Monday, January 2, 2023

CUỘC GIAO DỊCH KHÔN NGOAN TRỞ THÀNH CUỘC GIAO DỊCH TỒI TỆ NHẤT

Trong cuộc sống, có những người rất khôn ngoan. Họ có thói quen tính toán cặn kẽ để bản thân không bị thiệt thòi. Tuy nhiên, có câu nói “khôn ngoan không lại với trời”, đôi khi nỗ lực để giành được một điều gì đó nhưng kết quả lại trái lại.


Cuộc giao dịch khôn ngoan

Có một bản hợp đồng gây rúng động nước Pháp và lan toả khắp thế giới trong một khoảng thời gian dài. Nhưng theo như lời người trong cuộc thì đó là cuộc “giao dịch tồi tệ”. Câu chuyện như sau:

André François Raffray là một luật sư trẻ. Anh là người đàn ông thông minh và có những thành công nhất định trong sự nghiệp. Năm 1965, ở tuổi 47, trên đỉnh cao của đời người, anh đã thảo ra một bản hợp đồng “béo bở” với tiêu chí “đôi bên cùng có lợi” với một cụ bà 90 tuổi tên là Jeanne Louise Calment. 

Cụ Jeanne Louise Calment ở viện dưỡng lão (ảnh: Kenh14)

Theo thỏa thuận, hàng tháng, anh sẽ trợ cấp cho cụ 450 USD; cho đến khi cụ từ giã cõi đời thì anh là người được quyền sống trong ngôi nhà của cụ.

Môt cụ bà “gần đất xa trời” và căn biệt thự xinh đẹp không người thừa kế, không có tranh chấp; xem ra đây là cuộc giao dịch không thể tuyệt vời hơn.

Gia sản không thiếu nhưng người thân đều lần lượt ra đi

Cụ bà Jeanne Louise Calment, đối tác của anh luật sư, sinh ngày 21/2/1875. Năm 21 tuổi, bà Jeanne kết hôn với ông Fernand Nicolas, chủ một doanh nghiệp lớn. Hai vợ chồng họ chuyển đến sống trong một căn hộ rộng rãi phía trên cửa hàng của gia đình. Và là căn hộ mà anh luật sư André muốn sở hữu sau này.

Bà Jeanne thuê người hầu và tận hưởng cuộc sống của người thượng lưu. Bà thường xuyên đạp xe, đấu kiếm, chơi tennis, đàn piano, bơi lội, đôi khi còn đi săn thỏ và lợn rừng – những thú vui tiêu khiển của người giàu có.

Ảnh cụ Jeanne thời trẻ (ảnh: Kenh14)

Vào năm 1898, bà Jeanne sinh được một người con gái tên là Yvonne Marie Nicolle Calment. Đó cũng là người con duy nhất của vợ chồng bà. Lúc trưởng thành, cô ấy kết hôn với một sĩ quan quân đội. Kết quả của cuộc hôn nhân là cậu con trai tên Frédéric.

Tuy nhiên, thật đáng buồn, năm 1934, cô Yvonne mắc bệnh phổi nên đã qua đời. Đến năm 1942, chồng bà Jeanne cũng ra đi ở tuổi 73 vì ngộ độc quả anh đào.

Người thân cuối cùng của bà Jeanne là cháu ngoại Frédéric, nhưng rồi cậu thanh niên ấy cũng chết sau một vụ tai nạn ô tô vào tháng 8/1963, khi chưa lập gia đình. Vậy là bà Jeanne chỉ còn lại một mình trên cõi đời.

Cơ hội đổi đời biến thành một món nợ đời

Mặc dù không còn người thân, nhưng ngôi biệt thự giá trị của bà đã lọt vào tầm ngắm của anh luật sư “biết tận dụng cơ hội”. Họ cùng nhau thực hiện bản giao dịch, qua đó, cụ bà già cả có được khoản trợ cấp tương đối để dưỡng già. Còn anh luật sư thừa kế ngôi nhà của bà sau khi bà chết.

Tra lại gia phả, người ta thấy rằng các thành viên trong gia đình cụ Jeanne Louise Calment cũng sống rất thọ. Chẳng hạn anh trai của cụ sống đến 97 tuổi, cha của cụ sống đến 93 tuổi, mẹ của cụ sống đến 86 tuổi.

Tuy nhiên, không ai có thể ngờ được cụ Jeanne lại sống đến tận 122 năm 164 ngày. Thậm chí, bà cụ sống lâu hơn cả anh luật sư. Thật nghiệt ngã, ông ấy qua đời ở tuổi 77 nhưng chưa từng một ngày được sống trong căn hộ bản thân vất vả trả góp suốt 30 năm. Món nợ đó truyền lại cho vợ của ông. Theo hợp đồng đã ký, bà ấy phải tiếp tục chi trả 450USD/tháng cho cụ Jeanne, nếu muốn có được ngôi nhà.

Thời gian cứ thế trôi đi, cụ bà Jeanne sống thọ một cách đáng kinh ngạc (ảnh: kenh14)

Mãi đến ngày 4/8/1997 cụ bà này mới trút hơi thở cuối cùng và lập kỷ lục Guinness về người sống thọ nhất thế giới. Theo thỏa thuận ban đầu, cụ Jeanne đã nhận được số tiền gấp đôi giá trị thực của căn nhà.

Bài học lớn về sự khôn ngoan

Tôi không biết ông luật sư lúc chết liệu có nhắm mắt được hay không. Tuy nhiên với số tiền khổng lồ mà ông bỏ ra để đổi lấy thứ chưa từng thuộc về mình thì tôi e rằng thật khó để “ngậm cười nơi chín suối”.

Cuộc giao dịch tưởng chừng sẽ thuận lợi: cụ Jeanne đã quá già, cụ lại nghiện cà phê và chẳng bao giờ ăn sáng một cách cẩn thận. Xung quanh cụ cũng không có lấy một người thân để san sẻ nỗi niềm. Xác suất người 90 tuổi sống lâu hơn người 47 tuổi gần như bằng “0”. Nhưng kết cục, đúng là không có chuyện gì không thể xảy ra.

Tương lai là chuỗi ngày không được báo trước. Lại có câu nói: “Điều không thuộc về mình có muốn cũng không được”. Vẫn biết là như vậy nhưng không phải ai cũng có thể bình tĩnh sống một cuộc đời ít ham muốn và biết đủ.

Trân trọng điều đang có cũng là một cách hưởng thụ cuộc sống (ảnh: Cafef.vn)

Cho nên thông thường, con người vẫn truy cầu, tìm kiếm và nỗ lực đạt được mục tiêu vì một tương lai tươi sáng hơn. Mặc dù vậy, tôi hy vọng sau câu chuyện để đời bên trên, chúng ta sẽ bớt toan tính lại. Thả lỏng đầu óc một chút, điều cần làm tất nhiên phải làm cho thật tốt, nhưng kết quả ra sao thì nên tuỳ vào định mệnh.

Đương nhiên, làm người nên biết tận dụng nắm bắt những cơ hội. Nhưng chỉ khi coi nhẹ sự được – mất nơi thế gian thì chúng ta mới có thể tận hưởng trọn vẹn những điều mình đang có. Trân trọng từng khoảnh khắc hạnh phúc giản đơn trong cuộc sống, biết đâu đó mới là một sự lựa chọn khôn ngoan.

Theo: Cafebiz
Link tham khảo:



CÂU NÓI "TRÀ BA RƯỢU BỐN" CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Câu nói “trà ba rượu bốn” bắt nguồn từ phương ngữ của người dân Triều Sán (潮汕) ở Quảng Đông, Trung Quốc, thể hiện nét văn hóa trong thưởng trà và uống rượu.

Phương ngữ “trà ba rượu bốn” của người dân Triều Sán có nghĩa là gì? (ảnh: Spk)

Bạn đã từng nghe qua câu nói “trà ba rượu bốn” chưa? Vốn dĩ ban đầu câu nói này đầy đủ là “trà ba rượu bốn đá đào hai” (茶三酒四踢桃二 Trà tam tửu tứ thích đào nhị). Vậy câu này có nghĩa là gì?

Trà ba

Trên bàn trà của người Triều Sán bình thường chỉ có ba chén trà. Điều này có nghĩa là ba người thích hợp để uống trà, tức là “trà ba”.

Vậy tại sao lại là “ba”?

Số “ba” là một con số rất có ý nghĩa trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc. Người xưa tin rằng “Vô tam bất thành lễ”, có ý nói làm việc gì cần phải đủ ba thì mới thành lễ. Lão Tử cũng đã từng nhắc đến trong Đạo Đức Kinh rằng: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Dù nói theo cách nào đi chăng nữa thì nội hàm của số “ba” thể hiện sự “hòa hợp”.

Nhà văn Trần Kế Nho thời nhà Minh đã đặc biệt đề cập đến vấn đề số lượng người uống trà trong “nham thê u sự”. Ông nói: “Khi thưởng thức trà, một người thì đắc được tinh thần, hai người thì đắc được có được niềm vui, ba người đắc được hương vị, bảy hoặc tám người được gọi là thi trà”.

Khi người Triều Sán pha trà đạo, dù có bao nhiêu vị khách cũng chỉ có 3 chén. Khi rót trà, 3 chén trà sẽ được đặt cạnh vào nhau tạo thành hợp nhất một bộ ba của chữ “品” (phẩm). Nó hàm chứa ý nghĩa là mọi người nên nói những điều phù hợp phẩm hạnh và đạo đức. Hơn nữa, nên tránh xếp chén trà theo hàng ngang. Nếu không sẽ tạo cho mọi người cảm giác đang thờ cúng.

Khi rót trà, 3 chén trà sẽ được đặt cạnh vào nhau tạo thành hợp nhất một bộ ba của chữ “品” (phẩm) (ảnh: Tienthientra)

Tất nhiên, văn hóa uống trà ở các khu vực khác nhau sẽ có đôi chút khác biệt. Ví dụ như ở một số vùng, khi pha trà và chia trà, sẽ luôn hữu ý để lại một chén không rót trà. Chén trà này là để chủ nhà mời khách và vãn bối kính trưởng bối. Điều này cho thấy sự cung kính và khiêm nhường trong nghệ thuật thưởng trà. Đó cũng thể hiện một nét đẹp trong văn hóa người dân bản địa.

Rượu bốn

“Rượu bốn” có nghĩa là uống rượu bốn người với nhau là vừa vặn và phù hợp.

Số “bốn” cũng là một con số rất đặc biệt trong văn hóa truyền thống: Ví như phương hướng được chia thành “đông nam tây bắc”; mùa được chia thành “xuân, hạ, thu, đông”; mai, lan, trúc, cúc là “bốn người bạn mùa đông”; cầm kỳ thi hoạ là “bốn người bạn văn hoá”; bút, mực, giấy, nghiên là “văn phòng tứ bảo”.v.v. Trong thực tế, số “bốn” cũng có nghĩa là cân bằng, hài hoà và phù hợp.

Trong sách Lễ Ký – Hương ẩm tửu nghĩa có chép rằng: “Ngồi bốn phía giống như bốn mùa”. Ở Triều Sán, bàn rượu phần lớn là bàn vuông, bốn người cùng uống với nhau, vừa vặn chiếm đúng bốn phương vị, bao hàm cả ý nghĩa hanh thông thuận lợi trong suốt bốn mùa.

So sánh với trạng thái yên tĩnh khi uống trà thì uống rượu xem trọng sự náo nhiệt hơn, nhưng không phải càng nhiều người là càng tốt. Bởi vì quá nhiều người rất dễ trở nên hỗn loạn, ‘tốt quá hóa lố’. Sự việc gì cũng cần chừng mực, nếu quá mức thì ngược lại sẽ làm hỏng việc.

Có câu nói: “Gặp được tri kỷ ngàn ly ít, người không hợp ý nửa câu nhiều”.

Gặp được tri kỷ ngàn ly ít, người không hợp ý nửa câu nhiều (ảnh: Mumtastic)

Muốn uống rượu với tâm tình vui vẻ thì còn cần có bạn tâm giao. Khi hai người cùng uống rượu, tán gẫu những chuyện thường ngày, tự nhiên nội tâm sẽ cởi mở, nhưng vẫn cảm thấy có chút cô đơn trong lòng. Khi ba người uống rượu cùng nhau, quả thực náo nhiệt hơn, có thể uống rượu gọi món, kính rượu hay phạt rượu lẫn nhau, nhưng sẽ luôn có chút thiên vị. Khi ngồi uống rượu bốn người, đây mới là náo nhiệt đông vui thật sự.

Đá đào hai

“Đá đào” có nghĩa là cách chơi chữ trong phương ngữ Triều Sán. “Đá đào hai” có ý nghĩa là khi hai người ra ngoài chơi với nhau thì sẽ rất vui.

Tương tự như vậy, đi du lịch hai người với nhau thì sẽ vô cùng thích hợp. Cả hai có thể tự do thoải mái, cũng sẽ không có quá nhiều ý kiến tranh luận, hay có người kêu mệt nửa đường và muốn về nhà, làm ảnh hưởng đến cuộc vui của mọi người v.v. 

Đi du lịch hai người với nhau thì sẽ vô cùng vui vẻ (ảnh: Listaka)

Câu phương ngữ “trà ba, rượu bốn, đá đào hai” đã thể hiện một cách sinh động phong tục dân gian vùng Triều Sán, cũng như quan niệm về văn hóa truyền thống tao nhã, cao đẹp, thể hiện nét đặc sắc của một dân tộc.

Uyển Nhi / Theo: Vision Times
Link tham khảo:


HAI CHỮ "TÙY DUYÊN" THẬT DỄ NÓI NHƯNG KHÔNG DỄ LÀM

Tùy duyên là một thái độ sống, cũng là một cảnh giới nhân sinh, người có thể tùy duyên thì cuộc sống sẽ không còn phiền não.


Thế nào là tùy duyên?

Khi gặp chuyện phiền muộn, khó khăn, hay gặp lúc bế tắc, khó xử, người ta thường buột miệng mà nói ra 2 chữ “tùy duyên”. Đó là câu cửa miệng của rất nhiều người, nhưng để hiểu được ý nghĩa thực sự của nó thì không hề đơn giản.

Thực ra tùy duyên không phải dễ làm. Cái gọi là “tùy” ở đây không phải là tùy tiện, mà là thuận theo tự nhiên, không oán hận, không nóng nảy, không cưỡng cầu.

Còn về “duyên”, thì vạn sự vạn vật trên đời này hết thảy đều liên quan với nhau bởi một chữ “duyên”. Dù cho có là nhân duyên, cơ duyên, thiện duyên, ác duyên… thì cũng đều là có duyên mới gặp, hết duyên mới chia xa, duyên tụ duyên tán, có đến rồi cũng có rời đi.

Tùy duyên là chớ nên cưỡng cầu, nhưng cũng không được buông xuôi, qua loa và cẩu thả. Làm việc gì cũng hết sức mình nhưng không chấp vào kết quả, được mất, dù thế nào cũng vui lòng; ôm giữ trái tim từ bi, khoan dung, độ lượng, đây mới là tùy duyên thực sự.

Nhân sinh mệt mỏi cũng vì nắm giữ quá nhiều thứ (ảnh: Pinterest)

Tuy nhiên có nhiều người lại không làm tròn bổn phận, phó thác cho số phận, không có tâm cầu tiến, trốn tránh khó khăn; vậy thì hai chữ “tùy duyên” mà họ nói ra lúc này chỉ là cái cớ cho sự lười biếng và thiếu trách nhiệm với cuộc sống. Tùy duyên lúc này đã trở thành tùy tiện. Tùy tiện làm việc qua loa cho xong, được chăng hay chớ, không có nguyên tắc, cũng không có lập trường.

Để hiểu được tùy duyên và làm được tùy duyên là điều không hề dễ dàng, có khi phải học cả đời mới hiểu được thế nào là tùy duyên. Người ta vừa phải có trí tuệ để nhìn thấu, vừa phải có lòng bao dung để cảm thông, phải biết nhẫn nại chờ thời… nên mới nói tùy duyên là một cảnh giới nhân sinh.

Tùy duyên mới có thể tránh xa phiền não

Đại thần nhà Thanh, Tăng Quốc Phiên cũng nói: “Đời người có những việc có thể làm và có những việc không thể làm. Đối với những việc có thể làm, hãy tận sức mà làm. Đây gọi là ‘tẫn tính’. Đối với những việc không thể làm thì hãy tận tâm thuận theo. Đây gọi là ‘biết mệnh’.”

“Tẫn tính” chính là chỉ việc một người cần tận tâm tận sức làm tốt việc mình có thể làm, thấy việc nhân đức thì không bỏ qua, không lười biếng, càng không thể từ chối trách nhiệm của bản thân.

Nhân sinh bởi vì quá để ý cho nên thống khổ, bởi vì hoài nghi cho nên bị thương tổn, bởi vì xem nhẹ cho nên khoái hoạt, bởi vì xem nhạt cho nên hạnh phúc.

Người sống trên đời không cần lúc nào cũng phải tranh giành với người khác. Bởi tranh với người nhà, mình thắng, thân tình không còn; tranh với người yêu, mình thắng, tình cảm phai nhạt; tranh cùng bạn bè, mình thắng, tình nghĩa cũng mất; tranh giành là lý, thua là tình, tổn thương là chính bản thân mình.

Sống có mục đích nhưng không quá chấp vào được mất (ảnh: Pinterest)

Dù gặp chuyện đắc ý hay thất ý thì cũng dùng lòng cảm kích để đối đãi. Bởi người làm tổn thương bạn đã tôi luyện ý chí cho bạn; người lừa gạt bạn đã cho bạn kiến thức; người đánh bạn đã loại bỏ nghiệp chướng cho bạn; người vứt bỏ bạn đã dạy bạn tự lập; người trách cứ bạn đã giúp bạn sáng tỏ. Một đường nhân sinh tràn đầy lòng biết ơn, vậy thì cuộc sống của bạn sẽ ngày càng trở nên đặc sắc.

Có những chuyện, hôm nay thấy thật lớn, ngày mai đã thành chuyện nhỏ; năm nay là chuyện lớn, qua năm đã thành chuyện cũ; đời này là chuyện lớn, đến đời sau đã là truyền thuyết, chúng ta cùng lắm chỉ là người trong câu chuyện. Vậy nên khi gặp chuyện chúng ta chỉ cần nói với chính mình: Hôm nay sẽ qua đi, ngày mai sẽ tới, một ngày mới lại bắt đầu.

Nhân sinh, chẳng qua là một ly trà, đầy cũng tốt, vơi cũng tốt, không cần phải tranh giành; đậm cũng tốt, nhạt cũng tốt, đều có hương vị; nhanh cũng tốt, chậm cũng tốt, thì cứ thế vậy; ấm cũng tốt, lạnh cũng tốt, nhìn nhau mỉm cười.

Hiểu được hai chữ tùy duyên thì gặp chuyện vui cũng không quá phấn khích, gặp chuyện buồn cũng không quá âu sầu, bi thương, mọi chuyện cứ để tùy duyên là được rồi.

Bảo Ngọc (t/h) / Theo: nguyenuoc

Sunday, January 1, 2023

YATAGARASU: LOÀI QUẠ BA CHÂN HUYỀN BÍ, SỨ GIẢ CỦA THẦN LINH

Với nhiều nền văn hóa, sự xuất hiện của quạ báo hiệu những điều chẳng lành. Nhưng ở Nhật Bản lại khác, tại đây loài chim này biểu trưng cho sự tái sinh và phục hưng sau các thảm họa. Đặc biệt trong thần thoại xứ Phù Tang còn tồn tại một giống quạ có ba chân gọi là Yatagarasu, đóng vai trò là sứ giả của thần linh, bảo hộ cho công cuộc khai thiên lập địa của đất nước mặt trời mọc.


Yatagarasu – sinh vật dẫn lối khai quốc

Chữ “Ata – 咫” (Chỉ) trong “Yatagarasu – 八咫烏” (Bát Chỉ Ô) là đơn vị đo độ dài, một ata tương đương khoảng cách một gang tay, xấp xỉ 18cm. Tuy nhiên, Yatagarasu không có nghĩa là con quạ có bề dài 8 ata (144cm), mà ngụ ý về kích thước khổng lồ của nó.

Sinh vật kỳ bí này xuất hiện trong thần thoại xứ Phù Tang và được nhắc đến cả trong tập Kojiki (Cổ Sự Ký, năm 712) lẫn Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ, năm 720). Theo Kojiki – tài liệu lịch sử lâu đời nhất của Nhật, Yatagarasu là hóa thân của Kamo Taketsunumi – vị thần ngày nay được thờ cúng tại đền Shimogamo, Kyoto. Xuất hiện với thân phận quạ ba chân, thần đã dẫn dắt Jimmu – vị Thiên hoàng đầu tiên vượt qua những khó khăn thử thách để thành lập nên nước Nhật.

Tượng điêu khắc quạ ba chân Yatagarasu tại đền Tamura, tỉnh Kagawa. Ảnh: okumiya-jinja.com

Chuyện xưa kể lại rằng, Kamuyamato Iwarebiko sống ở Hyuga (tỉnh Miyazaki ngày nay) đã cùng các anh mình đi tìm một vùng đất thích hợp để trị vì đất nước. Khởi hành từ Hyuga, trong hành trình về phía Đông qua biển Seto, họ đã giao tranh và khuất phục nhiều bộ tộc.

Thế rồi khi đến Naniwa (Osaka ngày nay), Itsuse – anh trai của Kamuyamato đã bị thương nặng và đoàn quân của họ bị đẩy vào tình thế phải rút lui. Kamuyamato nhận ra rằng họ thua vì đang đánh về hướng Đông, chống lại Mặt trời. Thế nên ông đã dẫn quân đi vòng quanh bán đảo Kii, đến Kumano (tỉnh Mie ngày nay) để bắt đầu một cuộc tiến quân về phía Tây. Nhưng trước khi đến được Kumano thì người anh trai đã qua đời và đoàn quân cũng bị lạc vào vùng núi sâu.

Theo lệnh Nữ thần Mặt Trời, thần Kamo Taketsunumi đã hóa thân thành một con quạ ba chân để dẫn đường cho Thiên hoàng Jimmu. Ảnh: Wikipedia

Thấy vậy, Nữ thần Mặt trời Amaterasu và thần Takamimusubi – một trong những vị thần khởi thủy, đã ra lệnh cho thần Kamo Taketsunumi làm người dẫn đường cho Kamuyamato. Vị thần sau đó hóa thành một con quạ lớn, bay đến và dẫn Kamuyamato thoát khỏi tình cảnh nguy hiểm, thuận lợi tiến đến Yamato (tỉnh Nara ngày nay) để xây dựng nên kinh đô của mình. Tại đây, ông lên ngôi và trở thành Thiên hoàng Jimmu, vị hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản.

Nữ thần Mặt trời Amaterasu. Ảnh: shindodvd.jp

Theo truyền thuyết, ông cố của Thiên hoàng Jimmu là Ninigi, cháu trai của Amaterasu. Vì vậy, Jimmu và toàn bộ dòng dõi hoàng gia Nhật Bản được xem là hậu duệ của Nữ thần Mặt trời. Còn quạ Yatagarasu là sứ giả dẫn đường chỉ lối để Thiên hoàng Jimmu xây dựng nên đất nước mặt trời mọc.

Thẻ gỗ Ema hình quạ ba chân tại đền Imakumano, Kyoto. Ảnh: Amenbo’s Honmaru

Vì vậy với người dân Nhật Bản, sự xuất hiện của sinh vật huyền bí này báo hiệu cho ý chỉ của thần linh về cuộc sống của nhân loại, mang theo sự sống và trường tồn, chấm dứt thảm kịch đau thương.

Nguồn gốc và ý nghĩa của Yatagarasu trong văn hóa Nhật Bản

Cái tên Yatagarasu đơn giản chỉ có nghĩa là con quạ lớn, đây là đặc điểm duy nhất có thể biết được từ Kojiki và Nihon Shoki. Không rõ chính xác từ khi nào linh vật này bắt đầu gắn liền với hình tượng ba chân, nhưng tài liệu cổ nhất mô tả về đặc điểm trên có niên đại từ khoảng năm 930, giữa thời Heian. Lý giải về nguồn gốc câu chuyện quạ ba chân, tồn tại một số giả thuyết như sau.

Đầu tiên, trong thần thoại Trung Hoa cũng có câu chuyện về con quạ ba chân (tam túc ô), được cho là sống ở mặt trời. Dựa theo thuyết âm dương ngũ hành, hai là âm, ba là dương, ba chân thích hợp để tượng trưng cho mặt trời hơn là hai chân. Ngoài ra số ba còn tượng trưng cho mặt trời buổi sáng, buổi trưa và lúc hoàng hôn.

Trong thần thoại Hàn Quốc cũng có quạ ba chân, được gọi là Samjogo. Trong thời kỳ Goguryeo (37 TCN - 668 CN), người ta cho rằng quạ ba chân là biểu tượng của mặt trời và có sức mạnh to lớn, thường đại diện cho Taewang ("Hoàng đế" hoặc "Vị vua vĩ đại nhất") và chủ quyền của Goguryeo. Ảnh: folkency.nfm.go.kr

Ở Trung Quốc, quạ ba chân đã xuất hiện trong các tài liệu từ thời Cựu Hán (thế kỷ 3 TCN) và được mô tả trong nhiều hiện vật khai quật từ các lăng mộ hoàng gia. Vì vậy, các sử gia cho rằng có thể truyền thuyết trên đã được du nhập vào Nhật Bản, ảnh hưởng đến hình tượng Yatagarasu – loài chim truyền đi thông điệp và chỉ dẫn của Nữ thần Mặt trời trong văn hóa xứ Phù Tang.

Biểu tượng Mitsudomoe thường xuyên xuất hiện tại các đền thờ Thần đạo. Ảnh: Trans.Biz

Ngoài ra, trong tín ngưỡng Thần đạo có một biểu tượng gọi là “Mitsudomoe – 三ツ巴”, gồm ba dấu phẩy được bao bọc trong một vòng tròn. Biểu tượng này là đại diện của ba thế giới “thiên đường – trần gian – âm phủ”; của “cha – mẹ – con” trong cuộc sống gia đình; “quá khứ – hiện tại – tương lai” trong dòng chảy thời gian; và “trời – đất – con người”, tức cách mà các đạo sĩ đã hình dung ra vũ trụ. Trong tâm trí của con người, số ba biểu thị quy luật của tự nhiên, và một con chim ba chim ba chân sẽ đại diện cho điều đó, khi nó là sứ giả được thần linh phái tới.

Biểu tượng Yatagarasu tại Kumano Hongu Taisha. Ảnh: blog.ytk.co.jp

Còn tại đền Kumano Hongu Taisha, một trong ba ngôi đền Thần đạo lớn được mệnh danh là “Kumano Sanzan”, tức “3 ngọn núi của vùng Kumano”, nơi đây thờ phụng thần Ketsumi Miko và quạ Yatagarasu được xem là sứ giả của thần. Theo ngôi đền thiêng, ba chân của quạ lần lượt tượng trưng cho trời, đất và con người.

Ngoài ra, Yatagarasu còn mang ý nghĩa biểu thị cho sự liên kết của ba gia tộc: Enomoto, Fujishiro Suzuki và Ui, từng nắm giữ quyền lực ở vùng Kumano, phía nam bán đảo Kii. Hay nó cũng được cho là đại diện cho ba đức tính của các vị thần: khôn ngoan, nhân từ và dũng cảm.

Yatagarasu tại đền Kumano Nachi Taisha, một trong ba ngôi đền “Kumano Sanzan”. Ảnh: dokoikoka.com

Dẫu mang ý nghĩa nào thì sinh vật thần thoại này đều đại diện cho thần linh, ban phát sự may mắn, thịnh vượng cho dân chúng. Cũng vì lẽ đó, quạ ba chân được sử dụng trong các biểu tượng tôn giáo và chiêm tinh trên khắp Nhật Bản, đặc biệt là trong các nghi lễ thờ cúng thần Mặt trời.

Chuông gió với dải giấy có hình Yatagarasu được trưng bày trong khuôn viên của đền Kumano Hongu Taisha để cầu nguyện cho sự kết thúc của dịch COVID-19 và thành công của đội bóng quốc gia. Ảnh: sankei.com

Quạ ba chân ngày nay

Ở thời hiện đại, loài quạ linh thiêng này đặc biệt được biết đến với vai trò là linh vật trong logo của Hiệp hội bóng đá Nhật Bản (JFA) và đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản, với niềm hy vọng rằng quả bóng sẽ được thần linh dẫn lối đến khung thành.

Logo của JFA được điêu khắc gia nổi tiếng Jitsuzo Hinago (1892 – 1945) thiết kế dựa trên ý tưởng của Tairei Uchino, một học giả về văn học Trung Quốc, người có công trong việc thành lập Hiệp hội Bóng đá Nhật Bản. Logo trên được thông qua vào năm 1931.

Logo JFA. Ảnh: Wikipedia

Ngày nay, các thành viên của JFA và cầu thủ của tuyển quốc gia Nhật Bản vẫn đến thăm những ngôi đền thờ Yatagarasu trước mỗi trận đấu để cầu nguyện cho chiến thắng.

Còn trong lĩnh vực quân sự, biểu tượng quạ ba chân được sử dụng rộng rãi cùng với diều hâu và đại bàng kể từ thời Đế quốc Nhật Bản. Yatagarasu cũng được Sở Thông tin của Lực lượng Phòng vệ Mặt đất sử dụng làm biểu tượng. Hay cái tên Yatagarasu cũng được đặt cho tiểu hành tinh được phát hiện vào năm 1997 bởi Takao Kobayashi – một nhà thiên văn học đến từ tỉnh Gunma.

Tượng Yatagarasu tại Kumano Hongu Taisha. Ảnh: Namiki Trails

Với sự huyền bí và quyền năng của mình, không bất ngờ khi quạ ba chân trở thành nguồn cảm hứng để sáng tạo nên các nhân vật trong những câu chuyện giả tưởng, từ manga, anime đến trò chơi điện tử của xứ Phù Tang. Sinh vật này xuất hiện trong các tác phẩm như Yu-Gi-Oh!, Noragami, Demon King Daimao, hay cả trong trò chơi Megami Tensei. Theo thời gian, quạ ba chân dần trở thành một biểu tượng đại chúng và ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống văn hóa xứ hoa anh đào.

Ái Thương / Theo: Kilala Magazine



BÀI HỌC CUỘC SỐNG: CÂU CHUYỆN CÁ KOI VÀNG ĐEN

Đêm hôm đó nó đã tự nhảy ra khỏi ao cá. Hôm sau, tôi thấy nó trên bờ ao và cơ thể đã cứng ngắc, kiến ​​bò khắp thân. Những dấu vết dài chật vật để lại trên mặt đất. Ngẫm ra được bài học cuộc sống cho mình.


1. Câu chuyện con cá Koi vàng đen

Tuổi thọ trung bình của koi là 70 năm. Nay, cá Koi vàng đen nhà tôi chỉ được 3 năm, kể từ khi được cho nó ăn, nó ăn rất khỏe. Càng ngày càng lớn nhanh đến nỗi trông thấy được. Trong số hàng chục con cá koi thì nó là loài khỏe nhất, dữ tợn và nhanh nhẹn nhất.

Mỗi ngày sẽ có chương trình Cá chép hóa rồng.Và khi được cho ăn, nó luôn là con đầu tiên lao lên trước để giành lấy thức ăn. Một tia nước lớn bị tát mạnh mẽ, và những con cá khác bị thổi bay dạt sang hai bên. Khi nó gặm rong rêu ở bờ ao cá, nó phát ra tiếng kêu râm ran. Tôi nghĩ không thể để con cá chép sống chung với nó; nó sẽ cưỡi lên đám bạn và xua đuổi những con khác đi.

Trong số hàng chục con cá koi thì nó là loài khỏe nhất. (Ảnh:giadinhmoi.vn)

Gần đây, cá Koi vàng đen này thường xuyên nhảy gần nửa mình lên quanh góc ao cá. Nó tạo dáng kiểu như muốn trèo lên. Có lẽ nó cảm thấy rằng “cái hồ bơi này quá nhỏ để chứa nó rồi, và nó phải đến một nơi lớn hơn để thể hiện khả năng của mình”.

Sau khi tôi cho nón ăn hôm trước, đêm hôm đó nó đã tự nhảy ra khỏi ao cá. Đến gần sáng, tôi thấy nó trên bờ ao và cơ thể đã cứng ngắc, kiến ​​bò khắp mình. Những dấu vết dài chật vật đã được để lại trên mặt đất.

Vậy là, nó nhảy qua bức tường bờ ao cá và bay ra ngoài. Thế là “kẻ tưởng mình mạnh mẽ ấy đã ra đi vĩnh viễn”. Than ôi, nó sở dĩ có thể được sống trong nhiều thập kỷ nữa.

2. Nỗi buồn để lại sau khi cá Koi vàng đen ra đi

Trong những ngày sau, cá chép bơi lặng lẽ và chậm rãi dưới đáy hồ. Nó không có ai rượt đuổi và vỗ cánh như trước. Tôi không biết đó là sự hài lòng hay sự cô đơn?

Và dù sao thì tất cả đã biến mất, cá Koi vàng đen đã ra đi không trở lại. Nghe nói trí nhớ của cá có 7 giây, có lẽ tôi phải quên “chú cá Koi vàng đen đi”! Và có thể, sẽ có một cá koi mới thay thế nó chăng?

Thế là cá Koi vàng đen đã ra đi mãi mãi để lại trong tôi những suy ngẫm.

Xế chiều hoàng hôn, trời đã tắt nắng ngã bóng đêm, tôi ngồi bên ao cá; thoáng nhìn ánh sáng dịu nhẹ, vảy cá đầy mình, thở dài ngao ngán. Nó là con cá mà tôi yêu quý nhất. Thế là cá Koi vàng đen thân yêu đã ra đi mãi mãi…

Ngẫm lại cuộc đời của nó sao mà ngắn ngủi. Trái tim tôi hững hờ nhạt nhòa, một vài tình cảm cũng dần phai. Chỉ đâu đó tôi thoáng nhận ra rằng tất cả mọi việc trong đời cũng đều do lòng ham muốn, sự thể hiện bản thân mà ra.

3. Bài học cuộc sống: Lòng tham quá mức sẽ phải trả giá đắt

Lão Tử từng nói: “Không tội nào lớn bằng có dục vọng, không hoạ nào lớn bằng không biết đủ”.

Bằng lòng với cuộc sống sẽ luôn mang lại sự tĩnh tại và hạnh phúc trong tâm hồn. Người biết đủ sẽ tiết chế ham muốn và không tranh giành. Thần Phật sẽ coi sóc cho những người biết sống mãn nguyện, không tranh chấp, hòa hợp lẽ tự nhiên. Đừng vì lòng tham quá mức mà đánh mất lòng nhân từ, nếu không sẽ phải trả giá rất đắt.

Bằng lòng với cuộc sống sẽ luôn mang lại sự tĩnh tại và hạnh phúc trong tâm hồn. (Ảnh: toplist,vn)

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử có nói: “Để đạt được điều tối thượng trong sự trống rỗng, hãy giữ im lặng”.

Sống trên đời, muốn đạt được gì thì cũng sẽ mất đi thứ tương tự. Được mất nơi bụi trần ngắn ngủi; sự sống mấy chục năm có gì đáng để đánh đổi so với sự thiện lương còn giữ lại trong linh hồn bất diệt; muôn vạn kiếp sau vẫn mang theo.

Mộng Đình / Nguồn: soundofhope

NỘI HÀM CỦA CÂU NÓI "KỶ SỞ BẤT DỤC, VẬT THI Ư NHÂN"

“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” trên thực tế có nghĩa là biết coi trọng tình người, tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác để nghĩ cho người khác.

Người có lòng nhân ái, giàu tình thương mới biết ứng xử theo phương châm “Kì sở bất dục, vật thi ư nhân” (ảnh: pixabay).

Câu chuyện của một giáo sư chuyên nghiên cứu về gà

Có một vị giáo sư chuyên nghiên cứu về loài gà. Một ngày kia, ông phát hiện trong rừng có một con chim trĩ đẻ được khá nhiều trứng, liền lặng lẽ nhặt lấy mấy quả mang về. Vừa khéo lúc đó lại có một con gà mẹ cũng đẻ trứng, ông bèn lấy trứng của gà mẹ đi rồi bỏ trứng của chim trĩ rừng vào. Gà mẹ nhìn thấy trứng không giống nhau, do dự một hồi, nhưng vẫn chấp nhận ấp những quả trứng lạ này, vừa điềm đạm lại vừa cẩn thận, cứ như là đang ấp trứng của chính mình vậy.

Loài gà vốn bị cho là “não nhỏ”, ngốc nghếch, không có tình cảm, nhưng thực ra chúng vừa có tình thương, lại có trí tuệ (Istock photo).

Sau một thời gian, chim trĩ con nở ra, gà mẹ dẫn chúng vào trong rừng, dùng móng vuốt đào bới đất, tìm kiếm sâu bọ giữa đất và rễ cây, sau đó “cục…cục…” gọi mấy con chim trĩ non đến ăn. Chứng kiến cảnh ấy, vị giáo sư hết sức ngạc nhiên. Lũ gà con vốn đều được cho ăn thức ăn nhân tạo, vì sao gà mẹ có thể biết được rằng chim trĩ con không ăn thức ăn chăn nuôi mà chỉ thích ăn giun dế?

Giáo sư lại lấy một số trứng vịt cho gà mẹ ấp. Lại như lần trước, gà mẹ vẫn không quản nhọc sức ấp số trứng ấy nở ra vịt con. Sau đó, gà mẹ lại dẫn theo đàn vịt con đến bên hồ nước để chúng tập bơi lội.

Nhận ra đạo lí: Con vật cũng có tình cảm, trí tuệ

Hai sự việc bất ngờ ấy giúp vị giáo sư chợt nhận ra một đạo lý. Loài gà vốn bị cho là “não nhỏ”, ngốc nghếch, không có tình cảm nhưng thực ra chúng vừa có tình thương, lại có trí tuệ. Gà mẹ không chỉ bao dung, ấp số trứng lạ không phải mình đẻ ra, mà nó còn hiểu được đặc tính của những con trĩ con, vịt con ấy rồi dẫn dắt chúng thực hành kĩ năng sinh tồn mà Thượng Đế đã ban cho.

Người ta luôn muốn cưỡng ép người khác theo quan điểm, suy nghĩ của mình mà chẳng hề quan tâm tới cá tính, thói quen và sở thích của họ (ảnh: Istock photo).

Trong văn hoá truyền thống, loài gà không hề tầm thường. Người xưa coi gà là biểu tượng của người quân tử, là “ngũ đức chi cầm” (loài chim có 5 đức): Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín. Trong “Tây Du Ký“, tác giả Ngô Thừa Ân cũng xây dựng hình tượng “Mão Nhật Tinh Quân” dưới hình dạng của một chú gà trống từng trợ giúp Tôn Ngộ Không trừ yêu quái rết. Nói chung, hình tượng con gà thường đi kèm với điềm lành, may mắn.

Lại nói về chuyện gà mẹ ở trên, con người trong hoàn cảnh ấy sẽ ứng xử khác biệt hoàn toàn. Rất có thể chúng ta sẽ bắt lũ vịt con học tiếng gà kêu, bắt chim trĩ rừng ăn thức ăn nhân tạo. Nghĩa là ta luôn muốn cưỡng ép người khác theo quan điểm, suy nghĩ của mình mà chẳng hề quan tâm tới cá tính, thói quen và sở thích của người khác. Những xung đột, hiểu lầm cũng bắt nguồn từ đây.

Câu nói “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” xuất phát từ nguyện vọng của Khổng Tử

Khổng Tử là danh hiệu tôn kính hậu thế dành cho Khổng Khâu. Ông sống trong thời kỳ trật tự xã hội đã suy đồi, chư hầu lấn quyền thiên tử, đại thần chiếm đoạt ngôi chư hầu dẫn đến cảnh chém giết nhau hỗn loạn, không còn đạo lý, kỷ cương. Ông mong muốn tái lập lại trật tự xã hội, làm cho mọi người trở nên tốt đẹp hơn, đối xử với nhau hòa hảo, thân ái.

Một lần Khổng Tử tâm sự với học trò “Nguyện vọng của ta là muốn cho người già được nuôi dưỡng đầy đủ, bạn bè tin cậy lẫn nhau, trẻ nhỏ được quan tâm chăm sóc”. Chính vì thế ông luôn muốn dùng tài năng của mình giúp nước, giúp đời.. Ông được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông.

Trước khi Khổng Tử được sinh ra, mẹ ông đã có giấc mơ lạ. (Ảnh minh họa: NTDVN).

Để sống có Nhân thì tuân theo nguyên tắc vàng của Khổng Tử: ông đã tranh luận rằng người ta phải luôn đối xử với người khác đúng như những gì họ muốn người khác đối xử với họ. Đức hạnh theo Khổng tử là dựa trên việc sống hài hòa với mọi người.

Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên lòng vị tha và hiểu những người khác, điều này được thể hiện rõ qua câu nói của ông: “Kỷ sở bất dục,vật thi ư nhân” nghĩa là cái gì mà ta không muốn thì đừng làm cho người khác.

“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” thể hiện cách sống nhân văn

Câu nói có thể coi là một quan điểm về “Nhân” tức là về lòng yêu thương của con người. Đây là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn và tiến bộ, thể hiện cách sống nhân văn. Mỗi chúng ta sống cùng nhau, đều mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với mình chứ không ai mong muốn rủi ro. Vậy nên những gì mà mình không muốn cũng đừng đem đến cho người khác.

Thực tế, trong cuộc sống khó tránh khỏi những suy nghĩ ích kỷ của bản thân, vì lợi ích của mình. Ví dụ như xếp hàng nơi công cộng, tình trạng chen lấn xô đẩy cũng là muốn mình được đáp ứng nhu cầu trước. Tuy nhiên, để xây dựng một xã hội ngày càng tốt đẹp thì điều gì mà mình không muốn cũng đừng đem đến cho người khác.

Người có lòng nhân ái, giàu tình thương mới biết ứng xử theo phương châm “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Câu nói của Khổng Tử nhắc mỗi chúng ta phải tự đặt mình vào người khác, suy nghĩ cho người khác nhiều hơn, mọi hành động và việc làm đều lấy tình người làm chuẩn mực, thì cuộc đời mới vui, cuộc sống mới có nhiều ý nghĩa.

Tâm Minh / Theo: nguyenuoc

DỪNG MỌI SO SÁNH – LIỀU THUỐC HẠNH PHÚC

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của so bì và đua tranh. Dù cạnh tranh có thể là động lực thúc đẩy chúng ta vươn tới những tầm cao mới thì nó cũng tạo nên tâm lý hơn thua và khiến ta lo lắng, không biết mình đang ở đâu trên bậc thang viễn tưởng của thành công, danh vọng. Tâm ganh tỵ khiến chúng ta thậm chí không tận hưởng trọn vẹn hạnh phúc hiện thời của mình. Thay vì hoan hỷ trước thành công hạnh phúc của người khác, chúng ta nhìn họ đầy thèm muốn và đố kỵ. Hoặc đến khi thành đạt, chúng ta lại tự mãn, cúi nhìn người khác bằng ánh mắt coi thường của kẻ ở trên. Bây giờ, chúng ta hãy gạt đi tất cả những phán xét, so bì, đàm tiếu, chỉ tập trung sống thật với chính mình, không để ý đến những lời tán tụng hay chê bai.


Hãy nhớ bạn có đủ năng lực - phẩm chất tự nhiên của bạn vốn hoàn hảo, bạn không cần giỏi hơn và cũng không cần lo lắng mình thua kém mọi người.

Hãy học cách để mọi thứ diễn ra tự nhiên, để người khác được là chính mình. Dừng phán xét người khác để tập trung trưởng dưỡng tâm và cải thiện cuộc sống của bạn.


Hãy bỏ qua kỳ vọng người khác đặt ra để hiểu được mình thực sự muốn trở thành con người như thế nào. Tiếp đến, hãy tìm cách để phát triển những phẩm chất cần thiết và cụ thể nó bằng hành động mỗi ngày.

Khi biết lánh xa đàm tiếu và những lời than vãn, hạnh phúc sẽ tự đến với bạn.

(Theo ‘Hạnh phúc tại tâm’ – Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa)