Hoa tạ hoa phi, phi mãn thiên,
Hồng tiêu hương đoạn hữu thuỳ liên.
Du ti nhuyễn hệ phiêu xuân tạ,
Lạc nhứ khinh niêm phốc tú liêm.
Khuê trung nữ nhi tích xuân mộ,
Sầu tự mãn hoài vô trước xứ,
Thủ bả hoa sừ xuất tú liêm,
Nhẫn đạp lạc hoa lai phục khứ.
Liễu ti du giáp tự phương phi,
Na quản đào phiêu dữ lý phi.
Đào lý minh niên năng tái phát,
Minh niên khuê trung tri hữu thuỳ.
Tam nguyệt hương sào dĩ luỹ thành,
Lương gian yến tử thái vô tình.
Minh niên hoa phát tuy khả trác,
Khước bất đạo nhân khứ lương không sào dã khuynh!
Nhất niên tam bách lục thập nhật,
Phong đao sương kiếm nghiêm tương bức.
Minh mị tiên nghiên năng kỷ thì,
Nhất triêu phiêu bạc nan tầm mịch.
Hoa khai dị kiến lạc nan tầm,
Giai tiền sầu sát táng hoa nhân.
Độc ỷ hoa sừ lệ ám sái,
Sái thượng không chi kiến huyết ngân.
Đỗ quyên vô ngữ chính hoàng hôn,
Hà sừ quy khứ yểm trùng môn.
Thanh đăng chiếu bích nhân sơ thuỵ,
Lãnh vũ xao song bị vị ôn.
Quái nùng để sự bội thương thần,
Bán vị liên xuân bán não xuân.
Liên xuân hốt chí não hốt khứ,
Chí hựu vô ngôn khứ bất văn.
Tạc tiêu đình ngoại bi ca phát,
Tri thị hoa hồn dữ điểu hồn?
Hoa hồn điểu hồn tổng nan lưu,
Điểu tự vô ngôn hoa tự tu.
Nguyện nùng hiếp hạ sinh song dực,
Tuỳ hoa phi đáo thiên tẫn đầu.
Thiên tẫn đầu! Hà xứ hữu hương khâu?
Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
Nhất bồi tịnh thổ yểm phong lưu.
Chất bản khiết lai hoàn khiết khứ,
Bất giao ô náo hãm cừ câu.
Nhĩ kim tử khứ nùng thu táng,
Vị bốc nùng thân hà nhật táng.
Nùng kim táng hoa nhân tiếu si,
Tha niên táng nùng tri thị thuỳ.
Thí khán xuân tàn hoa tiệm lạc,
Tiện thị hồng nhan lão tử thì.
Nhất triêu xuân tận hồng nhan lão,
Hoa lạc nhân vong lưỡng bất tri.
葬花詞
花謝花飛飛滿天,
紅消香斷有誰憐?
遊絲軟系飄春榭,
落絮輕粘扑繡帘。
閨中女兒惜春暮,
愁緒滿懷無著處,
手把花鋤出繡帘,
忍踏落花來復去?
柳絲榆莢自芳菲,
哪管桃飄與李飛,
桃李明年能再發,
明年閨中知有誰?
三月香巢已壘成,
梁間燕子太無情,
明年花發雖可啄,
卻不道人去梁空巢也傾。
一年三百六十日,
風刀霜劍嚴相逼,
明媚鮮妍能几時,
一朝漂泊難尋覓。
花開易見落難尋,
階前愁煞葬花人,
獨倚花鋤淚暗灑,
洒上空枝見血痕。
杜鵑無語正黃昏,
荷鋤歸去掩重門,
青燈照壁人初睡,
冷雨敲窗被未溫。
怪儂底事倍傷神?
半為憐春半惱春,
憐春忽至惱忽去,
至又無言去不聞。
昨宵亭外悲歌發,
知是花魂與鳥魂?
花魂鳥魂總難留,
鳥自無言花自羞。
愿儂脅下生雙翼,
隨花飛到天盡頭。
天盡頭!何處有香丘?
未若錦囊收艷骨,
一抔淨土掩風流,
質本潔來還潔去,
不教污淖陷渠溝。
爾今死去儂收葬,
未卜儂身何日喪?
儂今葬花人笑痴,
他年葬儂知是誰?
試看春殘花漸落,
便是紅顏老死時。
一朝春盡紅顏老,
花落人亡兩不知!
Bài hát chôn hoa
(Dịch thơ: Billy Nguyễn)
Hoa bay hoa rụng khắp trời
Hồng phai hương nhạt ai người thương hoa?
Đài xuân tơ rủ la đà
Rèm thêu bóng khẽ buồn trông u hoài
Kia đèn khuê các kìa ai?
Khóc xuân lòng những ngậm ngùi vẩn vơ
Cánh hoa mềm nhẹ tựa tơ
Lòng nào lại nỡ làm nhơ thế này
Vỏ du tơ liễu đẹp thay
Biết đâu đào rụng lý bay đó mà
Sang năm đào lý trổ hoa
Sang năm buồng gấm biết là còn không?
Tháng 3 tổ én xây xong
Hoa khoe sắc nở, lầu hồng còn vui
Sang năm hoa lại thắm tươi
Biết chăng chim én với người ở đâu?
Ba trăm sáu chục ngày mau
Kiếm sương Đao gió những chờ đâu đây
Tốt tươi xuân được mấy ngày
Chốc đà phiêu bạt bèo mây thêm sầu
Nở rồi lại rụng đi đâu
Người chôn hoa cũng u sầu tiếc thương
Cầm mai lệ lại ngầm tuôn,
Dây trên cành trụi hãy còn máu tươi.
Chiều hôm quyên lặng tiếng rồi,
Vác mai về đóng cửa ngoài buồn tênh.
Ngả người trước ngọn đèn xanh,
Ngoài song mưa tạt, bên mình chăn đơn.
Mình sao vơ vẩn từng cơn?
Thương xuân chi nữa lại hờn xuân chi?
Thương xuân như thể tình si
Trách sao xuân nỡ dứt tình quá mau?
Ngoài sân tiếng khóc từ đâu?
Chẳng buồn hoa rũ, cũng sầu hồn chim.
Hồn kia lảng vảng khôn tìm,
Chim càng lặng lẽ, hoa thêm sượng sùng
Thân này muốn vẫy vùng đôi cánh
Nơi chân trời liệng cánh hoa rơi
Nào đâu là chỗ chân trời?
Nào đâu là chỗ có đồi chôn hoa?
Sẵn túi gấm ta đành nhặt lấy
Chọn nơi cao che đậy hương tàn
Thân kia trong sạch muôn vàn
Đừng cho rơi xuống ngập tràn bùn nhơ
Giờ hoa rụng có ta chôn cất
Chôn thân ta chưa biết bao giờ?
Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ
Sau này ta chết ai là người chôn
Ngẫm khi xuân muộn hoa tàn
Cũng là khi khách hồng nhan về già
Hồng nhan thấm thoát xuân qua
Hoa tàn người vắng ai mà biết ai
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Tào Tuyết Cần 曹雪芹 (4/4/1710 - 10/6/1765) là một tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết Hồng lâu mộng, một trong tứ đại kỳ thư của văn học cổ điển Trung Quốc.
Gia đình thế hệ trước của Tào Tuyết Cần là một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đại quý tộc thời nhà Thanh Trung Quốc. Từ đời tổ đến đời cha của ông đã thay nhau giữ chức “Giang ninh chức tạo” là một chức quan to thu thuế trong triều đình. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào. Ông nội ông là Tào Dần, một nhà văn xuất sắc vùng Giang Ninh. Đến đời của ông tất cả sự giầu sang quyền quý của gia đình đã trở thành quá khứ. Gia đình ông bị mắc nạn. Ông sống trong nghèo khổ, phải đưa gia đình đi khắp nơi để mưu sinh. Mười năm cuối đời ông đã dồn toàn bộ tâm huyết và tinh thần vào để tạo nên kiệt tác Hồng lâu mộng.
Nguồn: Thi Viện



