Saturday, January 5, 2019

Ý NGHĨA BẤT NHỊ TRONG PHẬT GIÁO

Bất nhị là không phải hai hay nhiều, cũng không phải một, mà là vô lượng hay không có số lượng.


Số lượng là số đếm chỉ có trong thế giới tương đối, nhị nguyên. Thế giới đó bị hạn chế về không gian, thời gian và số lượng. Con người sống trong thế giới đó đã quá quen thuộc với các thói quen sai lầm về nhận thức, tưởng rằng đó là lẽ phải đời thường, tưởng rằng đó là khách quan nằm ngoài ý thức. Mặc dầu nhận thức này là sai lầm nhưng rất hữu dụng, tuy nhiên nó có thể đưa đến hậu quả tai hại, đó là khổ, sinh tử luân hồi. Điều đó giống như cơ học Newton rất hữu dụng trong đời thường nhưng không hoàn toàn đúng. Một điều rất nghịch lý nhưng lại có thật, đó là chính vô minh và lầm lẫn là công dụng của thế giới đời thường. Nếu chúng ta không có vô minh, không có lầm lẫn thì không thể thấy được nguyên tử là vật, không thể cảm nhận được thế giới, chỉ thấy không mà thôi. Cũng giống như nếu mắt ta không bị ảo tưởng lừa gạt, thì nhìn vào tivi chỉ thấy chấm chấm mà không thấy hình ảnh, càng không thể thấy hình ảnh chuyển động. Ảo tưởng lầm lẫn là tối cần thiết trong đời thường. Hay nói cách khác ảo tưởng lầm lẫn là nguyên lý của thế gian. Đó là lý do tại sao vô minh là mắt xích đầu tiên của chuổi thập nhị nhân duyên. 

Không có số lượng về khoảng cách không gian 

Chẳng hạn khoảng cách không gian từ Sài Gòn ra Hà Nội đi theo đường bộ là 1719 km, còn theo đường bay của hãng hàng không là 1274 km, khoảng cách theo đường thẳng là 1146 km. Nếu đi bộ theo đường mòn hoặc đi theo đường biển thì có nhiều con số khác nữa. Nhưng con số 1146 km dường như là khoảng cách khách quan theo đường thẳng, dù muốn hay không, chúng ta cũng phải vượt qua khoảng cách đó (bằng cách bay thẳng) mới đi được từ nơi này đến nơi kia. 

Tuy nhiên khoảng cách bằng đất đá đó thể rút ngắn lại khi quả đất bị một lực nào đó nén nhỏ lại. Bởi vì nguyên tử tạo thành vật chất là trống rỗng, nên nếu có lực gì đủ mạnh thì có thể nén cho nó nhỏ lại. Ví dụ mặt trời của chúng ta, hiện nay có đường kính 1.400.000 km, khi cháy hết nhiên liệu thì bị co rút lại, chỉ còn 6 km, khi đó nó sẽ trở thành một lỗ đen trong vũ trụ. Trái đất có đường kính trung bình 12.742 km thì khi bị biến thành lỗ đen, nó chỉ còn 1,8 cm đường kính. Điều đó có nghĩa là khoảng cách không gian bằng đất đá cũng không cố định. Vị trí của một quốc gia có khi cũng thay đổi. Sau trận động đất ngày 11-03-2011, đảo Honshu của Nhật Bản đã bị dời đi 2,4 mét. 

Vậy còn khoảng cách không gian bằng chân không có thật hay không ? Tiến hành thí nghiệm hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) năm 2008, nhà vật lý Nicolas Gisin và các đồng nghiệp của ông tại trường đại học Geneva, Thuỵ Sĩ, đã chỉ ra rằng, nếu có sự truyền tín hiệu từ photon này qua photon kia, thì tốc độ truyền của các trạng thái lượng tử giữa các photon vướng víu, liên kết với nhau ở hai nơi cách xa nhau 18 km, là khoảng chừng 10 triệu lần tốc độ ánh sáng (Nature, vol 454, p 861). Điều đó quá phi lý, bởi vì theo Einstein, không có tốc độ nào vượt quá tốc độ ánh sáng (khoảng 300.000 km/giây). Như vậy chỉ có thể hiểu theo như Kinh Phật nói, khoảng cách không gian chỉ là ảo tưởng trong tâm thức mà thôi, tức là không có thật. 

Vì vậy kinh điển Phật giáo thường nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” 

Khoảng cách không gian chỉ là tâm thức, không có thật, bất cứ khoảng cách là bao nhiêu tỉ quang niên, chỉ một niệm là đến. Kể cả đi từ vũ trụ này qua vũ trụ khác, chỉ một niệm là đến. Người bình thường chúng ta làm không được, vì tâm trí óc não của chúng ta bị trói bởi các thói quen (tập khí) sai lầm. Nếu giải thoát được, thì chỉ cần một niệm, chúng ta có thể đi tới cõi Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà, cách xa cõi ta bà này mười vạn ức cõi Phật [Di Đà Kinh 弥陀经 nói 过十万亿佛土,有世界名曰极乐] con số chỉ nói lên là vô lượng chứ không còn ý nghĩa số đếm. 

Như vậy, trong hiện tượng rối lượng tử cũng như trong kinh Phật, khoảng cách không gian là không có ý nghĩa, số lượng là không có ý nghĩa. Nhiều photon có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau, thật ra không phải nhiều (bởi vì chúng đều giống nhau như chỉ có một mà thôi) nhưng cũng không phải là một (vì rõ ràng là các khoa học gia thấy chúng có mặt ở nhiều nơi khác nhau), đó là ý nghĩa bất nhị trong Phật giáo. 

Tính chất không có thật của khoảng cách không gian, ngày nay được ứng dụng rất hiệu quả trong tin học. Hiện nay chúng ta có thể gặp mặt, nói chuyện thân mật, nhìn thấy lẫn nhau, với bạn bè hay thân nhân, hoàn toàn không chút tuỳ thuộc hai người đang ở đâu trên thế giới, chỉ cần có đủ nhân duyên. Nhân duyên đó là phương tiện cần thiết, cũng không có gì quá phức tạp, chỉ cần một chiếc iphone, hoặc smartphone tầm trung trở lên (giá khoảng 5 triệu) có trang bị wifi hoặc 3G, hoặc một laptop hay netbook, có cài thêm Skype. Chúng ta có thể nói chuyện thoải mái với bạn bè ở bên kia bờ Thái Bình dương không sợ tốn tiền, bởi vì đàm thoại qua mạng internet, nếu truy cập internet bằng wifi thì hoàn toàn yên tâm, miễn phí hoàn toàn, gắn thêm tai nghe để cho thật thoải mái, không cần phải cầm điện thoại trên tay, tiếng nói rất rõ và ổn định. Chúng ta có thể nói chuyện lúc đang ngồi trong quán cà phê, lúc đang ngồi chơi trong công viên (trong công viên có lẽ phải truy cập internet bằng 3G) hoặc lúc đang đi mua sắm ở siêu thị hay đang ngồi ở nhà, đều có thể gặp nhau đàm đạo. Khoảng cách không gian xa xôi có thể nói đã bị triệt tiêu hoàn toàn.


Không có số lượng về thời gian 

Pháp sư Huệ Trì là em trai của Huệ Viễn (Tổ của Tịnh Độ tông) đang ở Lư Sơn, tỉnh Giang Tây, nghe nói ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên đất đai màu mỡ, nhân dân giàu có, muốn đến đó truyền pháp và xem phong cảnh núi Nga Mi. Năm Long An thứ ba đời Đông Tấn (công nguyên 399 CN), ông từ biệt Huệ Viễn đi Tứ Xuyên. Huệ Viễn khuyên em ở lại hết lời mà không được, bèn than rằng “Người đời đều thích đoàn tụ, riêng mình em thích phân ly, vì sao vậy ?” Ông đáp : “Nếu là người vướng mắc ở tình cảm, thích đoàn tụ thì không nên xuất gia. Hiện tại chúng ta đã cát ái xả dục mà cầu đạo thì nên kỳ vọng gặp nhau ở Tây phương cực lạc” Thế rồi anh em chia tay. Huệ Trì lên đường đi Tứ Xuyên một mình, từ đó không ai còn biết tung tích của ông. Kể từ lúc ông lên đường đi Tứ Xuyên vào năm 399 CN đến lúc người ta phát hiện ra ông trong bọng cây là năm 1113 CN, tức đã trải qua 714 năm. 

Câu chuyện như sau : 

Bộ Sách Gia Thái Phổ Đăng Lục do Chính Thọ (Vân Môn tông) viết vào đời Nam Tống, quyển 22 có ghi lại một câu chuyện sau : Năm Chính Hòa thứ ba đời Tống Huy Tông (công nguyên 1113), tại Gia Châu Tứ Xuyên (nay là huyện Lạc Sơn nơi có tượng Phật điêu khắc vào vách núi đá cao nhất thế giới) quan địa phương có biểu tâu lên triều đình : Có cây cổ thụ bị gió thổi gãy, bên trong có một lão tăng đang nhập định, râu tóc che phủ thân thể, móng tay dài bao quanh người. Hoàng đế giáng chỉ dùng cáng khiêng lão tăng đó đưa về kinh đô (thời đó là Biện Kinh, kinh đô của nhà Bắc Tống, nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam). Do vị sư người Tây Thiên (Ấn Độ) là Tổng Trì Tam Tạng dùng chiếc khánh đồng đánh lên để làm cho lão tăng xuất định, mới biết đó là em trai của pháp sư Huệ Viễn ở Lư Sơn, tên là Huệ Trì, nhân đi du lãm núi Nga Mi, ngồi nhập định trong bọng cây. Hoàng đế ra lệnh cho họa sĩ vẽ hình của lão tăng, và tự mình làm ba bài kệ. 

Huệ Trì nhập định hơn 700 năm, tuổi thọ có thể so sánh với Bành Tổ sống 800 tuổi trong sách xưa. Tuy nhiên đó chưa phải là kỷ lục nhập định lâu nhất của người trên địa cầu. Thiền sử ghi: 

Trong thời đại của Đức Phật, Ma Ha Ca Diếp, Quân Đồ Bát Thán, Tân Đầu Lô, La Hầu La, đều nhận lãnh lời Phật phó thác, là không nhập Niết Bàn. “Tăng Nhất A Hàm Kinh” quyển 44, “Di Lặc Hạ Sinh Kinh” quyển 1, nói : “Đại Ca Diếp cũng không về cõi Niết Bàn” mà các quyển “Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện”, “Đại Đường Tây Vực Ký” đều ghi Đại Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc (Kukkuṭapādagiri hay còn gọi là Tôn túc sơn Gradhakuta, nay thuộc bang Bihar, Ấn Độ, gần thành Vương Xá –Rājagaha- của nước Ma Kiệt Đà- Magadha- xưa) phát nguyện giữ thân cho đến khi Di Lặc thành Phật, khiến thân không bị hư hoại, vì vậy cho đến ngày nay, ông vẫn còn nhập định tại núi Kê Túc, là người bảo trì được thân thể lâu kỷ lục trong cõi ta bà thế giới này. 

Maha Ca Diếp hay Đại Ca Diếp (Mahakasyapa) là Sơ Tổ của Thiền Tông Ấn Độ, ông là đại đệ tử của Phật Thích Ca, được Phật đích thân truyền pháp Tổ Sư Thiền qua sự kiện “Niêm hoa vi tiếu”, Phật đưa cánh hoa, Maha Ca Diếp mỉm cười. Thế là đủ, vì là tâm truyền tâm, nên tất cả pháp sâu xa nhất đều được truyền. Đại Ca Diếp tuy là đệ tử của Phật nhưng ông lớn tuổi hơn Đức Phật lịch sử. Sau khi Phật nhập diệt vào năm 543 Trước CN, (năm đó được lấy làm năm đầu của Phật lịch, đến năm nay 2012 dương lịch, thì Phật lịch là 2555), Đại Ca Diếp lo làm lễ trà tỳ cho Phật xong, 3 tháng sau thì lo tổ chức kết tập kinh điển lần thứ nhất, kéo dài trong 7 tháng. Hai mươi năm sau, Đại Ca Diếp truyền tâm ấn cho A-nan, có lẽ là năm 522 TCN, ông đi vào núi Kê Túc, nhập đại định, lúc đó ông 120 tuổi. Cách đây không lâu, khoảng đầu thế kỷ 20, tiến sĩ triết học Bá Khắc Sâm, người Anh, đã được gặp tôn giả Đại Ca-Diếp tại Kê Túc Sơn, Ấn Độ, mà không biết. Sau đó theo hướng dẫn, đã quy y, trở thành tỳ kheo, đến Rangun, Myanmar thiền định và gặp lại, mới biết đó là Đại Ca Diếp. 

Đại Ca Diếp nhập định từ năm 522TCN đến nay 2012 DL, đã trải qua 2534 năm, có thể nói ông là người sống lâu nhất trên thế gian này. Ông ẩn thân bên trong tảng đá lớn nên không ai có thể nhìn thấy. 

Khi nhập định sâu như Đại Ca Diếp hay Huệ Trì, nhất niệm vô minh đã dừng lại, nên thời gian cũng dừng lại, vì thời gian cũng là do tâm tạo. Việc đó tương đương với việc di chuyển bằng với tốc độ ánh sáng. Theo thuyết tương đối của Einstein, nếu một người ngồi trong phi thuyền bay với vận tốc anh sáng thì thời gian sẽ dừng lại, người đó sẽ sống vô lượng tuổi so với thời gian của trái đất. Nhưng khoa học chưa có khả năng thực nghiệm việc này, đó chỉ là lý luận. Còn Huệ Trì và Đại Ca Diếp là những người thực nghiệm, cũng đạt được hiệu ứng tương đương với lý luận khoa học. Thời hiện đại, Hư Vân hoà thượng cũng từng nhập định lâu khoảng nửa tháng mà ông chỉ cảm nhận thời gian chỉ mới chốc lát. 

Câu chuyện của Huệ Trì và Đại Ca Diếp cho thấy số lượng thời gian lâu hay mau cũng là do tâm tạo chứ không có thật. Chẳng qua vì chúng ta đã quen với hạn tuổi trăm năm nên khó tin những chuyện như vậy. 

Không có số lượng về vật thể hay năng lượng 

Năng lượng là dạng tổng quát của vật chất. Nếu như vật chất có tới cả trăm nguyên tố khác nhau thì năng lượng có thể coi là dạng chung của tất cả các loại vật chất thông qua công thức nổi tiếng của Einstein : E= MC2 

Nhưng năng lượng xuất phát từ đâu ? Theo vật lý lượng tử hiện đại, năng lượng xuất phát từ chân không lượng tử. Chân không lượng tử cũng chính là cái Không trong Phật giáo mà nhà vật lý Phạm Xuân Yêm mượn danh từ Không để diễn tả những khái niệm tương đồng giữa Phật giáo và khoa học. Ông nói : 

“Cái Không lượng tử thực là trạng thái cơ bản, là cội nguồn và chốn trở về cũng như ra đi của vạn vật. Nó không rỗng tuếch chẳng có gì mà là cái thế lắng đọng của tất cả. Chân không-Vật chất-Không gian-Thời gian chẳng sao tách biệt, cái này có là cái kia có, cái này không thì cái kia không, đó là hệ quả của Lượng tử và Tương đối! Thực thế, thuyết Tương đối hẹp liên kết Không gian và Thời gian, còn Tương đối rộng nối Vật chất với Không-Thời gian và cuối cùng Lượng tử mang Chân không về với Vật chất và như vậy kết nối cả bốn khái niệm cơ bản trên.” 

Chân không lượng tử (viết gọn thành Không) là trạng thái cơ bản tận cùng của vạn vật, nó vô hướng, trung hòa, mang năng lượng cực tiểu, trong đó chẳng hề vẩn gợn chút vật chất kể cả điện từ trường (ánh sáng nói riêng). Do những nhiễu loạn của năng lượng trong Không mà vật chất (cùng phản vật chất) nẩy sinh, tương tác, biến chuyển, phân rã và trở về với Không, cứ thế tiếp nối vòng sinh hủy. Tuy vậy năng lượng của Không lại vô hạn theo nguyên lý bất định Heisenberg. Cực tiểu nhưng vô hạn, nghịch lý này hẳn đòi hỏi một cuộc cách mạng trong nhận thức?” (Phạm Xuân Yêm – Cái Không trong lượng tử) 

Trong chân không lượng tử, Vật chất (cũng là năng lượng) cực tiểu nhưng Năng lượng lại vô hạn, đó là một nghịch lý mà lý trí duy lý của con người không thể hiểu nổi. Ta chỉ còn một cách hiểu theo Phật giáo là năng lượng cũng không có số lượng. Theo Phật giáo thì tất cả năng lượng hay vật chất đều xuất phát từ Tâm. Cái Không, hay chân không lượng tử nói theo khoa học, cũng là Tâm bất nhị. 

Bậc thánh như Giê su có thể vận dụng tính chất vô hạn của năng lượng để tạo ra phép mầu. Trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea (trên sông Jordan nay thuộc vùng Galilee Hạ) có hơn 5000 đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói. Trong số những người thân cận với ngài chỉ có 5 cái bánh và hai con cá, nhưng Giê-su có thể chia cho hơn 5000 tín đồ đến nghe giảng đạo ăn no bụng, giải tỏa cơn đói xong mà vẫn còn dư lại 12 giỏ bánh. Trong dân gian cũng có câu chuyện cái nồi Thạch Sanh đựng gạo, có thể lấy ra ăn mãi vẫn không hết. Chúng ta chỉ có một tấm ảnh, nhưng khi đưa lên internet, nó có thể được sao chép ra vô số tấm ảnh. Đây là những ví dụ về tính vô lượng hay không có số lượng của vật chất, hay năng lượng. Chỉ vì trong đời thường chúng ta không vận dụng được lý này nên “cho rằng” việc đó là hoang đường. 

Trong bài Tứ pháp giới, tôi có đề cập Lý Sự vô ngại pháp giới. Nếu chân không lượng tử có năng lượng vô hạn thì việc biến ra vô lượng cái bánh cho tín đồ ăn mà Giê-su đã làm, là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Ai có đủ thần thông đều có thể làm được.


Bất nhị là tuyệt đối, không có đối đãi nhị nguyên 

Bất nhị không phải là hai, nhưng cũng không phải là một. Ý nghĩa của bất nhị là tuyệt đối, tức không có đối đãi nhị nguyên. Bởi vì nếu là một sẽ đối lại với hai, với nhiều. 

Nhị nguyên là những cặp phạm trù mâu thuẫn như : có và không, vật chất và tinh thần, sáng và tối, thiện và ác, hữu hạn và vô hạn, đúng và sai, quark và phản quark, electron và positron,…những cặp mâu thuẫn nhiều không kể xiết. 

Nhị nguyên phát sinh khi có sự xuất hiện của chủ thể nhận thức (subject) và đối tượng bị nhận thức (object). Tâm trong Phật giáo vốn là bất nhị, bất biến, vô sanh, vô thuỷ vô chung. Nói tóm tắt là Tâm không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và số lượng, bởi vì nó là nguồn gốc của tất cả những cái đó, của vũ trụ vạn vật. 

Nhưng khi nào thì Tâm bị phân hoá thành chủ thể và đối tượng? 

Như đã trình bày trong bài Niết Bàn và Chánh Biến Tri, về mặt công dụng Tâm là chánh biến tri, nó là nguồn năng lượng vô hạn. Nói theo khoa học thì Tâm là chân không lượng tử, là vô lượng lượng tử. Mỗi lượng tử có năng lượng được mô tả bằng công thức của Max Planck: 

E = hv (E = năng lượng, h = hằng số Planck, v = tần số dao động của lượng tử)
Khi dùng electronvolt (eV) là đơn vị đo năng lượng thì: 

Hằng số này có đơn vị đo là năng lượng, nhân với thời gian tính bằng giây (s = second). 

Các lượng tử mà khoa học nhận thức và vận dụng cũng như diễn tả một cách cụ thể là quark, electron, photon, neutrino. Quark có nhiều loại nhưng nhiều nhất trên địa cầu là quark u (up) và quark d (down). Electron và đồng loại cũng có nhiều loại, mỗi loại có tên khác như muon, tau, nhưng chủ yếu trên địa cầu là electron. Photon là hạt ánh sáng, có khi hiện hữu dưới dạng sóng. Neutrino là hạt cực nhỏ, về mặt thực nghiệm, mới tìm thấy vào cuối thế kỷ 20. Tuyệt đại đa số vật chất trên địa cầu đều được cấu thành bởi quark u, quark d và electron. Nói chung các hạt hạ nguyên tử (hạt nhỏ hơn nguyên tử, là những thành phần cấu tạo nên nguyên tử) đều là hạt ảo. Tính chất ảo được khẳng định bởi vì không thể tách riêng chúng ra, bắt chúng dừng lại để cho ta quan sát, sờ mó, đo đếm. Chúng chỉ hiện hữu trong mối liên hệ nhân duyên chặt chẽ với nhau và cũng chỉ hiện hữu trong mối quan hệ đối đãi giữa chủ thể và đối tượng. Chủ thể có thể là người quan sát hoặc thiết bị ghi nhận. Nếu không có chủ thể thì một vật ảo như nguyên tử không tồn tại, bởi vì nó không phải là một vật có thật trong thế giới khách quan, nó chỉ tồn tại trong nhận thức của chủ thể. Một vật thể như quả táo cũng không tồn tại nếu không có người nhận thức, hay nói chính xác là nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm thể là một cấu trúc ảo bất khả tri (nói theo nhà triết học Kant). Vì là một cấu trúc ảo tức không có thật, nên nó không cản trở một cấu trúc ảo khác, chẳng hạn cái thùng sắt, như thực nghiệm di chuyển trái táo ra khỏi thùng sắt đóng kín trong đoạn phía dưới của Trương Bảo Thắng.
Nói tóm tắt, tất cả nguyên tố vật chất trên địa cầu đều là cấu trúc ảo, do các hạt ảo là quark u, quark d và electron tạo thành. Chính vì Tâm có giác tánh, nó biết kết hợp các hạt ảo theo nhiều kiểu cấu trúc khác nhau để tạo thành các nguyên tố khác nhau như oxy, hydro, nitro, carbon, sắt, đồng, chì, kẽm v.v…Rồi nó biết kết hợp bốn nguyên tố oxy, hydro, nitro và carbon thành nước và các chất hữu cơ khác. Rồi nó biết tạo thành chất sống, thành tế bào, thành các cơ quan có chức năng chuyên môn trong cơ thể sinh vật như tim, gan, phổi, ruột, xương, thịt, mỡ, máu…để duy trì sự sống cho sinh vật. Rồi nó biết tạo thành các cơ quan để sinh vật có thể liên lạc với thế giới bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, bộ não. Tuyệt tác phẩm mà Tâm tạo ra được là con người có bộ não phát triển, có lý trí, có tình cảm. Sinh vật cũng là một cấu trúc ảo có khả năng phát sinh ra nhất niệm vô minh. Nhiều nhất niệm vô minh khởi lên liên tục tạo thành dòng tâm niệm hay tâm thức, từ đó hình thành cái ta bao gồm thân ngũ uẩn và dòng tâm niệm. Con người trở thành một chủ thể biết tư duy vì nó có ký ức, biết ghi nhớ, biết liên kết những sự kiện riêng lẻ của Sự pháp giới lại thành Lý pháp giới. 

Tóm lại, Tâm bắt đầu bị phân hoá thành chủ thể và đối tượng khi nó hình thành được sinh vật có cơ thể, bắt đầu hình thành cái ta. Rồi cái ta này nhận thức các vật xung quanh thành đối tượng. Khi đã xuất hiện chủ thể và đối tượng thì không gian, thời gian và số lượng cũng đồng thời hình thành. Tâm vô lượng đã phân hoá thành vô số pháp, vô số chúng sinh, vô số vũ trụ, nói chung là Tam giới (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới). Chúng sinh ở cõi Vô sắc thậm chí không còn thân ngũ uẩn mà chỉ còn dòng tâm niệm. Chúng ta đừng lấy làm lạ tại sao chúng sinh không có thân thể mà vẫn là sinh vật, đó là vì tính chất ảo, vì tánh không của pháp giới, nên chúng sinh ở Dục giới tuy có thân thể vật chất nhưng thân thể đó cũng chỉ là ảo mà thôi. Khi đã xuất hiện chủ thể và đối tượng tức đã xuất hiện nhị nguyên, xuất hiện cặp phạm trù mâu thuẫn, xuất hiện sự hạn chế về không gian, thời gian và số lượng. Sự hạn chế này thì chúng ta ai cũng biết. Tuy nhiên tính chất ảo của vật chất thì ít ai biết, ít ai tin. Phật pháp đã nói đến tính chất ảo hoá của vật chất từ hơn 2500 năm nay. Khoa học ngày nay cũng bắt đầu hiểu vật chất thực ra chỉ là tâm thức. Sự ảo hoá được ứng dụng rộng rãi trong máy vi tính đem lại rất nhiều điều kỳ thú cho con người hiện đại. Nhưng giới khoa học vẫn còn hoang mang trong nhận định thế giới vật chất đời thường là ảo, không có thực thể. Các khoa học gia hàng đầu trên thế giới bắt đầu hiểu rằng chỉ có vật ở trong tâm thức, không có vật ở ngoài tâm thức, cho nên trong thực nghiệm khoa học không thể tách riêng chủ thể và đối tượng. Vô hình trung, khoa học cũng đề cập tới lý bất nhị. 

Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism” (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật). 

Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết : “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại).
Khi các nhà khoa học ý thức rằng vật chất không có thực thể, không có thế giới gọi là “khách quan” chỉ có thế giới chủ quan của nhà khoa học, của nhà toán học. Tuy nhiên vì có nhiều nhà khoa học có cùng ý kiến với nhau nên họ “tưởng” rằng khách quan. Cũng vì vậy đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến khủng hoảng của vật lý học. Chẳng hạn : 

David Bohm (nhà vật lý Đại học London) quan niệm rằng thực tại mà chúng ta tiếp xúc hằng ngày chỉ là một loại ảo tưởng giống như một bức tranh toàn ảnh (hologram). Dường như thực tại có hai mức: một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) /implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) /explicate (unfolded). 

Năm 1962, cuốn “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” (Structure of Scientific Revolutions) của Thomas Kuhn , một trong những tác phẩm khoa học được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20, đã đặt dấu chấm hết cho quan điểm thực chứng logic -nền tảng của khoa học hiện đại (chủ yếu của phương Tây). Theo Kuhn, khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên-kỹ thuật, không gắn với bản thể, mà thuần túy là sản phẩm của tư duy con người. Hiện tại đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất trong giới khoa học. Theo ông, không có biện pháp khách quan để đánh giá xem các lý thuyết tiến gần đến sự thật như thế nào. Ông tự nhận mình là một người thuộc trường phái Kant nhưng “với những phạm trù chuyển dịch” (“moveable categories”). Theo Kant, các phạm trù của tư duy là điều kiện tiên quyết cho mọi sự hiểu biết hoặc tri thức. Và, người ta gán cho khoa học là quy luật của tự nhiên (tức là khách quan), nhưng thực chất thì nó chính là sản phẩm của tư duy chủ quan của con người. Kuhn cũng đồng quan điểm đó, nhưng điểm mới của ông là: các phạm trù này luôn thay đổi trong các cuộc cách mạng khoa học. Như vậy, Kuhn cho rằng: khoa học không nhất thiết mang tính hợp lý (rational). 

Gần đây, năm 2002, Stephen Hawking công bố bài giảng “Gödel & The End of Physics” (Gödel & sự kết thúc của vật lý học), thể hiện một sự thay đổi mang tính cách mạng trong nhận thức của ông về “Lý thuyết Cuối cùng” (Final Theory) của vật lý học, khác xa với những gì ông đã trình bầy trong cuốn “Lược sử thời gian” 11 năm trước. 

Sự kết thúc của vật lý học theo Stephen Hawking là vì Kurt Gödel đã chứng minh định lý bất toàn. Vật lý học sẽ không bao giờ đi tới lý thuyết cuối cùng có thể giải thích tất cả mọi sự lý trong vũ trụ, bởi vì luôn luôn có mâu thuẫn phát sinh trong bất cứ hệ thống duy lý nào, dù cho chặt chẽ như toán học hay khoa học máy tính. Mâu thuẫn khiến không bao giờ có được lý thuyết cuối cùng hay lý thuyết giải thích được mọi thứ (Theory Of Everything – TOE). 

Nếu các nhà khoa học chỉ có khả năng lý luận về tính chất chủ quan của vật chất, của khoa học, thì kỳ nhân Trương Bảo Thắng, tuy không có nhiều hiểu biết về khoa học, nhưng lại có khả năng thực nghiệm tính chất ảo tưởng của vật chất. Vì vật chất là ảo nên Trương Bảo Thắng có thể dùng ý niệm để di chuyển một vật đi xuyên qua vật rắn khác, mà cả hai vật đều không hề hấn gì. Hãy xem cuộc biểu diễn của anh. Người chủ trì cuộc biểu diễn là Trương Chấn Hoàn, chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Công nghiệp Quốc phòng Trung Quốc:

Trương Chấn Hoàn 

Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, trang nghiêm, vĩ đại, là nơi hội họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (tức Quốc Hội Trung Quốc) là nơi làm việc của Thường vụ Ủy viên Hội. Các hoạt động trọng đại của cả nước thường được cử hành tại đây. Các vị lãnh đạo Trung ương tiếp kiến khách nước ngoài và hội kiến với những nhân vật quan trọng đều tiến hành tại đây. Phàm những hoạt động được tổ chức tại đây đều có tính chất trọng yếu và quyền uy. Hôm nay, tại đại sảnh đường của Bắc Kinh Nhân Dân Đại Hội Đường, đèn hoa chiếu sáng, các nhà nhiếp ảnh, quay phim, ảo thuật gia, nhiều vị lãnh đạo và rất đông khán giả đều có mặt. Có người đến vì lòng hiếu kỳ, có người mang ánh mắt nghi ngờ, có người mang tâm lý vận động bài trừ, có người mang ánh mắt phủ định…tất cả vây quanh vũ đài, đợi Trương Bảo Thắng biểu diễn. 

Trương Bảo Thắng cảm thấy rằng lần biểu diễn này tại Bắc Kinh không giống lần trước. Lần trước là biểu diễn hội báo, không khí hài hòa, nhưng chỉ là biểu diễn tương đối dễ dàng như thấu thị, dùng mũi nhận chữ. Còn lần này trong điều kiện cực kỳ nghiêm túc để giám định công năng của anh là thực hay giả, huống chi tại hiện trường rất nhiều người đang chuẩn bị “tìm cách phá bĩnh” nữa. Nhiều máy quay phim đặt ở các vị trí trên, dưới, bên phải, bên trái, mọi góc độ, sẵn sàng theo dõi mọi động tác của anh. Không khí thật là khẩn trương . Hạng mục biểu diễn là dùng “ý niệm di chuyển vật” Ngay cả những người tin tưởng sự tồn tại của đặc dị công năng cũng mướt mồ hôi trán thay cho Bảo Thắng, trong lòng suy nghĩ : anh ấy có làm được không ? 

Biểu diễn bắt đầu. Trong một thùng sắt, bỏ vào hai trái táo (apple) vào, đậy nắp, dùng que hàn điện hàn kín. Người chủ trì để cho Trương Bảo Thắng dùng ý niệm lấy trái táo ra. Chỉ thấy anh im lặng, không gây tiếng động, trấn định tự tâm. Mọi con mắt nhìn chăm chăm vào người anh, quan sát nhất cử nhất động của anh. Một phút, hai phút, năm phút rồi mười phút trôi qua, đến khi bức màn trong não của anh xuất hiện một quả táo, anh mới dùng ý niệm mang trái táo đặt ở một góc của vũ đài. Lúc đó trên bức màn nhỏ trong não của anh không còn trái táo. Theo kinh nghiệm của anh, anh tin rằng một trái táo trong thùng sắt đã đi ra ngoài, trái kia vẫn còn trong thùng. Anh nói với mọi người : “một trái táo đã ra ngoài”. Nhiều người không tin, bởi vì họ thấy Trương Bảo Thắng trước sau vẫn đứng cách thùng sắt hơn một mét, anh hoàn toàn không chạm vào thùng sắt, trái táo làm sao ra ngoài được chứ ? Người chủ trì ra lệnh cho người mở nắp thùng sắt, mọi người đều phát hiện thiếu mất một quả táo. Bảo Thắng nói với mọi người, trái táo lấy ra đang nằm ở một góc vũ đài, người ta theo chỉ dẫn của anh, quả thật tìm thấy trái táo. 

Chính lúc mọi người bàn luận sôi nổi, có người khen ngợi, có người hoài nghi, muốn tìm một khuyết điểm nào đó, một vị lãnh đạo thuộc Ban bí thư, nói : “Tôi được lãnh đạo ủy thác đến tham gia trắc nghiệm, cuộc biểu diễn vừa rồi tôi xem không rõ lắm, tôi hi vọng có thể làm một thí nghiệm ngay trên người mình”, tiếp đó ông dùng tay chỉ chiếc huy chương trên ngực mình, nói : “mời Trương Bảo Thắng dùng ý niệm mang nó đi, được không ?” Người chủ trì biết đây là người muốn vạch khuyết điểm, nên hướng về Bảo Thắng nói : “Anh thấy được không ?”. Bảo Thắng gật đầu. Chỉ thấy anh nhìn một chút chiếc huy chương trên ngực ông bí thư, mà không thấy anh đi lại gần ông ta, cự ly giữa hai người khoảng vài mét. Khán giả tại hiện trường có người nhìn ông bí thư, có người nhìn Trương Bảo Thắng, mọi người chờ đợi anh lên tiếng trả lời. Ông bí thư cũng đắc ý chờ đợi Bảo Thắng lên tiếng trả lời “được” hoặc “không được”. Không ngờ Trương Bảo Thắng không trả lời câu hỏi, chỉ nói : “di chuyển rồi”. Ông bí thư như đang mơ chợt tỉnh, vội dùng tay sờ vào trước ngực, nhưng cái huy chương đã biến đâu mất từ lúc nào, ông hoảng hốt tìm kiếm, trên dưới đều không thấy. Trương Bảo Thắng chỉ nói một câu : “huy chương đã ở trên thân người khác rồi” Không ít người lật đật mò tìm túi trên túi dưới của mình. Trong đám đông có người kêu lên : “trên người tôi có một chiếc huy chương, nó làm sao mà đeo vào được ?” Khi chiếc huy chương được chuyền đến tay ông bí thư, ông nhận ra nó ngay, đó chính là chiếc huy chương ông vừa mới đeo trên ngực. Ông bí thư bị á khẩu không nói nên lời. Người tại hiện trường còn chưa hết ý, đều hứng thú vây quanh Trương Bảo Thắng, nhiệt tình hỏi anh về cảm giác và công năng.

Trương Bảo Thắng (giữa) và vợ chồng nhà văn nữ nổi tiếng của Đài Loan, Quỳnh Dao 

Khả năng kỳ lạ của Trương Bảo Thắng được các nhà khoa học Trung Quốc gọi là nhân thể đặc dị công năng. Anh đã biểu diễn rất nhiều lần cho các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Trung Quốc, cho các nhà khoa học, về khả năng di chuyển vật thể bằng ý niệm, khả năng dùng mũi để nhận ra chữ viết trong mảnh giấy được gấp nhỏ bỏ vào phong bì dán kín, khả năng phục nguyên một tấm danh thiếp hay bức hoạ bị nhai nát, xé nát rồi bỏ vào thau nước…anh có thể phục hồi chúng như nguyên trạng, như chưa hề bị nhai nát, xé nát. 

Với khả năng phục nguyên kỳ diệu, anh có khả năng làm cho một người bị xe đụng chết, sống lại, khoẻ mạnh như chưa hề bị đụng xe. Nhưng thực tế anh không làm điều đó, vì nó vi phạm luật nhân quả, vi phạm nghiệp báo. Điều này đã có truyền thống từ ngàn xưa. Mục Kiền Liên là vị đại đệ tử của Đức Phật, có thần thông quảng đại, nhưng vẫn phải tuân theo luật nhân quả, chấp nhận để cho bọn ngoại đạo sát hại bằng cách lăn đá đè chết. Đức Phật cũng có kể câu chuyện về luật nhân quả như sau : 

Lúc Đức Phật Thích Ca chưa ra đời, nơi thành Ca Tỳ La Vệ có một làng chài lưới, trong làng có một hồ lớn chứa nhiều cá. Một năm, gặp lúc hạn hán, hồ khô nước cạn, cá trong hồ đều bị dân trong làng chài bắt hết, trong đó có một con cá thật lớn. Trong làng có một đứa bé không ăn thịt cá, thấy dân làng bắt được cá lớn đặc biệt, vì tính hiếu kỳ nên tiến đến gần, tay cầm cây gỗ gõ lên đầu con cá lớn ba cái. Sau khi Phật Thích Ca chứng đạo, vua nước Ba Tư Nặc rất mến Phật pháp, cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, sinh được một người con là thái tử Lưu Ly. Thuở nhỏ, thái tử Lưu Ly đi học ở thành Ca Tỳ La Vệ, một hôm nghịch ngợm trèo lên tòa của Phật ngồi, bị người trong dòng họ Thích bắt gặp rầy la. Thái tử Lưu Ly vì thế mà để tâm thù hận. Khi thái tử Lưu Ly lên làm vua nước Ba Tư Nặc, vì căm giận dòng họ Thích nên xuất quân vây đánh thành Ca Tỳ La Vệ, bắt dân trong làng định giết hết. Môn đệ của Đức Phật Thích Ca đều cầu xin Phật tìm cách giải cứu dòng họ Thích qua khỏi cơn tai ách. Đức Phật trả lời: 

- Đó là định nghiệp của dòng họ Thích, không thể cứu được. 

Mục Kiền Liên tôn giả, vị đệ tử thần thông đệ nhất của Đức Phật, muốn cứu dân trong thành, tay cầm lấy bát bay lên không trung, dùng sức thần thông thu hết 500 người dòng họ Thích ra khỏi thành. Nhưng khi mở bình bát ra, thấy trên bát đều chứa đầy máu người. Chúng đệ tử hỏi Phật vì nguyên do gì sức thần thông của Mục Kiền Liên không cứu được dòng họ Thích trong thành. Đức Phật đem chuyện chài lưới của thành Ca Tỳ La Vệ bắt cá trong hồ thuật lại cho chúng đệ tử nghe. Phật nói: – Vua Lưu Ly chính là con cá lớn ngày xưa, binh lính đánh thành là những con cá trong hồ bị bắt giết. Những người bị giết trong thành Ca Tỳ La Vệ đều là những người bắt cá, ăn cá trong hồ. Đứa bé gõ vào đầu con cá lớn chính là tiền thân của ta, nên trong lúc vua Lưu Ly dẫn binh đánh thành, ta bị nhức đầu ba ngày. Thần thông cũng không thể thắng được nghiệp. 

Nói cho cùng thì sống chết cũng chỉ là giả tạm, không phải thật, trên đời không có gì là thật cả. Trương Bảo Thắng chỉ biểu diễn nối liền cái đuôi bị cắt rời của con chuột bạch để chứng tỏ khả năng phục nguyên mà thôi. 

Tóm lại, bất nhị trong Phật giáo có hai ý nghĩa cơ bản : bất nhị không phải là hai, cũng không phải là một, mà là không có số lượng. Bất nhị cũng có nghĩa là tuyệt đối, tức không có sự đối đãi giữa chủ thể và đối tượng. Thiền sư kiến tánh, ngộ đạo là cách nói của thế gian. Thật ra không có thiền sư cầu đạo, cũng không có cái tánh hay cái đạo để thấy, để ngộ. Mà chỉ có trở về với Tâm bất nhị vô thuỷ vô chung, không còn thấy có mình hay có tâm gì nữa cả.

Truyền Bình

"DỰNG LẠI NGƯỜI" ? - KHÔNG DỄ !


Nhận được tin nhắn khẩn cấp của Bụt, các nhân vật cổ tích vội vàng có mặt. Thay cho lời giải thích, Bụt chiếu cho tất cả xem cái clip một nữ sinh bị bạn vây đánh bầm dập ngay trong lớp. Mới xem vài giây thì cô Tấm, Bạch Tuyết và Lọ Lem cùng rú lên:
- Dã man quá, chúng em không dám xem nữa! Bộ mấy đứa nhỏ này chưa từng được nghe chuyện cổ tích hay sao mà ác thế?
Bụt bấy giờ mới lên tiếng:
- Chính xác! Do vậy, ta yêu cầu các cô trở lại dưới đó để làm sống dậy thế giới cổ tích, gieo lại mầm thiện trong lũ trẻ!
Mọi người hăm hở định đi liền thì Bụt ngăn lại:
- Khoan! Vì dưới đó bây giờ rất khác xưa nên trước khi đi các cô phải nằm lòng ba điều. Thứ nhất: không ăn quà vặt nếu chưa biết thực phẩm có sạch hay không, còn nếu đã lỡ uống phải chai nước có ruồi thì...
Bạch Tuyết lanh chanh:
- Kiện nhà sản xuất!
- Bậy! Phải nuốt luôn con ruồi vì nếu kiện có thể bị bỏ tù! Thứ hai: luôn chấp hành luật giao thông nhưng trước khi dừng đèn đỏ phải xem sau lưng có xe nào định vượt không, và trong trường hợp bị va quẹt giữa đường thì...


Lọ Lem cướp lời:
- Yêu cầu giữ nguyên hiện trường chờ công an phân giải?
- Bậy nữa! Phải coi như không có gì vì chỉ cần cự cãi một tiếng là có thể bị lụi ngay tại chỗ! Thứ ba: nếu các cô bị trai lạ chọc ghẹo thì...
Náng Tấm thỏ thẻ:
- Em biết nè: để giữ vững danh hiệu thảo hiền, nếu bị ghẹo chỉ nên lườm lại một cái!


Bụt thở dài:
- Liều thế! Đã có không ít trường hợp nữ sinh bị lột truồng đánh hội đồng vì bị kết cho cái tội “nhìn đểu”, “chảnh”! Tóm lại...
Bụt nói đến đây thì phát hiện xung quanh chẳng còn ai:
- Ủa ủa, tất cả biến đâu rồi? Bớ Tuyết, bớ Lem, bớ Tấm! Đồ chết nhát!
Người già chuyện
(Sưu tầm trên mạng)

10 THIÊN TÌNH SỬ NỔI TIẾNG NHẤT TRÊN THẾ GIỚI

Những câu chuyện tình yêu cảm động, dù có thật hay chỉ trong văn thơ, đều mang lại rất nhiều cảm xúc và lấy đi không ít nước mắt của người đời.

1. Layla và Majnun

Bài thơ lãng mạn “Layla và Majnun” là một câu chuyện cổ tích về mối tình bi thương của hai người yêu nhau nhưng không đến được với nhau vì bị gia đình ngăn cản. Đau khổ vì bị gia đình hai bên ngăn cấm, Majnun đã tự đày đọa bản thân, sống giữa một bầy thú trong sa mạc. Majnun không thiết ăn uống gì và anh ngày càng trở nên héo mòn, ốm yếu. Mặc dù hai người đã chết nhưng tình yêu của họ vẫn còn sống mãi cho đến ngày hôm nay.


Chuyện tình của Layla và Majnun được lấy cảm hứng từ một huyền thoại Ả rập cổ đại, sau đó đã lan tỏa và trở nên phổ biến trong tài liệu văn học của nhà thơ Azebaijan Nizami Ganjavi. Câu chuyện này được dịch sang nhiều thứ tiếng.

2. Romeo và Juliet

Romeo và Juiet có lẽ là câu chuyện tình nổi tiếng nhất thế giới được viết bởi William Shakespeare vào khoảng 1594- 1595, dựa trên một cốt truyện có sẵn kể về một mối tình oan trái vốn là câu chuyện có thật, từng xảy ra ở Italy thời Trung Cổ.


Romeo- con trai họ Matague và Juliet-con gái họ Capulet yêu nhau say đắm ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tuy nhiên, giữa hai bên gia đình lại có mối thù sâu đậm. Romeo đã đâm chết Tybalt- anh họ của Juliet để trả thù cho bạn. Vì tội giết người, Romeo bị trục xuất khỏi Verona và đi đày biệt xứ. Tưởng rằng mối tình của Romeo và Juliet bị tan vỡ khi Juliet bị cha mẹ ép gả cho bá tước Paris nhưng Juliet đã cầu cứu sự giúp đỡ của tu sĩ Laurence.

Vị tu sĩ cho nàng uống một liều thuốc ngủ, uống vào sẽ như người đã chết và có tác dụng trong 24 tiếng. Tu sĩ sẽ báo cho Romeo đến hầm mộ cứu nàng trốn khỏi thành Verona. Theo đúng kế hoạch, đám cưới giữa Juliet và Paris trở thành đám tang. Xác Juliet được đưa xuống hầm mộ. Trớ trêu thay, tu sĩ chưa kịp báo cho Romeo về kế hoạch của họ thì từ chỗ bị lưu đày, sau khi nghe tin Juliet chết, Romeo đau đớn trốn về Verona. Trên đường về, Romeo đã mua một liều thuốc cực độc và tới chỗ Juliet. Romeo đã đâm chết Paris và uống thuốc tự vẫn theo người yêu. Đúng lúc đó, Juliet tỉnh dậy, phát hiện xác Romeo bên cạnh, nàng bèn rút dao tự vẫn. Cái chết bi thảm của đôi tình nhân đã thức tỉnh hai dòng họ và xóa đi mối thù truyền kiếp giữa hai bên.

Cốt truyện "Romeo và Juliet" dựa trên tác phẩm “Chuyện tình bi thương của Romeus và Juliet” của tác giả Arthur Brooke sáng tác năm 1562.

3. Antony và Cleopatra

Mối tình giữa Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra và vị tướng La Mã Mark Antony là một trong những câu chuyện tình yêu đáng nhớ nhất, gây xúc động và say đắm lòng người nhất mọi thời đại. Họ yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Tuy nhiên, tình yêu của họ đã khiến người La Mã- đế quốc đang dè chừng uy quyền ngày càng mạnh của Ai Cập- trở nên phẫn nộ. Bất chấp mọi đe dọa, Cleopatra và Antony đã tổ chức lễ cưới. Người ta nói rằng, trong khi đang tham gia một trận chiến chống lại người La Mã, Antony nhận được thông tin giả về cái chết của người yêu, đã sụp đổ và ngã quỵ trên thanh kiếm của mình.



Khi Cleopatra biết về cái chết của Antony, bà bị sốc và sau đó đã uống thuốc độc tự kết liễu cuộc đời mình, nghĩ rằng như vậy sẽ có thể gặp lại Antony ở thế giới bên kia. Hai người hầu của Cleopatra là Iras và Charmian cũng tự vẫn theo chủ nhân.

William Shakespeare là tác giả của chuyện tình bi thương này, cốt truyện dựa trên bản dịch tác phẩm "Cuộc đời các danh nhân Hy Lạp và La Mã" của Thomas North.

4. Tristan và Iseult

Đây là câu chuyện tình bi thương giữa một hiệp sĩ Tristan và công chúa Iceland Iseult. Câu chuyện dựa trên một huyền thoại của người Celt, trở nên nổi tiếng suốt thế kỷ 12 trong văn thơ Pháp thời trung cổ.

Câu chuyện có nhiều bản dịch khác nhau nhưng hầu hết đều có chung một nội dung. Hiệp sĩ Tristan mang sứ mệnh tìm đường qua Ái Nhĩ Lan (Ireland ngày nay) để ngỏ lời cầu hôn câu công chúa Iseult cho chú của chàng là vua Mark. Tuy nhiên, hoàng hậu Ái Nhĩ Lan sợ rằng con gái mình không yêu vua Mark nên làm một thứ rượu bùa để hai người uống trong hôn lễ. Nhưng trên đường về xứ Cornwall, Tristan và Iseult uống nhầm rượu ấy nên phải lòng nhau. Vì mắc bùa, họ yêu nhau bất chấp tất cả nhưng vẫn trung thành với vua Mark. Sau khi biết chuyện, vua Mark nổi giận đã bắt nhốt Iseult và ra lệnh xử tử Tristan. Nhờ sự giúp sức của nhiều người Tristan và Iseult chạy trốn vào rừng của xứ Morrouis.


Sau này, mặc dù được vua Mark tha thứ, Tristan đã quyết định trả Iseult cho vua và cưới quận chúa Iseult làm vợ. Trong một lần đấu kiếm danh dự, Tristan bị trong thương và đã sai gia nhân rước Iseult về vì chàng biết rằng chỉ có Iseult mới giúp chàng hồi phục. Chàng dặn gia nhân nếu Iseult còn yêu chàng và đồng ý đến thì khi thuyền vào cửa biển hãy căng buồm màu trắng còn không thì căng buồm màu đen. Quận chúa Iseult biết được bí mật này, lòng ghen nổi nên, bà đã vạch ra âm mưu phá vỡ kế hoạch của Tristan. Khi thuyền của Iseult cặp bến, quận chúa đến bên giường chồng và nói chiếc buồm căng màu đen. Nghe vậy, Tristan tuyệt vọng, quay mặt vào tường và chết tức tưởi. Iseult đến nơi, thấy chàng đã chết, nàng đau đớn lao đến ôm chàng rồi tắt thở. Sau đó, hai người được chôn cất cùng nhau và trên mộ của họ mọc lên hai thân cây đan chặt vào nhau.

5. Paris và Helen

Câu chuyện về Helen của thành Troy và cuộc chiến thành Troy là một thiên anh hùng ca của người Hy Lạp, kết hợp sự thật với trí tưởng tượng.


Helen kết hôn với Menelaus- vua của xứ Sparta. Tuy nhiên, con trai vua Priam của thành Troy là Paris lại đem lòng yêu say đắm Helen. Được nữ thần Aphrodite giúp đỡ, Paris đã chiếm được trái tim Helen và Helen đã trốn theo Paris. Tuy nhiên, anh trai của Vua Menelaus đã chỉ huy quân đội nhằm cướp đoạt lại Helen. Thành Troy bị hủy diệt và Helen quay về Sparta an toàn và sống với Menelaus suốt phần đời còn lại.

6. Shah Jahan và Mumtaz Mahal

Năm 1612, Arjumand Banu kết hôn với hoàng đế Shah Jahan của đế chế Mughal. Sau khi kết hôn, cô đổi tên thành Mumtaz Mahal. Cuộc hôn nhân của hai người vô cùng hạnh phúc. Sau khi hoàng hậu Mumtaz qua đời năm 1631 do gặp biến chứng khi hạ sinh người con thứ 14, hoàng đế Shah Jahan vô cùng đau khổ và quyết tâm xây dựng một công trình tưởng niệm kỳ vĩ nhất thế giới, đó chính là đền Taj Mahal, để tưởng nhớ đến người vợ yêu dấu của mình.


Sau gần 20 năm, 20 nghìn nhân công và 1 nghìn con voi đã được huy động mới hoàn thiện ngôi đền Taj Mahal. Tuy nhiên, Shah sau đó đổ bệnh và bị con trai đầu chiếm ngôi báu. Phần đời còn lại ông bị quản thúc tại gia và sau khi chết ông được chôn cạnh người vợ yêu dấu trong đền Taj Mahal.

7. Orpheus và Eurydice

Mối tình giữa Orpheus và Eurydice là một câu chuyện của người Hy Lạp cổ về tình yêu tuyệt vọng. Orpheus đã cưới Eurydice- một nữ thần xinh đẹp làm vợ và họ sống với nhau rất hạnh phúc.


Tuy nhiên, Aristaeus, một vị thần đất đai và nông nghiệp, cũng đem lòng yêu mến Eurydice và quyết tâm theo đuổi nàng. Một ngày nọ, khi chạy trốn khỏi Aristaeus, Eurydice đã chạy vào một tổ rắn và bị một con rắn độc cắn vào chân. Eurydice qua đời. Orpheus vì quá yêu vợ nên đã xuống âm phủ cầu xin Hades và Persephone cho Eurydice được sống lại. Orpheus đã dùng tiếng đàn của mình làm lay động trái tim lạnh giá của chúa tể địa ngục Hades và Persephone. Họ đồng ý trả Eurydice lại cho anh với điều kiện chỉ khi hai người lên đến dương gian, Orpheus mới được quay lại nhìn mặt người vợ yêu dấu của mình.

8. Napoleon và Josephine

Napoleon là một nhà quân sự và nhà chính trị kiệt xuất người Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu. Josephine là một góa phụ. Sau nhiều cuộc tình với các chính trị gia khác, bà quyết định kết hôn với hoàng đế Napoleon và trở thành Hoàng hậu Pháp đầu tiên.


Mối tình giữa Napoleon và Josephine, người lớn hơn ông 6 tuổi và đã có hai con riêng, gây sóng gió ngay từ đầu. Chỉ hai ngày sau khi kết hôn, Napoleon phải tới một chiến dịch quân sự ở Italy. Josephine vẫn ở lại Paris và ngoại tình với trung úy Hippolyte Charles. Napoleon rất tức giận khi phát hiện ra chuyện ngoại tình của vợ và ông cũng bắt đầu “qua lại” với người phụ nữ khác. Mặc dù vậy, tình yêu của Napoleon dành cho Josephine không hề thay đổi. Vì Josephine không thể sinh con cho mình, Napoleon đã quyết định ly dị bà vào năm 1809 và cưới Marie-Louise, người sau này sinh cho ông một đứa con thừa tự mong đợi từ lâu. Mặc dù biết người vợ cũ không chung thủy nhưng trước khi chết, Napoleon được cho là đã nói những từ cuối cùng có liên quan đến mối tình si mà ông dành cho Josephine: “Pháp, quân đội, người đứng đầu quân đội, Josephine”.

9. Heloise và Abelard

Chuyện tình giữa chàng giáo sĩ Pierre Abelard và nữ tu Heloise ở nước Pháp thế kỷ 12 là câu chuyện có thật với mức độ mãnh liệt và sự bi đát không thua gì Romeo và Juliet.

Peter Abelard gặp Heloise lần đầu tiên khi chàng đã 36 tuổi còn nàng mới bước sang tuổi 16. Khi đó, Abelard là một nhà triết gia, một nhà thần học lừng danh và một giáo sư xuất sắc ở Paris còn Heloise là cháu ruột của Fulbert- một giáo sĩ có chức sắc, giàu có và thế lực. Họ đã nảy sinh tình yêu nồng cháy khi Abelard đến làm gia sư cho Heloise.


Mối tình này nhanh chóng bị phát hiện và Fulbert đã lập tức tìm cách chia rẽ hai người. Tuy nhiên, chính lúc đó, Heloise phát hiện đã mang thai. Lo sợ, họ chạy trốn tới Brittany và bí mật kết hôn. Nhưng Fulbert vẫn vô cùng tức giận nên Abelard đã phải gửi nàng tới một tu viện. Cho rằng Abelard muốn bỏ rơi cháu mình, Fulbert đã sai người đến thiến Abelard khi chàng đang ngủ say. Từ đó, Abelard trở thành một thầy tu thực sự và chuyên tâm nghiên cứu triết gia. Heloise cũng nguyện ở vậy. Nàng phủ khăn đen lên đầu và trở thành một nữ tu cùng dòng với Abelard.

Sau này, họ không bao giờ gặp lại nhau nhưng vẫn gửi cho nhau những bức thư chan chứa tình thương và nỗi nhớ.

10. Anarkali và Salim

Thiên tình sử Salim và Anarkali trở thành một chuyện tình yêu nổi tiếng. Salim là con trai của Hoàng đế Mughal vĩ đại Akbar. Anh đã đem lòng yêu say đắm cô gái lầu xanh Anarkali. Tuy nhiên, hoàng đế Akbar không chấp nhận và yêu cầu con trai từ bỏ tình yêu với Anarkali. Nhưng Salim đã vì người con gái mình yêu mà chống đối lại vua cha để rồi bị khép vào tội chết. Để cứu sống người yêu, Anarkali tuyên bố không yêu Salim và cô đã bị chôn sống ngay trước mắt hoàng tử Salim.


(Sưu tầm trên mạng)

Friday, January 4, 2019

RONG NHO BIỂN

Rong nho biển là một trong những loài rong biển quý hiếm rất giàu chất dinh dưỡng, được xem là một trong những thần dược chống lại tuổi già và bệnh tật. Từ lâu rong nho biển đã được sử dụng phổ biến như một loại rau ăn chứa nhiều dinh dưỡng ở các nước tiên tiến. Biển Nha Trang là một vùng biển đạt chuẩn để trồng thành công loại rong biển này.


Còn được gọi là trứng cá Hồi xanh (green caviar) hay nho biển (sea grapes) có thể dùng như một loại rau cao cấp. Rong nho rất được ưa chuộng và sử dụng trong các món salad tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Philippine…Rong nho là một loại tảo biển, được phân bố tự nhiên tại khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới.


Là một loài rong biển quý, hiếm và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Nhật gọi là umibudou (nho biển) bởi hình dáng đặc biệt của nó. Ngoài màu sắc và hình, rong dáng đẹp mắt nho còn chứa rất nhiều dưỡng chất nên được xem là một loại thực phẩm, dược phẩm quý và tốt cho sức khỏe.


Công dụng của Rong nho biển

Rong nho biển là nguồn thực phẩm có giá trị và cung cấp nhiều vitamin A,C và các nguyên tố vi lượng như sắt, iod, calcium….


Chính vì vậy mà rong nho có rất nhiều tác dụng như: phòng chống các bệnh như : bướu cổ , thiếu máu, suy dinh dưỡng, thấp khớp và cao huyết áp,.. Giúp nhuận trường, kháng khuẩn đường ruột, hấp thụ các kim loại độc hại trong cơ thể và thải qua ngoài qua đường bài tiết.


Đặc biệt hiện nay người ta sử dụng rong nho như 1 loại mỹ phẩm tự nhiên làm đẹp da, hoặc làm nguyên liệu massage toàn thân, Chất Cauleparine có trong rong biển kích thích ăn uống ngon miệng, có tác dụng diệt khuẩn và gây tê nhẹ giúp bảo vệ đường tiêu hóa, làm sạch các lỗ chân long và bề mặt da, chống lão hóa, chống béo phì,.. …


Từ rong nho biển có thể chế biến thành nhiều món ăn dinh dưỡng cao

Rong nho có vị chua thanh nhẹ, giòn, khi ăn có thể nghe tiếng lốp bốp của từng trái “nho biển” trong miệng, khá thú vị.


Từ rong nho, người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn như gỏi rong nho, nước ép rong nho; nhưng có lẽ đơn giản và phổ biến nhất là món rong nho tươi, thưởng thức như một loại rau sống.


Nước ép rong nho

Rong nho tươi được sử dụng phổ biến trong các món ăn gia đình Việt Nam như là các món ăn kiểu Nhật khác như Wasabi, ăn hải sản sống.





Rong tươi hay rong khô đều tốt như nhau. Rong tươi chỉ sử dụng trong 10-12 ngày (không được cất tủ lạnh), còn rong khô thì để được lâu vì đã qua phương pháp sấy lạnh, do đó rong khô có tính tiện lợi hơn.

Nguồn: Viet Sense Travel

5 NƯỚC CÓ NHIỀU PHỤ NỮ ĐẸP NHẤT CHÂU Á

Mới đây, cư dân mạng Đài Loan vừa đưa ra danh sách 5 nước có nhiều phụ nữ đẹp nhất châu Á. Thật bất ngờ khi các người đẹp Việt Nam đều được xếp ở vị trí cao.

Theo cư dân mạng Đài Loan một cô gái xinh đẹp luôn giữ được vẻ đẹp tự nhiên, thuần khiến và không quá cầu kỳ. Và đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để họ đưa ra danh sách những đất nước có mỹ nữ đẹp nhất dưới đây:

Vị trí thứ nhất: Ấn Độ


Phụ nữ Ấn Độ có một “nét hấp dẫn của phương Tây bên dưới làn da rám nắng của phương Đông”, cùng với đó là đôi mắt sâu như hút hết ánh nhìn người đối diện.

Phụ nữ Ấn Độ ngoài nét thanh tú trên khuôn mặt còn phải nói đến sự duyên dáng, quyến rũ thể hiện qua từng điệu múa truyền thống.

Vị trí thứ hai: Việt Nam


Những cô gái người Việt Nam được người dân xứ Đài đánh giá là có vẻ đẹp tự nhiên, trong sáng ít trang điểm và rất dễ thương.

Đặc biệt là nụ cười tươi rói, sự dịu dàng và thân thiện với mọi người.

Vị trí thứ ba: Những cô gái đến từ xứ sở chùa vàng Thái Lan


Những cô gái đến từ xứ sở chùa Vàng có nét đặc trưng rất riêng: Lông mày rậm, đôi mắt sắc sảo và chiếc mũi cao, nhiều cô nàng lại còn sở hữu những đường nét lai hòa quyện Á – Âu nổi bật và cuốn hút.

Đây cũng chính là lý do khiến mọi người chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể khẳng định luôn “cô ấy chắc chắn là gái Thái”. Nhiều người thực sự đã bị cuốn hút bởi gương mặt rất đặc trưng đó.

Vẻ đẹp trong trẻo và mong manh của các cô gái Thái khiến nhiều người xao xuyến.

Vị trí thứ tư: Những cô gái đến từ Trung Đông


Những cô gái Trung Đông có nét đẹp say đắm lòng người. Họ mang những nét đẹp giao thoa của những cư dân da trắng và da vàng từ hàng ngàn năm trước.

Các cô gái nơi đây được biết đến với đôi gò má cao, khuôn mặt hài hòa cân xứng với bờ môi căng mọng và sống mũi dọc dừa thẳng tắp.

Vị trí thứ năm: Những cô gái dân tộc Duy Ngô Nhĩ vùng Tân Cương, Trung Quốc.


Duy Ngô Nhĩ là một dân tộc Trung Á sống chủ yếu ở khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc.

Theo dân mạng đánh giá, những cô gái dân tộc Duy Ngô Nhĩ có nước da trắng, gương mặt thanh tú, đôi mắt to và sâu, lông mày dài và rậm, sống mũi cao thẳng và dáng người cao ráo “rất Tây”.

Phương Vy

TIẾN VÀ DỪNG

Một ngày nọ tôi có việc gấp phải lên núi Dương Minh, liền gọi một chiếc xe taxi ngồi vào, nào ngờ người tài xế nghe nói tôi lên núi Dương Minh lập tức dừng ngay xe lại. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Tại sao anh lại dừng xe lại? Không muốn đi sao?”.

“Xin lỗi! Thưa ông! Tôi chỉ muốn kiểm tra xe một chút, xong ngay lập tức”. Người tài xế cười nói.

Đợi người tài xế kiểm tra xe xong, tôi hỏi như đùa giỡn: “Vừa rồi anh kiểm tra cái gì? Có phải sợ xe lên núi không nổi phải không?”.

“Tôi kiểm tra hệ thống phanh xe, nếu khi xuống núi mới phát hiện thắng xe không nhạy, há chẳng phải đã trễ rồi sao? Vì vậy tôi không sợ không có sức đi, mà chỉ sợ không có sức dừng”.

(Sưu tầm trên mạng)

CÁ THÒI LÒI – ĂN RỒI CÒN NHỚ!

Những người sống vùng ven biển hoặc gần bãi bùn sông rạch nước mặn quanh năm không lạ gì loài cá sống riêng lẻ, chịu ảnh hưởng thủy triều, trông giống cá bống sao, nhưng lớn và dữ tợn hơn. Đó là cá thòi lòi biển, sống và làm hang trong bùn, có nhiều ở Gò Công, Cần Giờ, Cà Mau… Bờ kinh, sông rạch cũng có giống thòi lòi như vậy, nhưng nhỏ hơn, thịt rất tanh.


Hang thòi lòi biển nhiều ngách thông nhau nơi lùm bụi hiểm hóc và sâu gần 2 mét, rất khó săn bắt bằng tay. Chúng có đầu hình trụ, hai mắt lồi quan sát được nhiều hướng, răng hàm trên xếp hai hàng, hàm dưới một hàng. Thòi lòi biển to gần bằng cổ tay, chiều dài trung bình 2 tấc, ăn mồi sống như: còng, nha, cá tôm nhỏ. Thòi lòi rất hiếu động, có thể lặn trong nước 5, 10 phút rồi trồi lên di chuyển nhanh trên mặt nước, bùn lầy; đôi khi phóng lên cành cây, rễ cây vắt vẻo. Giống cá hình thù xấu xí, hai mắt thô lố, nhưng thịt rất thơm ngon nếu biết cách chế biến. Người ta có nhiều cách bắt thòi lòi, tùy thuộc thói quen, tập quán địa phương.


Thòi lòi xuất hiện nhiều khi triều xuống, rượt bắt bằng tay thì không ăn thua vì chúng phóng chạy xuống hang hoặc lặn dưới nước cực nhanh. Có người chờ nước cạn, cá vào hang, ém kín các ngách phụ rồi cắm que cây trước miệng hang, căng tấm lưới nhỏ. Nước lớn, cá trồi ra mắc lưới, người đặt bẫy thăm và gỡ cá các nơi đã làm dấu.

Nhiều năm trước, tôi qua cù lao chơi vài ngày ở các ấp Bà Từ, Cây Duối, Pháo Đài… (nay thuộc huyện Tân Phú Đông – Tiền Giang) thấy người dân dùng xà di làm bằng lá dừa nước, kết thành miệng phễu hễ chui vào không ra được để bắt cá thòi lòi. Kinh nghiệm nhiều, họ đặt bẫy chính xác và bắt được nhiều cá thòi lòi xỏ xâu, bán tính từng chục tùy lớn nhỏ, giá khá rẻ. Tập tính chúng hiếu chiến, khi nhốt chung phải may miệng hay chọc mù mắt để tránh tình trạng đánh nhau. Nghe nói bây giờ có nơi dùng chai nhựa thay xà di, tuy tiện dụng nhưng hình như làm mất đi tính truyền thống ngày xưa của công cụ lá dừa nước. Theo tôi, cũng chưa chắc điều mới này hay hơn.

(Ảnh qua vntrip.vn)

Soi cá thòi lòi vào ban đêm, dùng đèn sáng rọi ngay mắt, bị chói đành nằm chịu bắt giống như loài ếch nhái. Nghe kể, người ta còn câu thòi lòi mà chẳng cần dùng lưỡi câu. Bắt trùn, tuột hết ruột, lấy cọng lá dừa xỏ thành khoanh tròn, cột vào dây câu. Chuẩn bị thêm cái thau lớn, rắc tro hoặc cám khô sẵn. Nước ròng, bãi bùn lộ ra, thòi lòi chạy nhảy cùng khắp. Nhử cho cá cắn vào mồi, nhè nhẹ giật lên và khéo léo làm sao cho cá rơi vào thau để gần đó. Thòi lòi dính tro, cám mất sự linh hoạt, nằm chịu trận. Nói thì dễ, thực hiện mới khó. Có người giật cá mươi lần chỉ dính được… một. Cá mang về nhà, phải người biết cách chế biến món ăn mới ngon.

Cá thòi lòi không mỡ, nhưng thịt hơi tanh, phải chà nhớt kỹ. Tuy vậy, lúc cá chín có để nguội lại không có mùi tanh. Làm cá chỗ sàn nước phải cẩn thận, cá lột da thịt đỏ hỏn rồi, sơ sẩy nó vẫn quẫy xuống nước lúc lắc trôi mất. Cá sạch, ướp tương, gừng, thịt ba rọi, muối, đường, tiêu… để một lúc cho thấm. Kho bằng nồi đất, lửa riu riu, hâm hai, ba lần cá săn thịt thấm cùng gia vị, nước mỡ càng ngon. So sánh độ thơm ngon không thua kém bống cát, bống tượng. Ăn cơm kèm dưa leo, rau sống thật khoái khẩu.

(Ảnh qua kienthuc.net.vn)

Thịt cá thòi lòi tính hiền, nhiều dưỡng chất, phụ nữ sau sinh con ăn món kho tiêu rất tốt. Hoặc làm món chiên, nấu cháo, tẩm gia vị phơi nắng dốt dốt nướng… cũng chẳng ai chê. Ở miệt Cần Giờ, Lý Nhơn… cá thòi lòi bắt nhiều ăn không hết, người ta xẻ ướp mặn, phơi khô, nướng… uống nước trà nhấm nháp thú vị. Ăn kiểu dã chiến thì dùng thanh tre, trúc xiên cá nướng than, phết ít mỡ heo lên da cá, thịt thơm, mềm, chấm muối ớt. Hoặc lột da, hấp cách thủy, cuốn bánh tráng, rau sống, chấm nước mắm me chín. Những món này là mồi nhắm rượu kiểu đồng quê, thôn dã.

Người làm nghề muối, câu cua, cưa củi vùng rừng bụi, hay làm gỏi cá thòi lòi. Vào mùa mưa, dây lá lìm kìm xanh non mọc chằng chịt nhiều, vị chua, chát, mặn vừa phải của lá trộn cá nướng gỡ xương, chấm nước mắm ngon thật tuyệt. Muốn ăn món nóng thì làm lẩu chua cá thòi lòi. Cá làm sạch để nguyên con nấu với me, xoài hoặc khế chua, bắp chuối, đậu rồng, đậu bắp, cà, rau quế, om, ngò gai, ớt… Thịt cá ngọt, mềm hòa quyện các loại rau thích hợp cho cái lẩu ngon lành…


Cá thòi lòi nhìn vẻ ngoài không đẹp, nhưng hoạt động sinh tồn mạnh mẽ, thích ứng địa hình trên cạn, dưới nước và nhất là góp phần dinh dưỡng không nhỏ vào bữa cơm gia đình vùng quê xa. Mỗi nơi có cách chế biến riêng, nói chung vẫn là “Cá thòi lòi – ăn rồi còn nhớ!”

Nguyễn Kim