Thời gian qua, tôi post một số bài về ẩm thực, về những món ăn quen ngày xưa nhưng không nói đến cái căn bản của ẩm thực là vệ sinh. Người xưa có câu "Bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất" (病從口入,禍從口出) là vậy đó.
Có một bài viết tôi mới đọc của Nguyễn Văn Mỹ, anh viết rất hay mà tôi phải share cho các bạn để cùng nhau tham khảo trong mấy bữa nghỉ Easter này.
TẢN MẠN CHUYỆN ĂN
Người Việt thường nói "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Ăn là ưu tiên số 1 của cuộc sống, phải tập ăn trước cả tập nói. Động từ ăn, theo nghĩa đen là hành động bỏ thức ăn vào miệng, nhai và nuốt. Còn ăn theo nghĩa bóng là chuyện khác, mênh mông trời đất.

Các dân tộc có ngôn ngữ chịu ảnh hưởng của tiếng Hán khi ăn thường dùng đũa như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... Việt Nam cũng vậy bởi tiếng Việt viết theo kiểu chữ La tinh nhưng đa phần đều có gốc Hán Nôm. Các dân tộc có nguồn gốc chữ viết tiếng Phạn như Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, các xứ theo đạo Hồi thì dùng tay bốc thức ăn. Các dân tộc có chữ viết nguồn gốc La tinh dùng muỗng, nĩa và dao. Do thế giới chuyển động và việc giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng, việc ăn uống cũng pha trộn lẫn nhau giữa các nước.
Nhớ lần đầu ra nước ngoài, đi học ở Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1987, tôi đã rất khổ sở vật lộn với kiểu ăn của người châu Âu. Từ việc cầm dao, nĩa đến cách ăn phải ngậm miệng nhai chứ không há mồm nhóp nhép. Ăn súp thì đưa muỗng vào miệng chứ không để ngoài rồi húp "xoẹt" vô trong.

Các bữa lỡ vào lúc 9 giờ - 15 giờ - 20 giờ với bánh ngọt, sữa, trà, cà phê cũng làm cho các bữa chính bớt hấp dẫn. Sau này có dịp trở lại châu Âu, đi Mỹ và nhiều nước, tôi vẫn không quen khẩu vị của họ. Cố tìm bằng được quán ăn Việt Nam, còn không thì vào quán ăn người Hoa dùng tạm. Ăn bò beefsteak với muối tiêu mà thiếu chanh thì hỏng, thay bằng nước cam, nước dứa cũng không được. Đi châu Âu, tôi chỉ khoái nhất món bánh pizza hải sản, ăn ở Venice.

Nước nào cũng có món ngon, quốc hồn quốc túy. Dân sành ăn đều biết sushi Nhật, kim chi Hàn Quốc, cơm nếp Lào, trứng cá hồi Nga, xúc xích Đức, phô mai Hà Lan, churrasco - thịt xiên nướng Brazil, lẩu tom yam Thái Lan, fast food Mỹ, gan ngỗng Pháp, bò Úc, dừa sáp Philippines, phở Việt Nam… Ăn buffet mà để đồ ăn thừa ở Hàn Quốc, Singapore, Đức… có thể bị phạt. Hàn Quốc thì cả chén, đũa cũng bằng inox, chẳng hiểu tại sao.

Đặc sản ẩm thực địa phương luôn là lựa chọn hàng đầu trong các bữa ăn của du khách. Nhiều món lạ, có thể khó ăn nhưng nên thưởng thức cho biết. Người Việt chê mắm bò hóc Khmer, phô mai cừu châu Âu, đậu hũ thối Hồng Kông… hôi ăn không được. Thiên hạ lại chê nước mắm và mắm ruốc Việt Nam, mới nghe mùi đã sợ. Cũng như hương sầu riêng, kẻ ghiền, người ghét.
Các nước ăn bốc bằng tay thường ít dùng bàn ghế mà ngồi bệt xuống sàn. Trong bữa ăn người Khmer luôn có "pantuon" đựng ít nước sạch bên cạnh. Lâu lâu lại nhúng các đầu ngón tay vào cho khỏi dính. Chỉ nhìn pantuon là biết đẳng cấp xã hội. Nghèo thì dùng pantuon gáo dừa, khá hơn thì dùng pantuon đồng, giàu thì có pantuon bạc, vua chúa thì dùng pantuon vàng. Dù là quán vỉa hè cũng luôn có ly nước sôi trụng đũa, muỗng, nĩa. Mỗi người được phát đĩa để đựng cơm, chén để đựng canh khi ăn, dùng vá chung múc canh vào chén riêng. Mấy món num kanhchop (bún cà ri nước cốt dừa và cá lóc), samlo koco (một loại canh thập cẩm như kiểm), bohok ling (mắm bò hóc chưng với thịt và nhiều gia vị)... là những món quốc túy của người Khmer.

Chẳng phải "Mèo khen mèo dài đuôi" nhưng phải thừa nhận những nét đặc sắc về ẩm thực Việt Nam. Đó là sự phong phú về chủng loại, đa dạng về màu sắc, độc đáo về khẩu vị, lạ mắt về bài trí, hiệu quả về công dụng… Không phải tự nhiên mà Phillip Kotler - "huyền thoại marketing của nhân loại" đã thật lòng gợi ý là Việt Nam nên phát triển theo hướng trở thành "bếp ăn của thế giới". Từ các món nước chấm được pha chế cầu kỳ đến vô số loại rau đủ mùi vị, nhiều loại có sẵn trong tự nhiên. Món nước chấm muối tiêu chanh dân dã từng làm Yan Can Cook kinh ngạc. Chỉ riêng bánh xèo núi Cấm, Châu Đốc, An Giang đã có mười mấy loại lá rừng như sung, sộp, trâm, bứa, cát lòi, ngành ngạnh, tàu bay, chòi mùi, điều, xoài…
Dân du lịch sành điệu đều từng thưởng thức các đặc sản như sò điệp Bình Thuận, ốc vú nàng Côn Đảo, nem chua Lai Vung, nem nướng Khánh Hòa, chả cá Lã Vọng, cá lóc nướng trui Cà Mau, bánh mì Sài Gòn, bánh khọt Vũng Tàu, cháo cá Long An, hủ tiếu Mỹ Tho, kẹo dừa Bến Tre, mạch nha Quảng Ngãi, cá bống sông Trà, phở khô Gia Lai, phở chua Cao Bằng, thắng cố Hà Giang, tái dê Ninh Bình…

Trong đó, món tái dê Ninh Bình có lẽ ít được nhắc đến. Du khách nào đến Tam Cốc cũng trầm trồ phong cảnh hữu tình và nhớ mãi món tái dê đặc sản. Dê được thả rông, ăn đọt non và chạy nhảy trên các mỏm núi đá vôi nên thịt ngon hơn. Dê tơ luộc tái, chấm với tương bần giã gừng, trộn thính và ít rau thơm, ăn tới đâu là "công hiệu" tới đó, như dân gian vẫn truyền tụng:
" Tái dê chấm với tương gừng
Ăn xong ta lại phừng phừng... hơn dê
Người ơi người ở đừng về
Tối nay ta lại tái dê tương gừng"!.
Chỉ cần điều chỉnh lại "cách ăn chung chạ" hiện nay (như chuyện muỗng đũa của mỗi người cứ vô tư đưa vào tô, đĩa chung để múc, gắp; hay "văn hóa gắp đồ ăn cho khách" - chủ thích một đằng, khách thích một nẻo, mà chủ cứ liên tiếp dùng đũa mình gắp đồ ăn vào chén khách; hoặc thói quen dùng nước chấm chung…), đảm bảo vệ sinh thực phẩm và biết cách tiếp thị, chắc chắn ẩm thực Việt Nam sẽ tự tin tiến ra biển lớn, từng bước khẳng định là "bếp ăn của thế giới".
Nguyễn Văn Mỹ
