa PGHH và Việt Minh ngày càng gia tăng sau vụ Huỳnh Phú Sổ mất tích. Một số thành viên của PGHH quay sang hợp tác với Pháp để chống Việt Minh. Theo ông, khoảng thời gian từ năm 1947 đến 1955, PGHH đã hình thành một lực lượng quân sự tương đối bề thế vì được sự hỗ trợ của người Pháp. Cũng chính vấn đề này mà tiếp đến PGHH đối diện sự trấn áp mạnh mẽ của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm thống nhất về quân sự.

Sau thời kỳ phân biệt đối xử với các giáo phái của Ngô Đình Diệm, PGHH được củng cố và phát triển dưới thời Đệ nhị Cộng hoà (1967 – 1975). Lúc này, những người phải đi lưu vong vì bị đàn áp dưới thời Ngô Đình Diệm như Nguyễn Long Thành Nam trở về nước để phục hồi PGHH. Cũng trong thời gian này, PGHH phân chia thành hai phái: phái mới do Lương Trọng Tường và phái cũ Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Đến năm 1972, xuất hiện một phái khác do Lê Quang Liêm tách ra từ phái cũ. Tuy chia tách nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của PGHH.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình Phật giáo Hoà Hảo.

Đến năm 1975, ngoài các hoạt động tôn giáo thuần tuý rất phát triển, các nhóm PGHH còn điều hành sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện.

Tuy nhiên, sau biến cố 30/4/1975, bức tranh tôn giáo sôi nổi ở miền Nam trở nên u tối dưới quyền lực của phe thắng cuộc.

Bức tranh đen tối sau biến cố 30/4

Kể từ ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích, tín đồ PGHH đã quyết liệt chống Việt Minh cho nên tình hình hoạt động của đạo này bị cấm hoàn toàn sau ngày 30/4/1975.

Tác giả Nguyễn Long Thành Nam đã dẫn một bài báo đăng trên tờ Sài Gòn Giải Phóng ngày 9/8/1975 để nói về chính sách của chính quyền sau biến cố 30/4 đối với PGHH.

Phần trích nguyên văn của bài báo đã gọi những lãnh đạo của PGHH Lương Trọng Tường và Huỳnh Văn Nhiệm là “phản đạo, phản nhân dân, phản cách mạng”. Bài báo đó còn mô tả về một cuộc họp kéo dài ba ngày của các cấp trị sự PGHH ở huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ và kết thúc bằng cuộc mít tinh tuyên bố giải tán Ban trị sự, Ban chấp hành Dân Xã Đảng, các tổ chuyên môn của PGHH cũng như các tổ công tác xã hội,… để người dân không còn tụ họp nữa.

Tác giả này cũng dẫn một bài báo khác dịch sang tiếng Việt từ Thời báo Los Angeles (đăng vào năm 1978) ghi rằng các lãnh tụ Hòa Hảo hay tín đồ có tham gia chính trị đều bị đưa đi các trại cải tạo.

Tháng 12/1998, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo và tín ngưỡng, ông Abdelfattah Amor đã công bố báo cáo của mình sau chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 10/1998.

Trong báo cáo này, báo cáo viên nói mình không thể gặp tín đồ của PGHH dù là gặp chính thức hay riêng tư. Nguồn tin không phải của nhà nước gửi cho ông nói rằng sau biến cố 30/4/1975, chính quyền đã cho đóng cửa toàn bộ hơn 3,500 ngôi chùa của PGHH và khoảng hơn 5,000 nơi thờ cúng, tổ sinh hoạt xã hội và văn hóa PGHH.

Ông kết luận các tổ chức tôn giáo (Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Hồi Giáo) không thể thành lập và hoạt động độc lập với chính quyền. Sự tồn tại của các tổ chức tôn giáo có đăng ký tại thời điểm đó mang tính công cụ nhằm quản lý xã hội hơn là thực thi quyền tự do tôn giáo của người dân.

Đến năm 1999, PGHH cơ bản chia thành hai phái. Một phái được chính quyền cấp giấy phép hoạt động là Giáo hội PGHH, có trụ sở tại An Hòa Tự đặt tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nhiều tín đồ PGHH không tham gia phái này vì cho rằng ban trị sự bị chính quyền điều khiển, không hoạt động đúng với tôn chỉ của đạo.

Phái còn lại không được chính quyền công nhận là PGHH “chính thống”, có trụ sở tại Tổ đình PGHH cách An Hòa Tự chưa đến 3 km. Những hoạt động của tín đồ PGHH độc lập đều bị ngăn cấm.

Tháng 8/1999, trang tin hải ngoại Việt Báo Online đưa tin về một cuộc tranh cãi giữa hai phái PGHH ở tỉnh An Giang. Vụ việc liên quan đến việc Giáo hội PGHH là tổ chức tôn giáo được chính quyền công nhận, có thể tổ chức những buổi lễ công khai nhưng họ lại không tổ chức “ngày đức Thầy thọ nạn” và đọc bài giảng trong các ngày lễ.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo Bùi Văn Trung trong phiên tòa sơ thẩm ngày 9/2/2018 tại TAND tỉnh An Giang. Ông Trung bị tuyên án sáu năm tù giam cùng 5 tín đồ PGHH khác bị phạt tù giam từ 2 đến 6 năm cùng vì tội gây rối trật tự nơi công cộng. Ảnh: RFA.

Năm 2014, Việt Nam tiếp tục mời báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc tới làm việc để đánh giá về tình hình tự do tôn giáo. Báo cáo của báo viên đặc biệt tiếp tục cho thấy tình hình đàn áp tín đồ PGHH độc lập không thay đổi đáng kể. Tín đồ PGHH độc lập vẫn bị cản trở tự do, theo dõi, bắt bớ, đánh đập và bị tù đày.

Hằng năm, Báo cáo về Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam luôn luôn đề cập đến những vụ sách nhiễu của chính quyền đối với tín đồ PGHH độc lập và giới hạn hoạt động của PGHH nói chung. Bản báo cáo năm 2012 ghi nhận chính phủ chỉ cho phép xuất bản 5/10 cuốn giáo lý của PGHH và không cho phép đọc các bài viết của Huỳnh Phú Sổ nơi công cộng. Ngoài các cáo buộc về đàn áp tín đồ PGHH độc lập, Bản báo cáo năm 2018 ghi nhận rằng chính quyền vẫn tiếp tục cấm tín đồ PGHH kỷ niệm các ngày lễ liên quan đến cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

Tài liệu tham khảo:

[1] Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ, trang 227.
[2] Về nguồn gốc lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo, Pascal Bourdeaux, Đặng Thế Đại dịch.

Trần Phương
Theo: luatkhoa.com

THÀNH ĐÔ - NƠI THỜI GIAN CHẬM LẠI GIỮA HƯƠNG TRÀ VÀ VỊ CAY TỨ XUYÊN

Thành Đô níu chân du khách bằng nhịp sống thong thả, những quán trà yên bình và hương vị cay nồng khó quên của ẩm thực Tứ Xuyên – nơi thời gian dường như ngừng trôi để con người thật sự sống chậm.


Nếu Bắc Kinh mang hơi thở lịch sử, Thượng Hải rực rỡ ánh đèn đô thị, thì Thành Đô lại chọn cách khác để khiến người ta nhớ mãi – bằng sự thong thả.

Giữa một Trung Hoa luôn vận động, nơi mọi thứ dường như phải nhanh hơn từng phút, Thành Đô lại sống với tốc độ của một tách trà – chậm rãi, đượm hương, và sâu sắc.

Hơi thở an yên bên tách trà sáng


Buổi sáng ở Thành Đô bắt đầu không bằng tiếng còi xe, mà bằng tiếng quân cờ chạm nhẹ trên bàn gỗ. Trong những công viên rợp bóng cây như Nhân Dân hay Hậu Hoa Viên, những người già thong thả nhâm nhi tách trà Long Tỉnh hay trà hoa cúc, bàn cờ tướng đã mở sẵn, vài người ngồi đọc báo, vài người trò chuyện.

