Friday, June 2, 2023

MÓN CHẢ ƯỚP ĐÁ GIÒN SẦN SẬT LẠ MIỆNG Ở MIỀN TÂY

Nguyên liệu và cách làm món chả này khá giống giò thủ, giò lụa ở miền Bắc và miền Trung nhưng thường được bảo quản lạnh rồi đem biến tấu thành các món gỏi, món trộn giải ngấy, giải nhiệt, có thể thưởng thức quanh năm.


Giò chả là món ăn truyền thống, phổ biến với các gia đình Việt khắp 3 miền, đặc biệt không thể thiếu trong các mâm cỗ ngày lễ, Tết. Tùy từng địa phương mà người ta có cách chế biến giò chả khác nhau, mang hương vị đặc trưng riêng.

Ở miền Tây có một món chả không kém phần nổi tiếng, đó là chả lạnh da heo. Món ăn tên lạ nhưng khá giống giò thủ, giò bì của người miền Bắc, đều gồm nguyên liệu chính là thịt heo và da heo, cũng gói trong lớp lá chuối rồi cuộn thành hình trụ.


Tuy nhiên, món chả lạnh da heo lại có cách chế biến và bảo quản đặc biệt hơn, thường được thái thành lát mỏng để làm các món gỏi, món trộn “giải ngấy” với hương vị hấp dẫn.

Món chả lạnh da heo phổ biến ở miền Tây.

Để làm chả lạnh da heo, người miền Tây phải chọn lựa nguyên liệu kỹ lưỡng. Tùy khẩu vị, sở thích và văn hóa từng vùng mà nguyên liệu cũng được thay đổi linh hoạt. Nếu muốn chả giòn sần sật hơn, người ta sử dụng nhiều bì heo và phần thịt đầu (tai, sụn…).


Bì heo sau khi mua về được cạo sạch lông, chà xát với muối để khử bớt mùi hôi rồi rửa lại với nước sạch. Tiếp đến luộc bì heo, đến khi thấy chín tới thì vớt ra, ngâm với nước đá. Cách làm này giúp bì heo trắng, có độ giòn và ngon hơn khi chế biến.

Ngâm khoảng 30 phút thì vớt bì heo ra, để ráo nước rồi dùng dao sắc lạng sạch phần mỡ thừa và thái bì thành các lát mỏng đều tay.


Tùy mức độ giòn của món chả lạnh mà người ta nêm nếm lượng da heo phù hợp khi chế biến.

Ngoài nguyên liệu chính là bì heo, người miền Tây thường dùng thịt đùi hoặc thịt đầu heo để làm chả lạnh. Phần thịt này cũng được sơ chế sạch, thái lát mỏng rồi tẩm ướp với các gia vị như nước mắm, hạt nêm, hạt tiêu,…

Chờ thịt ngấm đều thì đem xào chín cùng chút tỏi, hành băm nhỏ, thêm tiêu sọ để món ăn dậy vị, có độ cay nồng hấp dẫn hơn. Khi thịt chín thì cho tiếp bì heo đã thái sợi vào xào cùng, có thể nêm chút nước cho bì ra nhựa nhiều hơn để khi gói chả, các nguyên liệu càng hòa quyện, dính chặt vào nhau.


Sau khi xào chín các nguyên liệu, người ta bắt đầu gói chả, tương tự như cách gói giò thủ, giò lụa ở miền Bắc, Trung. Chả được gói trong lá chuối, cuộn thành hình trụ sao cho thật chặt rồi buộc lại bằng dây lạt. Chả gói càng chặt càng ngon, thành phẩm không bị hở hay rỗ.

Chả gói xong đem bảo quản ngăn mát tủ lạnh chừng 2-3 tiếng là có thể thưởng thức. Nếu muốn bảo quản lâu hơn, người ta có thể trữ chả trên ngăn đá, khi ăn thì đem rã đông.


Chả lạnh da heo có thể ăn ngay, chấm kèm tương ớt hoặc làm gỏi, trộn rau sống và nước mắm chua ngọt…

Không chỉ là món ăn thanh mát giúp “giải nhiệt”, “giải ngấy” trong những ngày Tết, chả lạnh da heo còn trở thành món nhậu khoái khẩu của cánh mày râu hay được biến tấu thành món ăn vặt “vui mồm” của giới trẻ.


Tới miền Tây, du khách có thể tìm và thưởng thức chả lạnh da heo ở các quán ăn, nhà hàng hay trên gánh hàng rong vỉa hè, xe hàng rong,… với giá từ 15.000 – 30.000 đồng/suất, ăn kèm muối tiêu hoặc tương ớt, nước chấm chua ngọt.


Nhiều du khách hài hước nhận xét món chả lạnh da heo của người miền Tây thoạt nhìn khá giống kem hay rau câu.

Chả lạnh da heo là món ăn đặc trưng của các gia đình miền Tây vào những dịp lễ, Tết. Món này ăn chơi hoặc thưởng thức kèm với bún mắm, cơm đều rất ngon..


Vì thời tiết nơi đây khá nóng, người bán thường xếp chả trong các tủ kín, bày lớp đá lạnh phía dưới. Cách này vừa giúp bảo quản chả tốt trong ngày nắng nóng, vừa giúp chả giòn, mát lạnh, ăn ngon hơn. Cũng bởi vậy mà nhiều du khách còn hài hước đặt tên cho món ăn này là “chả ướp đá”.

Chả lạnh da heo được bán với giá dao động từ 180.000-250.000 đồng/kg, tùy nguyên liệu.

Theo: vietnamnet



"VẠN THẾ SƯ BIỂU" NHÌN TỪ PHƯƠNG TÂY

Từ trên hai ngàn năm nay, người Trung Hoa và các dân tộc Á Châu khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam đã sống trong một trật tự xã hội lấy triết lý Khổng giáo làm nền tảng. Triết lý nhân bản này chú trọng đến mối giao hảo giữa con người và con người, và dạy dỗ con người cung cách sống trong đạo lý, hòa hợp và thái bình.


Vì những công đức vĩ đại đó, người Trung Hoa đã tôn vinh Khổng Phu Tử là “Vạn Thế Sư Biểu” và “Chí Thánh Tiên Sư”, một danh dự tuyệt vời đã làm lu mờ cả những thánh nhân và minh quân đã ra đời trước ngài như Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, và Vũ Vương.

Tuy nhiên, chúng ta ít khi nghe đến thế giới phương Tây nghĩ gì về thánh nhân họ Khổng. Trong tập khảo luận mang tên WHY CONFUCIUS HAS BEEN REVERENCED AS THE MODEL TEACHER OF ALL AGES (St. John’s University Press, 1976), tác giả Li-fu Chen cho biết một số nghiên cứu gia gồm các sắc dân Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nga, Pháp đã viết về thân thế và sự nghiệp Khổng Tử kể từ năm 1688 trở đi, với các tác phẩm sau đây viết về “Vạn Thế Sư Biểu” được coi là đáng kể hơn cả: CONFUCIUS UND SEINE LEHRE (Von Der Gabelentz viết năm 1888 tại Đức Quốc), The GREAT TEACHER (G. G. Elexander viết năm 1890 tại Anh Quốc). Tóm lại, phương Tây mới chỉ chánh thức biết đến vị “Thầy Học Mười Ngàn Thế Hệ” của phương Đông từ cuối thế kỷ 17 trở đi.


Giới trí thức phương Tây khi nghiên cứu về Khổng giáo thường dùng phương tiện phiên dịch Tứ Thư và Ngũ Kinh sang ngôn ngữ của họ, hoặc viết về cuộc đời Khổng Tử như một hiền triết bậc nhất của nhân loại, hoặc so sánh triết lý Khổng Tử với các nền triết lý nhân bản khác trên thế giới. Theo sử gia Hoa Kỳ Will Durant trong cuốn sách đồ sộ THE AGE OF VOLTAIRE của ông thì triết gia François Marie Arouet Voltaire (1694-1778) người Pháp đã vô cùng ngưỡng mộ hiền triết họ Khổng và đã có công truyền bá tư tưởng Khổng giáo vào giới trí thức nước Pháp thời đó. Triết gia kiêm bách khoa tự điển gia Voltaire ca ngợi Trung Hoa là quốc gia cổ nhất, đông dân nhất, và được cai trị hoàn hảo nhất trên trái đất này. Điều mà Voltaire ngưỡng mộ hơn cả về Khổng giáo chính là ý niệm “đạo đức có thể khả thi mà không phải tùy thuộc vào một tôn giáo siêu nhiên”. Vẫn theo lời sử gia Durant, Voltaire và một vài triết gia người Pháp khác nữa đã sẵn sàng “phong thánh” (“canonize”) cho Khổng Tử, nhà hiền triết “đã dạy cho dân chúng những nguyên lý đạo đức 500 năm trước khi Thiên Chúa giáo ra đời”. Trong khi đó, triết gia kiêm toán học gia Gottfried Wilhelm von Leibniz (1646-1716) lẫy lừng tên tuổi của nước Đức – người đã từng dùng toán và siêu hình học để chứng minh Thượng Đế chính là Đấng Vô Cùng đã tạo ra vũ trụ – rất cảm phục lý thuyết về vũ trụ mà KINH DỊCH đã làm sáng tỏ. Leibniz cho rằng vũ trụ quan trong cuốn sách ấy đã hoàn toàn hòa hợp với thực thể của vũ trụ, trong đó tất cả mọi vật đều biến đổi không ngừng. Chính Leibniz cũng đã đề nghị xã hội phương Tây nên mở cửa ra để đón lấy những luồng gió triết lý Á Đông đầy nhân tính và bắt đầu một cuộc trao đổi văn hóa giữa Đông và Tây. Và trong lịch sử cận đại Hoa Kỳ, có lẽ cố Ngoại Trưởng John Foster Dulles (1888-1959) là người Mỹ đầu tiên chánh thức tỏ lòng ái mộ Khổng Tử. Giữa thập niên 1950, Dulles đã tuyên bố rằng một trong những mục tiêu ngoại giao của nước Mỹ là phải bảo toàn nền văn hóa Trung Hoa mà tinh túy là Khổng giáo, và ông cũng tố cáo cái manh tâm của chế độ Mao Trạch Đông muốn diệt trừ Khổng giáo để thay vào đó giáo điều Mác-Lê.


Trong lãnh vực giáo dục, mấy ai co thể ngờ rằng “Cửa Khổng” hàng ngàn năm về trước đã là nơi cho áp dụng những nguyên tắc giáo dục nhân bản tuyệt diệu mà nước Mỹ giờ đây đang hô hào thực hiện? Quả thực, học giới nước MỸ ngày nay rất ngưỡng mộ triết lý giáo dục Khổng Tử, nhất là các nguyên tắc sau đây:

(1) GIÁO HUẤN KHÔNG PHÂN BIỆT GIAI CẤP: Khổng Tử có một niềm tin vững mạnh vào sự bình đẳng và bản chất có thể dạy dỗ được của tất cả mọi người. Trong sách LUẬN NGỮ, ngài nói “Trong giáo dục, không hề có phân biệt giai cấp” (“Hữu giáo, vô loại”, Thiên Vệ Linh Công, Chương 38), và “Từ người chỉ có thể mang cho ta gói nem khô trở lên, ta chưa hề từ chối giáo huấn một ai” (“Tự hành thúc tu dĩ thượng, ngô vị thường hối yên”, Thiên Thuật Nhi, Chương 7). Hành động đầy nhân nghĩa này của ngài như thể đã xác định căn nguyên cho nền giáo dục đại chúng của nhân loại. Ngài cũng chủ trương một học đường lúc nào cửa cũng mở để đón nhận học trò, và điều kiện duy nhất để được nhập học là phải có lòng hiếu học. Trong mọi đệ tử, ngài đều tìm thấy một tiềm năng học vấn, và ngài nhất quyết giúp mọi môn sinh trở thành con người toàn diện. Hiện nay, một trọng trách của giáo chức Mỹ là phải có “ước vọng cao” (“high expectations”) cho từng học trò và phải tin tưởng rằng “học trò nào cũng có thể học được” (“every student can learn”). Đó chính là điều Khổng Tử đã làm 25 thế kỷ về trước để mong xây dựng lại một nước Trung Hoa đang phân hóa và bạc nhược.


(2) GIÁO DỤC ĐỒNG NGHĨA VỚI PHONG CÁCH XỬ THẾ: Theo Khổng Tử, kiến thức đồng nghĩa với sự thông thái về cách xử thế, một đức tính cần thiết để mang lại một đời sống tốt đẹp cho cá nhân và xã hội. Do đó, mục đích chính của nền giáo dục Cửa Khổng Sân Trình là huấn luyện cho con người cách xử thế để có thể sống hòa hợp với đồng loại, bất kể ở gần hay xa, cao hơn hay thấp hơn mình trong giai tầng xã hội. Trách nhiệm của người thầy không phải chỉ để truyền bá kiến thức mà còn phải có một tiêu chuẩn lý tưởng về đạo đức để còn có thể trau giồi tư cách học trò mình. Trong sách TRUNG DUNG, Khổng Tử viết “Trí, nhân, và dũng là ba đức tính có thể ràng buộc con người khắp nơi vào với nhau” (“Trí, nhân, dũng tam giả, thiên hạ chi đạt đức dã”, Chương 20, Tiết 8). Triết lý giáo dục nhân bản cao thượng này đang vang lên như một sứ điệp thiêng liêng cho các xã hội tân tiến đang bị các tệ đoan vật chất đe dọa và đang tìm cách dạy dỗ thanh thiếu niên trở về với bản chất thiện tâm qua nỗ lực “giáo huấn tư cách” (“character education”).


(3) CÁ NHÂN HÓA PHƯƠNG THỨC GIẢNG HUẤN: Các xã hội tân tiến ngày nay đều đồng ý là muốn thăng tiến giáo dục, phương thức giảng huấn phải được “cá nhân hóa” (“individualized”) để giúp mọi học trò thành công. Trong sách LUẬN NGỮ, Khổng Tử xác định “Đối với những người có tư chất từ bậc trung trở lên thì mới có thể nói đến những điều cao xa; đối với những người có tư chất từ bậc trung trở xuống thì không thể nói những điều cao xa” (“Trung nhân dĩ thượng, khả dĩ ngữ thượng dã; trung nhân dĩ hạ, bất khả dĩ ngữ thượng dã”, Thiên Ưng Dã, Chương 19). Nhà giáo lỗi lạc Dương Quảng Hàm trong cuốn VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU (xuất bản năm 1941) đã viết như sau về khoa sư phạm của Khổng Tử: “Trong các lời khuyên dạy, chuyện trò với học trò, ngài tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làm cho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ cảnh ngộ của mỗi người”. Phương cách giảng huấn nhân bản tuyệt luân này có thể được coi là tiền thân của các chương trình học đặc biệt căn cứ vào từng khả năng cá biệt của từng học trò mà ngày nay học đường Hoa Kỳ mệnh danh là “independent study, self-paced instruction, gifted and talented program, laureate program”, vân vân.


(4) SUY TƯ CHÍN CHẮN: Giáo giới các cấp nước Mỹ ngày nay đều ao ước các học sinh và sinh viên có được “khả năng suy tư chín chắn” (“critical thinking skills”) để thấu đáo, quán triệt việc học. Khổng Tử luôn luôn đòi hỏi các môn sinh của ngài làm việc đó. Ngài dạy điều gì cũng để cho học trò phải cố sức suy nghĩ tìm tòi lấy, khi nào xem chừng đã gần hiểu được thì ngài mới chỉ bảo cho. Lời ngài cho môn sinh, ghi trong sách LUẬN NGỮ, là “Ta không mở sự thực cho kẻ không hăng hái học, không giúp kẻ không sốt sắng tự giải. Khi ta trình bầy một góc cạnh của một vật cho ai mà người đó không thể từ đó học ba góc cạnh kia, ta không nhắc lại bài học nữa” (“Bất phận, bất khải, bất phỉ, bất phát; cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã”, Thiên Thuật Nhi, Chương 8). Cũng trong sách đó, ngài nói “Học mà không suy nghĩ thì như không có học; suy nghĩ mà không có học thì nguy” (“Học nhi bất tư tắc võng; tư nhi bất học tắc đãi”, Thiên Vi Chính, Chương 15), và ngài đòi hỏi môn sinh phải có một thành tín trí thức, tức là “Điều gì biết được thì nói là mình biết, điều gì không biết được phải nhận là không biết; đó là biết vậy” (“Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri; thị tri dã”, Thiên Vi Chính, Chương 17).

Dưới mắt người phương Tây, Khổng Phu Tử là một nhà hiền triết vĩ đại, một nhà giáo vượt thời gian và không gian. Không ai có thể phủ nhận được những tương đồng thần kỳ giữa những điều mà ngài áp dụng cho môn sinh 25 thế kỷ về trước và những mục tiêu giáo dục hiện đại tại Hoa Kỳ cũng như tại các xã hội tiền tiến khác. Sự thực hiển nhiên này lại càng làm tăng thên uy danh cho tước hiệu cao quý “Vạn Thế Sư Biểu” mà người phương Đông đã dùng để tôn vinh và tri ân ngài.

Đàm Trung Pháp
Nguồn: Viện Việt Học


Đôi dòng về GS Đàm Trung Pháp


Giáo Sư Đàm Trung Pháp (BA, MS, PhD) chuyên về ngữ học (linguistics) và phương pháp huấn luyện ESL (ESL instruction methodology).Cựu học sinh các trường Trung Học Chu Văn An (Hà Nội), Trần Lục (Saigon), và Chu Văn An (Saigon).
  • Cựu sinh viên các trường Đại Học Miami (Ohio), Georgetown (Washington, DC), và Saigon.
  • Giảng sư ngữ học Anh tại Đại Học Sư Phạm Saigon (1968-1975).
  • Giám đốc Trường Sinh Ngữ và Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ, Bộ Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa (1969-1971).
  • Giám đốc Trung Tâm Sinh Ngữ, Viện Đại Học Saigon (1971-1975).
  • Giám đốc học vụ đặc trách ESL và ngoại ngữ, Khu Học Chánh Dallas (1981-1998).
  • Chủ biên chuyên san về giáo dục ESL cho Liên Viện Đại Học Bắc Texas (Federation of North Texas Area Universities) (2006-2011).
  • Giáo sư thực thụ (tenured professor) về Ngữ học giáo dục (educational linguistics) tại Texas Woman’s University (1998 -2012). Khi về hưu năm 2012, GS Đàm Trung Pháp được Đại học Texas Woman’s University ân tặng tước vị professor of linguistics emeritus
  • Từ năm 2018, ông là Chủ biên cho Tập San Việt Học của Viện Việt Học tại Little Saigon, Nam California.
Giáo sư Đàm Trung Pháp qua đời tháng 12, năm 2021

Theo: Sài Gòn Thập Cẩm

MỘT NGƯỜI NẾU BỊ 3 "TÂM TẶC" NÀY THEO BÁM, PHÚC KHÍ, TÀI LỘC LẦN BỊ BÀO MÒN, TRIỆT TIÊU!

Có câu: "Trên đời, kẻ thù lớn nhất của một người chính là bản thân họ." Trong cuộc sống, mặc dù thử thách gập ghềnh, nhưng vẫn có người sống tốt đời đẹp đạo, cũng có người khốn khó gian truân, nguyên nhân chính là sự khác nhau về tâm thái sống của các bên.


Chúng ta sinh ra có thân phận như thế nào không phải là điều chúng ta có thể lựa chọn, nhưng chúng ta có thể lựa chọn sống như thế nào. Nếu bạn tốt với cuộc sống, thì cuộc sống cũng sẽ tốt với bạn y như thế.

Tâm thái của một người rất quan trọng, một khi bạn có suy nghĩ xấu thì bạn sẽ có những hành động xấu, ngày một lâu dần, nó sẽ trở thành "tâm tặc" trong bạn. Không ngoa khi nói rằng phúc khí của một người bị suy giảm đều là do 3 "tâm tặc" này gây ra, hãy cùng xem bạn có hay không nhé!

1. Tâm lười nhác dây dưa

Có lẽ ai cũng đã từng gặp phải trường hợp như thế này rồi: khi cảm thấy cơ thể thiếu vận động, bạn định cuối tuần này sẽ tập thể dục một chút, nhưng khi đến cuối tuần thì bạn lại viện cớ để không phải tập. Khi cảm thấy mình không có kỹ năng sở trường, bạn muốn sử dụng thời gian rảnh rỗi để học một vài môn, nhưng bạn lại bắt đầu trì hoãn ngày qua ngày, thậm chí là năm qua năm chỉ vì lý do bận rộn.

Về vấn đề này, Vương Dương Minh, nhà chính trị, nhà triết học và là nhà tư tưởng xuất sắc thời nhà Minh, đã từng nói: "Tặc trốn trên núi thì dễ đánh bại, tặc trốn trong tâm mới khó."

Mỗi người trong chúng ta đều hy vọng mình ngày càng trở nên tốt hơn, vì vậy chúng ta luôn muốn đặt ra rất nhiều mục tiêu, nhưng lại hiếm khi thực hiện chúng trong thực tế cuộc sống, chúng ta luôn trì hoãn cho đến khi những mục tiêu đó hoàn toàn bị từ bỏ. Đây là tác hại của sự trì hoãn.

Khi chúng ta cảm thấy điều gì đó quá khó và không muốn làm, chúng ta sẽ bắt đầu tìm ra nhiều lý do khác nhau để tạm thời né tránh nó, nhưng sau một thời gian, lý trí bên trong của chúng ta sẽ nhắc nhở bản thân rằng điều này là sai. Khi ấy chúng ta lại một lần nữa muốn hành động, nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu, vì thế lại tiếp tục viện cớ để trốn chạy. Mọi chuyện cứ như vậy lặp đi lặp lại, cuối cùng dẫn đến sự việc chẳng đi đến đâu.

Thực ra, để bỏ thói quen trì hoãn khá đơn giản, phương pháp thứ nhất: Khi gặp một việc rất muốn làm nhưng đã trì hoãn lâu ngày, thì bạn nên tập đối mặt với vấn đề và đi làm nó ngay lập tức, chứ đừng đợi đến khi nào có thời gian mới làm.

Khi bạn có thể vừa nghĩ liền hành động ngay, thì bạn sẽ tự nhiên nhanh hơn nhiều người một bước, điều này giúp bạn có thể trải nghiệm được nhiều thứ hơn, có nhiều thời gian và chi phí hơn để thử, khi đó cuộc sống của bạn ắt cũng sẽ tốt đẹp hơn.

Phương pháp thứ hai: khi bạn thiếu động lực và không muốn làm, hãy ép bản thân làm vài phút thôi. Nếu làm theo cách này, chắc chắn bạn sẽ làm huốt thời gian dự tính ban đầu luôn đấy. Nhưng nếu bạn thật sự chỉ làm được vài phút cũng không có lỗ lã gì đâu, vì có làm còn hơn không mà, ít nhất bạn cũng đã đi được bước đầu tiên.


Không nên coi thường tác hại của việc trì hoãn, nó sẽ khiến bạn ngày càng trở nên lười biếng, thiếu sự kiên trì và bền bỉ, từ từ nhiều việc nhỏ sẽ bị tồn đọng lại biến thành một vấn đề lớn. Khi ấy những phước lành trong cuộc sống cũng sẽ rời bỏ bạn mà đi. Không phải vì cuộc sống quá bạc bẽo đâu, chính vì bạn không biết trân trọng nó đấy thôi.

2. Tâm nửa chừng bỏ dở

Jack Ma từng nói: "Ngày hôm nay sẽ rất tàn nhẫn, ngày mai sẽ rất tàn nhẫn, ngày mốt sẽ tươi đẹp, nhưng hầu hết mọi người đều chết vào đêm mai."

Câu này nêu rõ một hiện tượng rất phổ biến trong xã hội, đó là bỏ dở việc giữa chừng. Khi mời bắt đầu có lẽ mọi người rất hùng tâm tráng trí, nhưng thường càng về sau, lúc sắp nhìn thấy cây chà là trên sa mạc thì họ lại lựa chọn bỏ cuộc, đúng là khiến người ta tiếc nuối.

Khi còn nhỏ, chúng ta không sợ bất cứ điều gì, luôn cảm thấy rằng mình có thể thay đổi cả thế giới, nhưng càng lớn lên, chúng ta càng cảm thấy mình bất lực trong nhiều việc, vì vậy khi gặp phải một số việc, một số thất bại, thì chúng ta sẽ chọn bỏ cuộc. Đúng, bỏ cuộc rất đơn giản, nhưng nó không khiến bạn hạnh phúc, còn hại bạn trở thành một người vô dụng, tự ti nữa.

Nếu bị loại "tâm tặc nửa chừng bỏ dở" này đeo bám thì nên làm gì đây?

Trước hết, bạn phải tự nhắc nhở trong lòng mình rằng: bạn có thể mang lại cho bản thân rất nhiều lợi ích nếu hoàn thành việc này, việc nhắc nhở nhiều lần sẽ hình thành tâm lý ám thị, giúp bạn có nhiều động lực hơn về sau, từ đó bạn sẽ không còn bỏ cuộc một cách dễ dàng nữa.

Thứ hai, nếu vẫn không thể kiên trì, bạn có thể tìm người giám sát mình, muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa thì đi cùng nhau mà.

Còn nữa, khi bạn sắp bỏ cuộc, nhưng lại nhìn thấy có một người khác vẫn đang kiên trì không buông, tự nhiên bạn cũng sẽ muốn cắn răng kiên trì tiếp tục. Bởi vì tất cả chúng ta đều muốn mình trông tốt nhất trước mặt người khác.

Bằng cách này, trong bạn sẽ sinh ra cảm giác tự hào, giúp bạn có nhiều tự tin hơn để khiêu chiến với những mục tiêu khó hơn, từ đó phát triển tiềm năng chưa được khám phá của bạn. Nỗ lực ngày càng nhiều thì may mắn cũng sẽ tự nhiên đến.


3. Tâm nóng như lửa

Nhà tâm lý học người Mỹ, Robert W. White từng nói: "Bất kỳ lúc nào cũng không nên làm nô lệ cho cảm xúc của chính mình, không nên để mọi hành động bị phụ thuộc vào cảm xúc, con người nên học cách kiểm soát ngược lại cảm xúc..."

Con người ai cũng có niềm vui và nỗi buồn, ai cũng có lúc gặp chuyện không vui, kẻ khôn ngoan thì biết kiểm soát cảm xúc, kẻ yếu đuối thì bị cảm xúc kiểm soát.

Trong cuộc sống, một người nóng tính sẽ rất bốc đồng trong việc giải quyết vấn đề, họ không bao giờ tính đến hậu quả và thường làm những điều tổn thương đến người khác hoặc chính mình.

Họ thường nói năng mạnh bạo khiến người khác cảm thấy khó chịu, do đó họ hiếm khi có bạn thân bên cạnh, vì không ai muốn ở bên cạnh một quả bom hẹn giờ như vậy cả.

Thực ra, thay đổi tâm tính nóng nảy cũng rất đơn giản, chỉ cần bạn để tâm hơn và chăm chỉ rèn luyện khả năng tự chủ của bản thân là được. Thực ra, biết tự chủ cũng rất tốt cho sức khỏe, bình thường bạn có thể tập vài hoạt động dưỡng tâm chẳng hạn như tập yoga, thư pháp, v.v. nó sẽ khiến bạn cảm thấy thoải mái hơn, trút bỏ những cảm xúc tiêu cực.

Mọi người đều hy vọng rằng cuộc sống của bản thân có thể gặp nhiều may mắn, tự chủ tự cường, nhưng để làm được những điều này, bạn nên học cách kiểm soát được cảm xúc của mình trước đã.

Khi bị 3 "tâm tặc" trên điều khiển, phúc khí đáng lẽ thuộc về bạn cũng sẽ nhanh chóng bị "trộm" mất, vì vậy chúng ta phải nhớ luôn hướng vào nội tâm và phản tỉnh lại xem mình có tính trì hoãn, thiếu kiên nhẫn và dễ cáu gắt hay không.

Bạn biết đấy, trông có vẻ là những vấn đề nhỏ nhặt, nhưng theo thời gian, nó sẽ tích lũy thành một cơn lũ cuốn trôi cuộc đời của bạn.

Trần Anh / Theo: DNTT

Thursday, June 1, 2023

CÁI "GIA GIA"

Cuối đời nhà Thương (1783-1154 trước D.L.) vua Trụ hoang dâm vô đạo, tàn hại lê dân, người người oán giận.


Văn Vương là Cơ Xương, vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân từ đức hạnh, được các chư hầu và dân chúng kính phục. Văn Vương lại có một người tôi tài giỏi là Khương Tử Nha phò tá làm cho chính trị trong nước ngày càng hưng vượng. Văn Vương chết, truyền ngôi cho con là Cơ Phát, lấy hiệu Võ Vương.

Sau Võ Vương nghe lời quần thần, hội chư hầu đem binh phạt Trụ mong cứu dân chúng thoát cảnh lầm than. Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc nghe thấy, ra nắm dây cương ngựa của Võ Vương, nói rằng:

- Cha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là hiếu được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước, thì có gọi là nhân được không?

Võ Vương bảo:

- Vua Trụ hoang dâm vô đạo, sát hại lê dân làm giận lòng người, trái ý trời. Nếu ta thủ phận, ngồi nhìn sự hà khắc của vua Trụ thì muôn dân còn trông cậy vào đâu! Hơn nữa, giang san có riêng gì của vua Trụ, ngày xưa vua Thành Thang chẳng chinh phạt vua Kiệt nhà Hạ để dựng nên nhà Thương đó sao?


Bá Di, Thúc Tề chẳng nghe, cho Võ Vương là bội chúa. Những cận thần của Võ Vương tức giận, muốn giết cả hai. Tử Nha can:

- Không nên. Hai ông là người nghĩa.

Đoạn, bảo quân lính đẩy hai ông ra.

Sau Võ Vương thắng trận, Trụ Vương thiêu mình, lập thành nhà Chu, các chư hầu đều thần phục. Bá Di, Thúc Tề lấy làm hổ thẹn, coi thóc gạo cũng là của nhà Chu mà không ăn nữa. Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương, hái rau vi mà ăn, và làm bài hát "Thái Vi" (hái rau vi) rằng:

Lên núi Tây Sơn chừ, ta hái rau vi.
Kẻ bạo thay bạo chừ, biết phải trái gì.
Thần Nông, Ngu, Hạ đã qua chừ ta biết đâu mà quy y.
Đành chịu vậy chừ, vận mạng ta suy.

Nguyên văn:

Đăng bỉ Tây Sơn hề thái kỳ vi hĩ,
Dĩ bạo dịch bạo hề bất tri kỳ phi hĩ.
Thần Nông, Ngu, Hạ hốt yên một bề ngã an thích quy hĩ.
Vu ta tồ hề mạng chi suy hĩ.


Nhưng một hôm có người bảo hai ông:

- Đất bây giờ là đất của nhà Chu, thiên hạ là thiên hạ của nhà Chu, hai ông đã chê, không ăn cơm gạo nhà Chu mà hái rau vi của giang san nhà Chu thì có khác gì.
Hai ông cho là có lý nên từ ấy nhịn ăn mà chết.

Tương truyền, hai ông vì uất ức, oan hồn chưa tan nên biến thành một loại chim, thường gào thét một giọng bi thảm:

- "Bất thực Túc Chu gia... Bất thực Túc Chu gia"

Người ta bảo đó là chim Đa Đa do âm "gia gia" mà ra.


Trong bài "Qua đèo ngang tức cảnh" của bà Huyện Thanh Quan, có câu:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Nguyễn Công Trứ có làm bài thơ "Vịnh Di, Tề":

Danh chẳng màng, lợi cũng chẳng mê.
Ấy gang hay sắt hỡi Di, Tề?
Gặp xe vua Võ tay dừng lại,
Thấy thóc nhà Chu mặt ngoảnh đi.
Cô Trúc hồn về sương mịt mịt,
Thú dương danh tạc đá tri tri.
Cầu nhân chẳng đặng nhân mà chớ,
Chẳng trách ai chi, chẳng oán chi.

Trích: Điển hay tích lạ đăng trong trang mạng 4phuong

"NẤU ĂN TRONG CHÁNH NIỆM" VỚI ĐỒ CHAY KIỂU NHẬT

Ngoài viền là màu hồng sặc sỡ, một lát củ cải mỏng dính nằm trên một miếng đậu hũ vừng mềm hình vuông. Bên cạnh là một nồi udon sôi sủi tăm nhẹ trong khi trong một cái rổ sát đó là ổ tempura giòn - đó chỉ là ba trong số hàng chục món ăn đặt trước mặt tôi.


Chúng tôi ngồi trong một căn phòng trải chiếu tatami yên tĩnh tại Ekoin, một trong hơn 100 ngôi chùa tạo nên quần thể cổ xưa Koya ở miền nông thôn tỉnh Wakayama.

Nằm cheo leo trên sườn núi, thị trấn này là trung tâm của Phật giáo Shingon, và bữa ăn của chúng tôi được gọi là shōjin ryōri, nền ẩm thực tâm linh được các nhà sư hoàn thiện qua nhiều thế kỷ.

'Nấu ăn trong chánh niệm'

Được biết đến với các nghĩa địa rêu phong và các con đường rừng hành hương, Koya là nơi có truyền thống thờ phượng lâu đời.

Nhiều đền chùa cho ở trọ ở thị trấn, được gọi là shukubo, đem đến cho du khách cơ hội trải nghiệm các đường lối của Phật giáo, từ ngồi thiền cho đến thư pháp - nhưng ít ai biết rằng những bữa ăn khiêm tốn trong chùa cũng là cơ hội để khám phá tâm linh.

Thường được gọi là 'ẩm thực tôn thờ', shōjin ryōri được các nhà sư hình thành nhưng gần đây đã đi từ trai đường ở các chùa đến các nhà hàng gắn sao Michelin ở Tokyo.

Vừa tối giản vừa phong phú, nó thường gắn liền với sự kham khổ; tuy nhiên, các đầu bếp tâm huyết cho rằng họ có thể làm được vô số sự kết hợp về trình bày, cách thức và các món phục vụ theo mùa.

Đến Nhật Bản cùng với đạo Phật vào thế kỷ 6, ẩm thực shōjin trước giờ chỉ là một việc đơn giản vốn được các nhà sư và tu sỹ chăm chỉ gìn giữ, Shiten, nhà sư trú xứ ở Ekoin, giải thích.

Tuy nhiên, chính những lời giáo huấn của Dogen, văn sỹ và người sáng lập Thiền phái Soto vào thế kỷ 13, đã mở đường cho sự tập trung tâm linh của nghệ thuật ẩm thực này.

Dogen tin rằng, tương tự như thực hành cắm hoa hoặc trà đạo, shōjin ryōri có sức mạnh hài hòa tinh, khí, thần.

Áng văn nổi tiếng của Dogen, 'Tenzo Kyokun', có nghĩa là 'Hướng dẫn cho các đầu bếp', không chỉ nêu ra tầm quan trọng của việc lựa chọn và cân bằng nguyên liệu, mà còn chánh niệm của người nấu.


Món đơn giản goma dofu (đậu phụ mè) - vốn đòi hỏi nhiều giờ xay và khuấy - là một ví dụ nổi tiếng, với quy trình lặp đi lặp lại đòi hỏi sự tập trung không tạp niệm của người đầu bếp.

Do quá trình kéo dài, tốn nhiều công sức và thời gian ăn tương đối ngắn, Shiten coi đó là tinh túy của ẩm thực shōjin và là bài học trong việc cân bằng những kỳ vọng của bản ngã.

Các đầu bếp Shōjin được yêu cầu phải sở hữu 'tam tâm' của Thiền tông Nhật Bản, được gọi là sanshin, và họ cũng trở thành một phần của món ăn giống như nguyên liệu.


Aishin (tâm lớn) phải được duy trì để có được sự điềm tĩnh và động lực; roshin (tâm cha mẹ) là cần thiết để tôn trọng và quan tâm đến các nguyên liệu và thực khách; trong khi kishin (tâm quý) đòi hỏi người đầu bếp phải nấu nướng với sự hoan hỷ và tri ân.

Triết lý số năm

"Shōjin ryōri nghĩa đen là 'thức ăn để tu hành'," Eric Rath, giáo sư nghiên cứu về Nhật Bản học và là chuyên gia hàng đầu về văn hóa ẩm thực Nhật Bản, giải thích.

"Cụ thể, nó nói đến bữa ăn chay không bao gồm các nguyên liệu như tỏi và hành mà các Phật tử cho rằng sẽ kích thích dục vọng," ông nói và nêu ra những quy tắc cơ bản, trong đó có nhiều điều rối rắm và những thứ được mở rộng.

Các quan niệm chi phối của ẩm thực shōjin tập trung vào một loạt các giới luật Phật giáo, gắn nhu cầu thực dưỡng với các giá trị tôn giáo như tránh hại vật.

"Đó là về sự cân bằng," Mari Fujii, người đã dạy về nền ẩm thực này hơn 30 năm tại thành phố biển lịch sử Kamakura vốn nổi tiếng với những đền chùa, tượng Phật ngồi và ảnh hưởng chính trị từ xa xưa, giải thích.

Học hỏi từ thời gian chồng bà làm tenzo (đầu bếp nhà Phật trong một ngôi chùa hoặc tu viện) tại một ngôi chùa ở Kamakura, bà đã sớm áp dụng những triết lý đó vào việc nấu ăn tại nhà mình.

"Để có thể làm tròn bổn phận với nhà chùa, bạn không thể ăn quá nhiều hay quá ít. Đó là việc tìm ra sự cân bằng hoàn hảo, và điều này xuất phát từ quy tắc con số năm," bà giải thích.

Ý nghĩa của việc này phát xuất từ quan niệm năm thành phần cơ bản trong Triết học Trung Quốc được gọi là Ngũ Hành, con số năm phản ánh sự cân bằng chu kỳ cần thiết trong tự nhiên và xã hội.

Trong shōjin ryōri, con số năm áp dụng cho màu sắc, hương vị và cách nấu: goshoku (màu sắc) trắng, đen, đỏ, xanh lá cây và vàng; gomi (hương vị) ngọt, chua, đắng, mặn và umami (vị ngọt thịt); và goho (cách nấu) ninh, chiên, sống, hấp và nướng, đều là những yếu tố bắt buộc.


Bên cạnh việc giúp cân bằng dinh dưỡng, những quy tắc này được đề ra để thu hút năm giác quan, thôi thúc thực khách để ý và trân trọng từng thành phần cũng như công sức bỏ ra để nấu nướng.

Thậm chí trước khi bắt đầu dùng đũa, điều này được thực hiện bằng cách niệm 5 điều quán tưởng mà theo đó các nhà sư được dạy phải biết ơn, nhận thức được khiếm khuyết của mình và cố gắng sửa chữa, ăn uống để có sức khỏe tốt và hoàn thành bổn phận của mình.

Đi từ bếp đến bàn ăn, món ăn làm thành chiếc cầu nối, như Fujii giải thích: "Đó là hành trình tâm linh, nhưng cũng là cơ hội để kết nối với những người khác."

Cũng thiết yếu như các yêu cầu trên, những giới hạn phản ánh giá trị của sự trống vắng vốn được công nhận trong tu tập Phật giáo và mỹ học Nhật Bản được gọi là 'ma'.

Không gian trống vận dụng trong ikebana (nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản) cũng tương xứng với các cành hoa được chọn, trong khi Dogen ban đầu liệt kê sáu hương vị - có thêm 'nhạt nhẽo' bên cạnh năm hương vị kia.

Xu hướng nghiêng về sự tinh tế và sát sinh tối thiểu như thế này là then chốt, nhưng đối với thực khách Nhật Bản vốn ưa thịt và nước dùng dashi truyền thống nấu bằng cá, thì kiểu nấu ăn này thường bị coi là lạt lẽo và không hấp dẫn.


Mùa nào thức nấy

Tuy nhiên, Fujii vẫn giữ lòng nhiệt tình vô bờ bến đối với triển vọng của nền ẩm thực này. "Có rất nhiều biến tấu và mang tính đại diện cho các mùa, chưa một lần nào trong 36 năm qua mà tôi cảm thấy nhàm chán với shōjin ryōri cả," bà cho biết.

Khía cạnh theo mùa của shōjin ryōri là một trong những nguyên tắc sáng lập của nó và đem đến phần lớn sự phong phú mà Fujii yêu thích.

Được gọi là 'shun', yếu tố này lấy tên từ một hệ đếm cổ của Nhật Bản có nghĩa là '10 ngày', phản ánh tính mùa vụ cực cao vốn vẫn thường thấy trong nền ẩm thực Nhật Bản.

Ví dụ, nhiều nhà hàng Nhật Bản thay đổi thực đơn vài tuần một lần, với những chiếc lá tươi trang trí tô điểm trên đĩa để làm nổi bật tính theo mùa và các món đặc sản hàng ngày được chọn ở chợ mỗi buổi sáng.

Một nhà hàng như vậy, nhà hàng Sougo ở Tokyo, là thành quả của đầu bếp được nhiều khen ngợi Daisuke Nomura.

Ông là bếp trưởng khi nhà hàng shōjin ryōri quản lý kiểu gia đình và được khen ngợi có tên là Daigo được trao hai sao Michelin vào năm 2009. Sau đó, ông đã tự mình mở nhà hàng riêng để khai phá hơn nữa các khả năng của nền ẩm thực này.

"Tôi muốn hướng tới một thế hệ nhà hàng shōjin ryōri mới," ông nói. "Tôi nghĩ các món ăn sẽ tiến hóa theo thời gian và tôi muốn tự do thử thách bản thân và làm việc với các nhân tố mới."

