Lãnh sắc sơ trừng nhất đới yên,
U thanh dao tả thập ty huyền.
Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ,
Bất sử sầu nhân bán dạ miên.
秋泉 - 薛濤
冷色初澄一帶烟
幽聲遥瀉十絲弦
長來枕上牽情思
不使愁人半夜眠
Suối thu
(Dịch thơ: Trang Y Hạ)
Sương mờ suối lạnh vừa tan
Nước trong thanh vắng tiếng đàn mười dây
Gối đầu trằn trọc ai đây
Nửa đêm chưa ngủ buồn lây lất buồn.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Tiết Đào 薛濤 (768-831) tự Hồng Độ 洪度, người Trường An, thân phụ làm quan tại đất Thục nên nàng lưu ngụ ở đó. Nàng biết làm thơ từ thuở lên tám. Phụ thân mất khi đến tuổi cập kê, nổi tiếng tài thơ, lại có nhan sắc, nàng thường giao du với nhiều danh sĩ đương thời. Vi Cao, trấn thủ đất Thục, mời nàng đến hầu rượu làm thơ, muốn tiến cử làm hiệu thư lang, nhưng không được. Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Ngưu Tăng Nhụ, Lệnh Hồ Sở, Bùi Độ, Nghiêm Phụ, Trương Tịch, Lưu Vũ Tích, Đỗ Mục đều có thơ xướng hoạ với nàng. Khi ở Hoãn Hoa khê, nàng chế tạo một thứ giấy hoa thông, và một thứ giấy màu đỏ thẫm có vẽ năm sắc rất đẹp, gọi là Tiết Đào tiên. Lúc vãn niên, ở phường Bích Kê, nàng dựng lầu Ngâm Thi. Khi mất, được Đoàn Văn Xương (tức là danh sĩ đã làm bài bia Bình Hoài Tây thứ hai, sau khi bài của Hàn Dũ bị mài bỏ) soạn mộ chí.
Nguồn: Thi Viện