Họ không vội.

Trên bàn, khói trà bốc nhẹ như một nhịp thở. Những tách trà ở đây không chỉ là thức uống – mà là nhịp sống.

Người Thành Đô có thể ngồi hàng giờ bên tách trà mà chẳng làm gì cả. Họ nói chuyện thời tiết, chuyện cây trúc sau nhà, chuyện hôm qua lẩu cay có ngon không. Ở đây, “không làm gì” cũng là một niềm hạnh phúc.
Một du khách phương Tây từng nói: “Nếu Thượng Hải khiến bạn chạy, thì Thành Đô khiến bạn thở.”

Và có lẽ vì thế mà bất cứ ai đặt chân đến đây đều cảm thấy tim mình chậm lại đôi nhịp.

Thủ phủ của vị cay và đam mê ẩm thực


Nếu trà là hơi thở của Thành Đô, thì vị cay là linh hồn.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi nơi này là “quê hương của vị cay”. Từ những quán vỉa hè bình dân đến nhà hàng truyền thống, ớt và tiêu hoa là hai người bạn không thể tách rời.

Món lẩu Tứ Xuyên chính là biểu tượng của văn hóa nơi đây – sôi sùng sục trong nồi đồng đỏ thẫm, hương cay lan tỏa khiến mắt cay xè, nhưng lại khiến tim người ấm lên. Miếng thịt bò trụng nhanh trong nước lẩu, vớt ra, chấm vào hỗn hợp mè, tỏi, dầu, cảm giác như một bản giao hưởng của vị giác: tê, cay, béo, mặn, thơm – tất cả hòa vào nhau.


Ngoài lẩu, Thành Đô còn nổi tiếng với mì Dan Dan, đậu hũ Mapo, gà Kung Pao, và thỏ cay – những món ăn đậm đà, tinh tế đến từng hương vị. Người Thành Đô tin rằng vị cay không chỉ để kích thích khẩu vị, mà còn là cách để sống nồng nhiệt, để máu nóng chạy trong tim giữa ngày đông lạnh giá.

Đi trên những con phố như Chunxi hay Kuan Zhai, mùi tiêu Tứ Xuyên hòa cùng hương ớt phảng phất trong không khí. Mỗi góc phố, mỗi quán nhỏ đều là một câu chuyện ẩm thực, là một nốt nhạc của bản giao hưởng cay nồng.

Thành phố của thi ca và nghệ thuật


Thành Đô không ồn ào, nhưng lại rất giàu cảm xúc.

Đây là quê hương của thi sĩ Đỗ Phủ, người để lại di sản bất hủ của văn học Trung Hoa. Dinh thự Đỗ Phủ Thảo Đường nằm bên dòng suối nhỏ, giữa những hàng trúc xanh và mái ngói rêu phong, như một lát cắt tĩnh lặng của thời gian.

Bước vào đây, người ta nghe thấy tiếng gió thổi qua lá trúc, tiếng bước chân chạm nền gạch cũ, và đôi khi, nếu đủ yên tĩnh, có thể nghe cả tiếng của quá khứ.

Căn nhà nhỏ nơi Đỗ Phủ từng viết những bài thơ về chiến tranh, về lòng dân, nay vẫn còn lưu dấu. Mỗi gian phòng, mỗi bức tường đều kể một câu chuyện – về văn chương, và về sự chịu đựng thanh thản của người nghệ sĩ.

Không xa đó là phố cổ Cẩm Lý (Jinli Ancient Street) – một nơi giao hòa giữa quá khứ và hiện đại. Ban ngày, nơi đây tấp nập người qua lại, những cửa hàng treo đèn lồng đỏ, bán đồ thủ công, trà, kẹo, đồ lưu niệm. Ban đêm, ánh đèn phản chiếu trên mặt hồ, tiếng nhạc truyền thống xen lẫn với tiếng cười nói của khách du lịch, tạo nên bức tranh đầy sức sống.

Nếu may mắn, bạn có thể xem được màn biến mặt Tứ Xuyên – một trong những nghệ thuật sân khấu độc đáo nhất Trung Hoa. Chỉ trong chớp mắt, khuôn mặt diễn viên thay đổi liên tục, như thể phép thuật. Đó không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tự hào văn hóa của người Thành Đô.

Giữa hiện đại và cổ xưa


Thành Đô hôm nay không chỉ có quá khứ. Thành phố này đang phát triển nhanh chóng với tàu điện ngầm hiện đại, khu thương mại sầm uất, và những tòa nhà chọc trời. Nhưng kỳ lạ thay, cái hồn xưa vẫn còn đó.

Ở giữa trung tâm là những quán trà lâu đời bên cạnh quán cà phê kiểu mới. Thanh niên Thành Đô có thể làm việc trong công ty công nghệ buổi sáng, rồi tối về lại tụ tập cùng bạn bè bên bàn lẩu cay. Sự hiện đại ở đây không làm mất đi bản sắc, mà khiến nó đa chiều và linh hoạt hơn.

Điều đó thể hiện trong cả cách người Thành Đô đối diện cuộc sống. Họ làm việc chăm chỉ, nhưng cũng biết tận hưởng. Họ biết dừng lại để uống trà, ngắm mưa, hay đơn giản là ngồi yên nhìn dòng người đi qua.

Cái “chậm” ở Thành Đô không phải là trì trệ, mà là cách sống có ý thức, để con người không bị cuốn trôi trong vòng xoáy tất bật của thế giới.

Hương trà, vị cay và nhịp sống của lòng người


Trên đường trở về sau một ngày dài, tôi ghé vào quán trà nhỏ trong ngõ. Chủ quán là một cụ ông tóc bạc, dáng người chậm rãi, nụ cười hiền. Ông rót trà, hơi nước bốc lên, mùi hương dịu nhẹ lan tỏa.
“Ở Thành Đô, người ta không vội vì vội thì trà sẽ nguội mất,” ông nói.

Câu nói ấy như chứa cả triết lý sống của vùng đất này.

Thành Đô dạy con người ta biết yêu những khoảnh khắc nhỏ bé, biết tận hưởng vị cay nồng của cuộc đời, và biết im lặng khi cần.

Trong thế giới đầy chuyển động, nơi mỗi ngày đều là cuộc đua, thì Thành Đô giống như một khoảng lặng cần thiết – nơi bạn có thể ngồi xuống, hít một hơi thật sâu, và nhận ra rằng:
Hạnh phúc đôi khi chỉ là một tách trà nóng, một nồi lẩu cay, và một buổi chiều không cần làm gì cả.

Hana Trương / Theo: TravelSig+



Friday, May 22, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 1: EO BIỂN HORMUZ VÀ SỰ TRẢ THÙ CỦA ĐỊA LÝ

Từ khi dầu mỏ là nguồn cung cấp năng lượng chính cho gần như mọi hoạt động kinh tế được xác lập vào các thập niên đầu thế kỷ trước, nguồn tài nguyên này đã luôn gắn chặt với những toan tính địa chính trị toàn cầu.

Eo biển Hormuz đang hết sức căng thẳng - Ảnh: Reuters

Cuộc chiến hiện giờ ở Iran, nỗ lực giành giật eo biển Hormuz cũng như kiểm soát vịnh Ba Tư chỉ là một chương nữa trong biên niên sử dài đó.

Một cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz là điều ắt phải xảy đến. Địa lý không thay đổi, dù cho các tay chơi nay đã khác.

Cấu trúc dầu mỏ Trung Đông hiện đại

Tình trạng tập trung của sản xuất dầu mỏ, vận tải quốc tế và tiền bạc ở vịnh Ba Tư đồng nghĩa eo biển Hormuz không chỉ là điểm nghẽn dòng chảy dầu khí. Xung quanh vịnh Ba Tư là nơi có khoảng 50% trữ lượng dầu đã được chứng minh của thế giới, ước tính khoảng 859 tỉ thùng, theo thời giá là khoảng 86.000 tỉ đô la, tức xấp xỉ 3 lần GDP Mỹ.

Riêng năm 2025, các công ty dầu mỏ quốc gia của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) đã đầu tư 125 tỉ đô la vào các cơ sở sản xuất.

Hỗ trợ cho đội tàu chở dầu toàn cầu gồm 7.500 tàu chủ yếu phục vụ vịnh Ba Tư là khoảng 900 chiếc tàu mẹ loại "Suezmax" (tức đi qua eo Suez thì vừa khít) có giá gần 100 triệu đô la mỗi chiếc (với yêu cầu thay thế thường xuyên do thép bị ăn mòn trong điều kiện hàng hải khắc nghiệt).

Hiện giờ, bất chấp những lời đe dọa từ Tổng thống Donald Trump, eo Hormuz vẫn đang bị phong tỏa. Iran có nguồn cung cấp gần như vô hạn khoảng 80.000 máy bay không người lái (drone) Shahed cùng năng lực sản xuất khoảng 10.000 chiếc mỗi tháng với giá chỉ 20.000 đô la mỗi chiếc.

Tất nhiên, vấn đề kiểm soát quyền tiếp cận động mạch thương mại ở vịnh Ba Tư không chỉ được đặt ra từ khi có drone.

Nó cũng lâu đời như chính lịch sử thương mại thành văn. Và không nhân vật nào trong lịch sử hiện đại hiểu điều này sâu sắc hơn Calouste Sarkis Gulbenkian, nhà tài phiệt người Armenia được thế giới biết đến với cái tên "Ngài Năm phần trăm".

Khi ngành công nghiệp dầu mỏ thế giới bắt đầu mở rộng theo cấp số nhân vào đầu thế kỷ 20, nó kế thừa cùng logic địa lý vốn đã chi phối các tuyến thương mại suốt nhiều thiên niên kỷ. Câu hỏi chỉ chuyển từ ai kiểm soát các tuyến đường mua bán gia vị và lụa là thành ai kiểm soát các mỏ dầu, đặc quyền khai thác và tuyến vận tải. Trong gần nửa thế kỷ, Gulbenkian là một câu trả lời không thể bỏ qua.

Sinh năm 1869 trong gia đình thương nhân giàu có người Armenia gốc Ottoman, ông chỉ thực sự bước chân đến mỏ dầu một lần duy nhất trong đời ở Baku vào năm 1888. Nhưng Gulbenkian thực sự là người đã định hình cấu trúc sản xuất và buôn bán dầu mỏ Trung Đông trong 60 năm tiếp theo.

Kiên nhẫn phi thường, ông đã môi giới chính cho các thỏa thuận xác định ai có quyền tiếp cận dầu mỏ và theo các điều kiện nào và trích lấy 5% cổ phần trong hầu hết các thương vụ để trở thành người giàu nhất thế giới khi ông qua đời ở Lisbon năm 1955.

Công cụ mà Gulbenkian dùng để xây dựng đế chế của ông là thỏa thuận "lằn ranh đỏ" năm 1928 vốn tập hợp BP, ExxonMobil, Total và Royal Dutch-Shell thành một liên doanh - Công ty Dầu mỏ Iraq (IPC) - để hợp tác trên toàn bộ lãnh thổ cũ của đế chế Ottoman ở châu Á. Đây là bản hiệp ước nền tảng của dầu mỏ Trung Đông hiện đại.

Điểm tối quan trọng ở đây là Gulbenkian đảm bảo rằng các mỏ dầu rộng lớn ở Mosul và Kirkuk, Iraq được kết nối với các đường ống đi ra Địa Trung Hải, một nhánh tới Haifa và một nhánh khác tới Tripoli ở Lebanon qua đường Syria và Jordan.

Cơ sở hạ tầng này là biểu tượng cho tầm nhìn chiến lược của Gulbenkian: dầu từ sâu trong nội địa Trung Đông có thể ra biển mà không cần đi qua vịnh Ba Tư. Trên thực tế, các tuyến đường ống này đã cung cấp nhiên liệu cho lực lượng Anh và Mỹ trong suốt Thế chiến 2 cho đến khi bị cắt đứt vào năm 1948 do Iraq từ chối bơm dầu qua lãnh thổ nhà nước Israel mới thành lập.

Lịch sử các đường ống dẫn dầu và tuyến hàng hải Trung Đông cũng là lịch sử thu nhỏ của địa chính trị khu vực. Mỗi đường ống và tuyến hàng hải đều phản ánh những tính toán chính trị, các liên minh và các mối quan hệ kình địch. Mỗi lần đóng cửa hoặc chuyển hướng đều phản ánh một sự thay đổi trong trật tự khu vực và rất nhiều khi là cả thế giới.

Chỉ khi cuộc khủng hoảng hiện tại ở Hormuz nổ ra, nhiều người mới bắt đầu biết tới hai hệ thống đường ống: động mạch dầu Đông - Tây của Saudi Arabia đến Yanbu trên Biển Đỏ và đường ống Habshan-Fujairah của UAE đến vịnh Oman, dù chúng được xây dựng chính xác vì các cuộc khủng hoảng vịnh Ba Tư trước đó.

Đường ống Đông - Tây của Saudi tiêu tốn hàng tỉ đô la và mất nhiều thập niên xây dựng vào đầu những năm 1980, khi chiến tranh Iran - Iraq lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại đe dọa làm gián đoạn lưu thông tàu dầu qua vịnh Ba Tư. Tuyến đường ống này dài 1.200km và có khả năng vận chuyển 7 triệu thùng mỗi ngày, suốt một thời gian dài đã không chạy hết công suất cho tới những ngày qua.

Tương tự là đường ống Habshan-Fujairah của UAE được xây dựng một phần bởi Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc với công suất nhỏ hơn: 1,8 triệu thùng mỗi ngày. Sau khi eo Hormuz bị phong tỏa, đây là những con đường thay thế quan trọng nhất hiện hữu.

Dù như giới phân tích đã lưu ý, chúng không thể thay thế khối lượng vận tải biển thông thường và vẫn có điểm yếu: cảng Fujairah của UAE đã bị drone tấn công mới vào tuần trước.

Pháo đài cũ của Bồ Đào Nha với các khẩu pháo nhìn ra eo biển Hormuz - Ảnh: WikiTravel

Một khuôn mẫu lặp lại

Sự tương đồng với thời đại của Gulbenkian là rất đáng kinh ngạc. Ông cũng làm ăn trong một thế giới mà hạ tầng vận chuyển dầu liên tục bị tranh chấp, phá hoại và định hướng lại bởi các lực lượng chính trị.

Đường ống từ Kirkuk đến Haifa đã trở thành nạn nhân của cuộc xung đột Ả Rập - Israel. Đường ống xuyên Ả Rập (TAPLINE), từng vận chuyển dầu thô của Saudi đến bờ biển Địa Trung Hải của Lebanon ngưng hoạt động vào năm 2002 khi các hành động thù địch trong khu vực khiến việc vận hành trở nên bất khả thi.

Hiệp định Abraham năm 2020 giữa Israel với nhiều nước vùng Vịnh và cuộc chiến Iran hiện tại đang mở ra khả năng logic địa lý Gulbenkian sẽ trở lại. Haifa, thành phố nay thuộc Israel, từng là bến cuối ở Địa Trung Hải cho dầu thô Iraq những năm 1930 sẽ là điểm ra biển lý tưởng cho dầu của cả Trung Đông nếu các bên liên quan có thể đạt được thỏa thuận.

Gulbenkian đã nhìn thấu suốt logic cơ bản: tuyến đường bộ xuyên Trung Đông bỏ qua cả Hormuz, kênh đào Suez lẫn biển Đỏ, những điểm nghẽn mà lúc này lúc khác ắt sẽ trở nên nhạy cảm về chính trị. Dầu mỏ như thế sẽ được vận chuyển rẻ hơn, an toàn hơn và có giá trị chiến lược hơn giải pháp đường biển.

Cuộc khủng hoảng Hormuz đang khẳng định logic nghiệt ngã đó. Dầu mỏ của Iraq, Kuwait và Bahrain mắc kẹt trong vịnh Ba Tư, còn cả thế giới khao khát nguồn cung. Cũng chính vì vậy, Iran hiện không chỉ phong tỏa eo Hormuz mà còn phát đi tín hiệu sẵn sàng tấn công hạ tầng trên bộ tìm cách bỏ qua họ.

Địa lý chiến lược đã được xác lập từ thời của con đường tơ lụa cổ xưa, được Gulbenkian biến thành khối tài sản khổng lồ cho riêng ông vào thế kỷ 20, giờ lại trở thành vấn đề trung tâm của cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu.
Năm thế kỷ trước cuộc khủng hoảng hiện tại, Bồ Đào Nha đứng trước thách thức địa lý tương tự với rất nhiều ngụ ý cho thời hiện đại. Sau khi hạm đội của Vasco da Gama đi qua mũi Hảo Vọng vào năm 1498, Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập một chuỗi thương điếm trải dài từ Mozambique đến Nhật Bản, được hậu thuẫn bởi các pháo hạm hùng mạnh.

Hai eo biển Hormuz và Malacca là trụ cột của quyền lực thương mại đó. Với tàu bè và pháo binh vượt trội, Bồ Đào Nha chiếm giữ các nút thắt then chốt và thiết lập một hệ thống trên thực tế là "chặn đường mãi lộ" với thương mại cả châu Á.

Hệ thống đó bao gồm những "cartaza" - chứng thư cấp quyền đi lại cho tàu thuyền đồng minh, trong khi ai không có chứng thư có thể bị tấn công và cướp bóc, tức một đường dây bảo kê dựa trên sức mạnh hải quân.
-----------------------

Trong cả Thế chiến 1 và 2, dầu mỏ vừa đóng vai trò động lực vừa là mục tiêu, điều định hình cả cục diện chiến sự lẫn để lại những hệ quả hết sức lâu dài với nhân loại.

Kỳ tới: Chiến tranh thế giới và kỷ nguyên dầu mỏ

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:

Xin vẫn click vào để xem trực tiếp trên Youtube.


MẪU ĐƠN - LÝ THƯƠNG ẨN


Mẫu đơn - Lý Thương Ần

Cẩm vi sơ quyển Vệ phu nhân,
Tú bị do đồi Việt Ngạc Quân.
Thuỳ thủ loạn phiên điêu ngọc bội,
Chiết yêu tranh vũ uất kim quần.
Thạch gia lạp chúc hà tằng tiễn,
Tuân lệnh hương lô khả đãi huân?
Ngã thị mộng trung truyền thái bút,
Dục thư hoa diệp ký triêu vân.


牡丹 - 李商隱

錦幃初卷衛夫人
繡被猶堆越鄂君
垂手亂翻雕玉佩
折腰爭舞郁金裙
石家蜡燭何曾剪
荀令香爐可待熏
我是夢中傳綵筆
欲書花葉寄朝雲


Mẫu đơn
(Dịch thơ: Như Quy)

Màn thêu vừa hé Vệ phu nhân,
Áo gấm còn che Việt Ngạc Quân.
Tay rủ loạn khoe điêu ngọc bội,
Eo thon tranh múa uất kim quần.
Thạch Sùng bấc nến nào từng tắt,
Tuân Úc lò hương há đợi xông ?
Trong mộng được truyền cây tuyệt bút,
Tả đề hoa lá gửi mây ngần.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện