Thiên địa hữu chính khí,
Tạp nhiên phú lưu hình.
Hạ tắc vi hà nhạc,
Thượng tắc vi nhật tinh.
Ư nhân viết hạo nhiên,
Bái hồ tắc thương minh.
Hoàng lộ đương thanh di,
Hàm hoà thổ minh đình.
Thời cùng tiết nãi hiện,
Nhất nhất thuỳ đan thanh.
Tại Tề thái sử giản,
Tại Tấn Đổng Hồ bút.
Tại Tần Trương Lương chuỳ,
Tại Hán Tô Vũ tiết.
Vi Nghiêm tướng quân đầu,
Vi Kê thị trung huyết.
Vi Trương Tuy Dương xỉ,
Vi Nhan Thường Sơn thiệt.
Hoặc vi Liêu Đông mạo,
Thanh tháo lệ băng tuyết.
Hoặc vi “Xuất sư biểu”,
Quỷ thần khấp tráng liệt.
Hoặc vi độ giang tiếp,
Khảng khái thôn Hồ Hiệt.
Hoặc vi kích tặc hốt,
Nghịch thụ đầu phá liệt.
Thị khí sở bàng bạc,
Lẫm liệt vạn cổ tồn.
Đương kỳ quán nhật nguyệt,
Sinh tử an túc luân.
Địa duy lại dĩ lập,
Thiên trụ lại dĩ tôn.
Tam cương thực hệ mệnh,
Đạo nghĩa vi chi căn.
Ta dư cấu dương cửu,
Lệ dã thực bất lực.
Sở tù anh kỳ quan,
Truyền xa tống cùng bắc.
Đỉnh hoạch cam như di,
Cầu chi bất khả đắc.
Âm phòng khuých quỷ hoả,
Xuân viện bí thiên hắc.
Ngưu ký đồng nhất tạo,
Kê thê phượng hoàng thực.
Nhất triêu mông vụ lộ,
Phân tác câu trung tích.
Như thử tái hàn thử,
Bách lệ tự tích dịch.
Ai tai thư như trường,
Vi ngã an lạc quốc.
Khởi hữu tha mậu xảo,
Âm dương bất năng tặc.
Cố thử cảnh cảnh tại,
Ngưỡng thị phù vân bạch.
Du du ngã tâm bi,
Thương thiên hạt hữu cực.
Triết nhân nhật dĩ viễn,
Điển hình tại túc tích.
Phong thiềm triển thư độc,
Cổ đạo chiếu nhan sắc.
Bài này tuyển từ Văn Sơn tiên sinh toàn tập quyển 4, bản Gia Tĩnh đời Minh. Nguyên bài thơ này có tiểu dẫn “Ta bị nhốt ở Bắc Đình, trong một căn nhà bằng đất. Nhà rộng tám thước sâu xuống lòng đất bốn tầm, có mỗi một cánh cửa thấp nhỏ, khoảng trống hẹp, ẩm thấp và tối tăm. Vào ngày hè, các mùi bốc lên nồng nặc, gồm mấy thứ khí hơi nước, khí đất, hơi nóng của mặt trời, hơi lửa, khí của gạo và uế khí, vẫn không bị các bệnh dịch xâm hại đến, và ta sống ở nơi này đã hai năm rồi, không sao cả. Đó là có sự nuôi dưỡng bên trong mới được như vậy, chắc các ngươi cũng chẳng biết nguồn nuôi dưỡng đó từ đâu? Mạnh Tử nói ‘Ta biết bồi bổ hạo khí của ta’. Ở đây có bẩy khí, ta có một khí, một địch lại bẩy ta còn lo gì nữa. Huống hạo khí là chính khí vậy, nên làm bài Chính khí ca.”
正氣歌 - 文天祥
天地有正氣,
雜然賦流形。
下則為河岳,
上則為日星。
於人曰浩然,
沛乎塞蒼冥。
皇路當清夷,
含和吐明庭。
時窮節乃見,
一一垂丹青。
在齊太史簡,
在晉董狐筆。
在秦張良椎,
在漢蘇武節。
為嚴將軍頭,
為嵇侍中血。
為張睢陽齒,
為顏常山舌。
或為遼東帽,
清操厲冰雪。
或為出師表,
鬼神泣壯烈。
或為渡江楫,
慷慨吞胡羯。
或為擊賊笏,
逆豎頭破裂。
是氣所磅礡,
凜烈萬古存。
當其貫日月,
生死安足論。
地維賴以立,
天柱賴以尊。
三綱實系命,
道義為之根。
嗟予遘陽九,
隸也實不力。
楚囚纓其冠,
傳車送窮北。
鼎鑊甘如飴,
求之不可得。
陰房闃鬼火,
春院閟天黑。
牛驥同一皂,
雞棲鳳凰食。
一朝蒙霧露,
分作溝中瘠。
如此再寒暑,
百沴自僻易。
哀哉沮洳場,
為我安樂國。
豈有他謬巧,
陰陽不能賊。
顧此耿耿在,
仰視浮雲白。
悠悠我心悲,
蒼天曷有極!
哲人日已遠,
典刑在夙昔。
風簷展書讀,
古道照顏色。
Bài hát chính khí
(Dịch thơ: Nguyễn Văn Thọ)
Anh hoa chính khí đất trời
Khoác hình vật chất khắp nơi vẫy vùng.
Tràn mặt đất tuôn sông kết núi,
Vút trời mây chói lói trăng sao
Trần ai lẩn bóng anh hào,
Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh.
Thuở non nước thanh bình khắp chốn,
Nét đan thanh chóng lộn bệ rồng.
Sơn hà gặp buổi lao lung,
Càng cao tiết ngọc, càng bừng vẻ son.
Tề Thái Sử mất còn mấy độ,
Thẻ tre kia há sợ gươm ai.
Đổng Hồ múa bút mấy hồi,
Làm cho Tấn tặc tơi bời ruột gan.
Trương Lương xót nỗi Hàn khói lửa,
Dùi đồng vung, nghiêng ngửa Tần vương.
Ngọn cờ Tô Vũ phong sương,
Càng băng giá cảnh, càng hương sắc lòng.
Đầu Nghiêm tướng dường đồng, dường thép,
Máu Kê quân nhuốm hết long bào.
Trương Tuần răng cứng cát sao,
Thành đồng đà nát, lòng đào khôn thay.
Lưỡi Thường Sơn nào hay lắt léo,
Mũ Quảng Minh che nẻo Liêu Đông.
Xuất sư biểu ấy hào hùng,
Ngọc vàng rộn rã nát lòng thần minh.
Dòng nước Hiệt lênh đênh bỡ ngỡ,
Thề cùng sông: «an rợ mới về!
Hốt ngà có lúc cũng ghê,
Cho đầu soán chúa ê chề tóc tang.
Linh khí ấy chứa chan muôn thuở,
Rực trần ai, tở mở trăng sao.
Khí thiêng đượm máu hùng hào,
Phù sinh nhẹ tựa hồng mao sá gì.
Giây buộc đất nó xe cho vững,
Cột chống trời nó dựng cho cao.
Cương thường đạo nghĩa trước sau,
Mối giường then chốt quán thâu một mình.
Ta lỡ bước điêu linh tù túng,
Vì ba quân lấp lửng ươn hèn.
Thân tù dạ lỏng khoá then,
Một xe đầy ải, băng miền heo may.
Đời luân lạc tỉnh say mấy độ,
Vạc dầu sôi mà ngó như sương.
Ngục tù khoá kín ánh dương,
Phòng giam trời vắng tối dường than tro.
Long câu giữa trâu bò len lỏi,
Phượng hoàng kia phận gửi đàn gà.
Một mai gió lạnh sương mờ,
Mấy hồi run rét, xác xơ thân tàn.
Cậy tuế nguyệt thổi tan chướng khí,
Nhờ dương quang đượm vẻ an khương.
Nhớp nhơ là chốn tù trường,
Mà ta khinh khoát coi dường Bồng Lai.
Ta vốn chẳng có tài phép lớn,
Nhưng trần ai khôn bận lòng ta.
Lòng ta Chính Khí chói loà,
Âm dương điên đảo khôn mờ tấc son.
Trời lồng lộng mây tuôn sóng bạc,
Động lòng sầu man mác trời mây.
Biển trời bát ngát chơi vơi,
Con thuyền dĩ vãng, bóng người xa xưa.
Người xưa quá, tinh hoa vẫn đó,
Tinh hoa còn rạng rỡ tờ mây.
Đạo xưa vầng sáng đâu đây,
Linh lung vầng sáng toả đầy dung quang.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282) vốn tên là Vân Tôn 雲孫, tự Tống Thuỵ 宋瑞, Lý Thiện 履善, hiệu Văn Sơn 文山. Thiên Tường là tên bạn đặt cho lúc ông 20 tuổi đến Giang Tây thi cống sĩ. Nguyên quán ở Thành Đô, sau đổi qua Lư Lăng.
Ông sống vào thời đất nước ông bị Mông Cổ xâm lấn. Năm 1271, Hốt Tất Liệt cử binh đánh Nam Tống. Hai thành Tương Dương và Phàn Thành bị vây chặt, thủ đô Lâm An bị uy hiếp. Ông mộ binh được vạn người, kéo về bảo vệ Lâm An. Khi quân Mông Cổ đến đánh Lâm An, quan quân triều đình bỏ chạy, ông đảm nhận chức sứ giả đến trại quân Nguyên đàm phán. Không ngờ ông bị bắt, nhưng sau trốn được chạy về nam mộ binh đánh tiếp cùng với Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu. Nhưng sau cùng lực lượng không đối chọi nổi, ông bị bắt đem về Đại Đô (Bắc Kinh). Hốt Tất Liệt đã chiêu hàng nhưng ông quyết không đầu hàng, cuối cùng bị xử trảm tại đây năm 47 tuổi.
Nguồn: Thi Viện



