Friday, October 23, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 3: GẮN BÓ CẢ CUỘC ĐỜI VỚI TỐNG KHÁNH LINH

Sau khi thất bại trong “cuộc cách mạng thứ hai” chống lại tên phản bội Viên Thế Khải, Tôn Trung Sơn và nhiều đồng chí của mình đã phải sống lưu vong tại Nhật Bản. Người bạn thân thiết của Tôn Trung Sơn là Tống Diệu Như, một thương gia giàu có nhưng rất có cảm tình với đảng cách mạng, đã hỗ trợ ông rất nhiều trong thời gian hoạt động tại Nhật Bản. Lúc đó người con gái lớn của Tống Diệu Như là Tống Ái Linh làm thư ký tiếng Anh cho Tôn Trung Sơn, người con gái thứ hai là Tống Khánh Linh vẫn đang lưu học tại Mỹ.

Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh trong ngày cưới.

Theo chuyên gia nghiên cứu Phạm Phương Trấn, Tôn Trung Sơn và Tống Diệu Như là những người bạn cơ đốc giáo, có mối quan hệ rất tốt đẹp. Khi còn nhỏ Tống Khánh Linh nhiều lần gặp mặt Tôn Trung Sơn và rất sùng bái Tôn Trung Sơn. Cô mang hy vọng cháy bỏng được theo Tôn Trung Sơn tham gia cách mạng.

Tháng 9/1914, Tống Ái Linh kết hôn với Tôn Tường Hi, vì thế đã không thể đảm nhận vai trò thư ký tiếng Anh cho Tôn Trung Sơn. Lúc đó Tống Khánh Linh liền chủ động đề xuất đảm nhận công việc này. Kể từ đây đã nảy sinh tình yêu bền chặt keo sơn giữa hai người đồng chí cùng chung chí hướng.

Năm 1915, Tôn Trung Sơn kết hôn với Tống Khánh Linh. Khi đó ông 49 tuổi, hơn người vợ mới cưới 27 tuổi, thậm chí người con cả của Tôn Trung Sơn là Tôn Khoa cũng lớn hơn Tống Khánh Linh 2 tuổi. Sự khác biệt lớn về tuổi tác không được chấp nhận theo quan niệm lúc đó, hơn nữa Tôn Trung Sơn còn có vợ con ở quê nhà. Gia đình họ Tống đã kiên quyết phản đối cuộc hôn phối này, thậm chí đã giam lỏng Tống Khánh Linh trong nhà.

Tuy nhiên, Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh vẫn không lay động và quyết tâm với tình yêu của mình. Tháng 9/1915, trước sự phản đối của nhiều người, Tôn Trung Sơn đã yêu cầu li hôn với Lư Mộ Trinh. Lư Mộ Trinh khảng khái bày tỏ: "Tôn tiên sinh đã bôn ba hải ngoại làm cách mạng, ngang dọc khắp nơi, tinh thần và thể xác đều đã rất mệt mỏi. Hiện nay có người chăm sóc lo liệu cuộc sống cho ông, tôi can tâm tình nguyện li hôn với ông". Câu nói này của Lư Mộ Trinh đã xua đi rất nhiều tin đồn hoài nghi về Tôn Trung Sơn.

Lăng mộ Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh.

Sau khi kết hôn, Tống Khánh Linh luôn bên cạnh Tôn Trung Sơn và dốc toàn tâm toàn lực ủng hộ Tôn Trung Sơn về công việc, cuộc sống và tinh thần. Năm 1916, Viên Thế Khải xưng đế bất thành. Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh từ Nhật Bản trở về Thượng Hải, tiếp tục lãnh đạo cách mạng. Một năm sau đó, Tôn Trung Sơn xuống Quảng Châu đảm nhận chức đại nguyên soái và triển khai "Phong trào hộ pháp", tuy nhiên đã bị tập đoàn quân phiệt và giới chính khách phản bội, vì thế Tôn Trung Sơn phẫn nộ từ chức trở về Thượng Hải.

Năm 1921, Tôn Trung Sơn lại một lần nữa tới Quảng Châu đảm nhận chức đại tổng thống và triển khai "Phong trào hộ pháp" lần thứ hai. Tuy nhiên, do có chính kiến khác biệt với lãnh tụ quân chính Quảng Châu lúc đó là Trần Quýnh Minh, vì thế Trần Quýnh Minh đã khởi binh và gây ra sự kiện pháo kích vào phủ tổng thống.

Trước khi bị pháo kích, Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh đã nhận được mật báo, hai người kiên quyết nhường nhau đi trước, tự mình ở lại để đối phó. Khi hai người vẫn chưa quyết định được ai nên đi trước, Tống Khánh Linh đã nói một câu khiến Tôn Trung Sơn không thể không rời đi trước: "Trung Quốc có thể không có em, tuy nhiên không thể không có anh!".

Sau khi Tôn Trung Sơn tháo chạy an toàn, cuộc pháo kích bắt đầu. Tống Khánh Linh thập tử nhất sinh, cuối cùng đã thoát khỏi trận pháo kích. Tuy nhiên, Tống Khánh Linh đang mang thai, do quá căng thẳng và mệt mỏi, đã bị sảy thai. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất Tống Khánh Linh mang thai. Từ đó trở đi, lòng bao dung và tinh thần đại nghĩa của Tống Khánh Linh đã làm thay đổi quan điểm của rất nhiều người trong Quốc Dân Đảng vốn trước kia từng phản đối cuộc hôn nhân của bà với Tôn Trung Sơn. Kể từ đó sự uy nghiêm của bà đã được nâng cao rất nhiều.

Sau sự kiện khởi binh của Trần Quýnh Minh, Tôn Trung Sơn bắt đầu xem xét khả năng hợp tác với Đảng Cộng sản. Tháng 1/1923, Tôn Trung Sơn và đại diện toàn quyền chính phủ Liên Xô gặp nhau tại Thượng Hải, chính thức thảo luận về sự hợp tác với Đảng Cộng sản. Tháng 1/1924, trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Quốc Dân Đảng Trung Quốc, Tôn Trung Sơn đã tuyên bố thực hiện 3 chính sách lớn "liên Nga, liên cộng và giúp đỡ nông dân", tiếp nhận sự trợ giúp của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Liên Xô, cải tổ Quốc Dân Đảng.

Tháng 1/1925, Tôn Trung Sơn được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư gan. Trong thời gian này, Tống Khánh Linh luôn túc trực bên cạnh Tôn Trung Sơn. Mặc dù thần chí không còn minh mẫn, tuy nhiên Tôn Trung Sơn vẫn nói với Tống Khánh Linh: "Em không được đau khổ, tất cả những gì của anh tức là của em". Tống Khánh Linh khóc và trả lời rằng: "Em chỉ yêu một mình anh, ngoài ra không yêu bất cứ thứ gì khác".

Ngày 12/3/1925, Tôn Trung Sơn qua đời ở tuổi 59. Tống Khánh Linh tuân theo ý nguyện của Tôn Trung Sơn đã mai táng ông tại Chung Sơn (núi Chuông), Nam Kinh, lăng mộ được gọi là "lăng Trung Sơn".

Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu (Nguồn ảnh: Internet)

Tháng 11/1956, để tưởng nhớ Tôn Trung Sơn, chính phủ Trung Quốc đã cho xây dựng nhà tưởng niệm di tích lịch sử Tôn Trung Sơn tại thôn Thúy Hanh và nhà triển lãm dân cư thôn Thúy Hanh. Đến cuối những năm 1980, để bảo tồn và thể hiện phong cảnh diện mạo của thôn Thúy Hanh, chính quyền địa phương đã trưng dụng một số ngôi nhà cổ và mở rộng quy mô nhà tưởng niệm. Đến nay, thôn Thúy Hanh không còn hậu duệ mang họ Tôn chính gốc.


MỘNG THIÊN - LÝ HẠ


Mộng thiên - Lý Hạ

Lão thố hàn thiềm khấp thiên sắc,
Vân lâu bán khai Bích tà bạch.
Ngọc luân loát lộ thấp đoàn quang,
Loan bội tương phùng quế hương mạch.
Hoàng trần thanh thuỷ tam sơn hạ,
Canh biến thiên niên như tẩu mã.
Dao vọng Tề Châu cửu điểm yên,
Nhất hoằng hải thuỷ bôi trung tả.


夢天 - 李賀

老兔寒蟾泣天色
雲樓半開壁斜白
玉輪軋露濕團光
鸞佩相逢桂香陌
黃塵清水三山下
更變千年如走馬
遙望齊州九點煙
一泓海水杯中瀉


Mộng lên trời
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cóc vàng thỏ ngọc dong chơi.
Tầng mây cao vút, sáp phơi sắc ngà.
Ngậm vành trăng ngọc sương sa.
Tiên loan sánh bước, đậm đà quế hương.
Non tiên chẳng vướng bụi hường.
Bóng câu qua cửa, chuyện thường đổi thay.
Tề Châu mờ mịt khói bay.
Biển sâu thâu trọn, chén này trùng dương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thi quỷ Lý Hạ 李賀 (790-816) thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kỳ thông minh đĩnh ngộ, khi mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kỳ dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là điều dễ hiểu: “Điện tiền tác phú thanh ma không, Bút bổ tạo hoá thiên vô công” (Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài thơ chạm vào bầu trời, Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công sức).

Theo tiểu truyện về Lý Hạ do Lý Thương Ẩn - một nhà thơ lớn thời Vãn Đường - viết, thì khi Lý hạ bệnh nặng, bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ giống như chữ triện thời thái cổ, trao cho Lý Hạ và nói: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký” (Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập quân chiêu vi ký). Lát sau Lý Hạ mất. Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong tiếng sáo réo rắt. Trong lịch sử Đường thi, có lẽ chỉ có Thi Tiên Lý Bạch và Thi Quỷ Lý Hạ mới có huyền thoại chung quanh cái chết mà thôi. Một người nhảy xuống sông ôm trăng rồi cưỡi con kình ngư lên cõi thiên khung (tương truyền khi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng thì có con kình ngư tới đón và chở lên trời), một người được Thượng đế cho tiên nhân đem xe nhạc đến mời lên viết bài ký cho lầu Bạch Ngọc chốn thiên đình. Ai dám khẳng định điều đó là hoang đường không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc không không?

Nguồn: Thi Viện



HỌA SĨ CUỐI CÙNG TRÊN THẾ GIỚI VẼ TRANH MÉP SÁCH TẠO NÊN NHỮNG HÌNH ẢNH "TÀNG HÌNH" TRÊN CÁC TRANG SÁCH MẠ VÀNG

Họa sĩ vẽ tranh mép sách thương mại nổi tiếng cuối cùng trên thế giới chia sẻ bí mật về những hình ảnh “tàng hình” đầy mê hoặc, được vẽ giữa các mép sách, giúp giữ cho sự kỳ diệu trong nghề thủ công đang dần mai một của ông tồn tại.

Ông Martin Frost, nghệ nhân vẽ tranh mép sách cuối cùng [trên thế giới]. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Họa sĩ vẽ tranh ẩn trên các mép sách mạ vàng Martin Frost sinh ra ở London. Tác phẩm thủ công tinh mỹ của ông sẽ xuất hiện khi chúng ta xòe các trang sách. Ông Frost, 72 tuổi, hiện đang sống tại thị trấn ven biển Worthing ở miền nam nước Anh. Ông làm việc trong xưởng vẽ và đóng sách tại nhà.

Họa sĩ vẽ tranh ẩn trên mép sách Martin Frost trong xưởng vẽ tại nhà. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

‘Tôi được chúc phúc’

Từ khi còn rất nhỏ, ông Frost đã quen thuộc với thế giới nghệ thuật.

“Cha tôi là một họa sĩ vẽ chân dung chuyên nghiệp, còn mẹ tôi từng quản lý một cửa hàng nghệ thuật,” ông Frost nói với The Epoch Times.

Ông Frost đã được nuôi dưỡng niềm đam mê nghệ thuật từ khi còn tấm bé, vì việc vẽ tranh và phác thảo luôn diễn ra trong gia đình ông.

“Những đứa trẻ ở trường rất thích vẽ tranh, nhưng sau khi lớn lên, các em trở nên kém tự tin, và khi trưởng thành, các em không vẽ nữa … các em sợ mắc sai lầm,” ông nói. “Tôi không sợ hãi … Tôi được cha mẹ chúc phúc, và tôi thấy mình may mắn.”

Ông Frost đã theo học trường nghệ thuật với ý định trở thành một họa sĩ. Thế nhưng, sau đó ông phát hiện rằng ông muốn trở thành nhà thiết kế cho một nhà hát. Vì thế, ông đã đi theo con đường đó.

Vào những năm 1970, khi ông đang làm công việc trang trí bối cảnh trong nhà hát, thì người hàng xóm và đồng nghiệp của ông là Don Noble đã giới thiệu ông cách vẽ tranh trên mép sách.

“Ông ấy cho tôi thấy những gì ông ấy đã làm,” ông Frost kể lại. “Và tôi khá ấn tượng.”

Mặc dù phải làm việc nhiều giờ trong nhà hát, nhưng ông Frost vẫn quyết định thử sức với môn nghệ thuật độc đáo này. Dưới sự hướng dẫn của ông Noble, ông đã tiếp thu loại hình nghệ thuật này khá nhanh vì kỹ thuật khá đơn giản.

Các bức tranh trên mép sách hiện ra như một phép màu khi các trang sách được giữ đúng cách. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

“Tình cờ là tôi vẽ khá thành thạo vì vậy tôi có thể tạo ra một hình ảnh phù hợp,” ông Frost cho hay. “Vấn đề chỉ là học cách đặt hình ảnh vào một cuốn sách sao cho nó có thể biến mất … điều đó cần một chút khéo léo.”

“Tôi đã làm một vài cuốn sách, rồi đưa cho một số nhà sách xem qua và họ nói, ‘Đúng vậy, vâng, chúng tôi có thể bán tác phẩm này.’ Rồi công việc đó dần dần chiếm lấy cuộc sống của tôi và việc thiết kế ở nhà hát đã dừng lại,” ông Frost nói. “Vợ tôi cũng đang đi làm, cả hai chúng tôi đều có thu nhập, vì thế chúng tôi đã xoay sở được … hầu hết mọi người đều trải qua một vài công việc, nhưng tôi đã gắn bó với công việc này nửa thế kỷ!”

Ông Frost cần đâu đó khoảng 12 tiếng cho đến một tuần để thực hiện một đơn đặt hàng đơn lẻ, tùy thuộc vào độ khó của tác phẩm. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Một nghề thủ công tinh xảo

Các phiên bản sớm nhất của những bức tranh ẩn trên mép sách bắt nguồn từ London, Anh, giữa thế kỷ 17 và đến nay vẫn là một nghề thủ công ở Anh.

Trong khi một mặt của mỗi trang sách được đóng vào gáy, thì ba mặt còn lại có thể được vẽ lên. Ông Frost phân biệt giữa tranh lật một chiều, tranh lật hai chiều, tranh đôi (split double), và tranh ở hai bên mép dọc, tùy thuộc vào số lượng hình ảnh được vẽ và chúng được hiển thị theo hướng nào.

“Còn nhiều chi tiết phức tạp hơn nữa,” ông nói.

Ấn bản cỡ lớn của cuốn sách Don Quixote với các bức tranh mép sách ở hai mép sách dọc. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Ông cũng khẳng định rằng mạ vàng là cách truyền thống để làm ẩn đi các bức tranh này.

Ông Frost và các bậc tiền nhân của ông ưu tiên màu nước hơn là chất liệu sơn gốc dầu và nhựa vì những bức tranh cần nét vẽ nhẹ nhàng và sắc tố mềm mại để tránh làm nặng các trang sách.

Khi ông Frost bắt đầu vẽ tranh trên mép sách ở độ tuổi 20, ông đã dùng những cuốn sách bìa da thế kỷ 19 với các trang sách mạ vàng, rất phù hợp để làm ẩn đi tác phẩm thủ công của ông.

“Trước đây, tôi từng vẽ trên tất cả các cuốn Kinh Thánh và sách cầu nguyện với những khung tượng tôn giáo, chúng rất phổ biến,” ông Frost cho hay. “Khá nhiều tác phẩm của tôi là về các nhà thơ thời kỳ đầu … những cuốn sách thể thao, sách lãng mạn … và hiện tại là cuốn ‘Harry Potter.’”

Ông Martin Frosts đã vẽ trên nhiều cuốn Kinh Thánh, thơ ca, hoặc những cuốn sách bìa da cổ. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Cho đến nay, ông Frost đã tạo ra 3,500 tác phẩm tranh trên mép sách, trong suốt 50 năm trau dồi kỹ nghệ của mình. Một tác phẩm có thể mất từ ​​12 giờ đến một tuần để hoàn thành, tùy thuộc vào kích thước và độ phức tạp, cũng như liệu cuốn sách có cần được mạ vàng và phục hồi hay không. Mặc dù ông Frost là một nghệ nhân chuyên nghiệp, nhưng công việc của ông vẫn có những thử thách.

“Tôi đang thao tác trên rất nhiều tờ giấy, thật khó để ngăn sơn thấm vào giữa mỗi tờ,” ông nói. “Nếu bạn nhìn vào một mặt cắt ngang, thì gần như có một dãy bậc thang … Tôi đang vẽ trên những bậc thang đó, và sơn muốn len lỏi vào trong cuốn sách.”

Một khó khăn khác là một số trang của những cuốn sách cũ có thể bị bóng nhờn hoặc xốp mềm, trong khi màu nước theo truyền thống là một chất liệu rất ướt, do đó ông Frost phải tiếp cận bức tranh của mình theo cách khác.

“Chất liệu vẽ không được ẩm ướt bởi vì như vậy bức tranh sẽ không hoàn thành; nó ngấm vào trang giấy, khiến trang giấy đó bị lung lay, và có thể làm mất lớp mạ vàng của sách,” ông giải thích. “Điều đó cũng có nghĩa là bạn phải thao tác chậm hơn, bởi vì bạn đang đổ một ít sơn khá khô lên đó, vậy nên đây không phải là một kỹ thuật có thể làm nhanh.”

Những bức tranh trên mép sách phải được thao tác rất cẩn trọng để giữ cho sơn không thấm vào bên trong những trang sách. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Màu nước cũng không phải là một chất liệu dễ tính.

“Bạn không thể mắc một lỗi nào,” ông Frost nói. “Khi bạn phác họa một nét lên cuốn sách, đó sẽ là dấu ấn của bạn, bạn buộc phải vẽ tiếp lên đó. Bạn không thể tô vẽ quá mức … bạn phải rất cẩn trọng về những gì mình đang làm.”

Ông Martin Frost, nghệ nhân vẽ tranh mép sách cuối cùng [trên thế giới]. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

‘Không có thế hệ kế thừa’

Ông Frost chia sẻ về nghề thủ công đầy sức cuốn hút của mình trên trang web và Instagram, nơi ông cho biết phản ứng phổ biến nhất đối với những bức tranh ẩn này là, “Chà, chúng tôi không nghĩ là nó sẽ như thế này … thật kỳ diệu,” ông Frost nói.

Hầu hết mọi người đều có chút băn khoăn và tự hỏi liệu có bất kỳ loại pin nào ẩn bên trong khiến bức tranh ẩn đi và hiện ra như vậy hay không. Tuy nhiên, ông Frost khẳng định rằng không có cục pin như vậy và đây là một bức tranh vẽ tay.

“Dự án trên Instagram của tôi là thiết lập một kho lưu trữ, một bản ghi lại công việc của một người đàn ông đi theo con đường vẽ tranh mép sách thương mại, điều này hơi khác so với bình thường; chúng tôi hầu như không biết các họa sĩ vẽ tranh trên mép sách là ai. Họ chưa bao giờ ký tên lên tác phẩm của mình … nhưng giờ đây, tôi thấy vui khi nói về nó và nói rằng đó là tôi, và tất cả tác phẩm của tôi đều có một chữ ký … một ký hiệu nhỏ mà tôi đặt lên bức tranh.”

Thi thoảng có nhà phê bình hỏi ông Frost rằng tại sao ông lại vẽ những bức tranh mà người ta không thể nhìn thấy hoặc làm xấu đi một cuốn sách cổ, nhưng câu trả lời của ông Frost đơn giản là: nghệ thuật của ông là một sự tôn kính yêu thương đối với những con chữ giữa các trang giấy và mục đích duy nhất trong công việc của ông là “khiến cho mọi người mỉm cười.”

Nghệ nhân Martin Frost đã hoàn thành khoảng 3,500 bức tranh trên mép sách trong suốt 50 năm sự nghiệp của mình. (Ảnh: Đăng dưới sự cho phép của Martin Frost @foredgefrost1)

Ông Frost nằm trong danh sách “các nghệ nhân thủ công không có người kế thừa” do Hiệp hội Thủ công Di sản ghi nhận, nhưng giải thưởng lớn nhất của ông cho đến nay là Huân chương Đế quốc Anh (MBE) được trao tại Lâu đài hoàng gia Windsor ở Anh.

“Con gái tôi đã thực sự thúc đẩy sự kiện đó,” ông Frost nói. “Con bé nghĩ rằng nếu tôi thử và có được sự công nhận nào đó từ Cung điện trên cơ sở rằng tôi là người đàn ông cuối cùng còn trụ lại với nghề này, thì sẽ tạo được tiếng tăm tốt. Thế rồi họ quay lại và nói, ‘Đúng vậy, ông đủ tiêu chuẩn.’”

Ông Frost nghĩ rằng ​​​​sẽ được nhận Huân chương MBE từ Thái tử Charles, nhưng khi đến Lâu đài Windsor cùng vợ và con gái, ông đã được yết kiến nữ hoàng Anh. Ông Frost nói: “Tôi trở về cùng ngày hôm đó trong bộ âu phục chỉnh tề, với Huân chương trên ngực, và tôi vào viện dưỡng lão để thăm mẹ tôi. Bà rất thích chiếc Huân chương này; mẹ nói với tất cả những người khác trong viện dưỡng lão rằng, ‘Con trai tôi đó!’”

Ông Frost cho biết một số thợ thủ công mới đã bắt đầu vẽ tranh trên mép sách trong 5 năm qua, nhưng không ai có thể làm cho những bức tranh đó hoàn toàn ẩn đi. Ông Frost có thể tự mình thực hiện khối lượng công việc này, vì thị trường hưng thịnh một thời nay đã thu hẹp lại.

Hiện đã về hưu bán thời gian, ông hy vọng truyền thụ kỹ nghệ và trách nhiệm này cho người khác. Vì vậy, ông đã trực tiếp tổ chức các hội thảo ở nhiều nước Âu Châu như Amsterdam, Bỉ, Pháp, và trên khắp Hoa Kỳ trong 15 năm qua, cố gắng khích lệ những người khác tiếp nhận nghề thủ công này và giúp vực dậy thị trường.

“Chưa ai từng biết về nghệ thuật vẽ tranh trên mép sách vì chúng được ẩn đi; bạn không thể treo một bức tranh ẩn trên mép sách lên tường, chúng cũng không có trong các phòng triển lãm,” ông Frost bày tỏ. “Tôi phải mở cho bạn xem mới được … Tôi không còn nhiều thời gian, nhưng chừng nào tôi còn có thể vẽ thì tôi sẽ không bao giờ về hưu.”

Nguồn: epochtimesviet (Chi Lan biên dịch)
An Nhiên / Theo: vandieuhay



8 ĐIỆP VIÊN ANH, MỸ TIẾT LỘ THÔNG TIN BOM NGUYÊN TỬ CHO LIÊN XÔ

Nhờ những bí mật nguyên tử này mà Liên Xô có thể thử thành công vũ khí hạt nhân đầu tiên năm 1949.


Liên Xô đã nỗ lực thu thập thông tin tình báo về chương trình bom nguyên tử của Anh và Mỹ mà sau này là Dự án Manhattan. Trong chiến dịch Enormoz, các đặc vụ Liên Xô đã tuyển một số nhà khoa học tại phòng thí nghiệm Los Alamos. Phải mãi sau Chiến tranh Thế giới thứ hai người ta mới biết quy mô mạng lưới gián điệp hạt nhân của Liên Xô khi Mỹ và Anh giải được mật mã trong các bức điện của Liên Xô. Dự án phá mật mã Liên Xô của Mỹ và Anh có tên Venona, tới năm 1995 mới được giải mật.

John Cairncross

John Cairncross tại nhà riêng ngày 18/10/1990 ở Saint-Antonin, Pháp. Ảnh: Getty Images

Cairncross làm thư ký riêng cho ông Maurice Hankey, quan chức Anh cấp cao tham gia Tube Alloys, chương trình nguyên tử bí mật của Anh trong Thế chiến II. Ở vị trí này, ông đã trao cho Liên xô một danh sách các nhà khoa học nguyên tử Mỹ và nhiều người đã rò rỉ thông tin về báo cáo đánh giá triển vọng chế tạo bom nguyên tử của Anh vào năm 1941.

Sau khi bị tình báo Anh MI5 thẩm vấn trong những năm 1960 và thừa nhận là gián điệp cho Liên Xô, Cairncross đã đổi thông tin để được miễn truy tố. Năm 1990, ông cuối cùng được xác định là “người thứ năm” trong nhóm gián điệp khét tiếng đã từng gặp tại Đại học Cambridge những năm 1930. Cairncross chết ngày 8/10/1995 ở Herefordshire, Anh.

Melita Norwood

Melita Norwood bên ngoài nhà ở Bexleyheath, Anh năm 1999. Ảnh: Getty Images

Là gián điệp lâu nhất của Liên Xô tại Anh, Norwood làm thư ký cho giám đốc dự án Tube Alloys. Dưới vỏ bọc một cuộc sống có vẻ bình thường ở ngoại ô London, bà đã chuyển thông tin cho các đặc vụ Liên Xô suốt Thế chiến II và tận những năm 1970.

Hiện chưa rõ những thông tin Norwood đã giúp Liên Xô thế nào trong chương trình hạt nhân, nhưng bà đã được chính thức vinh danh khi bà thăm Moskva năm 1979.

Cuối cùng, khi bị lộ là gián điệp vào những năm 1990, Norwood vui vẻ thừa nhận những gì mình đã làm và cho biết bà sẽ làm lại điều đó.

Klaus Fuchs

Ảnh Klaus Fuchs do cảnh sát chụp. Ảnh: History.com

Fuchs là một nhà vật lý sinh ra ở Đức, chạy tới Anh năm 1933 và trở thành công dân Anh năm 1942. Lúc đó, ông đã đề nghị làm gián điệp cho Liên Xô. Cuối năm 1943, Fuchs đã tham gia một nhóm nhà khoa học Anh tới Los Alamos để làm việc cho dự án Manhattan và sau này, ông đã giao những thông tin quan trọng về thiết kế vũ khí nguyên tử cho Liên Xô, giúp họ đẩy nhanh chương trình hạt nhân.

Sau khi các bức điện của Liên Xô được giải mã, Fuchs lộ thân phận gián điệp. Ông đã thừa nhận vào đầu năm 1950. Lời khai của ông khiến giới chức bắt được Harry Gold, một người đưa tin quan trọng cho các gián điệp ở Los Alamos.

David Greenglass

David Greenglass. Ảnh: Getty Images

Đến lượt mình, Gold đã khai ra tên của David Greenglass, một thợ máy của Lục quân Mỹ, từng làm việc tại cơ sở hạt nhân bí mật tại Oak Ridge, Tennessee rồi được giao nhiệm vụ tại Los Alamos năm 1944.

Được anh rể là Julius Rosenberg tuyển làm gián điệp cho Liên Xô, Greenglass đã giao thông tin cho Liên Xô giữa năm 1945, gồm có một bản phác thảo bằng tay và các ghi chú mô tả một loại bom nổ dồn.

Trong lần thú nhận năm 1950, Greenglass đã nhắc đến chị gái mình là Ethel Rosenberg, người đã đánh máy các ghi chú được gửi cho Liên Xô.

Nhờ hợp tác mà Greenglass được giảm án và vợ được miễn tội. Dựa trên lời khai của Greenglass, vợ chồng Rosenberg đã bị kết án và hành quyết tháng 6/1953.

Russell McNutt

McNutt là một kỹ sư dân dụng tại thành phố New York và là bạn của Julius Rosenberg, người đã khuyến khích ông này nhận một việc làm năm 1943 ở Kellex, một công ty xây dựng nhà máy khuếch tán khí để tách urani tại Oak Ridge.

Rosenberg đã kết nối McNutt với cơ quan an ninh KGB của Liên Xô. Mặc dù ông trao cho người Liên Xô thiết kế nhà máy, nhưng McNutt từ chối đề nghị của Kellex về chuyển từ New York tới Oak Ridge, nơi ông ta có thể tiếp cận nhiều dữ liệu khoa học hơn.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã thẩm vấn McNutt vì ông ta thân với Rosenberg, nhưng họ không bao giờ nghi ông ta là gián điệp. Sau chiến tranh, McNutt đã làm việc cho công ty Gulf Oil và là nhóm trưởng bộ phận Guld-Reston, nơi phụ trách xây dựng cộng đồng theo kế hoạch ở Reston, Virginia – ngay cạnh trụ sở Cục Tình báo Trung ương Mỹ ở Langley.

Về sau, việc McNutt làm gián điệp được tiết lộ trong sổ ghi chép của Alexander Vassiliev, nhà báo và là cựu nhân viên KGB, người từng ghi chép các thông tin nhạy cảm của KGB từ năm 1930-1950.

Clarence Hiskey

Clarence Hiskey (trái) tại tòa án liên bang Brooklyn ngày 11/11/1950. Ảnh: Getty Images

Hiskey là một nhà hóa học, bắt đầu làm việc trong lĩnh vực khuếch tán khí tại Đại học Columbia và sau này được điều tới Phòng thí nghiệm Luyện kim ở Chicago, một bộ phận quan trọng khác của dự án Manhattan. Hiskey đã chuyển thông tin cho GRU, tình báo quân sự Liên Xô chứ không phải KGB.

Sau khi ông bị phát hiện gặp điệp viên Liên Xô Arthur Adams năm 1944, các quan chức tình báo Lục quân Mỹ đã bắt Kiskey đi quân dịch và đưa ông ra tận Alaska.

Lý do phía Mỹ không muốn bắt Hiskey vì nếu họ làm vậy, họ sẽ làm lộ thông tin rằng Hiskey đang làm việc trong dự án tối mật này. Hiskey bị triệu tập để lấy lời khai trước một ủy ban quốc hội sau chiến tranh, nhưng từ chối trả lời câu hỏi về việc bị nghi làm gián điệp. Phía Mỹ thực sự không có bằng chứng cụ thể về Hiskey làm gián điệp.

Hiskey tiếp tục dạy hóa học tại Viện Bách khoa Brooklyn và làm việc tại một số công ty công nghệ sinh học.

Theodore Hall

Theodore Hall. Ảnh: Alama

Khi các bức điện tín của Liên Xô được giải mật giữa những năm 1990, cái tên Theodore Hall xuất hiện. Đây là nhà vật lý trẻ nhất trong dự án Manhattan, là điệp viên thứ ba từng bị nghi ngờ trong một thời gian dài (sau Fuchs và Greenglass) tại Los Alamos.

Với mật danh Mlad, Hall đã tiếp cận các đặc vụ Liên Xô cuối năm 1944 và sớm trao cho họ cập nhật quan trọng về quá trình phát triển bom pluto. FBI lần đầu biết về các hoạt động gián điệp của Hall đầu những năm 1950. Do Hall không thừa nhận, FBI đã để cho ông này đi thay vì để lộ dự án Venona với Liên Xô. Về sau, Hall tới Anh và trở thành một người tiên phong trong nghiên cứu sinh học.

Oscar Seborer

Năm 2019, Harvey Klehr, giáo sư danh dự về chính trị và lịch sử của Đại học Emory đã phát hiện ra sự tồn tại của một điệp viên Liên Xô thứ năm tại Los Alamos sau khi rà soát các tài liệu giải mật gần đây của FBI.

Osca Seborer có mật danh Godsend, là con trai của hai người nhập cư Do Thái từ Ba Lan, là kỹ sư điện và làm việc tại Los Alamos từ năm 1944 tới 1946. Mặc dù chưa rõ chính xác Seborer đã trao cho Liên Xô thông tin gì, nhưng công việc của người này liên quan hệ thống dây của chốt nổ quả bom nguyên tử, do đó ông có thể tiếp cận nhiều thông tin hơn Fuchs và Hall, trong đó có những thông tin tình báo quan trọng về phương pháp nổ dồn.

Hiện tại, Giáo sư Klehr cho biết vẫn chưa rõ Seborer trao những gì cho Liên Xô, chỉ biết đó là thông tin rất quan trọng. Tới lúc FBI biết về hoạt động gián điệp của Seborer giữa những năm 1950, ông này đã rời Mỹ và định cư ở Nga và sống tới khi chết năm 2015.

Thùy Dương - History
Link tham khảo:



Thursday, October 22, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 2: XA NHÀ LÀM CÁCH MẠNG

Năm 1883, sau khi từ Honolulu (Mỹ) về nước, Tôn Trung Sơn đã đăng ký theo học tại trường y Bác Tế, Quảng Châu và sau đó thi đỗ vào trường Y Hương Cảng (Hồng Công), tiền thân của Đại học Hương Cảng, ông mang hoài bão lớn là làm việc "chữa bệnh cứu người". Ngoài chuyên ngành y khoa, Tôn Trung Sơn còn hiểu biết rộng về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, nông nghiệp và kiến thức địa lý thiên văn của các nước Âu Mỹ, được bạn bè đánh giá là người "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý".

Tôn Trung Sơn chụp ảnh cùng vợ Lư Mộ Trinh và ba con.

Tuy nhiên, cùng với việc "nhìn nhận thế giới bằng nhãn quan rộng lớn", Tôn Trung Sơn ngày càng tỏ ra bất mãn với hiện thực xã hội phong kiến trong nước. Cha mẹ có ý muốn sớm tìm cho Tôn Trung Sơn một người vợ để ông quên đi lòng trắc ẩn trước hiện thực xã hội và người được chọn là Lư Mộ Trinh, lớn hơn Tôn Trung Sơn 1 tuổi. Mặc dù không phải là người có sắc đẹp hơn người, nhưng Lư Mộ Trinh là một cô gái rất đảm đang và nhanh nhẹn, thông minh.

Tôn Trung Sơn đã không dám trái lệnh cha mẹ và anh trai. Năm 1885, Tôn Trung Sơn trở về quê thành hôn. Năm 1891, Lư Mộ Trinh sinh hạ con trai cả là Tôn Khoa. Cùng năm đó, khi đang học ở Hương Cảng, trong một hoạt động do nhà trường tổ chức, Tôn Trung Sơn đã quen biết Trần Túy Phân, 18 tuổi. Trần Túy Phân sinh năm 1873, tại Đồn Môn, Tân Giới, Hương Cảng, xinh đẹp, tính tình thẳng thắn và đảm đang, chịu khó.

Mặc dù không có học hành, song Trần Túy Phân là một cô gái rất nhanh trí và quả cảm. Hai người lần đầu gặp mặt đã nói chuyện rất thẳng thắn, tâm đầu ý hợp và cả hai cùng có nguyện vọng làm theo Hồng Tú Toàn, lật đổ nhà Mãn Thanh. Tôn Trung Sơn là một thanh niên trẻ, kiến thức học vấn sâu rộng, khí phách đã làm say lòng Trần Túy Phân.

Tôn Dật Tiên với thành viên Đồng Minh hội

Năm 1895, sau khi khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, Tôn Trung Sơn bị triều đình nhà Thanh liệt vào danh sách tội phạm truy nã hàng đầu, mọi người trong gia đình cũng bị liên lụy. Lư Mộ Trinh đã mang con tới nhà Tôn Mi, anh trai cả của Tôn Trung Sơn ở Honolulu (Mỹ) và đã nhiều lần gửi tiền giúp Tôn Trung Sơn làm cách mạng. Năm 1907, công việc kinh doanh của Tôn Mi bị phá sản, Lư Mộ Trinh cùng hai con không còn cách nào khác phải quay trở về Cửu Long, Hương Cảng và mở một nông trường nhỏ làm kế sinh nhai, cuộc sống rất kham khổ.

Ngày 10/10/1911, cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Sau đó 2 tháng, Tôn Trung Sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm tổng thống lâm thời. Ngày 1/1/1912, Tôn Trung Sơn tuyên thệ nhậm chức Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh, được rất nhiều người kính trọng và ngưỡng mộ.

Mặc dù ở địa vị cao, Tôn Trung Sơn vẫn giữ tác phong sinh hoạt giản dị. Phạm Phương Trấn, nhà nghiên cứu Lăng Trung Sơn cho biết, khi Lư Mộ Trinh đem Tôn Khoa và 2 con gái là Tôn Diễm và Tôn Uyển tới phủ tổng thống Nam Kinh. Do thiếu phòng ở nên Tôn Khoa đã phải ngủ ở phòng cần vụ ở phía đông. Lư Mộ Trinh tự sắp xếp thu dọn phòng, nấu nướng, giặt giũ, cuộc sống một gia đình 5 người rất đơn giản. Tuy nhiên, chính vào lúc Tôn Trung Sơn đạt tới đỉnh cao của sự thành đạt thì Trần Túy Phân lại ra đi.

Quang cảnh đường Nam Kinh sau cuộc khởi nghĩa Thượng Hải năm 1911, hai bên đường đều treo cờ Ngũ tộc cộng hòa, sau này trở thành quốc kỳ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc.

Mọi người đã đưa ra rất nhiều suy đoán về nguyên nhân ra đi của Trần Túy Phân. Tuy nhiên, năm 1942, Trần Túy Phân đã giải thích rằng: "Tôi theo Tôn Trung Sơn chống lại nhà Thanh và xây dựng Trung Hoa Dân Quốc, chí nguyện cứu nước cứu dân đã thành......Tôi tự biết mình xuất thân bần hàn, kiến thức có hạn, tự nguyện ra đi, không phải là Tôn Trung Sơn từ bỏ tôi, Tôn Trung Sơn đối đãi với tôi rất tốt và cũng không phụ lòng tôi".

Ba tháng sau khi nhậm chức Tổng thống, Tôn Trung Sơn đã thực hiện lời hứa nhường chức này cho Viên Thế Khải với điều kiện ông này phải bắt vua nhà Thanh thoái vị để thành lập chế độ cộng hòa. Tuy nhiên, năm 1913, Tống Giáo Nhân - một nhân vật quan trọng của Quốc Dân Đảng đồng thời là người sắp đảm nhận chức vụ Thủ tướng nội các - bị ám sát. Viên Thế Khải bị nghi là thủ phạm đứng đằng sau vụ này.

Sự kiện này khiến Tôn Trung Sơn rất phẫn nộ và ông đã đứng lên kêu gọi các tỉnh miền Nam khởi binh chống lại Viên Thế Khải, sự kiện được gọi là "cuộc cách mạng lần thứ hai". Tuy nhiên, do thực lực mỏng, yếu, cuộc cách mạng lần thứ hai nhanh chóng thất bại. Một loạt các đảng viên cách mạng gồm Tôn Trung Sơn, Hoàng Hưng... đã phải lưu vong ở Nhật Bản, trong số đó bao gồm cả gia đình thương gia giàu có Tống Diệu Như, có mối quan hệ mật thiết với Tôn Trung Sơn và đảng cách mạng.

KỲ 3: GẮN BÓ CẢ CUỘC ĐỜI VỚI TỐNG KHÁNH LINH

Ngọc Thúy (Tổng hợp)
Theo: baotintuc

MỘC LAN HOA - TIỀN DUY DIỄN


Mộc lan hoa

Thành thượng phong quang oanh ngữ loạn.
Thành hạ yên ba xuân phách ngạn.
Lục dương phương thảo kỷ thời hưu,
Lệ nhãn sầu trường tiên dĩ đoạn.

Tình hoài tiệm biến thành suy vãn.
Loan kính chu nhan kinh ám hoán.
Tích niên đa bệnh yếm phương tôn,
Kim nhật phương tôn duy khủng thiển.


木蘭花 - 錢惟演

城上風光鶯語亂
城下煙波春拍岸
綠楊芳草幾時休
淚眼愁腸先已斷

情懷漸變成衰晚
鸞鏡朱顏驚暗換
昔年多病厭芳尊
今日芳尊惟恐淺


Mộc lan hoa 
(Dịch thơ: Châu Hải Đường)

Cảnh sắc trên thành oanh hót rối;
Khói sóng chân thành xuân vỗ gọi.
Cỏ thơm dương biếc thuở nào nguôi;
Mắt lệ lòng sầu đà đứt nhói.

Tâm tình dần đã nên già cỗi;
Thảng thốt soi gương nhan sắc đổi.
Thuở xưa nhiều bệnh rượu không ưa;
Nay rượu riêng hiềm sao ít ỏi!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiền Duy Diễn 錢惟演 (962-1034) tự Hy Thánh 希聖, người Lâm An (nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang), là một thi nhân và chính trị gia đời Bắc Tống. Ông là cháu đời thứ 14 của Tiền Thục 錢俶, lãnh tụ Tây Côn thể.

Nguồn: Thi Viện



VIẾT CHO AI?


Người cầm bút viết cho ai? Thì cho người đọc! Câu trả lời thật đơn giản. Tưởng không ai có thể nói điều gì khác hơn được. Nhưng vấn đề sẽ trở thành vô cùng phức tạp nếu chúng ta hỏi tiếp: Người đọc là ai?

Phức tạp vì thật ra không có cái gọi là người đọc chung chung và muôn thuở. Khái niệm "người đọc" chỉ là một cái gì rất mới, một sản phẩm của xã hội hiện đại, hơn nữa, ngay trong xã hội hiện đại, khái niệm "người đọc" cũng chỉ là một khái niệm hàm hồ, và vì tính chất hàm hồ ấy, nhiều người đã lợi dụng nó cho những trò chơi đầy gian lận.

Note: hình ảnh trong bài viết này là minh họa

Xin đừng quên là ở Việt Nam, trước thế kỷ 20, do sự kiểm soát của vua chúa quá nghiêm ngặt, do điều kiện kỹ thuật lạc hậu, do nền kinh tế nghèo nàn và cũng do nhiều yếu tố tâm lý và văn hoá khác, số lượng tác phẩm được khắc in rất hiếm. Có, nhưng hiếm. Cũng có cả trường hợp người ta mang tận sang Trung Quốc để thuê in nhưng trường hợp ấy lại càng hiếm. Hình thức tồn tại phổ biến nhất của các tác phẩm văn học, dù bằng chữ Nôm hay chữ Hán, là dưới dạng viết tay. Tất cả tác phẩm của những cây bút được xem là đại thụ của văn học Việt Nam thời trung đại, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Đoàn Thị Điểm đến Hồ Xuân Hương, đều được viết tay. Những bản khắc in mà chúng ta sưu tầm được hiện nay thường xuất hiện rất muộn sau khi tác giả đã mất. Muộn có khi đến cả mấy thế kỷ.


Người ta làm gì với các bản viết tay ấy? Thường là để tặng bạn bè hoặc "để ở nhà thờ", tức là để cho con cháu chuyền cho nhau đọc. Hoạ hoằn cũng có trường hợp người ta dâng lên vua chúa, chắc là với hy vọng sẽ được lọt vào mắt xanh của vua chúa, từ đó, may ra, được trọng dụng hoặc được triều đình tài trợ cho việc khắc in. Nhưng dù thế nào đi nữa thì số người thực sự đọc các tác phẩm viết tay ấy cũng vô cùng ít ỏi. Ít ỏi đến độ không thành một "giới", như chữ "giới độc giả" chúng ta hiện đang dùng.

May mắn, phần nhiều những người đọc ít ỏi ấy lại là những người ưu tú trong xã hội thời bấy giờ. Do vị thế xã hội, chính trị và văn hoá của họ, những người đọc ấy có thể tác động đến quần chúng, những người chỉ nghe tác phẩm, hoặc thậm chí, chỉ nghe-nói-về-tác-phẩm, để tác phẩm ấy dần dần trở thành một thứ tài sản văn hoá của cả xã hội và của lịch sử. Có thể nói hầu hết những tác giả trung đại còn lưu danh đến ngày nay chủ yếu là nhờ sự "tiến cử" của số người đọc ít ỏi này. Chứ không phải là quần chúng. Chẳng có quần chúng nào được đọc những Ức Trai thi tập hay ngay cả Quốc âm thi tập lúc Nguyễn Trãi còn sống. Cũng chẳng có quần chúng nào được đọc những Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục hay ngay cả Truyện Kiều lúc sinh thời của Nguyễn Du. 

Một phần vì họ không biết chữ. Phần khác, ngay cả khi họ biết chữ, họ cũng không đọc được: không phải ai cũng có cơ hội cầm được trong tay những bản chép tay hiếm hoi ấy. Do đó, thời trung đại, quần chúng bao giờ cũng là những kẻ đến muộn, khi mọi giá trị đã được khẳng định một cách chắc chắn. Nói cách khác, quần chúng chỉ biết những tác giả ĐÃ nổi tiếng rồi mà thôi.


Độc giả, với tư cách một tầng lớp xã hội cũng như với tư cách một trong những thành tố quan trọng làm nên sinh hoạt văn học chỉ thực sự xuất hiện khi ngành báo chí và xuất bản đã phát triển. Khi thơ văn trở thành một thứ hàng hoá, người đọc mới có cơ hội làm một thứ khách tiêu thụ, những người, thứ nhất, có thói quen đọc sách khá đều đặn, ít nhất trong một thời gian nào đó; thứ hai, giữ một khoảng cách nhất định với tác giả, chỉ tiếp xúc với tác phẩm và, trong phần lớn các trường hợp, thưởng thức tác phẩm như một công trình nghệ thuật thuần tuý. Một tầng lớp độc giả như thế chỉ có thể thực sự ra đời tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Trong mấy thập niên đầu, khối độc giả ấy tương đối thuần nhất. Trong khi chưa có những tài liệu xã hội học văn học cụ thể, chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử và văn hoá chung chung, chúng ta cũng có thể hình dung đại khái diện mạo của tầng lớp độc giả mấy chục năm đầu tiên của thế kỷ 20, như độc giả của Tản Đà chẳng hạn, như sau: đại đa số đó là những công chức cấp trung từ quận, huyện lên đến tỉnh, thành; đó cũng là những trí thức đã học chữ Hán một thời gian rồi sau đó chuyển sang học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ; những người ở buổi giao thời của hai nền văn hoá Đông và Tây. Họ có chút vốn Hán học đủ để có thể cảm thụ những tác phẩm được sáng tác theo hệ mỹ học của thơ Đường, thơ Tống; hơn nữa, để tự xem mình không phải chỉ là kẻ tiêu thụ mà còn là một thứ tri âm của tác giả, từ đó, dẫn đến những hành động liên tài đầy ưu ái như hành động của nhiều người đối với Tản Đà. Họ lại có chút vốn Tây học để dễ dàng đồng cảm và ủng hộ một số tìm tòi, từ phương diện thể loại đến phương diện ngôn ngữ và tư tưởng của các tác giả hiện đại như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, v.v...


Độc giả thuộc thế hệ 1932-45 cũng tương đối thuần nhất. Hầu hết đó là những thị dân và trí thức. Dù thuộc giới nào thì họ cũng đều khá trẻ. Tôi cho đây là một sự may mắn lớn cho nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới. Nói cách khác, theo tôi, lý do chính khiến nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới thành công một cách dễ dàng và nhanh chóng trong việc đánh bại nền văn học cũ không phải chỉ ở tài năng của họ mà còn nhờ họ gặp được một tầng lớp độc giả lý tưởng. Đó là những người đang hăm hở với cái mới và đã từng ít nhiều được làm quen với cái mới qua các tác giả hiện thực và lãng mạn chủ nghĩa trong văn học Pháp thế kỷ 19 từ trong ghế nhà trường. Với một kiến thức văn học và một quan điểm mỹ học như thế, họ không hề có chút ngỡ ngàng gì khi tiếp cận với các tác phẩm được xem là cách mạng của các cây bút tiên phong thời bấy giờ ở Việt Nam. Họ yêu thích ngay cái vẻ lẳng lơ táo bạo của Thế Lữ, sự cuồng nhiệt mang dáng dấp Tây phương của Xuân Diệu, sự phê phán gay gắt của Nhất Linh và Khái Hưng đối với chế độ đại gia đình và lễ giáo phong kiến, lời kêu gọi theo mới, "hoàn toàn theo mới không chút do dự" của Hoàng Đạo, v.v...


Có thể nói các cây bút tiên phong thời 1932-45 không cần chinh phục độc giả: những người vốn là những độc giả của Hugo, của Lamartine, của Baudelaire trong các nhà trường trung học theo chương trình giáo dục của Pháp đã chờ đợi sẵn để làm những độc giả nhiệt thành của các cây bút Việt Nam. Sự đồng cảm gần như tức khắc giữa các tác giả và độc giả của họ thời 1932-45 là sự đồng cảm của những người học cùng một thầy, cùng được trang bị một số tiền đề văn hoá và thẩm mỹ khá giống nhau. Họ đã là những tri âm của nhau ngay cả trước khi động tác đọc được khởi sự.

Các thế hệ cầm bút sau này không còn bao giờ được hưởng những sự may mắn như thế nữa.

Như thế hệ nhà văn sau năm 1954 ở cả hai miền Nam và Bắc, chẳng hạn. Ở cả hai miền, sau năm 1954, chương trình giáo dục các cấp đều được Việt hoá. Sự thay đổi này là điều hoàn toàn hợp lý. Người ta không thể phản đối và cũng không nên tiếc nuối. Tuy nhiên, ngay cả khi rất mực hợp lý, sự thay đổi ấy cũng có cái giá của nó. Ví dụ, trong bộ môn văn học, tuy học sinh và sinh viên có cơ hội đào sâu hơn về văn học Việt Nam, nhưng kiến thức về văn học thế giới, cụ thể là văn học Pháp, sẽ mỏng hẳn đi. Hậu quả là, thứ nhất, học sinh và sinh viên - và cũng là người đọc nói chung - thường biết khá kỹ về văn học trong quá khứ nhưng lại rất lờ mờ và đầy hoang mang đối với nền văn học đương đại; thứ hai, từ đó, người đọc luôn luôn đi sau giới sáng tác, nhất là những người sáng tác có nhiều khát vọng cách tân, thích phiêu lưu vào các sự tìm tòi và thử nghiệm mới mẻ. Điều này, theo tôi, có thể là nguyên nhân chính làm cho một số cây bút tiên phong của Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua cảm thấy khá lạc lõng và vì cảm giác lạc lõng ấy mà hầu hết, kẻ sớm người muộn, dần dần bỏ cuộc.


Độc giả Việt Nam sau năm 1954 không những bị đánh mất cơ hội song hành với những cây bút tiên phong mà còn bị phân hoá nghiêm trọng. Phân hoá về tuổi tác: nhờ các phong trào xoá nạn mù chữ, nhờ chính sách cưỡng bách giáo dục và nhờ hệ thống phát hành cũng như hệ thống thư viện được mở rộng, độc giả không còn dừng lại ở lứa tuổi thanh niên hay trung niên như thời 1932-45 mà xê xích từ chín, mười tuổi đến bảy, tám chục tuổi. Phân hoá về tầng lớp xã hội: cũng nhờ các yếu tố kể trên, độc giả văn học hiện nay không phải chỉ giới hạn ở thành thị và trong giới tiểu tư sản mà còn mở rộng đến nông thôn, lan xuống tận những thành phần bần cùng nhất. Ngoài ra, còn có sự phân hoá về văn hoá: xưa, chúng ta chỉ chịu ảnh hưởng văn hoá của Trung Hoa, sau, của Pháp; hiện nay, ngoài hai nền văn hoá ấy, một số không ít độc giả còn chịu ảnh hưởng của Nga, của các xứ Đông Âu và các quốc gia nói tiếng Anh, v.v...

Sự phân hoá trầm trọng ấy làm cho khái niệm "độc giả" trở thành rộng rãi đến độ vô nghĩa. Làm thế nào để chữ "độc giả" có thể bao gồm cả một em bé ngồi đọc truyện tranh với một ông lão miệt mài bên cạnh các trang sách Hán Nôm? một chị bán vải ngoài chợ khi nào rảnh thì đọc tiểu thuyết khi nào khách tới thì nhét cuốn tiểu thuyết xuống đít với một người để hết cả tâm hồn của mình vào âm vang của từng chữ, vào sự chuyển động của từng hình ảnh trong thơ? một người lâu lâu mới đọc một cuốn sách và cũng chỉ đọc một cách ơ hờ với một kẻ nghiền ngẫm cả hàng ngàn cuốn sách và mỗi lần đọc là một lần nghĩ ngợi, đào sâu, so sánh, cân nhắc? Tất cả hầu như chỉ giống nhau ở mỗi một động tác: đọc. Là hết. Còn cách đọc của họ, mục tiêu đọc của họ, những sự tương tác xuất hiện trong quá trình đọc của họ, mức độ cảm thụ của họ thì khác hẳn nhau.


Sự phân hoá của khái niệm độc giả cũng làm cho không người nào còn có thể hy vọng trở thành thần tượng của mọi độc giả được nữa. Không ai có thể làm thoả mãn mọi thị hiếu và mọi trình độ thẩm mỹ của khối đông đảo lên đến cả mấy chục triệu người gọi là "độc giả" Việt Nam hiện nay. Thành ra, trong thời đại hiện nay, nhà văn nào cũng là nhà văn của một giới độc giả nhất định: ví dụ, có người viết cho thiếu nhi; có người viết cho người lớn. Cho người lớn, có người nhắm vào những độc giả chỉ đọc để giết thì giờ; có người nhắm vào những độc giả đọc vì một nhu cầu thẩm mỹ.

Viết cho hạng độc giả thích những lý tưởng thẩm mỹ ổn định không khó. Những lý tưởng thẩm mỹ ấy đã thành quy phạm và khuôn sáo rồi. Người ta chỉ cần có chút tài hoa để mô phỏng một bậc thầy nào đó. Người đọc thích những câu thơ tình tứ và mộc mạc như ca dao ư? Thì họ mô phỏng theo thơ Nguyễn Bính. Người đọc thích những tiểu thuyết vạch trần những mặt trái xấu xa dơ dáy của hiện thực ư? Thì họ mô phỏng theo cách viết của Nguyễn Công Hoan hay Vũ Trọng Phụng. Vân vân. Cứ thế, để tiếp cận được với hạng độc giả này, người cầm bút phải quá giang các tác giả lớn thời trước.

Quá giang Nguyễn Du rồi quá giang Xuân Diệu. Quá giang Nhất Linh rồi quá giang Nam Cao. Có điều, con đường đến với hạng độc giả này cũng là con đường đi ngược về quá khứ. Về một thời đã qua.

Như vậy, người cầm bút không thể viết cho toàn thể người đọc, cho "độc giả" nói chung. Đó là điều bất khả. Người cầm bút cũng không nên ăn theo những độc giả của người khác. Đó là con đường rất ít tính sáng tạo. Người cầm bút chỉ có một con đường để lựa chọn: viết cho những độc giả của mình.

Nhưng những độc giả ấy ở đâu? Không ai biết chắc cả. Họ không có sẵn như một lực lượng. Họ rải rác đâu đó, nằm mai phục trong đám đông vô danh và vô hình. Họ được tập hợp một cách tự động và tự phát theo tín hiệu phát ra từ một tác giả nào đó mà họ cho là đồng điệu.


Lịch sử văn học, nhìn từ một góc độ nào đó, một phần là lịch sử vận động của các nhóm độc-giả-đồng-điệu như thế. Sự tồn tại của một tác phẩm lớn không phải chỉ là sự chiến thắng của một tài năng sáng tạo mà còn là sự chiến thắng của một hệ thẩm mỹ, và đồng thời là sự chiến thắng của một nhóm độc-giả-đồng-điệu nào đó.

Nguyễn Hưng Quốc