Thursday, January 3, 2019

NGUYÊN LÝ HOA THỦY TIÊN VÀNG

“Nguyên lý hoa thủy tiên vàng” và bài học về lòng kiên trì

Vài lần, con gái tôi gọi điện và nói: “Mẹ, mẹ phải đến xem những bông thuỷ tiên vàng trước khi chúng tàn”. Tôi rất muốn đi, nhưng đó là một quãng đường 2 giờ đồng hồ lái xe từ Laguna đến hồ Arrowhead.



“Mẹ sẽ đến vào thứ Ba tới”. Tôi hứa, một cách bất đắc dĩ, vào cuộc gọi lần thứ ba của nó.

Thứ Ba kế đó là một ngày mưa ảm đạm và lạnh lẽo. Nhưng vì đã hứa nên tôi phải đi. Khi cuối cùng tôi cũng đến được nhà Carolyn, ôm hôn và chào những đứa cháu của mình, tôi nói: “Hãy quên những bông thuỷ tiên đi, Carolyn! Đường đầy mây và sương không thể nhìn thấy gì, và không có gì trên thế giới này trừ con và những đứa trẻ có thể khiến mẹ chịu đựng nó để lái xe thêm một inch nào nữa!”

Con gái tôi mỉm cười và nói: “Chúng ta vẫn lái xe trong tình trạng này được mà mẹ”.

“Con sẽ không thể khiến mẹ bước ra đường cho đến khi trời quang đãng trở lại, và đó là khi mẹ về nhà!”, tôi kiên quyết.

“Con đã hy vọng mẹ sẽ đưa con ra chỗ sửa để lấy xe của con”.

“Chúng ta sẽ phải đi bao xa?”

“Chỉ qua mấy toà nhà là đến”,
Carolyn nói, “Con sẽ lái xe”.


Sau vài phút, tôi hỏi: “ Chúng ta đang đi đâu đây? Đây không phải là đường đến gara!”

“Chúng ta đang đi đến gara, chỉ có điều bằng con đường dài hơn thôi”, Carolyn mỉm cười, “Bằng con đường hoa thuỷ tiên vàng”.

“Carolyn”, tôi nói nghiêm khắc, “Quay xe lại đi”.

“Thôi nào mẹ, mọi việc sẽ ổn thôi, con hứa. Mẹ sẽ không bao giờ tha thứ cho mình nếu mẹ để lỡ mất cảnh tượng này đâu”.

Sau khoảng 20 phút, chúng tôi rẽ vào một con đường sỏi và tôi thấy một nhà thờ nhỏ. Ở bên phía xa của nhà thờ, tôi thấy một tấm biển viết tay: “Vườn hoa thuỷ tiên vàng”.

Chúng tôi ra khỏi xe và dắt theo những đứa trẻ, tôi theo Carolyn đi xuống con đường mòn. Rồi chúng tôi rẽ vào một góc của con đường, và tôi nhìn lên, sững sờ.


Trước mắt tôi là một cảnh tượng kỳ diệu. Nó giống như có ai đó đã trút cả một thùng to toàn vàng trải từ trên đỉnh núi xuống vậy. Những bông hoa được trồng theo những vòng xoáy rực rỡ, những dải màu da cam, trắng, vàng chanh, hồng cam, vàng nghệ và vàng bơ. Mỗi màu khác nhau được trồng thành từng nhóm, hoà quyện và chảy như dòng sông màu của riêng chúng. Có hơn 20 ngàn mét vuông hoa được trồng ở đó.

“Nhưng ai đã làm điều này?”, tôi hỏi Carolyn.

“Chỉ một người phụ nữ mẹ ạ”, Carolyn trả lời. “Bà ấy sống trên mảnh đất này. Kia là nhà bà”.

Carolyn chỉ vào một ngôi nhà có hàng rào, trông nhỏ nhắn và khiêm nhường giữa khung cảnh tráng lệ xung quanh. Chúng tôi đi bộ lên chỗ đó. Ngoài hiên nhà, chúng thôi thấy một tấm biển: “Câu trả lời cho những câu hỏi mà tôi biết bạn đang thắc mắc”.

Câu trả lời đầu tiên rất đơn giản: “50.000 củ”. Câu thứ hai là: “Mỗi lần một củ, bởi một người phụ nữ. Hai bàn tay, hai chân, và một bộ não rất nhỏ bé”. Câu trả lời thứ ba là: “Bắt đầu năm 1958”.

Đó là “nguyên lý hoa thuỷ tiên vàng”. Với tôi, khoảnh khắc đó đã thay đổi cuộc đời tôi. Tôi nghĩ về người phụ nữ đó, người mà tôi chưa bao giờ gặp, trên 40 năm trước đã bắt đầu – mỗi lần một củ – để mang cái đẹp và niềm vui đến vùng núi hẻo lánh xa xôi này.


Chỉ trồng từng củ một, năm này qua năm khác, nhưng bà đã thay đổi thế giới. Người phụ nữ không quen biết đó đã mãi mãi thay đổi thế giới bà ấy đang sống. Bà ấy đã tạo ra một điều không thể miêu tả được thành lời, nguy nga, tráng lệ, kỳ diệu.

Nguyên lý mà vườn hoa của bà đã dạy tôi là một trong những nguyên lý tuyệt vời nhất. Đó là, học để đạt được mục đích và mong muốn của mình từng bước một – thường chỉ là từng bước nhỏ – và học để yêu công việc mình đang làm, học để sử dụng những khoảng thời gian nhỏ bé.

Khi chúng ta góp nhặt những mảnh nhỏ bé ấy với những nỗ lực hàng ngày, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình cũng có thể đạt được những kết quả tuyệt vời. Chúng ta có thể thay đổi thế giới.

“Nó làm mẹ hơi buồn”, tôi thú nhận với Carolyn. “Nếu mẹ nghĩ tới một mục tiêu từ 35 hay 40 năm trước và thực hiện nó từng bước một trong suốt những năm qua thì mẹ đã đạt được những gì? Hãy nghĩ đến những gì mà mẹ đã có thể thực hiện!”

“Vậy mẹ hãy bắt đầu từ ngày mai” – Con gái tôi nói.


Thật là vô ích khi cứ nghĩ đến thời gian đã trôi qua trong quá khứ. Cách để học được từ bài học này là, thay vì nuối tiếc khoảng thời gian đã mất, hãy hỏi: “Mình có thể vận dụng nó như thế nào cho ngày hôm nay?”

(Sưu tầm trên mạng)

THỊ TRẤN KỲ LẠ CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI SỐNG Ở MỸ


Giữa thinh không

Cách năm dặm từ đường biên giáp với tiểu bang Nam Dakota, nằm về phía bắc xa xôi của bang Nebraska, Hoa Kỳ, con đường đất dài, bụi bặm cắt ngang qua đồng cỏ và đồng lúa mì vàng ươm chạy về thị trấn Monowi. Ở nơi đây, bạn chỉ cần trèo lên một cuộn cỏ khô là đã có thể nhìn thấy toàn cảnh.

Trong nhà thờ bỏ hoang, nơi những hàng ghế trống giờ đây để lốp máy kéo, đối diện là khung nhà han rỉ của một kho thóc cũ. Cỏ dại và cỏ lông mềm xoay vòng quanh di tích cũ kỹ của những ngôi nhà tự sụp dần.


Bên trong ngôi nhà màu trắng hơi thấp, sơn đang tróc từng mảng, bà Elsie Eiler 84 tuổi đang lật thịt heo rán và khui bia cho hai người khách bên dưới tấm biển hiệu: "Chào mừng đến với Quán rượu Monowi nổi tiếng thế giới. Bia lạnh nhất thị trấn!"


Khi chồng của Eiler, ông Rudy, qua đời năm 2004, ông không chỉ để lại một mình bà chăm lo quán rượu, mà còn để lại cả thị trấn cho bà. Ngày nay, theo Tổng điều tra Dân số Hoa Kỳ thì Monowi là nơi duy nhất ở Hoa Kỳ chỉ có một cư dân, và Eiler là thị trưởng, thư ký, thủ quỹ, thủ thư, kiêm người pha chế và là người duy nhất còn sống trong thị trấn tí hon này của Hoa Kỳ.


Thị trưởng thị trấn ma

Cuộc sống của bà Eiler khi làm cư dân duy nhất ở thị trấn ma thực sự là chuyện hiếm hoi lạ lùng.

Mỗi năm bà đều treo thông báo tại cơ sở kinh doanh duy nhất tại thị trấn Monowi (quán bar nhà bà) giới thiệu kỳ bầu cử thị trưởng, và sau đó tự bà bầu cho mình.

Bà được yêu cầu phải xây dựng kế hoạch đường xá cho thị trấn mỗi năm để đảm bảo nhận được quỹ từ bang, và sau đó tự đóng khoảng thuế 500 đô la Mỹ hàng năm để duy trì ba cột đèn trong thị trấn và hệ thống cấp nước.


"Khi tôi xin giấy phép bán rượu và thuốc lá tại bang hàng năm, họ cử người đến gặp thư ký của làng, cũng là tôi," bà giải thích. "Vì thế, tôi đón tiếp họ trong vai trò thư ký, ký nhận với họ trong vai trò kế toán và trực tiếp đón họ trong vai trò là chủ quán bar."

Bà cũng theo dõi danh sách cư dân sống gần đó, trong trường hợp có người muốn chuyển đến sống trong những ngôi nhà đang dần hư hỏng trong thị trấn và do đó làm tăng gấp đôi dân số thị trấn.


"Tôi sống hạnh phúc ở đây. Tôi lớn lên ở nơi này. Tôi quen với nơi này và tôi biết mình muốn gì. Để thay đổi sau quá nhiều năm không dễ chút nào," Eiler nói.


Thời hoàng kim của Monowi

Vào thập niên 1930, Monowi là điểm dừng chân sôi động trên tuyến đường sắt Elkhorn và là nơi sinh sống của 150 người, có cửa hàng tạp hóa, nhà hàng và thậm chí có cả một nhà tù.


Eiler lớn lên trong một trang trại cách thị trấn chừng một phần tư dặm và gặp ông Rudy tại trường học chỉ có một phòng thời tiểu học.


Hai người đi xe bus tới trường cấp hai gần đó cách nhà bảy dặm cho đến khi ông Rudy nhập ngũ vào Không lực Hoa Kỳ. Khi ông Rudy phục vụ quân ngũ ở Pháp, bà Eiler rời nhà đến thành phố Kansas tự đi phiêu lưu. "Tôi làm việc cho một hãng hàng không với ước mơ trở thành tiếp viên hàng không," bà nhớ lại. "Tôi không quan tâm lắm đến thành phố; Monowi luôn luôn là nhà."

Bà trở về và cưới ông Rudy khi 19 tuổi và chăm sóc hai con. Khi ông Rudy, từng làm việc cho kho chứa thóc và chuyển nguyên liệu cho trạm xăng, có ý định sửa sang lại quán rượu cũ của cha Eiler, bà nói, "tôi đồng ý," và cặp đôi mở cửa lại quán rượu vào năm 1971.


Cuộc tháo chạy

Tuy nhiên, tới lúc Quán rượu Monowi mở cửa trở lại, thị trấn Monowi bắt đầu đi vào thời suy tàn. Khi tình trạng canh tác dần khó khăn hơn và kinh tế ngoại ô sụp đổ khắp khu vực Đại bình nguyên ở Mỹ sau Thế Chiến thứ Hai, các cộng đồng ở vùng đất này dần biến mất.

Lễ tang cuối cùng tổ chức tại nhà thờ gỗ ở Monowi là tang của cha bà Eiler vào năm 1960. Sau đó bưu điện và ba cửa hàng tạp hóa đóng cửa từ năm 1967 đến 1970, tiếp theo là trường học đóng cửa năm 1974. Cả hai con của Eiler đều chuyển đi tìm việc làm vào giữa thập niên 1970 và đến năm 1980, dân số của thị trấn chỉ còn 18 người. Hai mươi năm sau, Monowi chỉ còn dân số là hai người duy nhất - ông Rudy và bà Eiler - cả hai đều làm việc tại quán rượu. Ngày nay, Monowi là một trong ba thị trấn ở Hạt Boyd, bang Nebraska chỉ có chưa tới 10 cư dân sinh sống.


Sinh hoạt cộng đồng

Eiler có thể chỉ sống một mình, nhưng bà không cô đơn. Mỗi sáng sớm vào lúc 9 giờ, bà đi bộ đến quán rượu từ ngôi nhà xe kéo cách đó vài bước chân để mở cửa quán (trừ thứ Hai, khi bà cho phép mình có một ngày nghỉ). Những "khách quen" của bà sống cách đó 20-30 dặm đều là người quen bà đã biết trong hầu hết thời gian sống ở đó, nhưng cũng có nhiều người lái xe 200 dặm từ Lincoln và Omaha để xem bà sống thế nào.

"Nơi đây giống một gia đình lớn," bà Eiler nói, khi bà ngồi với người bạn và chơi trò ô chữ đăng trên báo. "Có những khách hàng bốn, năm thế hệ tới đây. Thật dễ chịu khi những người mà tôi biết khi họ còn bé xíu giờ đây lại đem con cái họ đến gặp tôi."

Giống như nhiều nhà hàng và quán bar ở miền quê Hoa Kỳ, Quán rượu Monowi phục vụ như một phòng khách cộng đồng. Trong lúc bà Eiler làm món hamburger (giá 3,5 đô la Mỹ), món hot dog (1,25 đô la Mỹ) và món mề gà (4 đô la) trong bếp, thì các gia đình dán thông báo tốt nghiệp, thư mời lễ rửa tội, và thiệp mừng các kỳ nghỉ trên tấm bảng trắng của quán bar. Mọi người thường ở đây chừng một tiếng cho buổi chơi bài Euchre tối Chủ Nhật, và Eiler thường không đóng cửa quán mãi tới chín rưỡi tối, khi không khí dần lắng xuống.


"Tôi được nhiều người hỏi liệu có cô đơn không, và tôi nói, 'Thì lúc nào chả có ai đó đến và đi.' Tôi đang ghé thăm nơi này với bạn ngay lúc này đấy thôi!" Bà Eiler đáp.


Thư viện của ông Rudy

Thực ra còn có một ngôi nhà công cộng khác ở Monowi ngoài quán rượu, và nó chỉ cách nhà bà Eiler và quán rượu vài bước chân, đó là Thư viện của Rudy.

Khi không bận việc đồng áng hay phục vụ đồ uống ở quán, chồng bà Eiler là một người đọc nhiều. Trước khi qua đời năm 2004, ông Rudy trăng trối lại là ước muốn duy nhất là biến tủ sách cá nhân thành thư viện cộng đồng. Ông đặt làm một căn phòng rộng gần 30m2 và xếp 5.000 quyển sách và tạp chí lên, nhưng ông qua đời trước khi có thể hoàn thành dự án. Vài tháng sau đó, các con của Eiler nối đường điện thắp sáng cho phòng đọc, cháu của họ đóng kệ sách từ nền nhà đến trần và các cháu đã vẽ bảng hiệu bằng tay trên chiếc tủ lạnh cũ với dòng chữ " Thư viện của ông Rudy".


Ngày nay, chìa khóa thư viện được treo trong quán rượu, và bất cứ ai muốn xem qua mọi thứ từ tác phẩm của Goethe đến những quyển tạp chí National Geographic từ thời 1950 đều được chào đón ở hệ thống này.



Bất ngờ nổi tiếng


Theo Cục điều tra Hoa Kỳ, khi ông Rudy mất, Monowi vượt qua kỷ lục của thị trấn Gross, bang Nebraska (dân số: 2 người) để trở thành thị trấn duy nhất ở Hoa Kỳ có một cư dân. Từ đó, bà Eiler và thị trấn của bà trở thành chủ đề rất nhiều người quan tâm.


Ngày nay, 14 năm sau đó, Eiler giờ đã có bốn quyển sổ lưu niệm cho khách trong quán rượu đầy chữ ký từ du khách khắp thế giới đổ đến.

"Thành thật mà nói," bà nhún vai, "Tôi không để ý lắm theo cách này hay cách khác, nhưng việc này làm tôi cảm thấy dễ chịu vì tôi được thế giới chú ý đến một chút."


Đất hóa tâm hồn

Cùng với hai con, giờ đây Eiler đã có năm đứa cháu và hai đứa chắt. Đứa gần nhất sống cách bà 90 dặm ở Ponca, Nebraska, trong khi những con cháu khác của bà sống ở nhiều nơi như Arizona và Hà Lan.

"Tôi biết tôi luôn có thể chuyển về sống gần bên các con hoặc về ở với chúng bất cứ khi nào tôi muốn, nhưng sau đó tôi lại phải kết bạn lại từ đầu," bà Eiler nói. "Chừng nào tôi còn có thể ở đây, thì nơi này luôn là nơi tôi muốn sinh sống. Tôi đoán có lẽ ta khó thay đổi thói quen hơn khi già đi."


Giờ đóng cửa

Mười hai giờ sau khi quán rượu mở cửa, số người ở Monowi lại chỉ còn là một người. Bà Eiler đóng cửa quán, quay về ngôi nhà trên xe kéo và mở quyển sách nào đó của ông Rudy ra khi gió rít ngoài đồng cỏ. Khoảng 23 giờ, bà chuẩn bị đi ngủ, và bất kỳ bạn bè nào từ phương xa cũng có thể đến thăm nơi này vào ngày mai.

Will Francome, Megan Garner & Eliot Stein
BBC Travel
Link tiếng Anh:

BA THÁNH ĐỊA PHIM CỔ TRANG TRUNG QUỐC

Bối cảnh công phu, hoành tráng góp phần tạo nên kho tàng đồ sộ những bộ phim cổ trang nổi tiếng của Trung Quốc.


Dưới đây là những “thánh địa” mà bất cứ người hâm mộ phim cổ trang Trung Quốc nào cũng muốn một lần đặt chân tới.

Hoành Điếm

Được mệnh danh là Hollywood của phương Đông, Hoành Điếm - phim trường lớn nhất Trung Quốc, cũng là phim trường ngoài trời lớn nhất thế giới hiện nay thuộc tỉnh Triết Giang. Nơi đây có tổng diện tích lên tới hơn 30 km2 bao gồm 9 khu ngoại cảnh chính: Tần Vương cung, Thanh Minh thượng hà đồ, Minh Thanh dân cư thành, Đại Trí thiền tự, Mộng Ảo cốc, phố Quảng Châu, phố Hương Cảng, Minh Thanh cung uyển, vườn văn hóa Hoa Hạ, Bình Nham động phủ.
 
Toàn cảnh phim trường Hoành Điếm. Ảnh: travelchinaguide.

Nơi đây là bối cảnh của hơn 1.000 bộ phim điện ảnh và truyền hình trong đó phải kể đến những tác phẩm gây được tiếng vang lớn và quen thuộc với khán giả Việt Nam như: Thiên địa anh hùng, Hoàng kim giáp, Ngọa hổ tàng long...

Trung bình mỗi ngày ở đây tiếp đón 20 đoàn làm phim đến lấy bối cảnh và quay, vì vậy du khách có cơ hội gặp gỡ với các diễn viên, ngôi sao điện ảnh nổi tiếng.

Đến với Hoành Điếm du khách không những có thể tận mắt chứng kiến những công trình kiến trúc hoành tráng, tái hiện lại chân thực lịch sử Trung Quốc mà còn tham gia vào các chương trình biểu diễn đặc sắc, mua sắm tại khu vui chơi giải trí, rạp chiếu phim, nhà hát, công viên giải trí trong khu phim trường. Mùa du lịch ở Hoành Điếm từ tháng 3 đến tháng 11, khí hậu mát mẻ.

Vô Tích

Là quần thể kiến trúc cổ quy mô lớn nằm bên bờ Thái Hồ xinh đẹp thuộc thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô, phim trường có tổng diện tích lên tới 100 ha. Với các sản phẩm du lịch văn hóa đặc sắc, phong phú, nơi đây mỗi năm đón tiếp gần 2 triệu khách và hơn 20 tổ chế tác phim điện ảnh, truyền hình. Đây cũng là bối cảnh chính của hơn 250 bộ phim điện ảnh, truyền hình trong và ngoài nước.

Ba khu thắng cảnh lớn: Thủy Hử thành, Tam Quốc thành, Đường thành là sự kết hợp hoàn mỹ giữa du lịch điện ảnh, truyền hình và du lịch văn hóa. Tại đây bốn mùa muôn hoa đua nở, bốn bề là cỏ cây non nước.

Một trong những cảnh quan của phim trường Vô Tích. Ảnh: ctvwx.

Mùa xuân là mùa đẹp nhất để du khách đến với Vô Tích với phong cảnh tuyệt đẹp của những tòa thành cổ kính ẩn mình trong sắc trắng tinh khôi của hàng nghìn cây mai và sắc đào hồng thắm.

Đôn Hoàng

Tọa lạc tại phía tây nam thành phố Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, đây là phim trường lớn nhất miền Tây Trung Quốc, được xây dựng để phục vụ cho bộ phim lịch sử Đôn Hoàng, dự án hợp tác điện ảnh quy mô lớn giữa 2 nước Trung - Nhật.

Sắc xuân bao trùm phim trường Đôn Hoàng. Ảnh: Mphoto

Phim trường Đôn Hoàng mang những nét đặc sắc riêng gây ấn tượng mạnh mẽ cho bất kỳ du khách nào đặt chân đến nơi đây. Thành Đôn Hoàng có 5 khu phố chính: Cao Xương, Đôn Hoàng, Cam Châu, Hưng Khánh và Biện Lương. Nơi đây không chỉ tái hiện tư thế hào hùng của Đôn Hoàng - thị trấn trung tâm ở Tây Bắc của Trung Quốc thời kỳ Đường Tống, mà còn mang đậm dấu ấn của đời sống, tập tục nhân dân miền Tây Trung Quốc. Vì vậy, Đôn Hoàng được xem là bảo tàng nghệ thuật kiến trúc, khu cảnh quan nhân văn tiêu biểu.

Với cảnh quan độc đáo, nơi đây cũng là phim trường của hơn 20 bộ phim điện ảnh truyền hình trong ngoài nước, bao gồm cả những bộ phim bom tấn của Hollywood như: Chiến hạm, Kiếm rồng, Vua Kungfu.

Nguyễn Nga

13 ĐÊM 14 NGÀY TRÊN BIỂN CẢ (TỪ 04 ĐẾN 17/12/2018) - PHẦN 4


Tiếp theo....

3 NGÀY LÊNH ĐÊNH TRÊN BIỂN TASMAN TÌM ĐẾN "VÙNG ĐẤT CỦA MÂY TRẮNG" ...

Hôm nay là ngày thứ 3 ở trên biển, đây cũng là ngày mà các bạn có kinh nghiệm đã đi rồi cho biết sẽ có nhiều sóng lớn vì sắp vào lục địa, tôi và bà xã nhớ nên đem theo thuốc để uống. Chúng tôi xuống tầng 6 vì hẹn với các bạn đã booking ăn sáng ở Donatello, nhà hàng này phục vụ ăn sáng, trưa và cả buổi tối.

Donatello
Nói chung, Donatello và căn mà chúng tôi thường đi là Canaletto cũng giống nhau về sự rộng lớn và cách bày trí nhưng Canaletto chỉ phục vụ ăn tối (formal dining). Cái giống nhất và cố định như một công thức bắt buộc là sự phục vụ rất tốt và rất chu đáo của một tiêu chuẩn cao cấp. Khách ở đây không đông như ở Horizon Court (buffet) vì không làm mình tự nhiên mà phải giữ ý tứ.Trong lúc ăn có một bà bên cạnh nghe chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Việt nên qua làm quen, chị bạn cùng bàn cũng trả lời qua loa rồi thôi vì bà ta có vẻ hơi kiểu cách.

Canaletto
Sau khi ăn sáng thì chúng tôi lại qua the Piazza để nghe nhạc và uống cà phê, không ai muốn trở lại phòng vì nhân viên sẽ làm phòng buổi sáng và sau đó buổi chiều đến làm phòng lần thứ 2. Nhân viên làm rất chu đáo, họ canh chừng khi thấy mình ra thì họ mới vào và nếu mình trở về bất ngờ, họ sẽ xin lỗi và đi ra và sẽ trở lại sau. Anh chàng làm phòng cho chúng tôi người Philippine, gương mặt rất hiền và rất lễ phép, tôi cho anh ta tiền boa, anh mừng lắm và cám ơn rối rít.


Lương bỗng của họ không biết có nhiều không nhưng cuộc sống của họ phải xa gia đình ít nhất là 6 tháng cho mỗi hợp đồng và nghe nói là không được lên bờ trong suốt thời gian còn hợp đồng với tàu nhưng chắc chắn một điều họ sẽ để dành đủ cà số lương vì mọi thứ ăn ở đều miễn phí. Hồi đó xem phim Hong Kong nói những nhân vật trong phim vì nghèo nên phải đi hàng thuyền nhiều năm biệt xứ sau đó mới có chút vốn mang về. Cảm khái đôi chút thôi bởi vì cuộc sống này ai cũng phải làm để sống mà.


Tàu có vẻ lắc nhiều đấy, nếu ở trong phòng bạn sẽ cảm nhận dễ dàng hơn còn nếu không cứ ra khu vực hồ tắm, xung quanh sẽ ướt hết và nước trong hồ vỗ rất mạnh tung nước lên sàn, có hôm sóng lớn họ phải dùng lưới che trên mặt hồ cho nước bớt lắt tạo sóng. Cho nên đây cũng là lý do khách hay đi nghe nhạc, chơi game từ nơi này tới nơi khác. Có người thì đi ăn vặt vì chỗ nào cũng có sẵn bánh ngọt, kem, pizza, sandwich,...và quan trọng nhất hoàn toàn miễn phí.


Tôi có nói cho các bạn là trên tàu thấy có nhiều người Việt lắm nhưng rất ít khi gặp họ trong những club hay nghe nhạc, đôi khi nghe tiếng loáng thoáng trong nhà ăn buffet, còn casino thì chúng tôi đi xuyên qua hàng ngày nhưng thấy vắng lắm, chỉ có người kéo máy còn ngồi bàn thì rất ít, có khi bàn chỉ có 1 hay 2 người chơi. Các cô gái làm việc trong đây đứng trước cửa gọi mời mọi người mua lotto nhưng cũng có vẻ ế ẩm lắm. Mấy người già khác thì thích vào Explorers Lounge chơi Bingo vào buổi trưa sau đó là màn ballroom dance mà chùng tôi có đến nhưng bỏ đi vì chán lắm nhạc quá nhỏ tiếng rất khó "nhảy đầm" và loại nhạc xưa điệu "slow foxtrot".


Ngồi uống cappuccino ở International café, bà xã tôi nhắc mấy bữa rày quên đem cà phê uống buổi sáng dù chúng tôi mang theo một bao lớn cà phê Trung Nguyên (cho tôi), Nest (cho bã), trà gừng, trà tàu, nước mát,...mà chẳng bao giờ nhớ đem theo uống. Buổi sáng thì không xuống quán cà phê còn trong buffet có trà, nước ngọt còn cà phê thì lạt nhách pha cho có mùi. Nói tóm lại lần sau có đi thì không cần đem theo mấy loại này. Cà phê latte, cappuccino đã mua package rồi không uống dư cũng bỏ.

Explorers Lounge
Hôm nay lại chỉnh giờ nhanh thêm một tiếng vào buổi trưa, ăn xong, xem show xong, nghe nhạc, nhảy đầm xong, rồi đi ngủ. Tôi thì mỗi đêm phải back up hết những tấm hình và các clip video vào computer và cả cái portable hard drive cho chắc ăn rồi chơi game, xem TV một hồi mới ngủ.

(còn tiếp)
LKH

Wednesday, January 2, 2019

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT XUYÊN BIỂN KỲ LẠ Ở CHÂU ÂU

Tuyến đường sắt trên biển Hindenburg là công trình vĩ đại giữa biển khơi của người Đức. Hàng ngày, hơn 100 chuyến tàu hỏa đi qua tuyến đường này.


Bắt đầu hoạt động vào năm 1927, tuyến đường sắt trên biển Hindenburgdamm, hay còn gọi là Hindenburg Dam nối liền đảo Sylt (thuộc North Frisian) với Schleswig-Holstein, bang xa nhất về phía bắc của Đức. Đoạn đường này dài 11 km.


Trước khi có tuyến đường sắt này, việc di chuyển từ đất liền đến đảo Sylt phụ thuộc vào điều kiện thời tiết trên biển. Sóng càng dữ, chuyện đi lại càng khó khăn.


Hồi ấy hành khách phải mất tối thiểu 6 tiếng để di chuyển từ đất liền tới đảo Sylt bằng tàu biển.


Đặc biệt, vào mùa đông, băng trên biển Wadden tạo thành rào cản. Tàu và thuyền không thể xuyên qua khiến rất ít du khách có thể tới đảo Sylt.


Tuy nhiên, đầu thập niên 20 của thế kỷ trước khi khu nghỉ dưỡng Westerland bên bờ biển đảo Sylt ngày càng nổi tiếng. Do đó, giới cầm quyền Đức quyết định lên kế hoạch làm tuyến đường ray xuyên biển, nối đất liền với đảo.


Quá trình làm đường sắt trên biển bắt đầu từ năm 1923. Trong 4 năm sau đó, công nhân và các phương tiện cơ giới đã đưa hơn 3 triệu m3 cát và đất sét, 120.000 tấn đá từ đất liền ra biển để xây đập.


Chính phủ Đức gọi tuyến đường theo tên của Tổng thống Đức hồi đó, Paul von Hindenburg. Ông Hindenburg chính là người chủ trì lễ khánh thành đường ray vào ngày 1/6/1927.


Trong 45 đầu tiên kể từ khi bắt đầu hoạt động, Hindenburg chỉ có một làn ray. Năm 1972, người ta mở rộng tuyến đường và đặt thêm làn ray thứ hai.


Ngày nay, hơn 100 chuyến tàu di chuyển trên đập mỗi ngày. 1/2 số đó vận chuyển ôtô.

Theo Zing



CÁ RÒ - CÁ KÌNH

Chiều nay thấy "Nhóm Cơm Hến" có một clip video mới giới thiệu về "đặc sản Lăng Cô" trong đó có một món mà ai cũng nói là ngon, "mắm cá rò". Anh Huy nhà ta cũng chẳng biết để mà giải thích, chỉ nói đừng đọc lộn là "cá rô" mà phải là "cá rò".


Lên mạng "con cá rò" không có ai cho biết, "mắm cá rò" thì rất nhiều bài giới thiệu vì đó là đặc sản của Huế. Tôi đọc nhiều bài giới thiệu món mắm này và duy nhất chỉ có một bài có một cách giài thích khái quát như sau:

“Cá rò” cái tên ngắn gọn mà ngư dân vùng ven biển đầm phá tỉnh TT- Huế thường hay gọi thay cho con “cá kình giống”. (CTV Ngọc Phương - Theo: tepbac.com)

Từ đó tôi lại tìm và biết được ngoài biển ngoài con cá kình khổng lồ còn có một loài cá kình "bé nhỏ" khác nữa:


Cá Kình là cá gì? Có phải cá voi sát thủ không? Nấu món gì NGON?

Cá kình là một dòng cá biển nhỏ, chúng được sử dụng để làm thực phẩm hàng ngày. Tuy nhiên, trong lòng đại dương có một loài cá kích thước to lớn cũng tên là cá kình. Điều này khiến cho rất nhiều người bị nhầm lẫn. Để phân biệt và hiểu rõ hơn về cá kình, các bạn đừng nên bỏ qua bài viết này của chúng tôi.

1. Cá kình là cá gì?

Cá kình là loài cá chuyên sinh sống trong môi trường nước mặn. Hương vị thịt của loài cá kình vô cùng chắc và ngọt. Chính vì điều này cá kình được rất nhiều người yêu thích.
Nguồn gốc của cá kình

Cá kình còn có tên gọi khác là cá dìa chấm vàng. Chắc hẳn khi nhắc đến đây các bạn đã hình dung ra đặc điểm của chúng. Cá kình có tên khoa học Siganus canaloculatus, đây là một dòng cá thuộc họ cá dìa.

Cá kình là loài cá xuất hiện khá nhiều ở các vùng biển tại Việt Nam và có chất lượng thịt vô cùng ngon.

Đặc điểm của cá kình

Cá kình có thân hình giống với hình con thoi, dẹt về 2 bên. Phần thân trên của chúng dày mình và nhiều thịt hơn phần ở dưới đuôi. Cá kình khi trưởng thành có chiều dài khoảng 12 – 25 cm. Cân nặng thông thường của chúng vào khoảng 100 – 250 gram. Cũng có những trường hợp dài đến 50cm và nặng đến 1kg.

Cá kình có phần đầu nhỏ, miệng tù đôi mắt trung bình và hơi lồi. Cá dìa có 1 dải vây lưng dài trải dài toàn bộ phần lưng của chúng. Phần dải vây lưng này khá cứng và có độc (nọc độc trong vây của cá không gây chết người, nhưng sẽ tạo ra cảm giác tê ở vùng bị đâm). Gần mang cá có 2 vây chèo, vây vụng khá dài nối gần đến phần vây đuôi. Vây đuôi mở rộng giống hình cánh quạ. Cơ thể cá kình có màu vàng sáng, phần lưng có những chấm vàng đậm và phần bụng có màu trắng bạc. Toàn bộ những tia vây của cá kình có màu vàng sáng.

Cá kình biển ăn gì?


Cá kình là dòng cá có kích thước nhỏ, sống trong môi trường nước biển. Thức ăn phổ biến của chúng là rong biển, rêu đá và các loài cỏ biển.

Sinh sản ở cá kình biển

Cá kình bắt đầu chu kỳ sinh sản đầu tiên khi chúng đạt kích thước khoảng 18 – 20cm. Cá kình sống trong tự nhiên, chúng đẻ trứng ở hầu hết mọi thời điểm trong năm. Cá kình nuôi trồng thì chỉ đẻ trứng vào tháng 4 – 8 hàng năm. Trung bình, một lần sinh sản, cá kình cái có thể đẻ khoảng 200 – 230 nghìn trứng. Chúng thường đẻ trứng vào ban đêm và ở tầng mặt nước mỗi khi nước thủy triều xuống.

Mùa cá kình thường vào khoảng tháng 10 – 1 năm sau. Thời điểm này là thời điểm có rất nhiều cá kình và mức giá cũng khá hợp lý.

Cá kình sống ở đâu?

Cá kình sống là loài cá nước mặn, chúng có thể chịu được độ mặn cao. Trên thế giới, cá kình phân bổ chủ yếu ở các vùng biển thuộc Ấn Độ, Úc, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan.

Tại nước ta, cá kình biển phân bổ ở các khu vực thuộc vịnh biển Bắc Bộ – Đặc biệt ở những vùng biển thuộc Quảng Ninh, Hải Phòng và Thái Bình.


Mối đe dọa

Cá kình là dòng cá nhỏ sinh sống trong môi trường đại dương. Chính vì vậy, chúng trở thành con mồi cho những loài cá lớn: cá voi xanh, cá voi sát thủ, cá mập, cá vược, cá thu… Ngoài các loài cá lớn, con người cũng là tác nhân chính khiến số lượng cá thể cá kình sụt giảm.

2. Phân biệt cá kình và cá hổ kình

Có rất nhiều người bị nhầm lẫn giữa loài cá kình và cá hổ kình. Ngay dưới đây chúng tôi sẽ giúp các bạn phân biệt 2 loài cá này:

Cá hổ kình: cá hổ kình thực chất chính là loài cá voi sát thủ. Loài cá voi sát thủ có họ cùng với loài cá voi xanh. Cũng giống với loài cá voi xanh khổng lồ, cá hổ kình là loài có kích thước to lớn và là loài ăn thịt.

Cá hổ kình là loài có tính cách hung dữ và có kích thước cơ thể rất lớn. Cá hổ kình có cân nặng tương đương với cá voi xanh và được xếp vào những loài nặng nhất thế giới. Trung bình, một con cá hổ kình có thể nặng đến 1.4 – 5.4 tấn và có chiều dài khoảng 5 – 8m.

Chắc hẳn khi đã biết được cá hổ kình là loài cá gì rồi, chắc chắn các bạn có thể dễ dàng phân biệt cá kình và cá hổ kình.

3. Cá kình đại dương nấu món gì ngon?

Cá kình có phần thịt thơm, ngọt đậm đà và cực dễ chế biến. Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một vài món ăn đặc sắc được chế biến từ cá kình:

Cá kình kho

Cá kình kho, món ăn thơm ngon mang đậm nét hồn quê Việt Nam. Nguyên liệu cần chuẩn bị để chế biến món cá kho, chắc chắn không thể thiếu cá kình, me chua (hoặc sử dụng quả sấu), thịt ba rọi, nước hàng, nước mắm và ớt tươi.

Cá kình làm sạch rồi ướp cùng với loại gia vị (thịt ba rọi phải luộc qua, cắt miếng hình con chì). Cá kình nên ướp khoảng 20 – 25 phút rồi mới đem đi kho. Cá kình nên kho khoảng 3 – 4 tiếng thì các gia vị mới quyện chặt vào từng thớ thịt cá. Cá kình kho ăn kèm cùng với cơm gạo tám nóng sẽ ngon hơn rất nhiều.

Cá kình nấu ngót

Cá kình nấu ngót là món ăn có cách chế biến gần giống với cá kình nấu chua. Nguyên liệu cần chuẩn bị: cá kình, lá lốt, hạt nêm, nước mắm và cà chua.


Cá kình rửa sạch và ướp cùng với hạt nêm. Cà chua đun trong nước và nêm nước mắm vừa ăn. Khi nước sôi, các bạn thả cá vào nấu chín rồi mới cho lá lốt vào nồi rồi tắt bếp (không nên nấu cá quá lâu, nếu nấu lâu thịt cá sẽ bị khô và mất đi vị ngọt). Cá kình nấu ngót sẽ ngon hơn khi các bạn ăn kèm cùng mắm ớt và rau sống.

Cá kình nướng muối ớt

Cá kình nướng muối ớt được coi là một đặc sản của người dân miền biển. Cá kình tươi ngon ướp cùng muối ớt cay nồng, tất cả đã tạo nên hương vị đặc biệt khó quên.

Nguyên liệu cần chuẩn bị: cá kình, muối ớt và dầu ăn. Cá kình làm sạch và để nguyên con. Cá khi ráo nước thì đem ướp cùng với muối ớt và dầu ăn.


Để cá ngấm khoảng 20 phút thì mới đem đi nướng. Cá kình nướng muối ớt có thể xiên que và nướng bếp than hoặc nướng giấy bạc (nướng bếp than sẽ thơm và đậm đà hơn). Cá nướng khoảng 30 phút và 2 mặt vàng đều mùi thơm của cá thay bằng mùi tanh là cá chín. Cá kình nướng muối ớt ăn kèm cùng nước mắm me, cuộn cùng với bánh tráng, bún và rau sống sẽ thơm ngon hơn rất nhiều.

Quang Huy
Theo: vuongquocloaivat.com