Lấy ví dụ về món đậu phụ vừng từ xa xưa vốn rất được ưa chuộng, ông giải thích làm sao mà chỉ một thay đổi có thể tạo ra một loạt sự kết hợp mới.

"Ăn lạnh thì khá hạn chế, nhưng khi chiên thì nó mở ra rất nhiều lựa chọn - Tôi đã phục vụ nó với nước sốt umami, thậm chí là khoai tây nghiền. Khi tôi nhận ra khác biệt mà chỉ một thay đổi có thể tạo ra được, nó đã tạo cảm hứng cho tôi và thực sự là những gì mà tôi muốn làm ở đây ở nhà hàng Sougo."

'Khiêm nhường nhận lấy'

Nomura tiếp thu các triết lý của shōjin ryōri và nhận thấy chúng phù hợp với trọng tâm ngày càng đặt vào mục tiêu phát triển bền vững của các nhà hàng trên toàn thế giới.

Bên cạnh yếu tố 'shun' mang tính cực kỳ theo mùa là mục tiêu sử dụng các nguyên liệu lấy tại địa phương.

Được gọi là shindofuji, quan niệm cốt lõi thứ hai nhấn mạnh nhu cầu hòa hợp với thiên nhiên và khuyến khích đầu bếp tìm kiếm đặc biệt những gì mọc xung quanh họ.


Trụ cột cuối cùng, và có lẽ phản ánh rõ nhất tinh thần của thời kỳ phát triển bền vững, là ichimotsu zentai, có nghĩa đen là 'sử dụng cho hết'.

Đòi hỏi sự tôn trọng, đó là tiền thân của phong trào không lãng phí. "Nội dung quan trọng nhất của shōjin là sự suy xét và trân trọng," Nomura lưu ý. "Để tồn tại, chúng ta lấy đi sự sống của những thứ khác, vì vậy chúng ta không được phép lãng phí chúng."

Nhận thức và sự trân trọng này đã vượt khỏi phạm vi ẩm thực shōjin để được công nhận vào đầu tất cả các bữa ăn trong cuộc sống hàng ngày của người Nhật.

Du khách chắc chắn sẽ nghe thấy cụm từ 'itadakimasu' được thốt ra trước bữa ăn chính hoặc thậm chí chỉ là bữa ăn nhẹ đơn sơ. Đi cùng với hành động chắp tay và hơi cúi đầu, câu này thường được dịch ra là 'Tôi khiêm nhường nhận lấy' và thể hiện lòng biết ơn đối với món ăn được phục vụ và sự chấp nhận món ăn đó.

Cho dù là bạn bè nhâm nhi đá bào trong quán cà phê hoặc cả nhà ngồi xuống thưởng thức một bữa đặc biệt, không bao giờ người ta quên cụm từ này, và nó biểu thị truyền thống tiếp diễn về sự trân trọng được hình thành trong nền ẩm thực shōjin.

Dĩ nhiên, shōjin ryōri trong nhà chùa và shōjin ryōri của các đầu bếp có sao Michelin có phần khác biệt, như Nomura giải thích với tôi: "Shōjin ở chùa được chế biến nhằm hỗ trợ sức khỏe cho các nhà sư đang tu tập nên nó không cần phải được trình bày đẹp. Tuy nhiên, ở các nhà hàng, đó là một bữa ăn cho khách hàng, vì vậy nó còn hơn cả một nghệ thuật."

Nhưng, ông nhấn mạnh, các yếu tố cốt lõi vẫn giữ nguyên.

Lily Crossley-Baxter
Theo: BBC Travel
Link tiếng Anh:
https://www.bbc.com/travel/article/20200907-shojin-ryori-japans-ancient-vegetarian-meal



AI KHÔNG CÒN TRẺ NỮA THÌ ĐỌC

Chúng ta đến thế gian với hai bàn tay trắng, ra đi cũng chẳng mang theo được thứ gì. Những thứ chúng ta có chỉ là tạm thời, khi mất đi chúng, cũng chỉ là hoàn trả.


Tôi phải đến viện dưỡng lão rồi!

Vào viện dưỡng lão là con đường duy nhất của tôi lúc này vì tôi không thể tự chăm sóc được cho chính mình. Con cái của tôi đều rất bận và còn phải chăm sóc con của chúng nên không có dành thời gian cho tôi.

Đã đến lúc phải chuyển nhà đến viện dưỡng lão rồi!

Kỳ thực, điều kiện ở viện dưỡng lão cũng không phải là tệ: Phòng đơn sạch sẽ, đầy đủ đồ điện gia dụng, phương tiện giải trí, thức ăn cũng ngon, phục vụ chu đáo, môi trường sạch đẹp… Chỉ là phí dịch vụ thì không hề rẻ, nếu chỉ dựa vào lương hưu của tôi thì không đủ. Nhưng tôi có một căn hộ, nếu đem bán cũng được vài trăm triệu, vì vậy tiền không phải là vấn đề. Tôi dưỡng già cũng không tiêu đến nhiều tiền như vậy. Không lâu nữa phần tài sản còn lại cũng được kế thừa lại cho con trai tôi. Nó có thể nghĩ: “Tài sản của bố thì bố cứ tận hưởng, không cần nghĩ đến chúng con”.

Phần còn lại chính là tôi phải suy nghĩ về việc chuẩn bị đến viện dưỡng lão.

Một căn nhà đắt tiền, chẳng qua cũng chỉ là nhiều đồ đạc Vali, tủ, ngăn kéo chỗ nào cũng đầy ắp đồ dùng hằng ngày của tôi, quần áo bốn mùa, chăn gối trên giường, cũng chất thành đống như núi.

Tôi thích đồ bằng gỗ lim, nên bàn ghế, tủ… đều bằng gỗ lim.

Tôi cũng thích đồ sưu tầm đồ cổ, trong tủ cũng có đến mấy trăm con tem, hàng trăm các loại ấm đất sét pha trà.

Còn có rất nhiều đồ vật nhỏ quý giá, như ngọc bội, vàng, bạc… còn có hai con cá vàng nhỏ.

Đặc biệt là sách, toàn bộ một bên tường đều xếp chật kín sách của tôi.

Rượu ngon cũng có đến vài chục chai như Mao Đài, Ngũ Lương, Rượu Tây…

Thiết bị gia dụng trong nhà thì càng không cần nói đến. Trong bếp đầy ắp các loại dụng cụ, nồi niêu xoong chảo, gạo dầu gia vị… Còn có đến mấy chục tập album ảnh mà tôi lưu lại, khắp căn phòng đều là đồ đạc do tôi tích góp từng chút một… Nhìn ngôi nhà ngập tràn đồ đạc, tôi bắt đầu cảm thấy phát sầu.

Trong viện dưỡng lão chỉ có một gian phòng, một chiếc bàn, một chiếc giường, một chiếc ghế sofa, một chiếc tủ lạnh, một máy giặt, một TV, một lò vi sóng… Về cơ bản là không có chỗ chứa những “bảo bối” mà tôi tích lũy trong đời. Bỗng chốc, tôi cảm thấy cái gọi là giàu có kia đều trở nên dư thừa, chúng không thuộc về tôi.


Những đồ đạc đó trên thực tế chỉ thuộc về thế giới này, tôi chỉ là nhìn được chúng một chút, chơi một chút, dùng một chút…

Tôi chợt hiểu ra, vì sao các đại gia giàu có trên thế giới lại tặng hết số tài sản mình cho các quỹ từ thiện.

Hoá ra tất cả những thứ tài sản đó đều không thuộc về chúng ta. Nó chỉ là những thứ vô thường khi sinh chẳng đem đến, khi tử chẳng mang theo, chẳng thà để quyên góp tích đức hành thiện. Thật sáng suốt biết bao!

Xử lý những “bảo bối” đó như thế nào hiện tại lại trở thành một vấn đề khó đối với tôi, con cái cũng khó mà hài lòng với những thứ này. Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh khi chúng đối diện với những “bảo bối” đó sẽ như thế nào. Quần áo chăn gối đều bị bỏ đi, mấy chục cuốn album quý giá của tôi cũng bị bỏ đi, sách cũng trở thành phế liệu, những đồ sưu tầm cổ cũng bị bán đi, đồ dùng gỗ lim không thực dụng cũng bị bán rẻ…

Đối diện với đống quần áo chất như núi, giờ tôi chỉ có thể chọn ra vài bộ để mặc, cũng chỉ giữ lại được một bộ nồi niêu. Sách cũng chỉ giữ lại được vài quyển đáng giá, ấm pha trà cũng chỉ mang theo được một chiếc… Còn phải cầm theo giấy tờ tùy thân, giấy xác nhận người cao tuổi, thẻ bảo hiểm, hộ khẩu, tất nhiên còn có thẻ ngân hàng, vậy là đủ rồi.

Đó không phải là toàn bộ tài sản của tôi sao? Tôi đi rồi, cũng nên trả lại cái nhà này.

Đúng vậy, con người chỉ có thể ngủ trên một chiếc giường, sống trong một gian phòng, những thứ nhiều hơn cũng chỉ là để ngắm nhìn.


Con người sống một đời, cuối cùng rồi cũng hiểu rằng: Những thứ mà chúng ta thật sự cần thiết kỳ thực không nhiều, không nên bị những thứ dư thừa ràng buộc mà mất đi niềm hạnh phúc thật sự.

Nguồn: Vô Thường chia sẻ từ Thu Hà (sưu tầm và biên dịch)
 

THẦN LINH KHÔNG ĂN ĐỒ CÚNG CỦA AI? THỜ CÚNG ĐỒ ĂN CHO THẦN CŨNG PHẢI CÓ NGUYÊN TẮC

Rất nhiều người thích thờ cúng những vị Thần mà họ tín ngưỡng, phần lớn là cúng hoa quả, hoặc một số đồ ăn nhẹ. Tuy nhiên, có đôi khi, dù cho bạn dâng lên đồ ăn tươi ngon nhất, nhưng Thần linh cũng chưa chắc dám ăn. Vì sao lại như vậy? Kỳ thực trong này là có nguyên nhân.


Sơn Thần không dám tùy ý hưởng dụng đồ tế tự

Trong cuốn tiểu thuyết chí quái “Kê Thần lục” từ thời Bắc Tống có câu chuyện kể rằng:

Ở thôn Hương quận Viên Châu có một ông lão vốn là người cẩn thận phúc hậu, được mọi người trong thôn đều rất kính trọng, gia đình ông thì thịnh vượng giàu có. Một ngày nọ, có một chàng trai trẻ mặc áo bào tím, mang theo không ít xe ngựa và tôi tớ, đi vào nhà ông lão muốn xin chút đồ ăn. Ông lão mời chàng trai trẻ vào nhà, sai người mang ra rất nhiều đồ ăn ngon, thậm chí mời đám người hầu của chàng trai cùng ăn uống.

Ông lão một mặt sắp xếp rượu và thức ăn, một mặt nghĩ: “Nếu như là quan viên trong triều hoặc trong châu đi xuống huyện, đều sẽ có nơi tiếp đãi ăn ngủ. Chàng trai trẻ này rốt cuộc là người như thế nào?”. Nghĩ như vậy, trên mặt ông lão liền lộ vẻ hoài nghi.

Chàng trai trẻ kia đã nhìn thấu ý nghĩ của ông lão, bèn nói: “Ngươi đã hoài nghi ta, thì ta cũng không che giấu nữa. Ta là Thần núi ở Ngưỡng Sơn”.

Ông lão giật mình vội vàng dập đầu bái lạy, rồi nhanh nhảu hỏi: “Phải chăng người đến cúng tế rượu và thức ăn trong miếu Thần núi ở Ngưỡng Sơn càng ngày càng ít, cho nên mới khiến ngài phải đi khất thực hay sao?”

Thần núi Ngưỡng Sơn nói: “Mọi người tế tự ta, phần lớn là hướng đến ta để cầu phúc. Nhưng những người kia trong mệnh không có phúc, nên ta không thể ban phúc cho họ. Vậy nên đồ ăn họ mang đến cúng tế, ta cũng không dám hưởng dụng. Ngươi là một ông lão đáng kính, không cầu xin ta chuyện gì, cho nên ta mới dám đến nhà ngươi xin chút thức ăn”.

Sau khi ăn xong, vị Thần núi liên tục bái tạ từ biệt, sau đó biến mất không còn thấy đâu nữa.


Rất nhiều người cầu Thần bái Phật, nhìn qua cũng có vẻ vô cùng thành kính. Thế nhưng vì sao cuối cùng họ vẫn không đạt được mục đích của mình? Nguyên lai là Thần làm việc có nguyên tắc của mình. Phàm là những sự tình không phù hợp với tiêu chuẩn của Thần giới, thì Thần Tiên tuyệt không dám làm. Bởi vậy, một số người không làm việc thiện, dù cho ngày ngày đem trái cây, hương, nến thượng hạng đến cung phụng Thần, thì Thần Tiên cũng không dám hưởng dụng.

Hiện nay, không còn nhiều người thực sự hiểu rõ mục đích của việc thờ cúng Thần linh nữa. Họ không biết rằng, kính Thần chính là trước mặt Thần linh phải sám hối những việc làm sai trái của bản thân mình, sau này không tái phạm sai lầm tương tự nữa. Đại đa số con người ngày nay bái Thần đều là cầu Thần Phật phù hộ phát tài, tiêu tai, sinh con trai… vì để thỏa mãn tư dục của mình mà khẩn cầu Thần trợ giúp. Mang theo những cái tâm dơ bẩn như vậy, làm sao có thể được thần bảo hộ?

Con người chỉ có tự mình làm việc thiện, mới có thể tích lũy phúc phận. Đây cũng chính là điều mà chúng ta thường nói: Tích đức hướng thiện, Thần Tiên mới có thể trợ giúp và bảo hộ khi gặp tai ương. Nếu không, Thần Tiên cũng đành bất lực.

Lý Tuệ / Theo: NTDVN